Vận dụng quy luật phủ định vào xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến

Chia sẻ: buiduongson3

hoá năm 1943”, Đảng và nhà nước ta đã tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn và lý luận để lại dấu ấn lịch sử, dấu ấn thời đại về tư duy văn hoá. Không phải ngẫu nhiên mà trong Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành TW khoá VII Đảng ta đã xác định văn hoá không chỉ là kết quả mà còn là nguyên nhân của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Phát triển quan điểm trên, Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành TW Đảng khoá IX tiếp tục xác định mục tiêu cần...

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Vận dụng quy luật phủ định vào xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến

 

  1. Vận dụng quy luật phủ định vào xây dựng  nền văn hoá Việt Nam tiên tiến 
  2. MỞ ĐẦU
  3. 1.1. Lý do chọn đề tài: Trải qua hơn 55 năm trên chặng đường phát triển văn hóa, từ văn kiện đầu tiên “Đề cương  văn hoá năm 1943”, Đảng và nhà nước ta đã tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn và lý luận để lại  dấu ấn lịch sử, dấu ấn thời đại về tư duy văn hoá.  Không phải ngẫu nhiên mà trong Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành TW khoá  VII Đảng ta đã xác định văn hoá không chỉ là kết quả mà còn là nguyên nhân của quá trình  công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Phát triển quan điểm trên, Hội nghị lần thứ 10 Ban  chấp hành TW Đảng khoá IX tiếp tục xác định mục tiêu cần phải đạt tới là tạo được sự phát  triển đồng bộ về chất lượng văn hoá “Đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là  trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hoá ­ nền  tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều  kiện quyết định đảm bảo cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước” (Văn kiện  Hội nghị TW 10 khoá IX). Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tháng 4 năm 2006 đã  tiếp tục khẳng định: “...Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,  đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp  hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Qua hơn 20 năm với đường lối đúng đắn của Đảng, cùng với công cuộc đổi mới và chủ động  hội nhập quốc tế, chúng ta từng bước vững chắc đạt được những thành tựu rất đáng tự hào  như: nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang từng bước được xây dựng; nền  dân chủ XHCN với nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân đã được thiết định. Bên  cạnh việc hội nhập kinh tế, tiến trình hội nhập văn hóa cũng là một tất yếu khách quan. Tiến  trình giữa hội nhập kinh tế và hội nhập văn, nếu coi nhẹ hội nhập kinh tế thì đất nước sẽ  chậm thoát nghèo. Còn coi nhẹ hội nhập văn hóa đôi khi lại nguy hiểm hơn bởi có thể bị các  nền văn hóa khác đồng hóa. Vì vậy bên cạnh chiến lược phát triển kinh tế, chúng ta cần có  chiến lược phát triển nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc phù hợp với phát triển kinh tế. Tất  nhiên đậm đà bản sắc dân tộc không thể đóng cửa nền văn hóa, mà chủ động chọn lọc  những tinh hoa văn hóa nhân loại để làm phong phú, giàu có thêm, hiện đại hơn nền văn  hóa của dân tộc của đất nước mình.  Văn hóa vốn bao giờ cũng là nền tảng quyết định của xã hội, một văn hóa cho sự phát triển  mạnh mẽ, sâu sắc toàn diện nhất toàn cầu hóa và hôi nhập, toàn cầu hóa như một tất yếu.  Có thể khẳng định: Văn hóa là cốt hồn của dân tộc, một dân tộc, nếu không giữ được bản  sắc văn hóa riêng thì dân tộc đó sẽ bị lu mờ thậm chí không còn dân tộc đó nữa. Vì thế, xây  dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc không chỉ là  trách nhiệm của ngành văn hoá mà còn là trách nhiệm của toàn đảng, toàn dân và toàn xã  hội. Tôi quan tâm và chọn đề tài: “Quy luật phủ định của phủ định và sự vận dụng quy luật  này vào việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”  để làm đề tài cho tiểu luận này. 2. Tình hình nghiên cứu: Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập với nền kinh tế mở. Tuy nhiên, việc hội nhập có mặt  tích cực và tiêu cực. Nếu chúng ta tiếp thu không chọn lọc, thì bên cạnh những mặt tích cực  của nền văn minh hiện đại, chúng ta dễ bị tiếp thu những những mặt tiêu cực. Mặt khác,  chúng ta còn lo ngại bị đánh mất truyền thống dân tộc, chạy theo các nước trên thế giới, bị  ảnh hưởng hoàn toàn bởi nền văn hoá của nước khác. 
  4. Mỗi một quốc gia đều có những truyền thống, những bản sắc riêng của mình. Bản sắc riêng  của một dân tộc, giúp chúng ta phân biệt và nhận dạng rõ một quốc gia đó. Giữ gìn và phát  huy bản sắc dân tộc là một việc tất yếu trong nền kinh tế mở hiện nay. Với những lý do trên,  chúng ta có thể thấy rõ tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Vì thế  tình huống đặt ra trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà  bản sắc dân tộc là điều tất yếu và cần thiết trong giai đoạn hiện nay.  3. Mục đích nhiệm vụ. ­ Làm rõ vấn đề văn hoá và bản sắc văn hóa ở Việt Nam. ­ Đánh giá các mặt tích cực và hạn chế trong việc việc xây dựng nền nền văn hoá Việt Nam  tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập ở nước ta. ­ Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào việc xây dựng nền nền văn hoá Việt Nam  tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. ­ Thành quả của vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào việc xây dựng nền văn hoá  Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. ­ Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng nền  văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta. NỘI DUNG Chương 1 Những vấn đề chung về quy luật của phủ định vào việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. 1.1.Khái niệm phủ định biện chứng. Theo nghĩa thông thường, phủ định được hiểu là sự không thừa nhận, bác bỏ hay sự thay thế một  sự vật, hiện tượng nào đó. Trong Triết học có hai quan điểm: quan điểm siêu hình và quan điểm  biện chứng về sự phủ định.  Quan điểm siêu hình hiểu sự phủ định là sự can thiệp của những lực lượng bên ngoài dẫn tới thủ  tiêu sự vật, chấm dứt sự phát triển của nó. Quan điểm biện chứng cho rằng phủ định là khâu tất  yếu của bất kỳ sự phát triển nào. Đó là sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trên cơ sở mất đi  của cái cũ và xuất hiện cái mới tiến bộ hơn, là quá trình giải quyết mâu thuẫn nội tại của bản thân  sự vật bị phủ định.  Vì vậy, phủ định biện chứng là quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển dẫn tới sự ra đời của  cái mới tiến bộ hơn so với cái bị phủ định (kết quả của quá trình đấu tranh giữa các mặt đối lập  bên trong sự vật ấy quyết định). 1.2. Nội dung quy luật:  Quy luật phủ định của phủ định là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Quy  luật này khái quát khuynh hướng phát triển tiến lên theo hình thức xoáy ốc thể hiện tính chất chu  kỳ trong quá trình phát triển. Đó là cơ sở phương pháp luận của nguyên tắc phủ định biện chứng, chỉ đạo mọi phương pháp  suy nghĩ và hành động của con người. Phủ định biện chứng đòi hỏi phải tôn trọng tính kế thừa, 
  5. nhưng kế thừa phải có chọn lọc, cải tạo, phê phán, chống kế thừa nguyên xi, máy móc và phủ  định sạch trơn, chủ nghĩa hư vô với quá khứ. Nguyên tắc phủ định biện chứng trang bị phương  pháp khoa học để tiếp cận lịch sử và tiên đoán, dự kiến những hình thái cơ bản của tương lai. Quy luật phủ định của phủ định biểu hiện sự phát triển của sự vật là do mâu thuẫn trong bản thân  sự vật quyết định. Mỗi lần phủ định là kết quả đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập trong  bản thân sự vật ­ giữa mặt khẳng định và phủ định. Sự phủ định lần thứ nhất diễn ra là do sự vật  cũ chuyển thành cái đối lập với mình. Sự phủ định lần thứ hai được thực hiện dẫn tới sự vật mới ra  đời. Sự vật này đối lập với cái được sinh ra ở lần phủ định thứ nhất. Nó được bổ sung nhiều nhân  tố mới. Như vậy sau hai lần phủ định sự vật dường như quay trở lại cái cũ, nhưng trên cơ sở mới  cao hơn là đặc điểm quan trọng nhất của sự phát triển biện chứng thông qua phủ định của phủ  định. Phủ định của phủ định làm xuất hiện sự vật mới là kết quả của sự tổng hợp tất cả nhân tố tích cực  đã có và đã phát triển trong cái khẳng định ban đầu và trong những lần phủ định tiếp theo. Do  vậy, sự vật mới với tư cách là kết quả của phủ định của phủ định có nội dung toàn diện hơn,  phong phú hơn, có cái khẳng định ban đầu và kết quả của sự phủ định lần thứ nhất. Kết quả của sự phủ định của phủ định là điểm kết thúc của một chu kỳ phát triển và cũng là điểm  khởi đầu của chu kỳ phát triển tiếp theo. Sự vật lại tiếp tục phủ định biện chứng chính mình để  phát triển. Cứ như vậy sự vật mới ngày càng mới hơn. Quy luật phủ định của phủ định khái quát xu hướng tất yếu tiến lên của sự vật ­ xu hướng phát  triển. Song phát triển đó không theo hướng thẳng mà theo đường "xoáy ốc". Sự phát triển "xoáy  ốc" là sự biểu thị rõ ràng, đầy đủ các đặc trưng của quá trình phát triển biện chứng của sự vật:  tính kế thừa, tính lặp lại, tính tiến lên. Mỗi vòng của đường xoáy ốc dường như thể hiện sự lặp lại,  nhưng cao hơn, thể hiện trình độ cao hơn của sự phát triển. Tính vô tận của sự phát triển từ thấp  đến cao được thể hiện ở sự nối tiếp nhau từ dưới lên của các vòng trong đường "xoáy ốc". Trong quá trình vận động của sự vật, những yếu tố mới xuất hiện sẽ thay thế những nhân tố cũ,  trong đó những nhân tố tích cực của sự vật cũ được giữ lại. Song sự vật mới này sẽ lại bị phủ định  bởi sự vật mới khác. Sự vật mới khác ấy dường như là sự vật đã tồn tại, song không phải là sự  trùng lặp hoàn toàn, mà nó được bổ sung những nhân tố mới và chỉ bảo tồn những nhân tố tích  cực thích hợp với sự phát triển tiếp tục của nó. Sau khi sự phủ định 2 lần của phủ định được thực  hiện thì sự vật mới hoàn thành một chu kỳ phát triển. 1.3. Ý nghĩa: Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức đúng đắn về xu hướng phát triển của sự  vật. Quá trình phát triển của bất kì một sự vật nào cũng không bao giờ đi theo một đường thẳng,  nó gồm có nhiều chu kỳ khác nhau. Chu kỳ sao bao giờ cũng tiến bộ hơn chu kỳ trước. Do đó,  chúng ta phải hiểu những đặc điểm đó để có cách tác động phù hợp với yêu cầu phát triển. Theo đó, mọi sự vật luôn xuất hiện cái mới thay thế cái cũ, cái tiến bộ thay thế cái lạc hậu, cái mới  ra đời trên cơ sở kế thừa tất cả những nhân tố tích cực của cái cũ. Do đó, trong hoạt động của  mình, con người phải biết kế thừa tinh hoa của cái cũ, tránh thái độ phủ định sạch trơn. Trong giới tự nhiên cái mới phát triển một cách tự phát, còn trong xã hội cái mới ra đời gắn liền với  hoạt động có ý thức của con người. Chính vì thế trong hoạt động của chính mình con người phải  biết phát hiện cái mới và ủng hộ nó.
  6. Ch ương 2 Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
  7. 2.1. Những thành tựu và hạn chế trong quá trình hội nhập văn hóa và thế giới. Toàn cầu hóa là một xu thế không thể cưỡng lại đối với tất cả các quốc gia. Chủ động để hội  nhập là một thái độ tích cực, khôn ngoan, là khẳng định đường hướng có chiến lược, có chiến  thuật, có kế hoạch cho từng bước đi. Chủ động hội nhập sẽ khai thác được nhiều nhất những  thuận lợi, những cơ hội để dân tộc có nhiều lợi ích nhất, hạn chế được đến mức thấp nhất  những thách thức, những tiêu cực nảy sinh. Công cuộc đổi mới của đất nước ta hai mươi năm qua chính là sự chủ động hội nhập quốc  tế, từng bước vững chắc đạt được những thành tựu rất đáng tự hào. Về kinh tế, Việt Nam là  một trong những nền kinh tế có tốc độ phát triển khá cao (từ 7,5 ­ 8% năm), cơ cấu kinh tế  được chuyển địch theo hướng tích cực phát triển công nghiệp và dịch vụ, tốc độ hiện đại hóa  cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ với những bước đi dài... tất cả đã tạo điều kiện chín muồi  để Việt Nam vững bước trên tiến trình hòa nhập Thương mại Quốc tế WTO.  Chiến lược là vậy, hơn 20 năm hội nhập văn hóa thế giới quả là cuộc đấu tranh quyết liệt.  Đánh giá về thành tựu hội nhập văn hóa có nhiều ý kiến khác nhau, không được đồng thuận  như khi chúng ta đánh giá về thành tựu đổi mới kinh tế. Điều này chứng tỏ quá trình hội nhập  văn hóa của chúng ta còn có những vấn đề non yếu. Không ai phủ nhận sau 20 năm đổi  mới, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ta được nâng cao, được mở rộng, phong phú  đa dạng và giàu có hơn nhiều. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng, bên cạnh những mặt tốt đó,  thì nhiều mặt tiêu cực của đời sống xã hội cũng nảy sinh. Đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm  trọng, đời sống văn hóa bị lai căng, nhiều chuẩn mực xã hội không còn được tôn trọng, một  số mặt xấu được duy trì công khai không có người lên tiếng, nhiều tệ nạn không ngăn chặn  được. Riêng về lĩnh vực văn học nghệ thuật, hơn 20 năm hội nhập thì văn chương nghệ thuật thế  giới ồ ạt tràn vào nước ta, cả những tác phẩm hay và những tác phẩm dở. Văn hóa bạo lực,  tình dục ngang nhiên thách thức những thuần phong mỹ tục, những món hàng ăn liền rẻ tiền  tấn công những giá trị sâu sắc, thâm nghiêm... Những tính chất văn chương nghệ thuật ngoại  lai đó đôi khi còn có sức mạnh chiếm lĩnh hắn được một bộ phận làm nhiệm vụ sáng tạo,  biểu diễn và một bộ phận công chúng nhất là khá đông đảo giới trẻ hoan hô môt cách vô tội  vạ, "đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu” khá rầm rộ. Hội nhập thế giới, nghĩa là ra với đại dương với nhiều sóng to gió lớn. Ở lĩnh vực nào cũng  cần phải có người cầm lái có bản lĩnh và có tầm nhìn xa trông rộng. Trên thế giới đã có nhiều  bài học về sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa hóa. Những bài học nào cũng chỉ có  những giá trị nhất định chứ không thể là chìa khỏa vạn năng. Chiến lược xây dựng nền văn  hóa Việt Nam phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc là hoàn toàn đúng đắn, nhưng triển khai  xây dựng quản lý văn hóa toàn xã hội là vô cùng khó khăn phức tạp, là thách thức lớn cần có  sức mạnh của nhiều cấp nhiều ngành mới có thể làm được. Với quyết tâm cao thì cuối cùng  căn bệnh nào cũng tìm ra được thuốc đặc trị, cũng tìm được giải pháp giải quyết đúng đắn.  Nền văn hóa Việt Nam mấy ngàn năm lịch sử tồn tại và phát triển đã thể hiện sức sống  mãnh liệt. Âm mưu đồng hóa của những nền văn hóa lớn hết đợt sóng này đến đợt sóng  khác cũng không xóa được bản lĩnh văn hóa Việt Nam. Có thể nói nền văn hóa Việt Nam đã  được tôi luyện và có sức đề kháng cao. Điều này cho chúng ta tin tuởng vào chặng đường  phát triển sắp tới của nền văn hóa dân tộc. Một vấn đề lớn và quan trọng đặt ra là: Nền văn 
  8. hoá tiên tiến, hiện đại do hội nhập quốc tế hình thành có mâu thuẫn, có thủ tiêu nền văn hoá  truyền thống và làm mất đi bản sắc dân tộc của văn hoá truyền thống?  Phép biện chứng duy vật và thực tiễn xã hội cho thấy, đời sống tinh thần có cuộc sống độc  lập của nó so với nền tảng vật chất xã hội. Văn hoá, một khi ra đời, dù là xuất phát từ tồn tại  kinh tế, từ đời sống vật chất, nó trở thành thực thể độc lập với cơ sở kinh tế ­ xã hội. Thực tế  đã chứng minh, những hệ tư tưởng, chính trị, văn hoá đã đóng vai trò điều chỉnh và qui định  chiều hướng vận động của xã hội. Ngày nay, loài người càng nhận rõ rằng, văn hoá không  chỉ là cái phái sinh của điều kiện kinh tế ­ xã hội, mà còn là động lực nội sinh của sự phát  triển đó. Văn hoá Việt Nam với bản sắc của mình, qua bao lần tiếp biến vẫn không bị sai lạc, phai  mờ, thậm chí qua bao lần đất nước bị xâm lăng, dân tộc bị thôn tính, nhưng bản sắc đó  không bao giờ mất, không những không mất mà nó ngày càng được khẳng định và phát  triển. Mỗi lần tiếp biến, văn hoá Việt Nam với bản lĩnh và sức sống của mình, lấy bản sắc  dân tộc làm tiêu chí, nó gạn lọc, tiếp thu những tinh hoa tốt đẹp của các nền văn hoá khác  trên khắp thế giới, làm giàu có và đậm đà thêm, phong phú thêm cho bản sắc của mình. Nói như vậy không có nghĩa hội nhập văn hóa chỉ có đem lại những thuận lợi, tạo ra tất cả  những yếu tố tích cực cho và giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam.  Chúng ta dể dàng nhận thấy: “Toàn cầu hoá và hội nhập” một mặt làm nâng cao chất lượng  sống, mặt khác cũng hình thành nên những chuẩn mực mới lạ trong đời sống tinh thần, có  thể dẫn đến "sự va chạm" giữa lối sống, lối tư duy hiện đại với lối sống và tư duy truyền  thống: Lối sống và cách tư duy hoà với thiên nhiên, tình cảm cộng đồng tình làng nghĩa xóm  dường như "mặc cảm" với lối sống đô thị và toán tính kinh tế có tính cá nhân, nếp sống  thanh bình dễ "dị ứng” với nhịp độ gấp gáp của tác phong công nghiệp, ứng xử tình cảm  nghiêng về đạo đức thường tương phản với văn hoá trí tuệ và nền pháp lý chặt chẽ, lối sống  tiêu xài không mấy phù hợp với truyền thống thanh đạm của con người Việt Nam… Hội nhập quốc tế không chỉ là nhập công nghệ mà là hoạt động toàn diện khoa học kỹ thuật,  kinh nghiệm sản xuất ­ quản lý kinh tế ­ xã hội. Sự hội nhập sẽ làm tăng nhanh nhiều loại  sản phẩm văn hoá, trong đó, bên cạnh các yếu tố tốt đẹp, có cả những yếu tố không phù  hợp với văn hoá truyền thống, thậm chí độc hại nữa.  Chúng ta chủ động lựa chọn chính sách trong tiếp biến của công nghiệp hoá ­ hiện đại hoá.  Những thế mạnh trong đối sách đó là tương đối bởi trình độ kinh tế ­ xã hội nước ta rất thấp  so với các nước đầu tư vào ta. Trong biết bao loại đầu tư, ở đó đồng thời cũng kèm theo  những dạng văn hoá nhất định. Cái ta cần, nói chung là vượt hẳn cái ta có khả năng cho.  Trong một xã hội nghèo, sự thâm nhập ồ ạt từ bên ngoài làm đảo lộn nhiều thói quen, nếp  sống, kể cả suy nghĩ của nhân dân ta trên một bình diện rộng hơn bao giờ hết. Những năm gần đây, không chỉ ở thành thị mà cả ở nông thôn, điều kiện sống, tiện nghi sinh  hoạt, lối sống đã có sự thay đổi lớn, sự thay đổi đó diễn ra không chỉ ở bề ngoài mà cả ở  chiều sâu. Sự khủng hoảng một số mặt trong nhiều phương diện đời sống đang hình thành  liên quan đến từng gia đình. Trước đây một số người đi tìm sự thoả mãn lối sống của họ ở  nước ngoài, thì nay lối sống đó đã nảy nở tại Việt Nam, trên một số lĩnh vực lối sống đó đã  khống chế lối sống truyền thống Việt Nam, nhiều cách sinh hoạt, cách sống, cách nghĩ...  thực sự đã xung đột với những chuẩn mực mà nhân dân ta cho là lành mạnh. Nhiều hiện 
  9. tượng trước đây hoàn toàn xa lạ thì nay ở không ít người được xem như là chuyện bình  thường: bạo lực, kích dâm, xem tiền là tối thượng, xem hưởng thụ vật chất là mục đích của  cuộc đời. Đồng minh của lối sống buông thả là luận điệu tự do, dân chủ không ranh giới. Tất  cả những cái đó nếu không kịp thời ngăn chặn, đến một lúc, an ninh quốc gia, thậm chí độc  lập dân tộc sẽ là cái bia bắn phá, lối sống dân tộc, văn hoá dân tộc sẽ bị coi là lạc hậu, lạc  lõng. 2.2. Sự vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào việc xây dựng và phát triển nền văn  hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tôc. Hiện nay, vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc và những biến thể của nó đang là một trong  những vấn đề được đặc biệt quan tâm ở Việt Nam. Nỗi ám ảnh về bản sắc hiện diện ở khắp  nơi, từ những diễn ngôn chính trị như "xây dựng nền văn hóa tiên tiến, hiện đại, đậm đà bản  sắc dân tộc", "hội nhập nhưng không hòa tan" cho đến các hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội  như xây dựng thương hiệu Việt, tự kiểm điểm tính cách dân tộc hay phê bình văn học nghệ  thuật. Không thể phủ định, đây là một định hướng đúng đắn, một mối quan tâm lành mạnh  của toàn xã hội khi Việt Nam ngày càng tham gia một cách toàn diện hơn vào quá trình toàn  cầu hóa nhưng tự bản thân những khát vọng bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc cũng đặt ra  những câu hỏi hóc búa đối với toàn xã hội, trước hết là trong việc xác định bản sắc văn hóa  dân tộc và sau đó là việc ứng xử với bản sắc văn hóa đó.  «Bản» là cái gốc, cái căn bản, cái lõi, cái hạt nhân của một sự vật; «Sắc» là thể hiện ra  ngoài. Nói bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam tức là nói những giá trị gốc, căn bản, cốt  lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc Việt Nam. Nói những hạt nhân giá trị hạt nhân tức là  không phải nói tất cả mọi giá trị, mà chỉ là nói những giá trị tiêu biểu nhất, bản chất nhất,  chúng mang tính dân tộc sâu sắc đến nỗi chúng biểu hiện trong mọi lĩnh vực như: văn học  nghệ thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, trong sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử hằng  ngày của người Việt Nam.  Những giá trị hạt nhân đó không phải tự nhiên mà có, nó được tạo thành dần dần và được  khẳng định trong quá trình lịch sử xây dựng, củng cố và phát triển của nhà nước Việt Nam.  Những giá trị đó không phải là không thay đổi trong quá trình lịch sử. Có những giá trị cũ, lỗi  thời bị xóa bỏ, và có những giá trị mới, tiến bộ được bổ xung vào. Có những giá trị tiếp tục  phát huy tác dụng, dưới những hình thức mới. Dân tộc Việt Nam, với tư cách là chủ thể sáng  tạo, thường xuyên kiểm nghiệm những giá tri hạt nhân đó, quyết định những thay đổi và bổ  sung cần thiết, tái tạo những giá trị đó từ thế hệ này sang thế hệ khác.  Không nên có tư tưởng tĩnh và siêu hình đối với những giá trị hạt nhân đó, thậm chí đối với  những giá trị mà chúng ta vốn cho là thiêng liêng nhất. Nếu dân tộc không có ý thức giữ gìn,  bồi dưỡng, tái tạo để trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thì chúng cũng bị mai một  và tàn lụi đi. Chúng ta thử so sánh bản sắc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong những người cuộc Cách  mạng Tháng tám sôi sục, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ với cái gọi là "Bản  sắc" chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong những năm tháng cuối đời nhà Nguyễn thì thấy rõ.  Hay là đối với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời kỳ Lê Mạt với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam  thời Lý ­Trần. Không thể nói, đấy là cùng một bản sắc chủ nghĩa yêu nước được!  Có người hỏi có thể có những giá trị bản sắc là tiêu cực, hay là đã nói bản sắc là nói cái gì  tiến bộ, tích cực, xứng đáng được trao truyền và thừa kế. 
  10. Như trên vừa nói, không nên có cái nhìn tĩnh tại và siêu hình đối với bản sắc dân tộc. Cái gì  sống đều thay đổi và phải thay đổi. Bản sắc dân tộc cũng vậy. Giai cấp lãnh đạo phải sáng  suốt và chủ động đối với quá trình diễn biến của bản sắc dân tộc. Những giá trị nào lỗi thời  phải xóa bỏ, những giá trị mới nào cần bổ sung thêm vào, những giá trị nào cần kế thừa,  nhưng dưới một hình thức mới, và hình thức mới đó thêm ra sao? Trong những bước chuyển  cách mạng, những sự kiện đổi đời của dân tộc ta như cuộc cách mạng Tháng tám, chiến  thắng của Ngô Quyền kết thúc đêm dài mười thế kỷ Bắc thuộc, sự kiện Tây Sơn..., bộ phận  lãnh đạo của dân tộc thời bấy giờ phải nghiêm túc kiểm nghiệm lại những giá trị bản sắc  đương thời của dân tộc. Không phải không có lý do mà sau 10 thế kỷ Bắc thuộc, bộ phận  lãnh đạo của dân tộc thời bấy giờ đã gạt bỏ Nho giáo và chấp nhận tư tưởng Phật giáo. Cũng  với những lý do xác đáng, dân tộc ta kinh qua cuộc cách Mạng tháng tám đã chấp nhận hệ  tư tưởng Mác­Lênin như là dòng tư tưởng chủ lưu hiện nay của mình.  Những cuộc kiểm nghiệm như thế cũng cần được tiến hành khi xảy ra giao tiếp văn hóa rộng  rãi giữa các nền văn hóa khác nhau, ví dụ giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Xô Viết, văn  hóa Việt Nam và văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa, văn hóa Việt Nam và văn hóa Âu, Mỹ... không  có biên giới. Thời đại hiện nay là thời đại của kỹ thuật giao thông liên lạc và thông tin cực kỳ  phát triển. Trái đất như bị thu nhỏ lại hàng mấy trăm lần, so với chục năm về trước. Do đó sự  tiếp xúc văn hóa giữa các dân tộc sống cách xa nhau là tất nhiên và tất yếu. Qua những  cuộc tiếp xúc đó, bản sắc văn hóa của các dân tộc đều có sự thay đổi, bên cạnh những cái  khẳng định. Thật là vô lý nếu chúng ta gạt bỏ mọi yếu tố tiến bộ và cái hay, đẹp của văn hóa  nước khác chỉ vì chúng ta sợ bị ngoại lai. Nhưng cũng sẽ là vô lý hơn, nếu chúng ta tiếp thu  hàng loạt không có phê phán mọi yếu tố của văn hóa nước ngoài, chỉ vì chúng là mới lạ, tân  kỳ.  Những yếu tố tiến bộ của văn hóa nước ngoài, một khi đã được dân tộc ta chấp nhận và biến  thành sở hữu của mình rồi, thì chúng có thể trở thành một bộ phận của giá trị bản sắc văn  hóa Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Không ai có thể phủ nhận rằng, nhiều yếu tố Phật  giáo, Nho giáo, mặc dù bắt nguồn từ nước ngoài, nhưng đã trở thành bộ phận khăng khít của  bản sắc dân tộc và văn hóa Việt Nam, đã được dân tộc Việt Nam biến thành sở hữu thật sự  của mình.  Nói tóm lại, cái lỗi thời nhưng không được cải tiến, cái tốt nhưng lại bị cường điệu, cái tốt  ngoại lai nhưng không được bản địa hóa nhuần nhuyễn đều có thể biến thành tiêu cực và tạo  trở ngại cho sự phát triển bình thường của nền văn hóa dân tộc. Vì vậy, mà chúng tôi khẳng  định, những giá trị bản sắc của dân tộc Việt Nam, của nền văn hóa Việt Nam cần phải được  bộ phận lãnh đạo của dân tộc thường xuyên kiểm nghiệm, theo dõi, gìn giữ, cải tiến, bổ  sung, gạt bỏ những cái lỗi thời, đổi mới những hình thức không còn thích hợp, tiếp thu và bản  địa hóa mọi tinh hoa của văn hóa nước ngoài... khiến cho những giá trị gọi là bản sắc văn  hóa của dân tộc ta phát huy tới mức cao nhất của hai tác dụng xúc tác và hội tụ, đối với sự  phát triển toàn diện và mọi mặt của dân tộc Việt Nam chúng ta. Tác dụng xúc tác là tác dụng  thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển. Tác dụng hội tụ là tác dụng gắn bó, kết hợp với mặt, các  yếu tố thành một hệ thống nhất.  2.3. Thành quả của việc vận dụng vào xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến  đậm đà bản sắc dân tộc. Đối với nước ta những năm vừa qua, trong quá trình mở cửa giao lưu với thế giới, chúng ta 
  11. không chỉ tiếp thu những giá trị hiện đại, tiên tiến mà còn bổ sung, điều chỉnh một số nét của  các giá trị truyền thống cho phù hợp với thời đại, thẩm thấu và làm đa dạng thêm bản sắc  của dân tộc. Chúng ta ngày càng ý thức rõ hơn về quá trình hội nhập. Trong quá trình thực  tiễn phát triển đất nước, chúng đã được những thành quả trong việc xây dựng và phát huy  bản sắc văn hóa đó là:  Quá trình hội nhập văn hóa đã làm cho các quốc gia đang ngày càng xích lại gần nhau hơn  bởi những giá trị truyền thống chung, đồng thời tạo điều kiện cho mỗi dân tộc phát huy nét  độc đáo, đặc trưng của mình. Quá trình này cũng sẽ tạo điều kiện cho thế giới luôn tồn tại  trong sự thống nhất chung của tất cả những cái riêng, cái đặc thù; cái chung không bài trừ  cái riêng mà cùng với cái riêng làm tiền đề cho nhau để cùng thúc đẩy nhau phát triển và  tiến bộ. Vận dụng quy luật phủ định của phủ định, ta không thể bảo vệ thụ động bản sắc mà chỉ hòa  nhập cọ sát và biến đổi bản sắc mới xuất hiện và chói sáng. Từ Truyện Kiều, thơ Nôm hay  tranh khắc gỗ dân gian, tuồng chèo, nhạc Cung Đình Huế, Quan Họ hay Ca trù... chứa đựng  bản sắc dân tộc vì từng là sự giao thoa, cọ sát, khai thác lẫn nhau của các dòng văn nghệ,  văn hóa khác nhau. Gần đây thì cái áo dài, cái nón tới tranh sơn mài, lụa, sơn dầu từ thời  Đông Dương tới Đổi Mới, Thơ Mới, tiểu thuyết, kiến trúc "Đông Dương", cải lương... đều là  những suối nguồn, và "kho chứa" của bản sắc dân tộc. Nó trừu tượng song không chung  chung mà nằm ở các tác phẩm cụ thể của các tác giả cụ thể. Nếu có những nghiên cứu  nhận dạng được những nét chung nào đó của các tác phẩm, tác giả đó thì ta có thể gọi tên  "bản sắc dân tộc" ta. Giữ gìn bản sắc không co vào cố thủ trong tính riêng biệt , khước từ giao lưu văn hoá. Trên  thế giới này không có một nền văn hoá nào có tính thuần nhất bản địa. Sự thay đổi giữa các  nền văn hoá là do trao đổi. Khi trao đổi ngừng thì cả hai địa bàn đều chững lại trong phát  triển. Đây là phép biện chứng của nhân tố ngoại sinh trong sự phát triển nội sinh. Tuy nhiên  sự hội nhập các giá trị văn hóa khác với sự tha hóa về văn hóa cũng như sự lai giống tốt  khác với lai ghép vào cơ thể những gien lạ hoắc, gây nên sự biến dị , thậm chí những quái  thai.  Chẳng nói gì xa. Nửa đầu thế kỷ XX, văn hoá và lối sống Pháp, theo đó là Âu châu, xâm  nhập vào ta nhanh và mạnh, tưởng như ngự trị, trong khi văn hoá dân tộc có dấu hiệu suy  yếu. Thế mà những năm 20 ­ 30 và đầu 40, dưới sự tác động của làn sóng ấy và cùng với  vốn liếng văn hoá giàu bản sắc có sẵn, đã nảy nở cả một nền văn học ­ nghệ thuật Việt Nam  mới hầu như chỉ tầng lớp tiểu tư sản mới hình thành tạo ra, với văn xuôi và thi ca, âm nhạc,  hội hoạ, sân khấu, phê bình văn học… còn âm vang đến tận ngày nay. Cuộc hội họa đầu  của thời mới bị đứt quãng ấy đã làm cho văn hoá Việt, con người Việt phong phú hơn, bổ túc  những nét mới cho bản sắc. Ta chối bỏ những cái gì đó, ta tiếp thu và sản sinh ra những cái  gì đó mới hơn, phù hợp hơn, có sức nâng cao ta lên. Cuộc hội nhập thời nay mạnh mẽ hơn, toàn diện và toàn cục, sức chi phối, sức tác động của  nó không thể so sánh với trước được. Song ta sở hữu cả một vốn liếng gien, vốn liếng bản  sắc của ta vô cùng sâu lắng, vô cùng dai bền, không việc gì phải e ngại! Thử xem, mình bắt  chước ăn cá sống với mù tạt theo kiểu Nhật, nhưng thêm vào đấy là rau diếp cá, lá cải xanh,  củ cải sống. Mình hát nhạc pop, nhạc rock, song giai điệu và cách thể hiện thì chẳng giống  ai. Thậm chí, ở những sân bay quốc tế này nọ, cứ gặp dăm ba đồng bào mình túm tụm, là 
  12. nhận ra ngay. Ấy là trong cuộc sống thường nhật, chứ ở những phạm trù lớn lao như cách  nghĩ, cách sống, cách phấn đấu… mình chẳng giống ai hết.  Một thành quả vững chắc nữa trong giữ gìn bản sắc là chúng ta không sợ toàn cầu hóa tấn  công mà còn tấn công ngược lại nó. Xin nêu hai ví dụ: thức ăn và y phục.  Thức ăn là yếu tố mạnh nhất trong bản sắc, cho nên nó phát triển với toàn cầu hóa. Su­si  của Nhật ngày nay toàn cầu hóa thực đơn khắp năm châu bốn biển. Mà đơn giản quá: chỉ  chút cơm bọc rau câu. Thế giới nhà giàu càng chán mỡ càng chuộng su­si. Nắm yếu điểm  đó, su­si tiến công trên thị trường chuộng thức ăn nhẹ: nó đùa với cái bao tử, hư hư thực  thực, ăn vào như có như không.  Phở của ta bây giờ cũng thế, cũng toàn cầu hóa trong nhu cầu “fastfood”. Trái với su si, nó  thực chất, làm một tô bự là giải quyết xong bữa trưa, mà mùi vị lại đậm đà, kích thích. Chưa  nói đến chả giò (nem rán) chẳng những đi vào các nhà hàng sang trọng mà còn đi vào tận  căn­tin của các trường học, các xe đẩy trên đường phố. Học trò thấy nem rán, chưa ăn đã  thèm chảy nước miếng. Nhưng dù là nem rán hay phở, dù phở do bếp Tàu nấu hay dù nem rán đang lai giống với  bánh tráng Thái Lan, cái đặc biệt, cái khác với Tàu, với Thái của Việt Nam, cái làm cho món  ăn Việt Nam được ưa chuộng trên thế giới, cái làm cho con người Việt Nam muôn đời vẫn tự  định nghĩa mình là Việt Nam bất chấp không gian, bất chấp luật quốc tịch, vẫn là cái đó, cái  mùi thum thủm, cái vị mặn mặn, mà nếu thiếu nó cuộc đời nhạt nhẽo như thiếu tố quốc: “cái  chai nước mắm”, nước mắm là đại nguyên soái bách chiến bách thắng. Thực dân, đế quốc,  bá quyền, Bắc thuộc, Tây thuộc... chẳng coi nó ra gì. Nhưng đối với Việt Nam đó là “bản  sắc”. “Áo dài” là y phục của dân tộc, là yếu tố then chốt thứ hai của bản sắc. Aó dài tuy không  phải là truyền thống lâu đời, chỉ là y phục cải cách từ những năm 1930 thôi, cũng là thời  trang chế biến để thích nghi với thời đại mới. Nhưng nó thành công bao nhiêu, thân thương  bao nhiêu, yêu kiều ban nhiêu, thích hợp bao nhiêu! Nó đi vào lòng dân tộc như thể nó đã  được khai sinh từ thuở dân tộc còn nằm nôi. Và nó hãnh diện phất phới trên thế giới, thế giới  thán phục nó. Ngày nay, thời trang tha hồ vẽ vời, thêm bớt, nhân lên nhiều kiểu mới, nhưng  nó vẫn là nó, vẫn là nhan sắc vô địch. Cái gì hợp với dân tộc qua bao nhiêu thử thách, cái ấy  là bản sắc, cái ấy không sợ ma nào ám, kẻ cướp nào lấy! Như vậy thì chẳng sợ ai. Như chén  nước mắm. Như chiếc áo dài. Muôn đời của dân tộc.  2.4. Những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng và giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá trình toàn  cầu hoá và hội nhập văn hóa hiện nay. Để khắc phục những hạn chế, yếu kém, tiếp tục giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân  tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công  nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, trước mắt chúng ta cần thực hiện một  số nhiệm vụ cơ bản, cấp thiết sau: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của  đất nước, tạo sự chuyển biến cơ bản và bước phát triển mạnh mẽ trong xây dựng, nền văn  hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đồng bộ với sự phát triển kinh tế ­ xã hội.  Chúng ta nhất định phải đẩy mạnh hơn nữa phong trào ''Toàn dân đoàn kết, xây dựng đời  sống văn hoá'' gắn chặt với cuộc vận động chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân,  toàn quân học tập và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, lối sống, làm chuyển biến 
  13. mạnh mẽ công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân  dân, nhất là đối với cán bộ chủ chốt các cấp và thanh niên. Chúng ta phải gắn chặt nhiệm vụ xây dựng văn hoá với nhiệm vụ trung tâm xây dựng kinh tế  và nhiệm vụ then chốt xây dựng Đảng, bảo đảm hoạt động văn hoá tiến hành đồng bộ với  hoạt động kinh tế, hình thành nền tảng tinh thần vững chắc cho xã hội. Cũng cần nói thêm  rằng, để thực hiện tốt các nhiệm vụ cụ thể về xây dựng và phát triển văn hoá, trong khi đặt  lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng con người với những đức tính cơ bản, tốt đẹp, chúng ta phải  xây dựng và phát triển hài hoà các nhiệm vụ khác, từ xây dựng môi trường văn hoá, phát  triển văn học ­ nghệ thuật, thông tin đại chúng, bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá đến  việc bảo tồn và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số, chính sách văn hoá đối với tôn giáo  và hợp tác quốc tế về văn hoá...  Chúng ta tiếp tục tăng cường các nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hoá, trước hết  và tăng mức đầu tư từ ngân sách cho phát triển sự nghiệp văn hoá đi đôi với việc huy động  sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân và sử dụng một cách có hiệu quả nhất các nguồn  lực đó; sớm xây dựng và thực hiện chiến lược tuyển chọn, đào tạo, phát triển các tài năng  văn hoá, nghệ thuật; tăng cường và đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng, sự  quản lý của Nhà nước đối với văn hoá.  Để làm được điều đó, trước hết là cán bộ, đảng viên, cần nâng cao nhận thức và trình độ  lãnh đạo trên lĩnh vực văn hoá, song song với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội ...; nêu  cao tinh thần gương mẫu về tư tưởng, đạo đức, lối sống; nâng cao chất lượng, hiệu quả công  tác tư tưởng theo phương châm ''nói đi đôi với làm”, đã nói là làm để cho các quyết định lần  này được quán triệt trong từng cán bộ, đảng viên, nhất và cán bộ chủ chốt, và mọi tầng lớp  nhân dân. Các cấp, các ngành cần có ngay các chương trình, kế hoạch và biện pháp cụ thể  để đưa những nội dung đó thấm sâu vào từng địa phương, từng ngành, từng đơn vị, từng  cộng đồng, từng gia đình, từng con người, tạo thành phong trào thi đua sôi nổi, xây dựng con  người mới và môi trường văn hoá mới phong phú, lành mạnh, phát huy những truyền thống  văn hoá tốt đẹp của dân tộc ta. Nếu như mỗi ngày, mỗi người chúng ta đều làm được một  việc tốt hay vài ba việc tốt, và toàn xã hội đều làm như vậy thì chắc chắn chúng ta sẽ đẩy lùi  được các hiện tượng tiêu cực, làm cho xã hội ta ngày càng tốt đẹp hơn, nền văn hoá của  chúng ta ngày càng được nâng cao hơn. KẾT LUẬN.  Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức đúng đắn về xu hướng phát triển của sự  vật. quá trình phát triển của bất kỳ sự vật nào cũng không bao giờ đi theo đường thẳng mà diễn ra  quanh co, phức tạp trong đó bao gồm nhiều chu kỳ khác nhau. Chu kỳ sau bao giờ cũng tiến bộ  hơn chu kỳ trước. Vì vậy, quá trình đổi mới của nước ta cùng đều diễn ra theo chiều hướng đó.  Nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa đặt dưới sự quản lý điều tiết của  nhà nước tạo tiền đề phủ định nền kinh tế tập trung, bao cấp đặt nền móng cho xã hội phát triển  cao hơn nó trong tương lai đó là xã hội xã hội chủ nghĩa. Như vậy, trong thời đại ngày nay, hội nhập đang trở thành một xu thế khách quan. Dân tộc Việt  Nam, hay bất cứ một dân tộc nào khác không thể nằm ngoài quĩ đạo đó. Hội nhập là con đường  tất yếu, là lẽ sống còn của cả dân tộc. Vấn đề đặt ra là chúng ta hội nhập như thế nào. Rõ ràng,  chúng ta với tư thế chủ động, hội nhập trên cơ sở tự khẳng định mình, nổ lực để vượt lên chính  mình, nghĩa là, thông qua quá trình hội nhập, chúng ta có thể nhận thức đầy đủ hơn, có ý thức 
  14. hơn trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc của dân tộc mình. Đồng thời trong quá trình đó, chúng  ta sẽ thấy được những hạn chế của những truyền thống có khả năng cản trở sự tiến bộ để tìm  cách khắc phục. Một khi đã nhận thức được như vậy, chắc chắn chúng ta sẽ kết hợp hài hoà các  giá trị truyền thống với các giá trị hiện đại, trên cơ sở bảo tồn bản sắc dân tộc, giữ lấy những gì là  tinh hoa, loại bỏ dần các yếu tố lỗi thời, tăng cường giao lưu, học hỏi với bên ngoài thì sẽ vượt qua  được những thử thách, sẽ khơi dậy được vai trò động lực của các giá trị truyền thống. Với tinh thần  và bản lĩnh của người Việt Nam, chúng ta sẽ “phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác  quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa”, kết hợp sức mạnh dân tộc với  những ưu thế của thời đại để phát triển đất nước và từng bước khẳng định vị thế bản lĩnh của dân  tộc mình trước cộng đồng./. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1/ Công nghiệp hóa ­ hiện đại hóa và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ­ Nguyễn Văn  Huyên.  2/ Bản sắc và toàn cầu hóa ­ GS. Cao Huy Thuần  3/ Đừng quá sợ đánh mất bản sắc dân tộc ­ Kim Hạnh  4/ Một văn hóa mới cho hội nhập hôm nay ­ Nguyên Ngọc 5/ Bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam ­ GS. Minh Chi (Học viện Phật giáo Việt Nam)
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản