Vai trò quan hệ sản xuất trong nền kinh doanh

Chia sẻ: Than Kha Tu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:38

0
294
lượt xem
63
download

Vai trò quan hệ sản xuất trong nền kinh doanh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đối với chủ nghĩa duy vật lịch sử, thì “quan hệ sản xuất” là một trong những khái niệm cơ bản, góp phần phản ánh cấu trúc và logic vận động của các hình thái kinh tế - xã hội. Lênin cho rằng: “Chỉ có đem những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất (QHSX) và đem những QHSX vào trình độ của những lực lượng sản xuất (LLSX) thì ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Vai trò quan hệ sản xuất trong nền kinh doanh

  1. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TỔ CHỨC ĐÀO TẠO NGẮN HẠN THEO ĐỊA CHỈ TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO Th.s Nguyễn Tiền Tiến Đào tạo theo địa chỉ là định hướng mới và đang trở thành một phương thức hoạt động thường xuyên của giáo dục nghề nghiệp, thể hiện rõ nét nhất của quan điểm đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội. Định hướng đào tạo theo địa chỉ được thể hiện rõ nét trong Chỉ thị số 56/2008 ngày 03/10/2008 về Nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đại học năm học 2008 – 2009, trong đó nhiệm vụ này được triển khai ở tầm vĩ mô cũng như đối với từng cơ sở đào tạo. Chỉ thị ghi rõ nhiệm vụ đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: “Khuyến khích các trường ký kết các văn bản thoả thuận hợp tác trực tiếp với các doanh nghiệp để đặt hàng hỗ trợ đào tạo, nghiên cứu khoa học, tạo cơ sở thực tập cho sinh viên, tiếp nhận sinh viên khi ra trường”. Đào tạo theo địa chỉ bao gồm đào tạo dài hạn và đào tạo ngắn hạn. Đào tạo dài hạn là hình thức đào tạo theo hợp đồng giữa địa phương và nhà trường, có sự chấp thuận từ phía Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đào tạo ngắn hạn là hình thức đào tạo theo hợp đồng giữa nhà trường với địa phương hoặc các tổ chức sử dụng lao động để bồi dưỡng nghề nghiệp và cấp chứng chỉ đào tạo. Bài viết này chỉ trình bày một số ý kiến về tổ chức đào tạo ngắn hạn theo địa chỉ tại các cơ sở đào tạo. Kết quả của đào tạo theo địa chỉ sẽ đáp ứng được nhu cầu của các tổ chức sử dụng lao động cả về số lượng và chất lượng lao động; cung - cầu lao động phù hợp, tiết kiệm được thời gian, công sức và tiền bạc cho xã hội; hạn chế được lãng phí lao động do phải tìm kiếm, chờ đợi việc làm của những người sau khi tốt nghiệp ra trường; các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ động hơn trong việc tạo nguồn đào tạo. Tuy nhiên, đào tạo theo địa chỉ gặp hiện nay tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp gặp một số khó khăn nhất định. Trước hết, đây là hoạt động mới mẻ của những cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Thông thường thì các tổ chức có nhu cầu tuyển dụng lao động sẽ tìm đến cơ sở giáo dục nghề nghiệp đặt hàng. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp đón nhận nhu cầu một cách thụ động và vì thế các đơn đặt hàng theo kiểu này không nhiều. Do không chủ động nên cơ sở giáo dục nghề nghiệp sẽ khó khăn trong việc xây dựng chương trình, chuẩn bị nguồn lực để đào tạo. Thời gian thực hiện các đơn đặt hàng vì thế bị kéo dài. Để thực hiện được nhiệm vụ của Ngành và phát huy được hiệu quả của đào tạo theo địa chỉ, đòi hỏi các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải đổi mới phương thức hoạt động tìm kiếm nguồn đào tạo. - Trước hết, đào tạo theo địa chỉ phải trở thành hoạt động thường xuyên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, phải có định hướng rõ ràng từ ban lãnh đạo trường và được xây dựng cụ thể thành chỉ tiêu kế hoạch hàng năm. Sau đó, phải giao nhiệm vụ rõ ràng cho bộ phận tạo nguồn đào tạo. - Tiếp theo, là phải thay đổi trong hoạt động tìm kiếm nguồn đào tạo. Một mặt, phải chủ động xây dựng các chương trình giáo dục, bồi dưỡng mà cơ sở giáo dục nghề nghiệp có khả năng; chủ động chuẩn bị sẵn sàng các nguồn lực để đào tạo; chào hàng các chương trình giáo dục, bồi dưỡng đến các tổ chức sử dụng lao động. - Mặt khác, quan trọng hơn là phải xây dựng được mối quan hệ gắn bó với các tổ chức sử dụng lao động. Trải qua một thời gian đào tạo, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đều đã có mối quan hệ nhất định với các tổ chức sử dụng lao động. Tuy nhiên, phải thường xuyên củng cố để mối quan hệ đó trở nên gắn bó mật thiết, quan hệ giữa tổ chức sử dụng lao động và cơ sở giáo dục nghề nghiệp thực sự trở thành quan hệ hợp tác, cùng có lợi trong quá trình phát triển. Đồng thời, phải tiếp cận và hình thành mối quan hệ với các tổ chức mới thành lập, một xu thế biến đổi tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Từ mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với tổ chức sử dụng lao động, cơ sở giáo dục nghề nghiệp sẽ cùng tổ chức sử dụng lao động phát hiện ra nhu cầu đào tạo cần thiết cho mỗi tổ chức.
  2. - Sau khi thống nhất được nhu cầu cần đào tạo với tổ chức sử dụng lao động, bộ phận tạo nguồn đào tạo sẽ chủ động trao đổi, đặt hàng với các Khoa/ Bộ môn xây dựng chương trình, lựa chọn nội dung đào tạo. Để chương trình, nội dung có tính thực tiễn cao, đào tạo được những kiến thức, tay nghề cần thiết cho người lao động thì trong quá trình xây dựng, bộ phận tạo nguồn đào tạo phải thường xuyên trao đổi với tổ chức sử dụng lao động. - Để tổ chức đào tạo có chất lượng và phù hợp với điều kiện vừa làm vừa học của người lao động thì phải bố trí lịch giảng dạy thật sự hợp lý, có tính linh hoạt, đồng thời phải biết tận dụng tối đa điều kiện máy móc thiết bị hiện có của tổ chức sử dụng lao động để người học thực hành, thí nghiệm, giải quyết được khó khăn hiện nay của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là thiếu máy móc thiết bị thực hành. - Kết thúc mỗi khoá đào tạo, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và tổ chức sử dụng lao động phải từng bước kiểm tra, đánh giá. Đánh giá đúng kết quả đào tạo sẽ tạo niềm tin cho tổ chức sử dụng lao động mở rộng hình thức này đồng thời giúp cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp điều chỉnh, cải tiến nội dung, hình thức đào ngày càng hoàn thiện hơn. Muốn thiết lập được mối quan hệ gắn bó mật thiết với tổ chức sử dụng lao động, bộ phận tạo nguồn đào tạo theo hình thức này phải bố trí đủ số lượng, có khả năng trao đổi với tổ chức sử dụng lao động về nhu cầu đào tạo; phải xây dựng kế hoạch tạo nguồn đào tạo cụ thể với các điều kiện đảm bảo, trong đó quan trọng nhất là đảm bảo về kinh phí, được nhà trường đồng ý, phê duyệt để thực hiện. Là một việc làm mới mẻ và khó khăn nhưng nếu tổ chức tốt hoạt động đào tạo theo địa chỉ sẽ là một trong những cơ sở tin cậy để một cơ sở giáo dục nghề nghiệp phát triển vững chắc, đáp ứng nhu cầu xã hội, thực hiện phương châm học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã hội. TRIỂN VỌNG XUẤT KHẨU THUỶ SẢN VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG EU Trương Thị Thanh Thuỷ EU hiện là một thị trường rộng lớn và đâỳ tiềm năng đối với các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam. Đây cũng là thị trường chính của thuỷ sản Việt Nam hàng chục năm qua và có nhiều triển vọng cho việc đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong thời gian tới. Điều này được minh chứng qua các nhân tố sau: Thứ nhất : Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Cộng đồng Châu Âu từ năm 1990. Hiệp định hợp tác với EU ngày 17 – 7 19995, tạo cơ hội thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ mối qua hệ hợp tác với các quốc gia thành viên và cả cộng đồng trên mọi lĩnh vực hỗ trợ phát triển khoa học kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, văn hoá xã họi, đầu tư kinh tế thương mại và đến nay, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế giới WTO. Thứ hai : Việc ngành thuỷ sản Việt Nam đáp ứng yêu cầu cao của EU về vệ sinh an toàn thực phẩm đã giúp sản phẩm thuỷ sản Việt Nam xuất khẩu sang EU không những ngày càng tăng mà còn có chỗ đứng vững chắc ở các thị trường đòi hỏi khắt khe khác như Mỹ, Nhật Bản và Canađa. Thứ ba : Do sản lượng thuỷ sản khai thác tự nhiên ngày càng giảm vì những quy định liên quan đến bảo vệ nguồn lợi và môi trường, nên EU ngày càng phụ thuộc vào thuỷ sản nhập khẩu. Chính vì vậy, thương mại cũng sẽ được ưu tiên trong chinha sách hỗ trợ của EU, giúp các nước phát triển hiểu rõ hơn về WTO, các hàng rào kỹ thuật trong thương mại hoặc kiểm dịch động vật. Ngành thuỷ sản Việt Nam có thể được lợi rất lớn do EU ưu tiên hổ trợ trong lĩnh vực kiểm dịch động vật. Ngoài ra EU còn dành quỹ hổ trợ thông qua quỹ tín thác Châu Á, Quỹ đầu tư Châu Á. Việt Nam là một trong 178 nước dược hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập( GSP) với mức thuế thấp hơn 3,5% so với mức thúe thông thường. Được hưởng GSP, thuế xuất khẩu thuỷ sản sang EU không những sẽ giảm, mà việc xem xét mức thuế sẽ được thực hiện sau 3- 5 năm chứ không phải hàng năm như trước đây với số lượng mặt hàng nhiều hơn. Hiện nay, tỷ lệ mặt hàng thuỷ sản được hưởng GSP lên tới 80%. Bên cạnh đó, người tiêu dùng EU ngày càng tiêu dùng nhiều thuỷ sản hơn, vì họ cho rằng thuỷ sản là loại thực phẩm sạch
  3. và bổ dưỡng. Đây là tín hiệu tốt cho xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào EU, hằng năm Việt Nam xuất khẩu hàng trăm nghìn tấn hàng thuỷ sản gồm tôm, cá ngừ, nhuyễn thể hai mảnh vỏ và nhiều mặt hàng cá đông lạnh các loại. Thứ tư : Nếu trước đây rất khó thực thi các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm vì giữa các nước khác nhau có những quy định khác nhau, thì bây giờ EU chỉ có một cơ quan quản lý duy nhất là cục quản lý ATTPEU, một khuôn khổ luật pháp duy nhất và một cơ chế duy nhất là luật chung về thực phẩm để có thể đảm bảo nếu xảy ra rủi ro liên quan đến an toàn thực phẩm thì chỉ trong vòng 1 giờ đã được đệ trình lên cục quản lý an toàn thực phẩm EU. Nếu biện pháp đề xuất được đa số thành viên cục quản lý an toàn thực phẩm EU ủng hộ, thì sản phẩm có mới nguy cơ đó sẽ bị triệu hồi khỏi các kênh phân phối trên thị trường. Với những quy định mới này là hoàn toàn có lợi, thứ nhất nó dễ áp dụng, không phải nghiên cứu quá nhiều văn bản; thứ hai là mọi vấn đề rõ ràng hơn, các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm đã được hệ thống hoá và đảm bảo tính logic; thứ ba là không một nước thành viên nào được quyền đặt ra thêm quy định riêng đối với hàng nhập khẩu. Như vậy với các nhân tố nêu trên cùng với nhu cầu tiêu thụ thuỷ sản có xu hướng tăng mạnh ở các nước châu Âu, hàng trăm doanh nghiệp Việt Nam đã đáp ứng yêu cầu và được phép xuất khẩu vào thị trường EU sẽ tạo mọi nhiều cơ hội hơn để tăng cường xuất khẩu sang khối thị trường này. Hiện EU là thị trường có mức tăng trưởng mạnh của thuỷ sản Việt Nam. Trong tương lai, mức tăng trưởng này có khả năng tiếp tục tăng mạnh. Sự cạnh tranh với mức giá rẻ của các mặt hàng đảm bảo chất lượng và an toàn vệ sinh thực phảm là yếu tố qyết định giữ vững thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường EU. Có thể khẳng định triển vọng xuất khẩu thuỷ sản của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường này là rất tốt và ổn định trong các năm tới. Tài liệu tham khảo: - Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường EU năm 2007- 2008 - Xu hướng tiêu thụ thuỷ sản của EU năm 2008- 2009 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ DU LỊCH VÀ VIỆC SỬ DỤNG LAO ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Phạm Tường Hưng Tổ Bộ Môn Du Lịch - Khoa QTKD Đà Nẵng là thành phố có bờ biển dài và đẹp, được mệnh danh là một trong những nơi có bãi biển đẹp nhất hành tinh. Trong những năm qua, chính quyền thành phố ra sức xây dựng Đà Nẵng trở thành thành phố du lịch và là điểm đến khá lý tưởng cho du khách trong và ngoài nước. Với lợi thế về điều kiện địa lý, tiềm năng về tài nguyên du lịch nên trong thời gian qua chính phủ và địa phương đã quyết tâm nâng cấp, xây dựng mới cơ sở hạ tầng, quy hoạch nhiều tuyến điểm du lịch, tạo tiền đề thu hút nhiều nhà đầu tư du lịch trong và ngoài nước. Chính vì thế, hệ thống khách sạn nhà hàng, các điểm tham quan, khu nghỉ mát lại mọc lên sang sát bên nhau. Những doanh nghiệp (DN) này đã và đang thu hút một lực lượng lao động (LĐ) có trình độ tay nghề khá đông, ước tính khoảng từ 5000 đến 7000 LĐ trong tương lai. Trước nhu cầu của thị trường LĐ như thế, nhiều gia đình trong và ngoài thành phố mong muốn cho con em theo học “nghề du lịch” với kỳ vọng có được công ăn việc làm ổn định. Nắm bắt được tình hình trên, trong những năm qua, trên địa bàn thành phố đã mọc lên rất nhiều cơ sở đào tạo nghề du lịch kể cả công lập lẫn tư thục với các loại hình đào tạo rất đa dạng. Sự phát triển về số lượng cơ sở đào tạo
  4. như thế đã tạo ra một tín hiệu lạc quan cho người học trong việc lựa chọn trường lớp và nghiệp vụ chuyên môn phù hợp với nguyện vọng của mình, mặt khác làm sáng sủa bộ mặt của thành phố du lịch miền trung. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, không ít cơ sở dạy nghề vẫn còn một số tồn tại nhất định. Thứ nhất, vì chúng ta không có bất kỳ tiêu chuẩn nào, do vậy việc đầu tư, quy hoạch của các cơ sở đào tạo nghề du lịch còn tùy tiện không dựa trên các tiêu chuẩn thông lệ quốc tế, không thể nói mức độ đầu tư hay phát triển ở các cơ sở là tốt hay xấu. Chính vì vậy, đã tạo kẽ hở cho nhiều người trục lợi. Không ít cơ sở đào tạo có quá nhiều cán bộ kinh tế và cán bộ trái ngành khác nghề nhưng lại thiếu cán bộ có kinh nghiệm đào tạo nghề du lịch, có kiến thức kỹ thuật. So với hai đầu đất nước thì đội ngũ giảng viên nghề du lịch ở thành phố Đà Nẵng vừa yếu lại vừa thiếu cả về trình độ chuyên môn nghiệp vụ lẫn kinh nghiệm thực tế trong công tác điều hành tổ chức phục vụ du lịch. Thêm vào đó, điều kiện và cơ hội học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, tiếp thu những kiến thức và kỹ năng hiện đại còn hạn chế do nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan. Một số cơ sở dạy nghề lại mời những nhân viên đang làm việc ở một số khách sạn đến giảng dạy cho học viên với hình thức truyền đạt kiến thức và kỹ năng theo kinh nghiệm thực tế tại đơn vị họ đang làm việc, chứ không dựa trên một chuẩn mực chung mang tính khoa học nào cả. Đây chính là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự bất cập và chênh lệch về trình độ nhận thức, kỹ năng nghiệp vụ của học viên ở các cơ sở dạy nghề. Bênh cạnh đó, rất nhiều giảng viên còn cứng nhắc và thiếu linh động trong phương pháp đào tạo, cụ thể là chỉ dừng lại ở việc “hướng dẫn học viên thực hành nghiệp vụ một cách máy móc”, chưa quan tâm đến việc “định hướng cho họ phương pháp học thực hành có hiệu quả”, từ đó không kích thích tính sáng tạo cho người học, hay nói cách khác người học luôn ở trạng thái “thầy đặt đâu, trò ngồi đấy”. Chính phương pháp đào tạo như thế nên dẫn đến hệ quả là nhiều học viên trở nên nhàm chán trong học tập, khi tiếp xúc với công việc thực tế lại bị bế tắc trong xử lý tình huống. Thứ hai, theo quy định, học sinh có 70% thời gian thực hành nghề nghiệp, nhưng hiện nay những văn bản quan tâm đến nội dung các vấn đề về thực hành nghề nghiệp bao gồm: chương trình, giáo trình hướng dẫn thực hành, các tiêu chuẩn thiết bị, tiêu chuẩn tiêu chí nâng cao kỹ năng nghề, tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, tiêu chuẩn về kỹ năng nghề…còn khá hạn chế. Do thiếu kiến thức kỹ thuật cho nên việc xây dựng chương trình đảm bảo liên thông không đạt hiệu quả mà chỉ có lý thuyết suông. Việc hiểu về liên thông không có căn cứ khoa học dẫn đến không thể xây dựng được chương trình liên thông ở các bậc cao hơn. Thứ ba, việc đào tạo nghề du lịch chưa định hướng theo nhu cầu của thị trường, nên mức độ vận dụng kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp mà học viên được học ở nhà trường vào công việc thực tế còn ít, trái lại những kiến thức và kỹ năng “sơ đẳng “ mà thị trường cần vừa thiếu lại vừa yếu. Thứ tư, việc đào tạo kỹ năng sống ít được các cơ sở dạy nghề quan tâm và chú trọng, tuy nó không liên quan trực tiếp đến thao tác chuyên môn nghiệp vụ, nhưng nó góp phần chuẩn hoá nhân cách, giúp học viên có thái độ đúng đắn với công việc mình đang làm, là cơ sở hình thành đạo đức nghề nghiệp và tác phong trong công việc. Đây chính là yếu tố tạo ra giá trị tăng thêm trong phục vụ cho khách hàng. Thứ năm, điều kiện giảng dạy và thực hành của giảng viên và học viên còn bất cập xuất phát từ nhiều lý do: Hạn chế về năng lực đầu tư; thiếu biện pháp và thiếu hiểu biết về kỹ thuật nên các thiết bị được đầu tư chủ yếu là mua sắm theo ý đồ từng đơn vị nên chất lượng kém, thiếu sự đồng bộ về số lượng và chủng loại từ đó dẫn đến thiếu tính thực tế. Yêú tố này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo tay nghề cho học viên. Đó là thực trạng về đào tạo của các cơ sở dạy nghề du lịch, còn thực trạng về việc sử dụng LĐ của các DN du lịch thì sao? Qua quá trình tiếp xúc trực tiếp với các DN, chúng tôi nhận thấy rằng nhiều DN du lịch trên địa bàn thành phố muốn tuyển dụng nhân viên đã qua đào tạo nghiệp vụ, song phần lớn họ đều cho rằng đa số trình độ tay nghề của ngưòi LĐ chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế của công việc tại đơn vị, do vậy
  5. muốn sử dụng được thì phải đào tạo lại. Ngoài ra, trình độ ngoại ngữ của họ vẫn còn yếu, kỹ năng giao tiếp còn hạn chế. Thực trạng này dưới một giác độ nào đó phản ánh được hệ quả của phương pháp đào tạo ở các cơ sở dạy nghề hiện nay. Tuy nhiên, những tồn tại trên các nhà tuyển dụng cũng phải gánh một phần trách nhiệm của mình. Chủ trương xã hội hoá kinh doanh du lịch là một việc làm rất đúng của nhà nước ta trong bối cảnh hội nhập hiện nay. Tuy nhiên, để chính sách xã hội hoá kinh doanh du lịch gắn liền với mục tiêu phát triển bền vững của ngành du lịch địa phương nói riêng và kinh tế của thành phố nói chung, đòi hỏi chính quyền địa phương, các cơ quan hữu quan cần thắc chặt hơn nữa khâu kiểm tra, đánh giá, thẩm định và cấp phép kinh doanh cho các DN du lịch trên địa bàn thành phố. Có như vậy mới loại bỏ dần những đơn vị kinh doanh cơ hội, manh mún, nhỏ lẻ. Vì đây chính là những yếu tố gây xáo trộn rất lớn về thị trường LĐ trong ngành du lịch cả về số lượng lẫn trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Một thực tế mà chúng ta thấy là do quy mô kinh doanh của một số DN còn hạn chế, nên khả năng chịu sự tác động bởi tính thời vụ và sự cạnh tranh không ngang sức giữa các DN lớn nhỏ khác nhau là vấn đề không thể tránh khỏi, từ đó ảnh hưởng ít nhiều đến tính bền vững của DN. Với tình thế trên một số DN nhỏ lẻ không có nhu cầu sử dụng LĐ lâu dài, thậm chí họ ‘không cần tuyển dụng LĐ được đào tạo qua trường lớp” mà chỉ tuyển dụng những LĐ phổ thông có ngoại hình dễ nhìn và sẵn sàng chấp nhận được trả một mức lương thấp. Chính làn sóng LĐ phổ thông này đã làm mất đi không ít cơ hội làm việc của những LĐ lành nghề, làm cho mặt bằng thu nhập của nhân viên phục vụ du lịch tại Đà Nẵng trở nên thấp xuống. Thực trạng trên một mặt ảnh hưởng đến tinh thần và thái độ cống hiến của nhân viên đối với doanh nghiệp, mặt khác làm nhiều học viên đang theo học ở các cơ sở đào tạo nghề du lịch trở nên hoang mang, lo lắng, mất niềm tin về tương lai của nghề mà mình đang theo đuổi. Vậy để phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn LĐ trong lĩnh vực du lịch, có khả năng đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, theo chúng tôi các cơ sở dạy nghề, các DN du lịch và cơ quan hữu quan của thành phố Đà Nẵng cần phải quan tâm đến những việc sau: Một là, phát triển hệ thống đào tạo nghề du lịch có khả năng cung cấp cho xã hội một đội ngũ LĐ đông đảo, có trình độ cần thiết theo một cơ cấu thích hợp, có khả năng thích ứng nhanh với mọi biến đổi của môi trường có trình độ toàn cầu hóa ngày càng cao, đồng thời phải thường xuyên cập nhật các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho đội ngũ LĐ trong du lịch của thành phố. Ngoài việc nâng cao tính năng động, chủ động của các cơ sở dạy nghề du lịch, các hoạt động đào tạo gắn liền với địa chỉ sử dụng, gắn với nhu cầu thực tiễn, nghĩa là phải chuyển từ "có gì dạy nấy" sang dạy nghề phải gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội, đồng thời vừa tạo điều kiện, vừa tạo sức ép đối với đội ngũ cán bộ giảng dạy phải tự nâng cao trình độ lý thuyết và tay nghề, buộc các cơ sở đào tạo cũng như các giáo viên trực tiếp tham gia đào tạo, bồi dưỡng phải tính toán hiệu quả của công tác đào tạo; thực hiện những hình thức khuyến khích vật chất đối với giáo viên có trình độ cao. Hai là, phải có chế tài đối với các nhà tuyển dụng, bằng cách nào đó để các DN cần tuyển dụng LĐ phải đặt yêu cầu trước với các cơ sở đào tạo nghề và phải có đóng góp với nơi đào tạo LĐ cho mình, chỉ có thế các DN mới trở thành người "cấy trồng", "thâm canh" chứ không phải là người "hái lượm" như không ít DN hiện tại. Mặt khác, DN cần quan tâm đến đời sống của người LĐ, trả lương hợp lý theo vị trí công việc họ đảm nhiệm, xây dựng văn hoá DN. Vấn đề tạo môi trường làm việc thân thiện giữa cấp trên và cấp dưới cũng là điều rất quan trọng. Và chỉ có như vậy thì dòng chảy LĐ trong nghề du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng mới ổn định, xã hội mới phát triển hài hoà.
  6. VAI TRÒ CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở NƯỚC TA Phạm Thị Hoa Bộ môn Lý luận chính trị Đối với chủ nghĩa duy vật lịch sử, thì “quan hệ sản xuất” là một trong những khái niệm cơ bản, góp phần phản ánh cấu trúc và logic vận động của các hình thái kinh tế - xã hội. Lênin cho rằng: “Chỉ có đem những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất (QHSX) và đem những QHSX vào trình độ của những lực lượng sản xuất (LLSX) thì ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”. [1.163]. QHSX là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất). Trong quá trình sản xuất nảy sinh nhiều mối quan hệ, nhưng ở đây ta chỉ xét ba mối quan hệ cơ bản mà C.Mác coi đó là ba mặt của QHSX. QHSX gồm ba mặt cơ bản sau đây: - Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất: Nói lên rằng trong quá trình sản xuất, người lao động đang sử dụng những TLSX đó của ai, và ai là người có quyền định đoạt TLSX đó. Trong QHSX, quan hệ sở hữu đối với TLSX đóng vai trò quyết định vì nó quyết định bản chất của QHSX. - Quan hệ trong tổ chức quản lý và phân công lao động: Nói lên địa vị và vai trò của các tập đoàn khác nhau, nói lên sự trao đổi giữa các tập đoàn xã hội với nhau. Tuy phụ thuộc vào quan hệ sở hữu đối với TLSX, nhưng trong thực tế quan hệ trong tổ chức, quản lý và phân công lao động cũng có vai trò rất quan trọng. Ngay cả khi chế độ sở hữu chưa có gì thay đổi, nhưng nếu có một phương thức quản lý hợp lý thì sản xuất vẫn có bước phát triển. - Quan hệ phân phối sản phẩm lao động: Là cách thức phân phối kết quả sản xuất cho những quan hệ với quá trình đó, điều đó phụ thuộc vào quan hệ của họ đối với TLSX, nhưng nếu phân phối công bằng sẽ thúc đấy quá trình sản xuất phát triển. Ba mặt nói trên quan hệ hữu cơ với nhau, không tách rời nhau. Trong đó quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định đối với những quan hệ khác. Bản chất bất kỳ QHSX nào cũng đều phụ thuộc vào vấn đề TLSX chủ yếu trong xã hội giải quyết như thế nào. QHSX có vai trò to lớn trong sự phát triển xã hội. Khi QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX tạo thành quy luật thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Cùng với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, QHSX phù hợp đã thúc đẩy xã hội loài người lần lượt phát triển qua năm hình thái kinh tế - xã hội: Công xã nguyên thủy (Cộng sản nguyên thủy), Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa. Vậy QHSX có vai trò như thế nào trong sự phát triển nền kinh tế trị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay? Ở nước ta, nền kinh tế trị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được Đảng ta xác định từ Đại hội VII: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa” và được tiếp tục khẳng định qua các Đại hội VIII, IX và X. Do điểm xuất phát đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) của nước ta còn thấp cả về LLSX và QHSX, nên việc xây dựng từng bước QHSX mới để thúc đẩy sản xuất phát triển và xã hội phát triển là một yêu cầu tất yếu. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH tính đan xen tác động lẫn nhau trong QHSX thể hiện ở chỗ sự tồn tại của nhiều QHSX: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã phát huy tác dụng và đã thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển.
  7. Trong các thành phần kinh tế trên, Đảng ta đã xác định kinh tế nhà nước phải đóng vai trò chủ đạo. Kinh tế nhà nước phải thực sự nắm giữ những ngành, những lĩnh vực kinh tế trọng yếu, mũi nhọn phải đi đầu trong việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu qủa. Kinh tế nhà nước phải không ngừng tăng cường, cũng cố và phát triển làm chỗ dựa để nhà nước thực hiện có hiệu lực chức năng điều tiết, quản lý vĩ mô nền kinh tế theo định hướng XHCN. Cùng với kinh tế hợp tác (nòng cốt là hợp tác xã) dần dần trở thành nền tảng của nền kinh quốc dân và chế độ xã hội mới. Đối với kinh tế tập thể, đây là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tập thể về TLSX. Kinh tế tập thể phát huy được sức mạnh tập thể mà từng cá nhân không thể có được. Kinh tế tập thể sẽ không ngừng củng cố và phát triển, cùng với kinh tế nhà nước sẽ trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Phải đổi mới kinh tế tập thể làm cho nó trở nên đa dạng phong phú hơn, có như thế mới huy động vốn dưới nhiều hình thức và làm ăn có hiệu quả hơn. Một đất nước vừa phát triển theo định hướng XHCN lại vừa thừa nhận sự tồn tại và phát triển của thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa. Điều đó không phải là nghịch lý, vấn đề đặt ra ở đây chúng ta sử dụng nó như thế nào để nhanh chóng phát triển LLSX mà vẫn xây dựng đất nước theo định hướng XHCN. Thành phần kinh tế tư bản nhà nước được Đảng ta chủ trương áp dụng rộng rãi phổ biến các hình thức kinh tế tư bản nhà nước để phát triển LLSX theo định hướng XHCN. Đối với các thành phần kinh tế khác, Đảng ta xác định cần có sự hướng dẫn, hướng kinh tế cá thể, tiểu chủ theo lợi ích thiết thân và nhu cầu phát triển, từng bước đi vào làm ăn hợp pháp một cách tự nguyện, hoặc làm vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã. Mặt khác, khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân đi vào con đường liên doanh với nhà nước, bán cổ phần cho người lao động trong doanh nghiệp, tạo mối quan hệ hợp tác cùng có lợi cho chủ và thợ. Để thực hiện công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước, chúng ta cần sử dụng kinh tế tư bản nhà nước như một công cụ hữu hiệu, bắt nhà tư bản phải cày trên “mảnh đất vô sản” biến thành phần kinh tế tư bản nhà nước thành “một trợ thủ đắc lực cho CNXH”. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là thành phần kinh tế mới xuất hiện trong những năm gần đây ở nước ta, sự phát triển của thành phần kinh tế này cho phép chúng ta tranh thủ được khối lượng to lớn từ nước ngoài về vốn, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm tổ chức quản lý kinh tế, mở rộng thị trường nước ngoài, giải quyết việc làm, trong nước, góp phần khai thác và sử dụng hiệu quả hơn tiềm năng kinh tế ở nước ta.Vì thế, chủ chương của nhà nước là tạo điều kiện thuận lợi cho thành phần kinh tế này phát triển; hướng vào xuất khẩu. Như vậy, chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần của Đảng ta thật sự khơi dậy tiềm năng của các thành phần kinh tế. Tính tích cực chủ động sáng tạo của của nhân dân được phát huy, sản xuất, kinh doanh phát triển và đã thật sự thúc đẩy LLSX phát triển, đời sống nhân ổn định và phát triển. Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: “Nếu CNH, HĐH tạo nên LLSX cần thiết cho chế độ mới thì việc phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống QHSX phù hợp”. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và phát triển QHSX chúng ta cũng có những thiếu sót, đúng như Đại hội VIII của Đảng ta đã đánh giá: “Trong thời gian qua việc lãnh đạo QHSX, vừa có phần lúng túng, vừa có phần buông lỏng, chậm tháo gở các vướng mắc về cơ chế, chính sách, để tạo động lực và điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy vai trò trong nền kinh tế quốc dân. Việc thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là chậm, chưa quan tâm tổng kết thực tiễn, chưa kịp thời chỉ ra phương hướng, biện pháp đổi mới kinh tế hợp tác xã để hợp tác xã ở nhiều nơi tan rã hoặc chỉ còn hình thức, cản trở sản xuất phát triển. Chưa giải quyết tốt một số chính sách để khuyến khích kinh tế tư nhân phát huy tiềm năng, đồng thời chưa quản lý tốt thành phần kinh tế này, quản lý liên doanh với nước ngoài còn nhiều sơ hở”. [4.65-66]. Vì thế, để phát triển QHSX khai thác tốt vai trò của QHSX đối với sự phát triển kinh tế ở nước ta, cần phải có những giải pháp thích hợp. Những giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của QHSX trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
  8. Thứ nhất, việc xây dựng QHSX ở nước ta phải xuất phát từ thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước, từ nhận thức tính quy luật từ nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn và những đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Thứ hai, trong xây dựng hoàn thiện QHSX mới cần chú trọng cả ba mặt: Chế độ sở hữu, chế độ quản lý và chế độ phân phối: - Về sở hữu, vẫn sẽ phát triển theo hướng còn tồn tại các hình thức sở hữu khác nhau, nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa là thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân và thực hiện công bằng xã hội nên phải từng bước xác lập và phát triển chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất chủ yếu một cách vững chắc, tránh nóng vội xây dựng ồ ạt mà không tính đến hiệu quả như trước đây. - Về quản lý, trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, kế hoạch, chính sách đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy tính tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực, khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của người lao động và toàn thể nhân dân. - Về phân phối, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện đa dạng hoá các hình thức phân phối. "Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội”. Cơ chế phân phối này vừa tạo động lực kích thích các chủ thể kinh tế nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời hạn chế những bất công trong xã hội. Thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Thứ 3, phải duy trì tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường nước ta, tức là phải thực hiện tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, giáo dục, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước. Tóm lại: Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện trình độ tư duy, và vận dụng của Đảng ta về quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đây cũng chính là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. ----------------------------------------- 1. V.I.Lênin- Toàn tập, tập 4. Nxb tiến bộ Mát- xcơ va, 1974. (tiếng việt) 2. Phan thanh Phố- Xây dựng QHSX trong thời kỳ đẩy mạng CNH, HĐH. Tạp chí cộng sản, số 2, 1998. 3. Trương Hữu Hoàn. Tìm hiểu tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen về quy luật phù hợp của QHSX với LLSX. Tạp chí triết học, số 3, 1994. 4. Đảng cộng sản Việt Nam- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1991 5. Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI. VII. VIII, IX và X. 6. Tạp chí triết học các số 2008. SỬ DỤNG HÌNH TƯỢNG VĂN HỌC ĐỂ MINH HỌA TRONG BÀI GIẢNG ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG
  9. CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Trần Đình Bình Bộ môn Lý Luận Chính Trị 1. ĐẶT VẤN ĐỀ. Trong giai đoạn hiện nay, việc dạy và học học phần Đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng trong các trường cao đẳng, đại học, góp phần bồi dưỡng niềm tin, ý thức trách nhiệm của sinh viên với Đảng và dân tộc. Đồng thời, sinh viên sẽ vận dụng những hiểu biết của mình về những chủ trương của Đảng trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị - xã hội vào hoạt động nghề nghiệp và cuộc sống. Để nâng cao hiệu quả dạy và học đối với học phần Đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đã có nhiều phương pháp, nhiều sáng kiến kinh nghiệm được áp dụng, trong đó việc sử dụng hình tượng văn học để minh họa trong bài giảng là một việc làm cần thiết. Văn kiện Đại hội lần thứ VI (12/1986) của Đảng đã khẳng định “không một hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người trong quá trình phát triển của cách mạng"( Trích Báo cáo Chính trị Đại hội VI). Hình tượng văn học sở dĩ có sức thuyết phục cao là vì trong quá trình sáng tạo hình tượng, nhà văn nắm bắt được bản chất trong nhiều sự vật, hiện tượng đồng loại để rồi từ đó làm nổi bật những nét bản chất trong muôn vàn sự vật hiện tượng đồng loại, và rồi thể hiện những nét bản chất ấy qua một hình tượng cụ thể. Sự thể hiện quy luật đời sống qua cái đơn nhất làm cho hình tượng vừa có tính khái quát vừa có tính cụ thể. Mặt khác nhà văn bao giờ cũng tái hiện đời sống dưới ánh sáng lợi ích và lý tưởng của một giai cấp, của một thời đại nhất định. Khi xây dựng hình tượng họ biểu hiện trong đó một thái độ, một cảm xúc riêng, nghĩa là họ hiện thân vào hình tượng. Các ngành khoa học khác phản ánh hiện thực khách quan bằng các khái niệm, phán đoán, những tiền đề định lý hoặc công thức. Qua hình tượng phản ánh của các tác phẩm văn học đó, người đọc hình dung được cuộc sống một cách cụ thể, cảm tính. Dưới ngòi bút của những nhà văn thực sự tài năng thì một nhân vật là một điển hình. Đối với độc giả, mỗi điển hình là một “người lạ quen biết”. 2. SỬ DỤNG MINH HỌA. Trong quá trình giảng dạy, bản thân đã sử dụng một vài hình tượng văn học tiêu biểu trong các tác phẩm mà sinh viên đã được học ở chương trình phổ thông để minh họa. Sau đây là một vài ví dụ c ụ t hể . Ví dụ 1: Khi nói về tình hình giai cấp và sự phân hoá giai cấp trong xã hội Việt Nam do sự tác động bởi chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Chương I: Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng – Xã hội Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp). Để minh họa người nông dân Việt Nam, do tác động của chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân pháp và chính sách bóc lột của chính quyền tay sai, giảng viên có thể minh họa số phận những nhân vật: chị Dậu (Tác phẩm Tắt Đèn - Ngô Tất Tố); Chí Phèo (Tác phẩm Chí Phèo - Nam Cao)…những người nông dân Việt Nam bị bần cùng không những về cuộc sống vật chất mà cả tâm hồn. Chính sách bóc lột của thực dân Pháp và chính quyền tay sai đã làm cho gia đình chị Dậu rơi vào cảnh khốn cùng, phải bán cả con gái và ổ chó để lấy tiền nộp sưu cho chồng, còn Chí Phèo từ một anh thanh niên nông thôn biết tự trọng nhân cách đã trở thành kẻ chuyên “rạch mặt ăn vạ” lúc nào không hay. Ví dụ 2: Một trong những khó khăn của cách mạng Việt Nam sau cách mạng tháng Tám, đó là nạn đói, một bức tranh nông dân trong những năm bị cái đói hoành hành của một phần tư đất nước, cứ như rõ mồn một (Tác phẩm Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân). Nhân dân lao động bị đói, tiều tuỵ đáng thương cứ hiện lên trước mắt. “Cái đói đã tràn về” trẻ con vì đói “chúng ngồi ủ rũ không buồn nhúc nhích”. Một cọng rau cho đỡ đói cũng không, đâu tới hạt cơm hạt thóc... bởi thế những góc
  10. tường, phố chợ người đói nằm “la liệt như ngã rạ” càng kinh tởm và đớn đau khi có “cái mùi gây gây của xác người chết”. Nhân vật Tràng qua trang viết của nhà văn Kim Lân hiện lên với đầy đủ những gì chân thật nhất của người nông dân - người nông dân bị đói khát: “Chiếc áo vắt trên vai, dường như mỏi mệt, vật vã của buổi chiều đè nặng trên cái lưng to của hắn”. Ví dụ 3: Nói về quan điểm sang tác, tư tưởng của tầng lớp trí thức trước và sau cách mạng tháng Tám, giảng viên có thể gợi lên cho sinh viên thấy diễn biến tâm lý của người nông dân: Chị Dậu, Chí Phèo, Tràng (Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân) cũng là diễn biến tâm lý của nhà văn, đại diện cho tầng lớp trí thức trước và sau cách mạng. Nếu như sự bế tắc trong tư tưởng của tầng lớp trí thức tiểu tư sản trước cách mạng về con đường giải phóng nỗi thống khổ cho chính mình, cho thân phận của người nông dân và dân tộc được thể hiện bằng hành động phản kháng của Chí Phèo đâm chết Bá Kiến và tự kết liễu cuộc đời mình và tiền đồ của chị Dậu tối đen như mực. Ngược lại, dù trong những ngày đói khổ sau cách mạng tháng Tám, bà cụ Tứ (mẹ Tràng), Tràng và thị vợ mới “nhặt” được, sau những bữa ăn cháo cám, Tràng nhớ lại lá cờ đỏ và đoàn người đói đi phá kho thóc Nhật mà “hắn” mới gặp hôm nào. Với Tràng, hạnh phúc muộn màn đến bất ngờ, lòng anh chứa chan hy vọng về một sự đổi đời. Tâm trạng của các nhân vật này trong từng tác phẩm, đã nói lên sự thay đổi trong quan điểm sáng tác của của nhà văn trước những thay đổi hiện thực của cuộc sống. Ví dụ 4: Minh hoạ về quan điểm của Đảng xây dựng nền “văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, “bản sắc dân tộc” bao gồm những giá trị văn hóa truyền thống, bền vững của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử hàng ngàn năm. Đó là lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết với cá nhân gia đình - làng xã - Tổ quốc…Tuy nhiên trong thời kỳ mở cửa hội nhập hiện nay, những giá trị đó đã dần mai một, thay vào là những thói ích kỷ, chạy theo đồng tiền, chức vị, phủ nhận những giá trị truyền thống. Tác phẩm “Mùa lá rụng trong vườn” của nhà văn Ma Văn Kháng (1982), là một trong những tác phẩm "tiền trạm" của đổi mới mà ở đó chứa đựng nhiều dự báo sáng suốt. Trong gia đình ông Bằng xuất hiện hai con người nổi loạn muốn hê tung tất cả, phủ định sạch trơn mọi chuẩn mực đạo đức truyền thống là Cừ và Lý. Họ chỉ biết chạy theo dục vọng cá nhân, chạy theo đồng tiền, thoát ly truyền thống, phá vỡ mọi chuẩn mực đạo đức xã hội… Chỉ khi đến được “miền đất hứa” thì Cừ mới tỉnh ngộ và nhận ra rằng “Mỗi người chỉ có thể thuộc về một dân tộc nhất định”, “Phá vỡ đạo đức thì gặp ngay hung bạo. Khinh rẻ giá trị tinh thần thì đời sống trống rỗng, hoang tàn”… Như người đi vào đường hầm, càng vào sâu càng bế tắc, Cừ đã chọn cái chết nơi đất khách quê người để chuộc lỗi lầm của mình. Bản tính Lý là người thích quyền hành, thèm sai khiến người khác, tự coi mình là quan trọng, là hơn người. Sự “năng động, tháo vát” của chị bị lãnh đạo xí nghiệp lợi dụng triệt để. Lý nhầm tưởng những hành động “đi cửa sau” của mình là thức thời, năng động phù hợp với xu thế thời đại. Chị vừa thiếu một nền tảng, căn cốt văn hoá vừa thiếu một người tri kỷ, định hướng nâng đỡ về tinh thần, lại chịu tác động mạnh mẽ những mặt trái của kinh tế thị trường, khiến chị không cưỡng lại được sự cám dỗ vật chất, lối sống vị kỷ, thực dụng, bản năng. 3. Ý NGHĨA VÀ TÁC DỤNG - Trước hết cần phải khẳng định rằng việc sử dụng hình tượng văn học trong dạy học học phần Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam góp phần khắc sâu sự kiện lịch sử và bản chất của sự kiện lịch sử; - Cũng cố những nhận định, lý luận của Đảng về những vấn đề của cách mạng Việt Nam: về xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; Nghệ thuật vì nhân sinh…; - Góp phần giáo dục tình cảm, niềm tin cho sinh viên. Sử dụng những hình tượng văn học để minh họa một kết luận trong bài giảng Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tác động tích cực đến tâm lý, tình cảm của người học, đây cũng là một biện pháp để góp phần giáo dục cho sinh viên. “Thiếu tình cảm của con người thì không bao giờ và cũng không thể có những tìm tòi của con người về chân lý” (Lênin); - Kích thích làm tăng sự hứng thú để tạo điều kiện đạt hiệu quả cao trong dạy học học phần; - Tiếp tục phát triển khả năng khả năng thưởng thức, cảm thụ nghệ thuât và văn hóa đọc cho sinh viên.
  11. 4. MỘT SỐ YÊU CẦU CƠ BẢN. Việc sử dụng hình tượng văn học vào dạy và học học phần Đường lối cách mạng của Đảng phải phù hợp với những yêu cầu sau: - Rèn luyện kỹ năng có liên quan đến việc sử dụng các kiến thức đã học, ở đây là thưởng thức, cảm thụ văn học; - Sự phù hợp với trình độ, yêu cầu, điều kiện của sinh viên. Những hình tượng văn học được vận dụng phải nằm trong khung chương trình văn học mà học sinh đã được học ở cấp II, cấp III; - Phải bám sát những yêu cầu giáo dục và giáo dưỡng trong bài giảng Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với học sinh chứ không quá sa đà vào nghiên cứu tác phẩm văn học, không biến giờ dạy thành những buổi nói chuyện về văn học sử, làm loãng nội dung và nhiệm vụ của bài học; - Hình tượng điển hình phải phản ánh, minh họa một kết luận, một vấn đề cơ bản (đoạn văn nào trong tác phẩm cần trích đọc, đoạn hội thoại nào của nhân vật cần trích dẫn), có sức hấp dẫn, thuyết phuc để có tác dụng giáo dục cao, gây hứng thú đối với sinh viên. - Để việc sử dụng hình tượng văn học vào hoạt động dạy và học đạt được kết quả cao, cần phải có sự chuẩn bị có kế hoạch chu đáo, như lập bảng thống kê các tác phẩm văn học có hình tượng điển hình phù hợp với nội dung các bài giảng trong học phần. Những yêu cầu trên, được đúc rút từ kinh nghiệm bản thân, chỉ là cơ sở ban đầu cho việc xây dựng, hình thành các biện pháp sư phạm sáng tạo và vận dụng phù hợp vào điều kiện dạy và học đối với học phần Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tài liệu đã tham khảo: 1. UBKHXH&NV - Văn học - cuộc sống - nhà văn.HN.1978 2. Phương Lựu (chủ biên) - Lý luận văn học.HN.1997 3. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) 4. Bộ GDĐT - Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Việt Nam. HN.2008 5. Giáo khoa ngữ văn lớp 8, 9 và 12 - NXBGD. PHÂN BIỆT THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CÁC VỤ TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI GIỮA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ TOÀ ÁN Th.s Đặng Xuân Trường Trưởng Bộ môn Cơ bản Theo hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.2 mục 1 Nghị quyết số 05/2003/NQ-HĐTP ngày 31/7/2003 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại: "Khi được nguyên đơn cho biết bằng văn bản sẽ khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết hoặc khi được Toà án thông báo về việc nguyên đơn đã nộp đơn kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ tranh chấp mà trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của nguyên đơn hoặc thông báo của Toà án bị đơn không phản đối (được coi là các bên có thoả thuận mới lựa chọn Toà án giải quyết vụ tranh chấp thay cho thoả thuận trọng tài)..." thì mặc dù trước đó các bên đã có thoả thuận trọng tài, nhưng hiện tại vụ tranh chấp sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân. Hiện nay, đang có 2 quan điểm hoàn toàn khác nhau đối với hướng dẫn trên đây của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao:
  12. - Quan điểm thứ nhất cho rằng, hướng dẫn trên đây của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao không phù hợp với quy định tại điều 5 Pháp lệnh trọng tài thương mại là "Trong trường hợp vụ tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài, nếu một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu". Quan điểm này cho rằng, nếu vụ tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài, mà thoả thuận đó không thuộc trường hợp bị vô hiệu, thì nếu một bên khởi kiện vụ án tại Toà án, còn bên kia không có ý kiến bằng văn bản (dù có nhận được hay không thông báo của nguyên đơn hoặc của Toà án về việc nguyên đơn đã nộp đơn kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ tranh chấp), Toà án sẽ vẫn không không có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp này. - Quan điểm thứ hai cho rằng, hướng dẫn trên đây của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân dân tối cao là phù hợp với thực tiễn, không trái pháp luật. Quan điểm này cho rằng, nếu vụ tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài, mà thoả thuận đó không thuộc trường hợp bị vô hiệu, nhưng sau đó nếu một bên khởi kiện vụ án tại Toà án; còn bên kia (khi nhận được thông báo của nguyên đơn hoặc của Toà án về việc nguyên đơn đã nộp đơn kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ tranh chấp) không phản đối (bằng văn bản) thì Toà án có quyền thụ lý vụ án để giải quyết. Nếu đương sự có ý kiến bằng văn bản không đồng ý với việc khởi kiện đó của nguyên đơn (không đồng ý để Toà án giải quyết vụ tranh chấp) thì Toà án phải thực hiện đúng quy định tại điều 5 Pháp lệnh Trọng tài thương mại và hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 mục 1 Nghị quyết số 05/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao là "...khi có người khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại thì Toà án yêu cầu người khởi kiện cho biết trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có thoả thuận trọng tài hay không. Đồng thời Toà án phải kiểm tra, xem xét các tài liệu gửi kèm theo đơn kiện để xác định vụ tranh chấp đó các bên có thoả thuận trọng tài hay không. Nếu có căn cứ cho thấy vụ tranh chấp đó các bên đã có thoả thuận trọng tài thì Toà án căn cứ vào quy định tương ứng của pháp luật tố tụng để trả lại đơn kiện cho người khởi kiện. Trong trường hợp sau khi thụ lý vụ án Toà án mới phát hiện được vụ tranh chấp đó các bên đã có thoả thuận trọng tài, thì Toà án căn cứ vào quy định tương ứng của pháp luật tố tụng ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, trả lại đơn kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn kiện cho đương sự" Qua nghiên cứu, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với quan điểm thứ nhất. Bởi lẽ, trên thực tế, các bên khi tham gia giao dịch thường lường trước khả năng có thể có tranh chấp phát sinh và cùng nhau thỏa thuận một điều khoản về trọng tài hoặc đưa điều khoản mẫu về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài của một tổ chức trọng tài nào đó vào hợp đồng (ví dụ: Mọi tranh chấp phát sinh giữa hai bên trước hết được giải quyết thông qua việc thương lượng, hoà giải. Nếu thương lượng, hoà giải không thành sẽ đưa vụ tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Thái Bình Dương (PIAC) và tuân theo quy tắc tố tụng trọng tài của PIAC). Do đó, thỏa thuận trọng tài chính là cơ sở pháp lý ràng buộc các bên về việc các bên đã thống nhất lựa chọn trọng tài là cơ quan giải quyết tranh chấp. Như vậy, chỉ khi nào cả hai bên có một thỏa thuận lại về việc lựa chọn Tòa án thì Tòa án mới có thẩm quyền đứng ra giải quyết vụ tranh chấp. Còn nếu một bên tự đứng ra khởi kiện yêu cầu tòa giải quyết (bên khởi kiện có thông báo về việc này cho phía bên kia hoặc Toà án có thông báo cho phía bên kia về việc nguyên đơn đã nộp đơn kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ tranh chấp ) thì mặc dù phía bên kia không trả lời thì Tòa án cũng không được thụ lý để giải quyết vì lẽ sự "im lặng" của phía bên kia cũng là một câu trả lời rằng: Hai bên đã thỏa thuận từ đầu lựa chọn trọng tài để giải quyết thì chỉ có cơ quan trọng tài mới có quyền đứng ra giải quyết vụ tranh chấp giữa hai bên (trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận rằng im lặng là đồng ý). Như vậy, qua hướng dẫn của TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp lệnh Trọng tài thương mại chúng tôi nhận thấy Tòa án đang "ôm thêm việc" cho mình và có thể gây phức tạp thêm cho việc xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp. Do đó, TANDTC nên hướng dẫn thực hiện đúng tinh thần quy định tại điều 5 Pháp lệnh trọng tài thương mại là: "Trong trường hợp vụ tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài, nếu một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu" và Tòa án chỉ được thụ lý giải
  13. quyết vụ tranh chấp nếu cả hai bên tranh chấp có một thỏa thuận mới từ bỏ việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và quay qua lựa chọn Tòa án là cơ quan sẽ đứng ra giải quyết vụ tranh chấp giữa hai bên. MÃ SỐ MÃ VẠCH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG Trương Bích Ngọc Khoa Quản trị kinh doanh 1. Mã số mã vạch là gì? Mã số mã vạch (MSMV)là một trong các công nghệ nhận dạng và thu thập dữ liệu tự động, có thể đưa vào áp dụng trong đa ngành công nghiệp. Trên thế giới, MSMV đã được đưa vào áp dụng đại trà từ hơn 30 năm nay trong bán lẻ cũng như trong suốt chuỗi cung ứng sản phẩm và trong các ngành kinh tế khác như: Quốc phòng, y tế, giao thông vận tải, thể thao và truy tìm nguồn gốc… Mã số mã vạch của hàng hóa: MSMV của hàng hóa bao gồm 2 phần: Mã số của hàng hóa và mã vạch phần thể hiện mã số bằng vạch để cho máy đọc. - Mã số hàng hóa: Là một dãy con số dùng để phân định hàng hóa, áp dụng trong quá trình luân chuyển hàng hóa từ người sản xuất, qua bán buôn, lưu kho, phân phối, bán lẻ tới người tiêu dùng. Mã số hàng hóa được xem như là “thẻ căn cước” của hàng hóa, giúp ta phân biệt được nhanh chóng và chính xác các loại hàng hóa khác nhau. Mã số hàng hóa có các tính chất sau: + Nó là con số duy nhất đặc trưng cho hàng hóa. Mỗi loại hàng hóa được nhận diện bởi một dãy số và mỗi dãy số chỉ tương ứng với một loại hàng hóa. + Bản thân dãy số chỉ là một dãy số đại diện cho hàng hóa, không liên quan đến đặc điểm của hàng hóa, nó không phải là số phân loại hay chất lượng của hàng hóa - Mã vạch của hàng hóa: Là một nhóm các vạch và khoảng trống song song đặt xen kẽ, dùng để thể hiện mã số dưới dạng máy quét (scaner) có thể đọc được. Mã vạch có tính chất: Chỉ thể hiện các con số (từ 0 đến 9) với chiều dài cố định (13 hoặc 8 con số) 2. Tình hình sử dụng mã số mã vạch ở Việt Nam: Ở Việt Nam mới bắt đầu đưa công nghệ MSMV vào áp dụng từ năm 1995 đến nay, phần lớn phục vụ cho hàng xuất khẩu và để phục vụ cho bán lẻ tại các siêu thị và cửa hàng tự chọn. Từ chỗ lúc đầu chỉ có hơn 40 doanh nghiệp sử dụng MSMV đến nay ta đã có hàng vạn mặt hàng mang mã số 893 của quốc gia Việt Nam đang lưu thông trên thị trường trong và ngoài nước. Ngoài lĩnh vực kinh doanh thương mại, ở Việt Nam MSMV đã bắt đầu đưa vào áp dụng trong các ngành khác như: Trong hàng không để quản lí hành lí và hàng hóa, trong y tế để quản lí khám bệnh…Hơn nữa, MSMV cũng đang được nghiên cứu triển khai áp dụng trong quản lí nhân sự (thẻ nhận dạng), trong truy tìm nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa và trong một số lĩnh vực khác như quản lí hậu cần, hoạt động hải quan. Tính đến giữa năm 2008 đã có 7755 cơ sở của Việt Nam đăng kí sử dụng MSMV tại Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng. Trong những năm gần đây, hàng năm có khoảng 1000 doanh nghiệp mới đăng kí sử dụng MSMV. Tốc độ tăng trưởng số doanh nghiệp đăng kí sử dụng MSMV hàng năm của Việt Nam là khá cao so với một số nước trong khu vực. Tổng số cơ sở sử dụng MSMV trên toàn thế giới tính đến nay có khoảng hơn 1 triệu doanh nghiệp. Không phải sản phẩm nào cũng
  14. cần sử dụng MSMV, những hàng hóa phần lớn là hàng tiêu dùng, thực phẩm bán lẻ…Và các vật phẩm trong chuỗi cung ứng sản phẩm cần nhận dạng và thu thập dữ liệu tự động mới cần gắn MSMV để quét nhận dạng và ghi nhận thông tin dữ liệu. Ví dụ đối với các sản phẩm xây dựng như xi măng, sắt thép không nhất thiết phải in MSMV trên bao bì và sản phẩm. Do đó việc đăng kí sử dụng MSMV là tự nguyện, không bắt buộc. Tuy nhiên, khi muốn sử dụng MSMV đầu 893, cần phải đăng kí sử dụng MSMV tại Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, theo đúng các qui định của Bộ Khoa học-Công nghệ tại “Qui định về việc cấp, sử dụng và quản lí MSMV” ban hành kèm theo quyết định số 15/2006/QĐ-BKHCN. 3. Để sử dụng mã số mã vạch cần tiến hành các bước: - Đăng kí với Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng để được cấp mã số doanh nghiệp. - Sử dụng mã số doanh nghiệp để lập mã địa điểm toàn cầu và các mã số cho sản phẩm và các đơn vị đóng gói giao nhận, vận chuyển của cơ sở mình theo đúng các tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành - Thể hiện mã số thành mã vạch và gắn trên vật phẩm theo đúng qui định về chất lượng mã vạch và vị trí ghi mã vạch. - Quét mã vạch và kết nối với phần mềm quản lí trong máy tính để thu thập dữ liệu và xử lí thông tin dữ liệu theo yêu cầu thực tế. 4. Việc sử dụng mã số mã vạch có lợi cho doanh nghiệp: - Mở rộng được thị trường do đáp ứng nhu cầu bạn hàng, tức là bán hàng được vào siêu thị và các thị trường cao cấp khác. - Thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng: Cung cấp đúng loại hàng, đúng chất lượng, đúng thời gian, qua đó nâng cao được uy tín của doanh nghiệp. - Có được thông tin chính xác do thu thập các dữ liệu tự động để ra các quyết định chính xác trong quản lí, sản xuất và kinh doanh - Tiết kiệm được các chi phí không cần thiết trong khâu hậu cần và bán hàng. Sử dụng ít nhân lực và tốn ít thời gian trong khâu kiểm kê tính toán - Có điều kiện để hội nhập thương mại toàn cầu và quảng bá thương hiệu. 5. Việc các doanh nghiệp sử dụng mã số mã vạch có lợi cho người tiêu dùng: Việc sử dụng MSMV để bán lẻ giúp thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng do: Được phục vụ văn minh, được tính tiền nhanh và chính xác. Căn cứ vào cấu trúc của mã số, người tiêu dùng có thể nhận biết và truy tìm được nguồn gốc xuất xứ hàng hóa khi cần thiết. Tuy nhiên, nhiều sản phẩm của Việt Nam có in MSMV nhưng chất lượng mã vạch không đảm bảo về kích thước, mật độ và các yêu cầu khác về chất lượng nên trong thực tế cũng không sử dụng được. Khi mã vạch không quét được thì người bán hàng phải gõ mã số trên bàn phím của máy tính để tính tiền, điều này có thể dẫn đến sai sót và khách hàng phải chờ đợi lâu. GIỚI THIỆU VỀ TIÊU CHUẨN IS0 9001 PHIÊN BẢN MỚI NĂM 2008 Ths. Nguyễn Tri Vũ Hiện nay, hầu hết các chương trình giáo dục của Trường Cao đẳng Thương mại đều có học phần về quản trị chất lượng, cả bậc trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳng. Các học phần này có dẫn chiếu và giới thiệu cho người học về Tiêu chuẩn ISO 9000 nhằm mục đích trang bị kiến thức cơ bản về hệ thống quản lý chất lượng để vận dụng vào thực tiễn công tác sau khi ra trường. Nay, với sự ra đời của bộ tiêu chuẩn mới ISO 9001:2008, Bản tin Khoa học gửi đến bạn đọc, chủ yếu là HSSV những thông tin tóm tắt về tiêu chuẩn này để tham khảo.
  15. Sơ lược về Bộ tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000 Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 được Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế công bố năm 1987. Đây là bộ tiêu chuẩn về hệ thống chất lượng; nó không phải là tiêu chuẩn hay qui định kỹ thuật về sản phẩm. Sự ra đời của nó đã tạo ra một bước ngoặt trong hoạt động tiêu chuẩn và chất lượng trên thế giới nhờ nội dung thiết thực và sự hưởng ứng rộng rãi, nhanh chóng của nhiều nước, đặc biệt là các doanh nghiệp. Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 là phương tiện hiệu quả giúp các nhà sản xuất tự xây dựng và áp dụng hệ thống đảm bảo chất lượng ở cơ sở mình, đồng thời cũng là phương tiện mà bên mua có thể căn cứ vào đó tiến hành kiểm tra người sản xuất, kiểm tra sự ổn định của sản xuất và chất lượng sản phẩm trước khi ký hợp đồng. ISO 9000 đưa ra các chuẩn mực cho một hệ thống chất lượng và có thể áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuất , kinh doanh và dịch vụ. ISO 9000 hướng dẫn các tổ chức cũng như các doanh nghiệp xây dựng một mô hình quản lý thích hợp và văn bản hoá các yếu tố của hệ thống chất lượng theo mô hình đã chọn. Triết lý của ISO 9000 về quản lý chất lượng là ''nếu hệ thống sản xuất và quản lý tốt thì sản phẩm và dịch vụ mà hệ thống đó sản xuất ra sẽ tốt''. Các doanh nghiệp và tổ chức hãy “viết ra những gì cần làm; làm những gì đã viết; chứng minh là đã làm và soát xét, cải tiến”. ISO 9000 có 8 nguyên tắc: 1) Hướng vào khách hàng; 2) Sự lãnh đạo; 3) Sự tham gia của mọi người; 4) Cách tiếp cận theo quá trình; 5) Cách tiếp cận theo hệ thống đối với quản lý; 6) Cải tiến liên tục; 7) Quyết định dựa trên sự kiện; 8) Quan hệ hợp tác cùng có lợi. Tính đến nay, ISO 9000 đã trải qua 4 lần công bố, bổ sung và thay thế là vào các năm 1987, 1994, 2000 và gần đây nhất là ngày 14/11/2008. Trong đó, ISO 9001:2000 đã thay thế cho bộ 3 tiêu chuẩn ISO 9001, 9002 và 9003 (năm 1994). ISO 9001:2000 có tiêu đề là Hệ thống quản lý chất lượng - Các yêu cầu, không gọi là Hệ thống đảm bảo chất lượng như lần ban hành thứ nhất và thứ hai. Tiêu chuẩn ISO 9004:2000 cũng đồng thời được ban hành trên cơ sở soát xét lại tiêu chuẩn ISO 9004:1994. ISO 9004:2000 được sử dụng cùng với ISO 9001:2000 như là 1 cặp thống nhất các tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất lượng. ISO 9004:2000 đưa ra các chỉ dẫn về đối tượng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ở một phạm vi rộng hơn. Phiên bản Phiên bản Phiên bản Tên tiêu chuẩn năm 1994 năm 2000 năm 2008 ISO 9000:1994 ISO 9000: 2000 ISO 9000: 2005 HTQLCL – Cơ sở & từ vựng ISO 9001: 1004 ISO 9001: 2000 Hệ thống quản lý chất ISO 9001: 2008 lượng (HTQLCL) – Các ISO 9002: 1994 (bao gồm ISO 9001/ yêu cầu 9002/ 9003) ISO 9003: 1994 ISO 9004: 1994 ISO 9004: 2000 Chưa có thay đổi HTQLCL - Hướng dẫn cải tiến ISO 10011: ISO 19011: 2002 Chưa có thay đổi Hướng dẫn đánh giá 1990/1 HTQLCL/ Môi trường Mặc dù việc chứng nhận theo tiêu chuẩn ISO 9001 là không bắt buộc nhưng ước tính đến nay đã có hơn một triệu chứng chỉ ISO 9001 đã được cấp cho các tổ chức thuộc các lĩnh vực tư nhân hoặc nhà nước cho sản xuất và dịch vụ (kể cả giáo dục đào tạo) tại khoảng 175 quốc gia và nền kinh tế. Những nét mới của Tiêu chuẩn ISO 9001:2008
  16. Trên cơ sở những tiến bộ về quản lý chất lượng, những kinh nghiệm đã đạt được, Tiêu chuẩn ISO 9001:2008, Quality management system - Requirements (Hệ thống quản lý chất lượng - Các yêu cầu), là bản hiệu đính toàn diện nhất bao gồm việc đưa ra các yêu cầu mới và tập trung vào khách hàng. (Tiêu chuẩn ISO 9004:2000, Hệ thống quản lý chất lượng - Hướng dẫn cải tiến, cũng đang được hiệu đính và dự kiến sẽ được công bố vào năm 2009.) So với phiên bản năm 2000, ISO 9001:2008 có sự tinh chỉnh, gạn lọc hơn là thay đổi toàn diện. Nó không đưa ra các yêu cầu mới nào, vẫn giữ nguyên các đề mục, phạm vi và cấu trúc của tiêu chuẩn. Nó vẫn thừa nhận và duy trì 8 nguyên tắc ban đầu của ISO. ISO 9001:2008 chủ yếu là làm sáng tỏ các yêu cầu đã nêu trong ISO 9001:2000 nhằm khắc phục những khó khăn trong việc diễn giải, áp dụng và đánh giá. Nó cũng có một số thay đổi hướng vào việc cải tiến nhằm tăng cường tính tương thích (nhất quán) với tiêu chuẩn ISO 14001:2004 về hệ thống quản lý môi trường. Những điểm tiến bộ mới của phiên bản 2008 là: - Nhấn mạnh sự phù hợp của sản phẩm; - Cải thiện tính tương thích với các tiêu chuẩn khác; - Làm rõ hơn các quá trình bên ngoài; - Diễn đạt rõ hơn các yêu cầu: 6.4 Môi trường làm việc; 8.2.1 Đo lường sự thỏa mãn của khách hàng; - Bổ sung tầm quan trọng của rủi ro; - Quy định chính xác hơn các yều cầu: Tầm quan trọng của rủi ro; 5.5.2 Đại diện lãnh đạo; 6.2.2 Hiệu lực của các năng lực đã đạt được; 8.5.2. Hiệu lực của các hành động khắc phục; 8.5.3 Hiệu lực của các hành động phòng ngừa. Theo thông báo chung của ISO và Diễn đàn công nhận quốc tế (IAF), tiêu chuẩn mới không yêu cầu các tổ chức đã áp dụng ISO 9001:2000 phải có nhiều điều chỉnh cho HTQLCL đã được xây dựng để có thể phù hợp với các yêu cầu trong ISO 9001:2008. Việc chuyển đổi theo tiêu chuẩn mới cũng là một cơ hội tốt cho các tổ chức nhìn nhận lại thực trạng áp dụng các yêu cầu của ISO 9001:2000, từ đó thực hiện các hoạt động cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả của HTQLCL. Các tổ chức đã áp dụng HTQLCL theo ISO 9001:2000 có hai tiếp cận để lựa chọn cho chuyển đổi chứng nhận: TUÂN THỦ hay CẢI TIẾN HIỆU QUẢ. Thời hạn để các tổ chức chuyển đổi từ ISO 9001:2000 sang ISO 9001:2008 tối đa là 24 tháng (đến ngày 14/11/2010). TUÂN THỦ nghĩa là thực hiện đúng và đầy đủ các yêu cầu của ISO 9001:2008. Cách tiếp cận này phù hợp với các tổ chức đã hoàn toàn thỏa mãn với hiệu quả của việc áp dụng HTQLCL hiện tại, hoặc với các tổ chức mới chỉ quan tâm đến việc được chứng nhận mà chưa thực sự coi trọng các giá trị về quản lý và cải tiến chất lượng mà HTQLCL có thể mang lại. Áp dụng ISO 9001:2008 theo cách tiếp cận CẢI TIẾN HIỆU QỦA thích hợp với các tổ chức mà hiệu quả của HTQLCL còn thấp. Trong trường hợp này, chuyển đổi theo ISO 9001:2008 không chỉ là để tuân thủ mà còn quan trọng hơn là áp dụng HTQLCL một cách thực chất, trên cơ sở thực hiện tốt yêu cầu về cải tiến và nâng cao hiệu quả. Quá trình này đòi hỏi tổ chức phải thực hiện tốt nhiều việc hơn so với cách tiếp cận tuân thủ. Việc lựa chọn tiếp cận thứ nhất hay tiếp cận thứ hai cho dự án chuyển đổi HTQLCL theo ISO 9001:2008 là quyết định của mỗi tổ chức, phụ thuộc vào tình trạng của hoạt động quản lý chất lượng, nhu cầu nội bộ và mong muốn của lãnh đạo tổ chức. Để hiểu rõ hơn về ISO 9001:2008, các chuyên gia và tổ chức có thể nghiên cứu “Tài liệu giới thiệu và hỗ trợ: Hướng dẫn các yêu cầu về tài liệu theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008” của Tiểu ban kỹ thuật ISO/TC176/SC2 (thuộc Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế) theo địa chỉ http://www.iso.org/iso/iso_catalogue/management_standards/iso_9000_iso_14000/iso_9001_2008.htm Việc tham khảo tài liệu này không chỉ hữu ích cho các đơn vị chuẩn bị hoặc đang xây dựng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008, mà còn cung cấp nhiều thông tin có giá trị
  17. cho các tổ chức đang áp dụng HTQLCL mong muốn có những điều chỉnh cho phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn mới. Tại Việt Nam, Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC 176 đang tiến hành soát xét lại TCVN ISO 9001:2000, dự kiến phiên bản tiêu chuẩn quốc gia mới nhất TCVN ISO 9001 sẽ được công bố trong năm nay. PHÂN BIỆT HAI PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN HÀNG TỒN KHO: KÊ KHAI THƯỜNG XUYÊN & KIỂM KÊ ĐỊNH KỲ SV Nguyễn Thị Thương - Lớp: KT1.2 Đặt vấn đề: Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp lựa chọn và áp dụng 1 trong 2 phương pháp hạch toán hàng tồn kho (theo nguyên tắc năm tài chính): phương pháp kê khai thường xuyên (KKTX) & phương pháp kiểm kê định kỳ (KKĐK). Việc lựa chọn phải thích hợp và phải thực hiện nhất quán trong niên độ kế toán. Vậy, lựa chọn phương pháp hạch toán hàng tồn kho có ảnh hưởng lớn đến tổ chức công tác kế toán của doanh nghiệp. Để xem xét sự ảnh hưởng của 2 phương pháp này đến tổ chức công tác kế toán của doanh nghiệp, chúng ta cần phân biệt 2 phương pháp hạch toán hàng tồn kho. I/ Hàng tồn kho: - Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) là một tổ chức độc lập có mục tiêu nhằm đạt được sự thống nhất trong các nguyên tắc kế toán mà các doanh nghiệp và các tổ chức trên thế giới sử dụng để lập Báo cáo tài chính. Uỷ ban này đã xây dựng được hệ thống các chuẩn mực kế toán cơ bản có thể vận dụng ở các quốc gia khác nhau trên cơ sở tiêu chuẩn hoá và hài hoà đáp ứng xu hướng toàn cầu hoá hiện nay đặc biệt là hài hoà và thống nhất trong việc lập và trình bày các báo cáo tài chính. Vì vậy có nhiều quốc gia quan tâm đến việc nghiên cứu, xây dựng và công bố các chuẩn mực kế toán quốc gia trên cơ sở vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế xem xét chuẩn mực kế toán quốc tế về hàng tồn kho IAS 2 là căn cứ để có thể so sánh với chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 2) và những quy định kế toán hàng tồn kho hiện nay từ đó có những phương hướng hoàn thiện. * Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS02): Hàng tồn kho là: - Những tài sản được giữ để bán trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường - Đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang - NVL, công cụ dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ. Hàng tồn kho bao gồm: - Hàng hoá mua về để bán: hàng tồn kho, hàng mua đang đi đường, hàng gửi đi bán, hàng gửi đi gia công chế biến. - Thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán. - Sản phẩm dở dang: sản phẩm chưa hoàn thành và sản phẩm hoàn thành chưa làm thủ tục nhập kho thành phẩm. - NVL, công cụ dụng cụ tồn kho, gửi đi gia công chế biến và đã mua đang đi trên đường. - Chi phí dịch vụ dở dang. Đối chiếu IAS 02 & VAS 02: Theo kế toán quốc tế IAS 02 Theo kế toán Việt Nam VAS 02 1. Phương pháp đánh giá hàng nhập: 1. Phương pháp đánh giá hàng nhập: - Giá gốc hàng tồn kho gồm: - Đối với nguyên vật liệu, hàng hoá mua ngoài: Tổng chi phí mua gồm: Giá nhập = giá mua + chi phí mua + chi phí + Giá mua ghi trên hoá đơn (thuế nhập khẩu, hao hụt trong định mức…)
  18. + Các chi phí mua - Đối với thành phẩm, sản phẩm dở dang thì chi + Giảm giá thương mại phí bao gồm: Chi phí chế biến gồm: + Chi phí nguyên liệu trực tiếp + Chi phí trực tiếp liên quan đến sản xuất sản + Chi phí nhân công trực tiếp phẩm. + Chi phí sản xuất chung: được phân bổ trên + Chi phí sản xuất chung: Định phí và biến phí khối lượng sản xuất thực tế chứ không dựa trên - Phân bổ chi phí sản xuất chung cơ sở năng suất hoạt động bình thường + Phân bổ biến phí dựa trên tình hình sử dụng thực tế máy móc thiết bị. + Phân bổ định phí dựa trên năng suất trung bình của thiết bị sản xuất 2. Đối tượng lập dự phòng: 2. Đối tượng lập dự phòng: Chủ yếu là các loại hàng tồn kho dùng để bán. Toàn bộ các loại vật tư, sản phẩm hàng hoá tồn Các loại tồn kho dùng để sản xuất chỉ lập dự kho. phòng khi bán các thành phẩm sản xuất ra từ các loại vật tư đó giảm sút trên thị trường. III/ Phân biệt 1/ Phương pháp kê khai thường xuyên(KKTX): a) Nội dung: - Theo dõi thường xuyên, lên tục, có hệ thống; - Phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn của hàng tồn kho; - Trị giá hàng tồn kho cuối kỳ = trị giá hàng tồn kho đầu kỳ + trị giá hàng nhập kho trong kỳ - trị giá hàng xuất kho trong kỳ. b) Chứng từ sử dụng: - Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho; - Biên bản kiểm kê vật tư, hàng hoá. 2/ Phương pháp kiểm kê định kỳ (KKĐK): a) Nội dung: - Không theo dõi, phản ánh thường xuyên, liên tục; - Chỉ phản ánh hàng tồn đầu kỳ và cuối kỳ, không phản ánh nhập - xuất trong kỳ; - Trị giá hàng xuất kho trong kỳ = trị giá hàng tồn kho đầu kỳ + trị giá hàng nhập kho trong kỳ - trị giá hàng tồn kho cuối kỳ. (cuối kỳ mới tính được) (cuối kỳ kiểm kê, xác định hàng tồn kho; sau đó, kết chuyển trị giá hàng xuất trong kỳ) b) Chứng từ sử dụng: chứng từ sử dụng như pp KKTX ; - Tuy nhiên, cuối kỳ kế toán nhận chứng từ nhập xuất hàng hoá từ thủ kho, kiểm tra và phân loại chứng từ theo từng chủng loại, từng nhóm hàng hoá, ghi giá hạch toán và tính tiền cho từng chứng từ. c) TK sử dụng:
  19. Phương pháp KKTX Phương pháp KKĐK Số TK Bên Nợ Bên Có Bên Nợ Bên Có -hàng mua đang đi -trị giá hàng mua -kết chuyển trị giá -kết chuyển trị giá đường cuối kỳ chưa đang đi đường về hàng mua đang đi hàng mua đang 151 về nhập kho nhập kho hoặc đường cuối kỳ. đi đường đầu kỳ chuyển thẳng giao sang TK611. cho khách hàng. - trị giá hàng mua đang đi đường kỳ trước phát hiện thiếu hụt ở kỳ này. -trị giá thực tế -trị giá thực tế xuất -kết chuyển trị giá -kết chuyển trị giá 152 NVL, ccdc nhập kho; NVL, công cụ dụng NVL, công cụ (153) kho; -thiếu hụt khi kiểm cụ cuối kỳ. dụng cụ đầu kỳ -trị giá thừa phát kê; sang TK611. hiện khi kiểm kê. -chiết khấu TM được hưởng khi mua -chi phí trong kỳ -giá thành thực tế sản -kết chuyển chi phí -kết chuyển chi liên quan đến sản phẩm nhập kho hoặc sản xuất kinh doanh phí sản xuất kinh 154 xuất sản phẩm (đối chuyển bán; dở dang cuối kỳ. doanh dở dang với DN sx sản -trị giá NVL, hàng đầu kỳ sang phẩm) hoá gia công xong TK631. nhập lại kho. -trị giá thành phẩm -trị giá thực tế thành -kết chuyển trị giá -kết chuyển trị giá nhập kho; phẩm nhập kho; thành phẩm tồn kho thành phẩm tồn 155 -trị giá thành phẩm -trị giá thành phẩm cuối kỳ. kho đầu kỳ sang phát hiện thừa khi thiếu hụt khi kiểm kê. TK632. kiểm kê. -trị giá hàng hoá -xuất kho giao đại lý -kết chuyển trị giá -kết chuyển trị giá mua vào(1561); hoặc bán cho khách hàng tồn kho cuối hàng tồn kho đầu -chi phí mua hàng hàng; kỳ. kỳ. 156 hoá (1562); -trị giá hàng hoá phát -trị giá hàng hoá hiện thiếu hụt khi phát hiện thừa khi kiểm kê; kiểm kê; -các khoản chiết khấu -trị giá hàng hoá bị TM, giảm giá hàng người mua trả lại mua, hàng mua trả nhập kho. lại. -hàng hoá, thành -hàng hoá, thành -kết chuyển trị giá -kết chuyển trị giá phẩm gửi bán cho phẩm gửi bán và hàng hoá, thành hàng hoá, thành 157 khách hàng hoặc được xác định là đã phẩm gửi đi bán phẩm gửi đi bán gửi đại lý. bán. cuối kỳ . đầu kỳ sang TK611 hoặc TK632 -trong kỳ, hàng mua -cuối kỳ, kiểm kê nhập kho: xác định số 611 Nợ TK611 lượng, trị giá thực (không Nợ TK1331 tế hàng tồn kho có s ố Có TK111,112... cuối kỳ: dư) -Chi phí mua hàng Nợ TK156 tính vào trị giá mua Có TK611
  20. (Nợ TK611) -căn cứ vào kết quả, xác định tổng trị giá hàng xuất bán: Nợ TK632 Có TK611 d/ Sổ kế toán: - Là các tờ sổ theo mẫu quy định, dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo đúng phương pháp của kế toán trên cơ sở số liệu của chứng từ kế toán. - Các doanh nghiệp khác nhau về loại hình, quy mô và điều kiện kế toán sẽ hình thành 1 hình thức tổ chức sổ kế toán khác nhau : sổ Nhật ký - Sổ cái, sổ Nhật ký chung và sổ cái, sổ Nhật ký chứng từ… V/ Ưu điểm và hạn chế: * Đối với phương pháp kê khai thường xuyên: - Ưu điểm: + Xác định, đánh giá về số lượng và trị giá hàng tồn kho vào từng thời điểm xảy ra nghiệp vụ. + Nắm bắt, quản lý hàng tồn kho thường xuyên, liên tục, góp phần điều chỉnh nhanh chóng kịp thời tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. + Giảm tình trạng sai sót trong việc ghi chép và quản lý (giữa thủ kho và kế toán). - Nhược điểm: tăng khối lượng ghi chép hằng ngày, gây áp lực cho người làm công tác kế toán. Tuy nhiên, nhược điểm này được khắc phục khi doanh nghiệp tin học hoá công tác kế toán. * Đối với phương pháp kiểm kê định kỳ:: - Ưu điểm: giảm khối lượng ghi chép cho người làm công tác kế toán. - Nhược điểm: + công việc kế toán dồn vào cuối kỳ. + công việc kiểm tra không thường xuyên trong tình hình nhập, xuất kho là liên tục sẽ gây hạn chế chức năng kiểm tra của kế toán trong quản lý. + khó phát hiện sai sót nếu khi kiểm kê hàng thực tế nhập kho không trùng với ghi sổ kế toán. V/ Kết luận: - Dựa vào ưu, nhược điểm của mỗi phương pháp hạch toán hàng tồn kho, DN có thể phân tích sự ảnh hưởng của mỗi phương pháp đến tổ chức công tác kế toán của DN, từ đó đưa ra quyết định lựa chọn phương pháp hạch toán thích hợp, mang lại hiệu quả trong công việc. - Phương pháp KKTX thường áp dụng cho các đơn vị sản xuất (công nghiệp, xây lắp…) và các DN thương mại kinh doanh các mặt hàng có giá trị lớn như xe hơi, máy móc… + Theo phương pháp này người làm công tác kế toán có thể giúp chủ DN biết được mặt hàng nào đang được tiêu thụ nhanh chóng để kịp thời mua thêm hàng nhập kho dự trữ và bán hàng, hay mặt hàng nào bị ứ đọng, khó tiêu thụ để nhanh chóng tìm giải pháp tiêu thụ hàng, thu hồi vốn; vì DN kinh doanh các mặt hàng có giá trị lớn, nếu để ứ đọng hàng nhiều sẽ dẫn đến ứ đọng vốn lớn, kinh doanh không đạt hiệu quả. + Quá trình hoạt động giữa kế toán, thủ kho và phòng kinh doanh được diễn ra liên tục thông qua việc giao nhận các chứng từ. - Phương pháp KKĐK thường áp dụng ở các DN kinh doanh mặt hàng có giá trị thấp, số lượng lớn, nhiều chủng loại, quy cách…như các nguyên phụ liệu để may mặc (kim, chỉ, khuy áo,…) và các đơn vị sản xuất ra 1 loại sản phẩm, hàng hoá nào đó vì trong trường hợp này mới tính được tương đối chính xác giá thành. + Vì các mặt hàng có nhiều chủng loại và có giá trị thấp nên nếu lựa chon phương pháp KKTX sẽ mất nhiều thời gian của công tác kế toán và có thể không mang lại hiệu quả vì độ chính xác không cao;

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản