Văn hóa Việt Nam

Chia sẻ: Nguyenthi Thuytrieu | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:38

1
894
lượt xem
472
download

Văn hóa Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Có rất nhiều nhận thức khác nhau về văn hoá, văn nghệ , riêng của Đảng rất ít bài viết,chị chọn lọc được một số bài theo chị là hay và thiết thực cho em, chị cũng không có nhiều thời gian nên hạn chế việc tìm kiếm. Em nên đọc nhiều để có nhận thức rộng hơn về vấn đề này, và sẽ viết bài luận tốt hơn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Văn hóa Việt Nam

  1. Có rất nhiều nhận thức khác nhau về văn hoá, văn nghệ, riêng của Đảng rất ít bài viết, chị chọn lọc được một số bài theo chị là hay và thiết thực cho em, chị cũng không có nhiều thời gian nên hạn chế việc tìm kiếm. Em nên đọc nhiều để có nhận thức rộng hơn về vấn đề này, và sẽ viết bài luận tốt hơn. Tide Văn hóa Việt Nam, hay nói riêng là văn hóa của dân tộc Kinh mà đã có nguồn gốc tại miền bắc Việt Nam, là một trong những nền văn hóa lâu đời nhất ở trong khu vực Thái Bình Dương. Mặc dù như vậy, nhưng qua ảnh hưởng lớn của Trung Hoa, văn hóa Việt Nam đã lập ra rất nhiều đặc điểm gần giống với những dân tộc của miền Đông Á, và khác những nước ở khu Thái Bình Dương (như là Campuchia, Lào và Thái Lan) mà đã chịu một phần lớn ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ. Nhưng tuy là ảnh hưởng Trung Hoa được coi là ảnh hưởng lớn nhất của một nước ngoài trên nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, dân tộc Kinh đã vẫn giữ gìn được rất nhiều nét văn hóa riêng của mình, mà cho tới ngày hôm nay những phong tục riêng đó vẫn quan trọng vô cùng trong đời sống của người Việt. Có nhiều nhà viết sử cho rằng là trước khi ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa, Văn hóa Đông Sơn có gốc ở miền bắc Việt Nam (mà cũng đã phát triển mạnh ở những nước khác ở khu Thái Bình Dương) là phần đầu của lịch sử Việt Nam. Có thể nói chung văn hóa của Việt Nam là một pha trộn đặc biệt giữa nhiều những văn hóa cổ xưa cùng với văn hóa bản xứ của người Việt, ngoài ảnh hưởng lớn nhất của Trung Hoa cũng có ảnh hưởng rất nhỏ hơn của văn hóa Ấn Độ, Chàm, và sau này ảnh hưởng lớn của văn hóa phương tây (Pháp, Nga, Mỹ). [sửa] Đất nước Chùa Thiên Mụ ở Huế, Viẹt Nam Văn hóa Việt Nam đặc biệt là văn hóa miền Bắc rất đa dạng. Nó được đúc kết qua hàng ngàn năm lịch sử. Các phong tục như tục nhuộm răng, ăn trầu, các lễ hội như: lễ hội Chùa Hương, giỗ tổ Hùng Vương, hội Lim, hội xuống đồng của người Tày. Ở các dân tộc miền núi có ngày hội tình yêu, đến mỗi dịp Xuân về những đôi trai gái tập trung lại họ chơi các trò chơi như ném Còn, hát Đối... [sửa] Tổ chức cộng đồng Cộng đồng người Việt được tổ chức theo các đơn vị cơ bản là làng. Làng là một tổ chức khá khép kín. Làng thường có đình làng là nơi thờ cúng các vị thành hoàng và hội họp dân làng, nơi tổ chức các lễ hội quan trọng. Làng được bao bọc bởi lũy tre làng và có cổng làng, trong làng còn có cây đa, có thể có chùa. Những người đứng đầu làng được mọi người tôn kính, thường là những người già cả, người có tiền. Làng thường có những luật tục. Làng biểu hiện tất cả những nét tốt đẹp cũng như không hay của văn hóa Việt Nam thời phong kiến. Đơn vị xã hội nhỏ hơn làng là các gia đình. Khác với người phương Tây, gia đình ở Việt Nam được hiểu là một gia đình lớn, gồm có nhiều thế hệ có quan hệ máu mủ ruột thịt cùng chung sống. Gia đình được tổ chức theo thứ bậc chặt chẽ, người dưới phải có hiếu và kính trọng người trên, người trên có nghĩa vụ phải chăm lo dạy dỗ con cháu nên người. [sửa] Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên Vì nền tảng văn hóa là nông nghiệp nên người Việt có quan niệm ứng xử hài hòa với thiên nhiên. Kinh thành Huế được xây dựng theo quan niệm hòa hợp với cảnh quan xung quanh. Người Việt có hiểu biết lớn về thiên nhiên, đặc biệt là về điều kiện tự nhiên thích hợp cho nông nghiệp. Người Việt có nhiều kinh nghiệm trong việc chống chọi với thiên nhiên để phát triển nông nghiệp, điển hình là". Trong bất cứ một môi trường nào, con người đều chịu ảnh hưởng, chi phối bởi điều kiện tự nhiên, môi trường sống và điều kiện sinh hoạt Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đó, con người không thể chống lại nó, cải tạo nó một cách thuần thuc mà phải thích nghi vớ môi trường sống để điều hòa nhịp sống của mình. Với môi trường tự nhiên đắp đê phòng lũ lụt được phản ánh rõ nét trong truyện cổ tích "Sơn Tinh, Thủy Tinh, không chỉ con người Việt Nam, mà hầu như tất cả các cộng đồng dân tộc quốc gia trên thế giới đều phải tìm hiểu, lựa chọn thích nghi để tồn tại. Và quá trình đó đã nảy sinh những yếu tó văn hóa mà ta gọi là " văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên". Và những yếu tố văn hóa đó đã thể hiện rất rõ trong sinh hoạt của con người. Đó là việc con người đã sử dụng những sản phẩm của tự nhiên như: tre nứa, gỗ lạt, mây tre măng trúc để làm nhà, thức ăn, thức uống khai thác ở sông suối, đánh bắt ở biển để chế biến thức ăn trong bữa ăn. Đặc biệt, có những sản vật nổi tiếng được chế biến từ cá, tôm, canh cua....
  2. Trong kiến trúc nhà cửa: con người đã biết nhắm hướng nhà, hướng đất, tránh hướng gió độc, đón lấy hướng mắt trời, hay xây dựng nhà cửa gần sông suối để tiện nước sinh hoạt, trồng trọt. Một điểm đăc biệt trong kiến trúc nhà cửa, là các kiến trúc đều thuận theo thuật phong thủy. Đó là sự hài hòa giữa thế đất, thế núi, nguồn nước...Điều này thể hiện rất rõ trong kiến trúc kinh thành như thành Thăng Long, thành nhà Hồ, kinh thành Huế...hay trong thuyết tam tài của người dân là : "thiên - địa - nhân". Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của con người còn được thể hiện trong cách ăn mặc của người dân. Đó là cách ứng xử mùa nào thức nấy, mùa hè mặc chất liệu vải mát, mùa đông màu áo chất liệu vải giữ nhiệt... Hay trong kinh nghiệm sản xuất, trị thủy. Dự báo thời tiết, mùa nào thì nên trồng cây nào cho thích hợp... Tuy nhiên, hiện nay, do môi trường cơ chế thị trường, con người đã xâm hại tự nhiên quá lớn, để rồi tự nhận lãnh hậu quả là những trận lũ lụt khủng khiếp, động đất, sóng thần... Vì thế, để được thiên nhiên giúp đỡ, mọi người hãy tự nhận thức sự cần thiết của môi trường tự nhiên, hãy bảo vệ và xây dựng để môi trtường ngày càng tốt đẹp hơn. [sửa] Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội Người Việt Nam ngay từ nhỏ đã được dạy dỗ theo các chuẩn mực đạo đức của dân tộc và của đạo Khổng, trong đó chú trọng việc tu thân dưỡng tính, lấy chữ Nhân làm trọng, kính trên nhường dưới, luôn rèn luyện để có thể cống hiến thật nhiều cho đất nước và chăm lo cho gia đình. Đến thời hiện đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng các quan điểm đạo đức xa xưa lên một tầm cao mới, với các lời căn dặn như: "Trung với nước, hiếu với dân" (ngày xưa là "Trung quân ái quốc"). Người Việt Nam có tinh thần "tôn sư trọng đạo". Người Việt xem cha mẹ có công sinh thành ra mình, còn thầy cô có công dưỡng dục mình nên người: "Mùng một Tết cha, mùng hai Tết chú, mồng ba Tết thầy". Những nghề nghiệp được tôn phong bằng chữ "sư" (thầy) là những nghề nghiệp được người Việt tôn kính: võ sư, thầy thuốc...Việt Nam có Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11. Việt Nam thời phong kiến "trọng nam khinh nữ", điều này gây nhiều bất hạnh cho người phụ nữ[cần dẫn nguồn]. Phụ nữ phải thực hiện "tam tòng tứ đức". Sau khi lập nước năm 1945, Chính phủ công nhận chính thức quyền bình đẳng nam nữ. Hồ Chí Minh viết tặng chị em phụ nữ 8 chữ vàng "anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang".và câu danh ngôn "trên bước đường thành công không có dấu chân kẻ lười biếng". [sửa] Xã hội Nông nghiệp • Khoảng 70% người Việt Nam hiện sống tại các vùng nông nghiệp, và mặc dầu nhiều vùng đang bị ảnh hưởng bởi quá trình đô thị hóa và toàn cầu hoá, các phong tục nông nghiệp và các truyền thống hiện vẫn đóng một vai trò mạnh mẽ trong việc hình thành văn hóa Việt Nam. Trên tổng số dân 83.535.576 sẽ có 66.828.460 người sống ở các vùng nông thôn và 16.707.115 người sống ở các vùng đô thị. Trong tương lai không xa nữa, với tốc độ đô thị hóa và hoàn cảnh đất nước hội nhập WTO thì các đô thị mới sẽ mọc lên, vùng nông thôn được thu hẹp lại, kéo theo là đời sống nhân dân tăng cao. Tổ chức • Nói về các thuật ngữ phản ánh các mức độ tổ chức xã hội, hai đơn vị quan trọng nhất là làng và nước. Người Việt thường nói rằng làng liên quan chặt chẽ với nước. Các đơn vị tổ chức trung gian như huyện và tỉnh có nhiều tầm quan trọng thấp hơn. [sửa] Trong quá khứ Quan hệ dòng tộc: • Ở nước Việt Nam nông nghiệp, quan hệ dòng tộc đóng một vai trò quan trọng. Nếu có thể nói rằng các nền văn hóa Phương Tây coi trọng chủ nghĩa cá nhân, thì cũng có thể nói rằng các nền văn hóa Phương Đông coi trọng những vai trò gia đình và dòng họ. So sánh với văn hóa Phương Tây, văn hóa Trung Quốc đề cao gia đình hơn dòng họ trong khi văn hóa Việt Nam đề cao dòng họ hơn gia đình. Mỗi dòng họ có một trưởng họ, nhà thờ họ và những ngày giỗ họ. Đa số dân cư có liên hệ với nhau về huyết thống. Sự thực này hiện vẫn còn có thể bắt gặp trong những tên làng ví dụ Đặng Xá (làng của người họ Đặng), Châu Xá, Lê Xá,... vân vân. Ở Tây Nguyên truyền thống nhiều gia đình thuộc một họ ở chung với nhau trong những ngôi nhà dài hiện vẫn phổ biến. Ở đa số các vùng nông nghiệp hiện nay ở Việt Nam vẫn còn thấy ba tới bốn thế hệ sống dưới cùng mái nhà. Bởi vì quan hệ dòng tộc đóng vai trò quan trọng trong xã hội nên có một hệ thống quan hệ thứ bậc rất phức tạp. Trong xã hội Việt Nam, có chín kiểu quan hệ họ hàng gần xa riêng biệt (cửu tộc). Hầu như mọi ngày giỗ và các ngày lễ bên trong một họ đều tuân thủ các nguyên tắc thế hệ. Những người trẻ tuổi có thể có vị trí cao hơn theo cấp bậc triều đình so với người lớn tuổi nhưng vẫn phải tôn trọng người lớn tuổi kia. Địa lý • Nghề nghiệp • Gia trưởng • • Hành chính Bài chi tiết: Ẩm thực Việt Nam Ẩm thực Việt Nam dựa chủ yếu trên gạo, tương và nước mắm. Mùi vị đặc trưng của nó là ngọt, cay, và rất nhiều loại rau thơm khác. Món ăn cơ bản trên mâm cơm hằng ngày là: canh, mặn và món xào.
  3. Việt Nam cũng có nhiều kiểu mì. Các vùng khác nhau sáng tạo ra các kiểu mì khác nhau, về hình dạng, mùi vị, màu sắc vân vân. Một trong những món mì nổi tiếng nhất là Phở, gồm các sợi bánh phở và nước dùng, thịt bò, thịt gà. Món này có nguồn gốc từ miền bắc Việt Nam. Miền trung Việt Nam cũng nổi tiếng với nhiều món ẩm thực ngon miệng và có những hương vị rất riêng. Áo dài ngũ thân Trang phục Việt Nam rất đa dạng. Ở thời phong kiến, có những quy định khắt khe về cách ăn mặc. Dân thường không được phép mặc đồ nhuộm bất kỳ màu gì ngoài đen, nâu hay trắng. Quần áo của người dân hầu hết rất là tầm thường và đơn sơ, đễ hợp với số phận trong xã hội (ngoài những dịp lể quan trọng hoạc đắm cưới vân vân). Một trong những y phục cổ xưa nhất mà đã được phụ nữ bình dân mặc từ xưa đến đầu thế kỷ 20 là bộ Áo tứ thân. Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng là Áo tứ thân có thể đã ra đời từ thế kỷ 12. Vào thế kỷ 18, người bình dân ở hết 3 vùng chính Việt Nam đã bắt đầu mặc bộ đồ pijama đơn sơ (có thể có nguồn gốc ở miền nam), được gọi là áo cánh ở miền bắc và Áo bà ba ở miền nam. Khăn trùm đầu của họ là một mảnh vải đơn giản quấn quanh đầu và đồ đi dưới chân chỉ là một đôi guốc. Những dịp trọng đại đàn ông mặc hai thứ đồ truyền thống là áo dài có xẻ hai bên, và một khăn xếp, thường màu đen hay xám và được làm bằng vải bông hay tơ tằm. Trang phục của cung đình, khác biệt hẳn từ trang phục đơn sơ của nông dân, rất rắc rối và gồm cố tới bao chục kiểu áo khác nhau đễ hộp với mổi hoàn cảnh và nghi lễ. Chỉ riêng nhà vua được quyền mặc đồ màu vàng, quan lại mặc đồ đỏ hay màu tía. Còn làm rắc rối hơn là mổi triều đại có thể thích thú hoặc không thích kiểu áo hòang gia của triều đại trước, chính vì vậy thời trang ở trong cung đình nhiều lúc thay đổi với mổi triều đại. Trang phục truyền thống Việt Nam mà được quí nhất ngày nay là chiếc "Áo Dài", thường được mặc trong những dịp đặc biệt như cưới hỏi,tang tế v.v. Trang phục này có thể là đã có nguồn gốc từ thế kỷ 18 hoạc ở trong cung đình Huế. Từ lúc đó, Áo dài đã trải qua bao nhiêu sự phát triển, từ bộ áo ngũ thân rất rộng và không bó vào người như Áo dài hiện nay, cho tới bao nhiêu cải tiến khác nhau để hợp với những thay đổi trong thế giới thời trang. Cũng có người cho rằng Áo tứ thân mới là Áo dài đầu tiên, đã được biến thành Áo ngũ thân và cuối cùng mới thành chiếc Áo dài mình có hôm nay. Áo dài trắng đã trở thành bắt buộc tại nhiều trường cấp ba Việt Nam. Các giáo viên nữ mặc Áo Dài mọi buổi lên lớp. Một số nữ nhân viên văn phòng như tiếp tân, thư ký, hướng dẫn viên du lịch cũng mặc Áo dài khi làm việc. Và theo đánh gia của một tờ báo của Nhật thi dường như chỉ có dáng của người con gái Việt Nam là mặc áo dài đẹp nhất Vì sự phổ biến của nó, áo dài đã trở thành biểu tượng quốc gia, đại diện cho các giá trị văn hóa Việt Nam. Trong đời sống hàng ngày, kiểu ăn mặc truyền thống viên nay hiện đã theo phong cách phương tây. Trang phục truyền thống chỉ được mặc trong những dịp đặc biệt. Phụ nữ có thể không mặc váy và cả hai giới hiếm khi mặc các loại quần sóc. [sửa] Tôn giáo Tôn giáo chủ yếu ở Việt Nam là Tam Giáo đặc trưng bởi sự phức tạp pha trộn tôn giáo ở vùng Đông Á giữa Phật giáo Đại thừa, Khổng giáo và Đạo giáo là các tôn giáo ngoại nhập. Ngoài các tôn giáo trên, còn có hai tôn giáo Cao Đài và Hoà Hảo- là các tôn giáo nội sinh. Các cộng đồng thiểu số Thiên chúa giáo chiếm khoảng 8% và đa số theo Thiên chúa giáo La Mã, nhưng có một thiểu số nhỏ gồm những nhóm Tin Lành mới về sau này. Những nhà thờ Tin lành lớn nhất là Nhà thờ phúc âm Việt Nam và Nhà thờ phúc âm Degar. Một tập hợp lẫn lộn dòng Hồi giáo Sunni và Hồi giáo Bashi đã bản địa hóa cũng được thi hành tín ngưỡng phần lớn bên trong dân tộc thiểu số Chàm, nhưng cũng có một số người thiểu số Việt Nam theo Đạo Hồi ở phía tây nam. Bài chi tiết: Các ngày lễ ở Việt Nam Số Ngày tháng Tên ngày Tết Dương Lịch 1 tháng 1 1 Từ 30 tháng 12 (hay 29 tháng 12 nếu Tết Nguyên Đán 4 tháng thiếu) đến 3 tháng 1 (âm lịch) Ngày Giỗ tổ Hùng 10 tháng 3 (âm lịch) 1 Vương Ngày Chiến thắng, 30 tháng 4 1 thống nhất Tổ quốc Quốc tế Lao động 1 tháng 5 1 Quốc khánh 2 tháng 9 1 [sửa] Truyền thông Lĩnh vực truyền thông ở Việt Nam thụt lùi xa phía sau các nước Đông Nam Á khác, từ năm 1991 Hà Nội đã có những cố gắng lớn nhằm nâng cấp hệ thống.
  4. Tất cả các trạm truyền thông ở các tỉnh đã được số hóa, và những hệ thống truyền tín hiệu cáp quang cũng như vi ba đã được mở rộng từ Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh tới tất cả các tỉnh. Mật độ điện thoại đã tăng gấp đôi trên toàn quốc từ 1993 đến 1995, nhưng vẫn còn thấp so với các quốc gia trong vùng. Việt Nam có hai vệ tinh Intersputnik (Vùng biển Ấn Độ). Tới năm 1999 có 65 MW (AM), 29 SW (sóng ngắn) và 7 FM trạm sóng radio trên toàn quốc. Có 8.2 triệu thiết bị thu sóng radio (1997 ước tính). Số lượng các đài truyền hình ít nhất là 10 (hơn 13 trạm tiếp sóng) (1998). Có 7 ISPs (Internet Service Provider - trạm cung cấp dịch vụ internet) (2003). [sửa] Văn hóa vùng lãnh thổ Văn hóa vùng thuộc dạng thức văn hóa lãnh thổ, mang tính chất liên văn hóa. Văn hóa vùng (hay văn hoá địa phương) là một thực thể văn hóa, hình thành và tồn tại trong một không gian lãnh thổ nhất định, thể hiện qua một tập hợp các đặc trưng văn hóa về cách thức hoạt động sản xuất; về ăn, mặc, ở, đi lại vận chuyển; về cách tổ chức xã hội cổ truyền và giao tiếp cộng đồng; về tín ngưỡng, phong tục và lễ hội; về các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật; về vui chơi giải trí; về các sắc thái tâm lí của cư dân..., từ đó có thể phân biệt với các đặc trưng văn hóa của vùng khác. Những đặc trưng văn hóa đó hình thành và định hình trong quá trình lịch sử lâu dài, do cư dân các dân tộc trong vùng thích ứng với cùng một điều kiện môi trường, có sự tương đồng về trình độ phát triển xã hội, đặc biệt là giữa họ có mối quan hệ giao lưu văn hóa mật thiết. Trên cơ sở những quan niệm lí thuyết nêu trên, Giáo sư Ngô Đức Thịnh đã tiến hành phân vùng văn hóa ở Việt Nam thành 7 vùng văn hóa lớn, trong mỗi vùng như vậy lại có thể phân chia thành các tiểu vùng văn hóa nhỏ hơn, khoảng 23 tiểu vùng. Nhận thức về văn hóa có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng nói cho cùng là ứng xử của con người với thiên nhiên, đồng loại và xã hội. Văn hóa hội nhập là năng lực của con người được thể hiện trong mối quan hệ đối với người khác, đối với xã hội khác, quốc gia khác... và nói cho cùng cũng chính là văn hóa khác. Lịch sử nhân loại luôn chứng kiến và chịu tác động bởi sự giao thoa giữa các nền văn hóa, hoặc tạo ra sự hòa hợp hoặc tạo ra sự va đập. Cùng với sự phát triển không đồng đều về kinh tế, ở thượng tầng, quan hệ giữa các văn hóa cũng có khuynh hướng thôn tính, đồng hóa lẫn nhau... Trong lịch sử, sự giao thoa giữa các nền văn hóa thường diễn ra song hành với quá trình các cộng đồng văn hóa mở rộng không gian địa lý, tìm kiếm môi trường để tồn tại và phát triển. Đó cũng chính là mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế. Phần lớn lịch sử của loài người sự giao thoa văn hóa diễn ra cùng với sự bành trướng lãnh thổ của cộng đồng này đối với cộng đồng kia và sự xung đột giữa các nền văn hóa là một phần của sự xung đột giữa các cộng đồng dân tộc. Cảnh trong vở “Đêm du thuyền” Mạnh đuợc yếu thua không chỉ là quy luật trên chiến trường, mà cũng là quy luật của tiếp cận và giao thoa văn hóa. Nhưng lịch sử cũng sớm cho thấy, sức mạnh trên chiến trường chưa hẳn tỷ lệ thuận với sức mạnh văn hóa. Người Nguyên - Mông thống trị không gian của người Hán nhưng lại bị Hán hóa, hay tộc Mãn Thanh ở những thế kỷ sau cũng vậy... Sau này, ông McNamarra, nguyên Bộ truởng Quốc phòng Hoa Kỳ đã từng thừa nhận rằng, Mỹ không thắng được ở Việt Nam đương nhiên không phải là vì vấp phải sức mạnh quân sự hay kinh tế của Việt Nam, mà chính là vấp phải sức mạnh của một nền văn hóa dân tộc thể hiện ở sức chịu đựng, của con người, ở ý chí mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”..v.v... Và chính sự thiếu hiểu biết về văn hóa, lịch sử Việt Nam là sai lầm lớn nhất của Mỹ, khi lựa chọn chiến trường Việt Nam... Nhưng thực tiễn lịch sử nhân loại cũng cho thấy, sức mạnh về kinh tế là hệ quả của văn hóa, thì lại có sức mạnh còn hơn cả vũ khí để huỷ diệt văn hóa của những nước kém phát triển hơn về kinh tế. Sự xâm lăng văn hóa luôn song hành với sự bành trướng thị trường v.v... Đó là những hiện tượng phổ quát của nhân loại trong tiến trình dài của lịch sử... cho đến giữa thế kỷ XX. Sau hai cuộc Đại chiến khốc liệt với sự hủy diệt của các loại vũ khí hiện đại, sự sinh tồn của chính trái đất trở nên mong manh... Cho dù thế giới bị phân đôi thành hai cực Đông - Tây về chính trị, gầm ghè nhau, nhưng sự phát triển của kinh tế, hệ quả của những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ đã khiến cho xu thế toàn cầu hóa được biểu hiện bằng những tồn tại và phát triển của nhân loại dưới một mái nhà chung, ngày càng trở thành một xu thế không cưỡng nổi. Sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa cùng với sự chấm dứt thời chiến tranh lạnh phản ánh xu thế đó... Nhu
  5. cầu hội nhập toàn cầu về kinh tế với sự ra đời của các tổ chức mang tính cam kết toàn cầu hình thành sau Đại chiến II (1947) và trở thành WTO sau chiến tranh lạnh (1995) cũng nằm trong xu thế đó. Đó là vài đường nét về lịch sử toàn cầu. Soi vào tấm gương lịch sử ấy, chúng ta thử suy xét xem năng lực hội nhập (Biểu hiện văn hóa hội nhập) của dân tộc ta như thế nào? Hơn một thiên niên kỷ Bắc thuộc dài mênh mông như vậy, dân tộc Việt Nam tuy liên tục tìm mọi cách giành quyền tự chủ không thành, nhưng cũng không cưỡng nổi sức hấp dẫn của nền văn minh vĩ đại của phương Bắc. Vượt lên khỏi sự cưỡng bức của chế độ thống trị và chính sách đồng hóa khắc nghiệt, người Việt Nam còn chủ động tiếp nhận những giá trị tinh hoa của văn minh Trung Hoa. Người Việt nổi dậy chống thái thú Tô Định, nhưng lại tôn thái thú Sĩ Nhiếp là “Nam gia học tổ” để dựng đền thờ. Người Việt Nam tiếp nhận chữ Hán làm ngôn ngữ viết của mình và rất nhiều “giá trị Trung Hoa” ngay cả khi đã dành được quyền tự chủ và xây dựng nền Văn hiến Đại Việt. Nhưng dân tộc ta vẫn bảo lưu và phát triển những giá trị mang đậm bản sắc dân tộc. Hiện tượng người Việt dùng chữ Hán làm ngôn ngữ viết hàng ngàn năm, nhưng chưa khi nào coi đó là ngôn ngữ nói của mình. Người Việt vẫn nói tiếng Việt và không ngừng tìm tòi để có được ngôn ngữ viết riêng cho mình (nỗ lực sáng chế chữ Nôm, chấp nhận cách ghi âm bằng chữ la tinh làm quốc ngữ) song hành cùng sự phát triển nền Hán học nhưng chuyển tải ý chí Việt (từ bài thơ Nam quốc sơn hà... đến Bình Ngô Đại cáo...) là một bằng chứng hùng hồn về năng lực hội nhập của dân tộc Việt Nam, một bản lĩnh Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa. Báo chí là kênh thông tin quan trọng, góp phần đưa những chủ trương nghị quyết của Đảng, Nhà nước đến với người dân và là cầu nối giửa Đảng với dân, góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà Ở giai đoạn lịch sử tiếp theo, trong bối cảnh bị chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược và đô hộ, một lần nữa bản lĩnh văn hóa ấy được thể hiện ở một dân tộc “ăn bằng đũa và nói tiếng Pháp”, biến con đường sang Pháp thành con đường chống Pháp” (nhận xét của Toàn quyền thực dân về một thế hệ trí thức Tây học Việt Nam) v..v... Cách đây một thế kỷ, giữa lúc đang bị thực dân Pháp đô hộ, một thế hệ những nhà cách mạng Việt Nam đã nhìn thấy đằng sau nước Pháp thực dân và phương Tây tư bản chủ nghĩa là một thế giới văn minh. Đó là thế hệ những nhà Duy Tân. Tư tưởng cơ bản của trào lưu Duy Tân chính là thực hiện cuộc hội nhập với những giá trị phương Tây để mưu sự phát triển cho đất nước. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cũng trưởng thành từ trào lưu Duy Tân ấy, nhưng vượt lên thế hệ tiền bối của mình nhờ tìm ra con đường để thực thi được điều kiện tiên quyết cho công cuộc hội nhập. Đó là tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc vào Mùa thu 1945. Có thể nói, cuộc Cách mạng giành độc lập cũng khởi động mạnh mẽ cho cuộc hội nhập với toàn cầu. Thông điệp của Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam khẳng định điều đó. Sự ra đời của thể chế Dân chủ Cộng hòa, bản Hiến pháp 1946 với sự xác nhận tất cả quyền tự do, dân chủ, sự bình đẳng của con người phù hợp với mọi giá trị phổ quát của xã hội hiện đại; sự tôn trọng quyền sở hữu và vị thế của giới công thương trong nền kinh tế quốc dân... là những nhân tố để tạo nội lực cho công cuộc hội nhập. Đặc biệt là một chính sách đối ngoại mở rộng cửa “hết cỡ” với thông điệp “Việt Nam muốn hợp tác với tất cả các nước dân chủ, không muốn gây thù oán với ai”, “Nước Việt Nam chủ trương độc lập hoàn toàn, hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ”, “Nước Việt Nam kêu gọi các nhà tư bản, các kỹ sư chứ không phải các đô đốc, binh lính của nước Pháp đến đầu tư để cùng hưởng lợi”, “Nước Việt Nam muốn Liên Hiệp Quốc công nhận nền độc lập của Việt Nam và Việt Nam muốn gia nhập Liên Hiệp Quốc và các cam kết quốc tế... Những thông điệp minh bạch và mạnh mẽ ấy cho thấy sự khẳng định mục tiêu hội nhập của nước Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Chính chủ nghĩa thực dân với những tham vọng toàn cầu đã ngăn cản bước hội nhập ấy, để 60 năm sau, nước Việt Nam mới có cơ hội sau khi đã phải chịu đựng sự tàn phá của chiến tranh và những hậu quả nặng nề, kể cả sự tổn thương của những năng lực hội nhập... Và chính 20 năm Đổi mới là quá trình phục hồi để trở lại với những tư tưởng cơ bản đã được xác lập như một thành quả của cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc, của Tư tưởng Hồ Chí Minh về Hội nhập. Đó chính là nền tảng lịch sử của Văn hóa hội nhập. Công cuộc Hội nhập mà việc gia nhập WTO mở ra chính là một bước ngoặt lịch sử để dân tộc Việt Nam có cơ hội trở lại với những giá trị phổ quát của nhân loại về con đường phát triển, trước hết trên nền tảng kinh tế. Đó cũng là cơ hội để sự phát triển của dân tộc ta đặt mình trong quỹ đạo chung của nhân loại để khai thác các nguồn lực của thời đại và phát huy những năng lực của mình. Đương nhiên đây cũng là những thử thách khắc nghiệt đối với bản lĩnh văn hóa đã được tôi luyện trong chiến tranh giữ nước, nhưng còn bỡ ngỡ khi bước vào một sân chơi chung sau một thời gian dài Việt Nam đứng bên lề của nền kinh tế thị trường (không gian chủ yếu của WTO). Văn hóa không chỉ được hiểu là một thành tựu, mà trước hết là một bản lĩnh, nó chỉ được thể hiện một cách rõ nhất trong thử thách. Do vậy với việc gia nhập WTO, văn hóa hội nhập của dân tộc Viêt Nam có cơ hội thể hiện bản lĩnh và sức mạnh của mình, như nó đã từng chứng minh trong trường kỳ lịch sử của dân tộc, như một năng lực đã được tôi luyện. Cũng vì thế, năm 2007 này có ý nghĩa như một sự khởi đầu mang tầm vóc lịch sử! Nhà sử học DƯƠNG TRUNG QUỐC NHẬN THỨC VỀ VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC CỦA ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC
  6. ThS. NGUYỄN THÚY VY Trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân văn) 1. Sự thành công của quá trình Duy tân ở Nhật Bản, sự thất bại liên tục của các cuộc khởi nghĩa vũ trang ở nước ta trong những năm cuối thế kỷ XIX cộng với sự thay đổi một cách toàn diện đời sống xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX đã đưa đến một nhận thức mới nơi các sĩ phu Việt Nam: khởi nghĩa vũ trang đã không còn là phương thức đấu tranh thích hợp nữa. Giờ đây, Muốn giành lại chủ quyền, dân tộc ta phải tìm một đường lối, một phương cách khác trước và đường lối mới đó chính là phải canh tân đất nước theo mô hình các nước phương Tây, trong đó “khai dân trí” là một trong những mục tiêu cơ bản, đầu tiên. Là một trường học do các sĩ phu Việt Nam sáng lập ở Hà Nội năm 1907, với phương châm “Dùng văn hóa như một phương tiện hữu hiệu giành lại độc lập, tự do cho dân tộc” Đông Kinh Nghĩa Thục đã xuất hiện như một giải pháp hoàn toàn mới mẻ trong lịch sử văn hóa chính trị Việt Nam. Tuy mục đích cuối cùng vẫn chưa đạt được nhưng Đông Kinh Nghĩa Thục đã để lại cho hậu thế một cách nhìn mới, một quan niệm mới về vai trò của văn hóa đối với sự tồn tại và phát triển của một dân tộc. Trong các bài giảng của mình, các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục đã phác thảo một cách cơ bản hệ thống lý luận về văn hóa để từ đó định hướng cho mọi hoạt động của mình. Mở đầu bài viết về Văn minh trong tập sách Quốc văn độc bản, các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục đã đưa ra định nghĩa về văn hóa (mà họ gọi là Văn minh): “Văn minh là tổng hợp nhiều mặt quan trọng: văn tự, pháp luật, giáo dục, luân lý, trồng trọt…” [Chương Thâu 1997: 159]. Có thể xem đây là định nghĩa văn hóa chính thức đầu tiên ở Việt Nam. Trong định nghĩa của mình, các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục đã xem xét văn hóa với tư cách là tổng thể các thành tố của nó như văn tự, pháp luật, giáo dục, luân lý, trồng trọt… mà không xem văn hóa như một chỉnh thể. Nghĩa là, các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục đã nghiên cứu văn hoá như một loạt các yếu tố được phức tạp hoá dần dần của các vật thể văn hoá vật chất như công cụ lao động, kỹ thuật…Đầu thế kỷ XX , thông qua Tân thư các nhà nho cấp tiến ở Việt Nam cũng đã chịu ảnh hưởng rất rõ học thuyết “Darwin xã hội” (Social Darwinism) của phương Tây vốn rất phổ biến ở Trung Quốc, Nhật Bản,… lúc bấy giờ. Dựa trên học thuyết tiến hóa ấy, các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục cho rằng: văn minh là một quá trình phát triển từ thấp đến cao và quá trình đó phải trải qua ba thời kỳ: + Thời kỳ dã man: là thời kỳ con người chỉ biết sử dụng những sản phẩm sẵn có trong tự nhiên để tồn tại. Trong thời kỳ này, con người “không biết trồng trọt, chỉ săn thú, bắt cá mà thôi, cũng không biết chế tạo dụng cụ, cho nên không dựng được nhà cửa, không may được quần áo, không có các thứ đồ dùng. Cũng chẳng có luân lý nên chẳng có tình nghĩa cha con, vợ chồng. Không có văn tự, phải thắt nút dây mà ghi nhớ. Không có pháp luật, không có giáo dục, nên tính tình hung hãn, kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu. Không có phương tiện giao thông bằng đường bộ hay đường thủy, nên các bộ lạc không đi lại, tiếp xúc với nhau” [Chương Thâu 1997: 159]. + Thời kỳ văn minh thô sơ: thời kỳ này đã có mầm mống của chăn nuôi, trồng trọt, con người đã biết: “trồng trọt, dựng nhà cửa, đóng thuyền bè, xe cộ, vắt nặn đồ gốm, đặt ra nghi lễ hôn nhân, đạo nghĩa cha con, vua tôi, biết trao đổi hàng hóa, có văn tự, biết dạy học, lập ra hình pháp để trừng trị những kẻ không theo giáo hóa. Thế là có nền văn minh nhưng còn thô sơ, đơn giản, chưa hoàn bị” [Chương Thâu 1997: 160]. + Thời kỳ văn minh: “là thời đại ngày nay, muốn gạo thì có gạo, muốn trà thì có trà, lại có nhà để che nắng, che mưa, có đủ đồ dùng hàng này , có cha mẹ thương yêu ta, có thầy học dạy dỗ ta, có thuyền bè, xe cộ, có đường giao thông thủy bộ, muốn sang đông, sang tây đều tiện lợi” [Chương Thâu 1997:160]. Như vậy theo các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật nói riêng, sự đi lại, giao lưu tiếp xúc giữa các cộng đồng nói chung là một nhân tố quan trọng hàng đầu làm biến đổi nền văn hoá của một cộng đồng. Nhận định về nền văn hóa Việt, các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục đã khẳng định: nước ta có nền văn hóa lâu đời, từ “mấy ngàn năm trước đã có văn tự, lịch toán, nhà cửa, thuyền bè, xe cộ. Cha con, vua tôi đều có đạo nghĩa, tang tế, giá thú đều có lễ nghi, văn học hay, chính trị rạng rỡ” [Chương Thâu 1997: 158]. Mặc dù vậy, đỉnh cao văn minh của nhân loại hiện nay (thời điểm Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời) lại thuộc về các nước Âu, Mỹ vốn là những nước “đều khai hóa hết sức muộn màng” [Chương Thâu 1997:158]. Trên cơ sở so sánh văn hóa Đông -Tây ở các lĩnh vực tư tưởng, giáo dục, kinh tế, tính tình, phong tục… các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục đã tìm ra được nguyên nhân nào đã mang lại sức mạnh cho phương Tây cũng như nguyên nhân nào làm cho Việt Nam ở trong tình trạng kém phát triển đến thế. Đó là do văn hóa phương Tây “luôn luôn động” trong khi đó văn hóa phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng lại “luôn luôn tĩnh” [Chương Thâu 1997:118]. Chính những đặc trưng tĩnh - động này là nguyên nhân chính yếu hướng các nền văn hóa Đông -Tây phát triển đến những trình độ khác nhau. Người phương Tây do “luôn luôn động” nên phát triển không ngừng: “Mở rộng đất đai thì họ chiếm các cửa biển, tìm hải đảo. Chế tạo máy móc, hơi nước không đủ thì họ dùng sức điện, sức điện không đủ thì họ nghĩ đến sức hấp dẫn của quả đất. Với một ý chí tiến thủ không mệt mỏi như vậy, dân họ mới mạnh, được trăm họ quý chuộng, thế lực của họ vươn ra khắp toàn cầu không phải là ngẫu nhiên” [Chương Thâu 1997:170-171]. Ngược lại, do “luôn luôn tĩnh” mà “nước ta trong triều ngoài nội, chính trị, phong tục không thay đổi chút nào. Dụng cụ của ta đều cũ kỹ lạc hậu, đồng ruộng hoang vu, dân đói rách, chưa bỏ thói ngang ngạnh, tính nô lệ vẫn còn” [Chương Thâu 1997:159].
  7. Cũng trên quan điểm tiến hóa, các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục xác định: “các nước trên địa cầu tất phải từ dã man mà khai hóa thành văn minh. Nhất định phải như thế” [Chương Thâu 1997:160]. Thế nhưng quá trình phát triển ấy nhanh hay chậm, trình độ ấy cao hay thấp thì lại phải tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa. Đồng thời, các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục cũng khẳng định: “văn minh không có giới hạn, càng tiến thì càng cao. Có thể nói nước kia văn minh hơn nước này nhưng không thể nói văn minh nước kia đã đạt đến cực điểm” [Chương Thâu 1997: 160-161]. Do quan niệm văn minh không có giới hạn nên đối với các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục, những nước Âu, Mỹ – đại biểu cho sự văn minh của nhân loại đầu thế kỷ XX – vẫn còn rất nhiều hạn chế bởi vì “nhà tù của họ chưa bỏ trống, nạn rượu chè, hút xách chưa loại trừ hết, người bệnh tật ốm đau, bọn côn đồ hung hãn, dân mù chữ đâu đã vắng bóng” [Chương Thâu 1997: 161]. Ngược lại, văn minh nước ta dù “khuyết điểm còn nhiều, nhưng không có gì phải lo, chỉ phải tiến nhanh lên mà thôi” [Chương Thâu 1997: 161]. Và, cũng theo các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục, để đất nước có thể phát triển nhanh chóng người Việt cần phải đặc biệt xem trọng việc “khai dân trí”, tiếp thu những thành tựu của văn minh phương Tây. Muốn vậy, phải xem giáo dục là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, phải có “giáo dục phổ cập”, phải làm cho “trong cả nước không người nào không được đi học” [Chương Thâu 1997: 184]. Như vậy, dù không quan niệm văn minh Tây phương là toàn bích, các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục vẫn chủ trương rằng: trước khi có thể tự tạo lập được một nền văn minh tiên tiến cho chính mình, người Việt tạm thời cần phải chủ động tiếp thu những thành tựu văn hóa phương Tây trước đã và để quá trình tiếp thu văn hóa phương Tây này đạt hiệu quả cao nhất, các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục đã đề ra sáu nhiệm vụ cơ bản cần phải tiến hành: Dùng văn tự nước nhà, Hiệu đính sách vở, Sửa đổi phép thi, Cổ võ nhân tài, Chấn hưng công nghệ, Mở tòa báo và sáu nhiệm vụ này được Đông Kinh Nghĩa Thục xem là phương châm, là “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động của mình. Có thể thấy, khi xem văn hóa như một phương tiện hữu hiệu để giành lại chủ quyền cho đất nước, Đông Kinh Nghĩa Thục đã đưa ra một cách nhìn, một chiến lược vô cùng mới mẻ, chưa hề có trong truyền thống đấu tranh giữ nước của dân tộc ta. 2. Trên cơ sở nhận thức về vai trò quan trọng của văn hóa đối với sự tồn tại và phát triển của dân tộc, các nhà Đông Kinh Nghĩa thục đã chủ trương phải hiện đại hóa đất nước về mọi mặt, trong đó việc quan trọng và cấp thiết nhất là phải xây dựng cho được một nền học thuật mới cho dân tộc. Mầm mống của sự hình thành ý thức xây dựng nền học thuật mới này đã xuất hiện từ nửa cuối thế kỷ XIX qua những đề nghị của các nhà canh tân như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch và phần nào qua hoạt động văn hóa của các nhà Tây học đầu tiên xứ Nam Kỳ như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký… Sang đầu thế kỷ XX, ý thức trên đã trở nên rõ nét hơn qua hoạt động của các nhà Duy Tân miền Trung, và đến Đông Kinh Nghĩa Thục, việc xây dựng nền học thuật mới cho dân tộc đã trở thành nhiệm vụ hàng đầu. Có thể thấy điều này qua “sáu đường” mà các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục đã đề ra. Trong sáu đường ấy, ngoài “chấn hưng công nghệ” thì năm đường còn lại đều có liên quan đến nhiệm vụ xây dựng nền học thuật mới cho dân tộc. Theo các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục, một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho các nước phương Tây phát triển nhanh chóng là do nền học thuật- giáo dục của họ luôn chú trọng vào đời sống thực tế. Trong khi đó, nền học thuật truyền thống của nước ta chỉ biết “lấy khoa cử làm mục đích” [Chương Thâu 1997:188]. Với quan điểm “học là để có ích cho bản thân mình và cho quốc gia, xã hội” các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục đã thẳng thắn phê phán nền học thuật truyền thống là “nền học vấn rất vô dụng” [Chương Thâu 1997:126] bởi theo họ, một nền học vấn hữu dụng ít nhất phải mang đến cho con người ba điều: “một là học vệ sinh, tức là học phương pháp làm cho thân thể cường tráng, không bệnh tật; hai là học trị sinh, tức là học phương pháp làm cho có thức ăn, đồ mặc và quản lý sản nghiệp; ba là học làm người, làm quốc dân, tức là học cách tự kiềm chế và cách đối xử với quốc gia, xã hội. Đạt được ba điều ấy là cái học hữu dụng, không đạt được ba điều ấy là cái học vô dụng” [Chương Thâu 1997:185]. Đề ra những biện pháp thiết thực để xây dựng nền học thuật mới cho nước nhà, các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục đặc biệt chú ý đến việc tuyên truyền mở mang dân trí, tiếp thu văn hóa phương Tây. Họ kêu gọi: “người trí thức phải đề ra những nguyên tắc mới, biên soạn những sách mới có ích cho mọi người trong nước, người thông hiểu văn tự Đông Tây phải dịch những cuốn sách có ích để mở mang phong khí, công, nông, thương phải có chí tiến thủ để khuếch trương nghề nghiệp” [Chương Thâu 1997:190]. Và bước đầu tiên phải làm trong việc mở mang dân trí, theo các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục, là phải sử dụng chữ Quốc ngữ vì đây chính là phương tiện hữu dụng nhất trong việc tiếp thu văn hóa phương Tây. Đến đầu thế kỷ XX, chữ Quốc ngữ đã có một vị trí nhất định trong đời sống văn hóa ở miền Nam, tạo điều kiện cho các sĩ phu nhận ra: với ưu điểm vượt trội về tính khoa học, hệ thống của chữ Quốc ngữ so với chữ Hán, chữ Quốc ngữ sẽ là phương tiện cực kỳ hữu hiệu giúp dân tộc ta nhanh chóng tiếp thu những thành tựu văn minh phương Tây. Trong tác phẩm Văn minh tân học sách, các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục đã kêu gọi: “Người trong nước đi học nên lấy chữ Quốc ngữ làm phương tiện đầu tiên, để cho trong thời gian vài tháng, đàn bà trẻ con cũng đều biết chữ; và người ta có thể dùng Quốc ngữ để ghi việc đời xưa, chép việc đời nay, và thư từ thì có thể chuốt lời và đạt ý. Đó là bước đầu tiên trong việc mở mang trí khôn vậy” [Chương Thâu 1997: 123]. Việc học chữ Quốc ngữ đã được các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục phát động thành một phong trào sôi nổi khắp Hà thành và lan rộng ra toàn quốc vào năm 1907. Bên cạnh việc dạy chữ Quốc ngữ, những môn học “mới” theo
  8. hệ thống giáo dục phương Tây như lịch sử, địa lý, toán pháp, giáo dục công dân, thể dục, vệ sinh, thậm chí chính trị cũng được đưa vào chương trình giảng dạy của nhà trường. Với một thành phần ban Tu thư hùng hậu, Đông Kinh Nghĩa Thục đã biên soạn được nhiều sách giáo khoa có nội dung vừa nêu cao được tinh thần dân tộc; vừa giới thiệu một cách cơ bản về đất nước, con người và nền văn minh của các nước phương Tây; vừa giới thiệu về đất nước và con người Việt Nam cụ thể, hoàn toàn phù hợp với đường lối hoạt động của nhà trường như: Quốc dân độc bản, Cải lương mông học quốc sử giáo khoa thư, Nam quốc địa dư, Nam quốc giai sự truyện, Luân lý giáo khoa, Quốc văn tập đọc,… các sách giáo khoa này không chỉ được giảng dạy ở trường Đông Kinh Nghĩa Thục mà còn trở thành tài liệu giảng dạy chính yếu ở một số trường học Duy tân ở các tỉnh thành khác trong cả nước. 3. Khi phát động phong trào phổ biến chữ Quốc ngữ, hẳn các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục cũng nhận ra dân tộc ta đang đứng trước nguy cơ: sự chuyển đổi văn tự sẽ dẫn đến sự đứt gãy giữa văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại. Để giải quyết vấn đề này, các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục đã chủ trương hiệu đính lại những sách vở cũ như: Khâm định Việt sử cương mục, Thực lục, Liệt truyện, Nhất thống chi, Lịch triều chí, Vân đài loại ngữ, Công hạ kiến văn, Địa dư chí, Gia định chí, Nghệ An phong thổ thoại, Đồ Bàn thành ký, Hưng Hóa thập lục châu ký, Phủ Man tạp lục,… là những tài liệu về sơn xuyên, phong tục, văn vật, điển chương của người trước, bỏ bớt những chỗ rườm rà cho người đọc dễ hiểu rồi sau đó “dịch ra Quốc ngữ để làm độc bản cho lớp sơ học” [Chương Thâu 1997:124]. Chính nhờ nhận định này của các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục mà dân tộc ta, dù có tiếp thu kiến thức phương Tây, dù có tiếp nhận một hình thức văn tự hoàn toàn xa lạ vẫn giữ vững được truyền thống văn hóa của dân tộc. Không chỉ dịch ra chữ Quốc ngữ những tài liệu văn hóa cũ, các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục còn chủ trương: “Sẵn cơ sở để khai tâm trí Rồi sẽ đem các thứ giáo khoa Chữ Tàu dịch lấy chữ ta, Chữ Tây cũng phải dịch ra chữ mình…” [Chương Thâu 1997: 263] Từ chủ trương trên có thể thấy, các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục đặc biệt coi trọng việc tiếp thu tư tưởng học thuật tiến bộ của nước ngoài kể cả phương Đông lẫn phương Tây. Tuy nhiên, “các thứ giáo khoa” mà các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục chủ trương phổ biến, tuyên truyền ở đây không phải là các loại sách giáo khoa theo cách hiểu của chúng ta ngày nay mà thực chất chúng chủ yếu là các Tân thư. Các tác phẩm chính luận này đã được ban Tu thư của trường tổ chức dịch, chọn lấy ý chính và sau đó biên tập lại thành sách giáo khoa dùng giảng dạy trong trường. Nhờ các sách giáo khoa của Đông Kinh Nghĩa Thục mà lần đầu tiên người Việt Nam mới tiếp cận một cách tương đối hệ thống một số các khái niệm của phương Tây như: nguồn gốc xã hội, văn minh, độc lập cá nhân, chính phủ, quốc hội, pháp luật, ngân hàng, tư bản, séc, công ty,… theo lời giám học Nguyễn Quyền, các loại sách giáo khoa này được người Việt đặc biệt ưa chuộng, mặc dù đã được “in đi in lại nhiều lần, mà lần nào cũng ấn hành mấy muôn tập mà vẫn không đủ phát” [Đào Trinh Nhất 1938: 29]. 4. Qua hoạt động sôi nổi của Đông Kinh Nghĩa Thục có thể thấy đến đầu thế kỷ XX, các sĩ phu nước ta đặc biệt xem trọng vai trò của văn hóa – giáo dục đối với sự tồn tại và phát triển của dân tộc. Xét trên bình diện văn hóa, khi Đông Kinh Nghĩa Thục quyết định chọn chữ Quốc ngữ thay cho chữ Hán làm văn tự chính thức của nước nhà và định hướng xây dựng nền học thuật theo mô hình phương Tây cũng có nghĩa là họ đã tạo ra sự chuyển biến từ quan hệ văn hóa mang tính khu vực sang quan hệ văn hóa mang tính quốc tế. Sự chuyển biến quan hệ văn hóa này cho thấy một điều: văn hóa Việt Nam đang bắt đầu manh nha có bước chuyển biến từ phạm trù văn hóa truyền thống sang phạm trù văn hóa hiện đại. Tuy nhiên cần phải thấy rằng, trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XX, văn hóa Việt Nam đang nằm trong giai đoạn giao thời: cái cũ vẫn chưa qua hẳn, cái mới vừa mới chớm đến. Vấn đề cơ bản của giai đoạn này là xây dựng tư tưởng học thuật chứ chưa phải là nền học thuật. Trong tình hình đó, với việc đưa ra định hướng tiếp thu những yếu tố mới mẻ, tiến bộ từ bên ngoài vào đồng thời phát huy những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc để canh tân đất nước, Đông Kinh Nghĩa Thục đã “đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử văn hóa – tư tưởng dân tộc” [Nguyễn Văn Hiệu 2003: 160]. Với phương châm, đường lối hoạt động riêng của mình, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tạo nên một phong trào cải cách văn hóa có tính toàn quốc và thống nhất, góp phần đưa văn hóa Việt Nam đi vào một thời kỳ mới trong tiến trình lịch sử văn hóa của dân tộc: thời kỳ văn hóa hiện đại. TÀI LIỆU THAM KHẢO Chương Thâu (Chủ Biên) 1996: Văn Thơ Đông Kinh Nghĩa Thục – in trong Tổng tập văn học Việt 1. Nam số 21 – HN: Nxb Khoa Học Xã Hội. Chương Thâu 1997: Đông kinh nghĩa thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ XX – HN: 2. Nxb Văn Hoá - Thông Tin. Đào Trinh Nhất 1938: Đông Kinh Nghĩa thục – Hà Nội: Nxb Mai Lĩnh. 3. Nguyễn Văn Hiệu 2003: Diện mạo và đặc điểm cơ bản của văn hoá Việt Nam trong buổi đầu tiếp 4. xúc văn hoá Đông - Tây – In trong Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Trong Bối Cảnh Hội Nhập Quốc Tế – Nxb Tp. HCM.
  9. “Nhận thức văn hoá Việt Nam” Tác giả: GS.VS. Nguyễn Duy quý ; Năm xuất bản: 2008 Địa chỉ liên hệ: Nhà xuất bản Khoa học xã hội Số trang: 486 Giới thiệu: Trong suốt mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc. Chính vì vậy tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như Đại hội lần thứ X của Đảng đã xác định là hết sức cần thiết. GS.VS. Nguyễn Duy quý, nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội, Giám đốc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) đã có trên 200 công trình và bài viết được công bố trong nước và nước ngoài, trong đó có nhiều bài viết thuộc khu vực văn hoá với tư duy triết học mạch lạc, sắc sảo, chặt chẽ. Để ghi nhận những thành tựu nghiên cứu, với tựa đề “Nhận thức văn hoá Việt Nam” cuốn sách là một hệ thống những mảng đề tài có liên quan đến nhiều mặt của văn hoá Việt Nam. Với cái nhìn toàn diện và sâu sắc, tác giả đã thể hiện được tính thống nhất trong đa dạng lĩnh vực được đề cập. Quý II năm 2008, cuốn sách được ấn hành, với bề dày 486 trang, khổ 14,5x20,5cm, chia thành 3 phần: Phần thứ nhất: Một số gương mặt trong lịch sử - văn hoá Việt Nam. Phần này gồm các bài viết có tính điểm xuyết về một số nhân vật lịch sử văn hoá từ thế kỷ X cho đến nay. Sức mạnh của cội nguồn văn hoá – là nội dung phần thứ hai, góp một tiếng nói về cội nguồn văn hoá dân tộc, văn hoá và phát triển, văn hoá không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực phát triển kinh tế - xã hội. Khoa học là một thành tố của văn hoá. Phần thứ ba: Văn hoá Việt Nam - một góc nhìn . Tác giả trình bày khái quát từ truyền thống văn hoá Việt Nam đến những quan điểm cơ bản của Đảng ta trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam, đồng thời đề cập đến vai trò và nhiệm vụ của khoa học xã hội và nhân văn trong việc thực hiện đường lối văn hoá của Đảng, góp phần xây dựng văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, việc bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc trở nên hết sức cần thiết, đồng thời văn hoá là một trong các nhân tố bảo đảm sự phát triển của đất nước một cách bền vững. Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội sẽ có bước phát triển mới trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. UNESCO cho rằng, nước nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hoá thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về kinh tế lẫn văn hoá và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều. Xét thấy những kết quả nghiên cứu của tác giả vẫn còn mang tính thời s ự, cập nhật góp phần khắc phục nhược điểm mà UNESCO đã cảnh báo ở trên. Chúng tôi hy vọng rằng, cuốn sách “Nhận thức văn hoá Việt Nam” của GS.VS. Nguyễn Duy Quý sẽ giúp ích thiết thực cho độc giả. Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc! Nhà xuất bản Khoa học xã hội SỰ CHUYỂN HÓA NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI Á ĐÔNG KHI HỘI NHẬP THẾ GIỚI Thích Lệ Thọ Đông Á là một khu vực của châu Á có thể được định nghĩa theo các thuật ngữ địa lý hay văn hóa. Về mặt địa lý, nó chiếm khoảng 6.640.000 km², hay 15% diện tích của châu Á. Về mặt văn hóa, nó bao gồm các cộng đồng là một phần ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa, thể hiện rõ nét trong các ảnh hưởng lịch sử từ cổ văn Trung Quốc (chữ Nho truyền thống), Khổng giáo và Tân Khổng giáo, Phật giáo Bắc và Nam truyền, Lão giáo. Tổ hợp này của ngôn ngữ, quan niệm chính trị và tôn giáo bao trùm lên trên sự phân chia địa lý của Đông Á. Bước sang, thế kỷ 21 thuộc thời đại khoa học với những phát minh độc đáo về khoa học, kỹ thuật và con người. Đặc biệt về suy luận học đã đến giai đoạn tổng hợp các môn ngành, chẳng hạn không còn đối kháng triệt để giữa duy tâm hay duy vật vì đây là hai khía cạnh của một biện chứng hiện tượng học, tức là biện chứng Âm Dương nếu nói cách Á-đông. Xét vấn đề toàn cầu hóa của tất cả sinh hoạt: tinh thần, sức khỏe, xã hội, kinh tế, thiên nhiên, khoa học kỹ thuật và tài chánh hiện nay cho thấy rất rõ vai trò của tâm lý học là luồng gió phát triển văn hóa Tây Phương; Ngược lại Đông Phương vẫn cẩn thận với cái gọi văn minh, hiện đại và công nghiệp hóa, để thúc đẩy nền kinh tế và tạo ra
  10. cho xã hội một cuộc sống “tiện nghi” v.v… đối với văn hóa Á Đông, đặc biệt là về quan niệm bản chất nội tâm của con người nếu nói theo Phật học thì thế giới đang làm cái việc mâu thuẫn. Nhận thức này giúp cho con người Á Đông tỉnh táo hơn bao giờ hết, trước sự cân nhắc: Chuyển hóa nhận thức để theo con đường toàn cầu hóa của phương Tây khởi xướng, hay chỉ lấy sự phát triển của một vài nghành mà châu Âu, châu Úc và châu Mỹ đã thành công để làm chất xúc tác cho quan điểm và nền tảng văn hóa của Á Đông hoàn thiện hơn. Đây là một vấn đề lớn của khu vực cần phải đối thoại thật nhiều theo từng chủ điểm: văn hóa, tôn giáo, chính trị, kinh tế và xã hội để tìm tiếng nói chung nhằm cải thiện sự phát triển, mà phải là phát triển bền vững! Trong phạm vi bài tham luận, tôi chỉ bàn đến bản chất nội tâm theo Phật giáo để góp tiếng nói vào diễn đàn “VIỆT NAM TRONG TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO Á ĐÔNG”, với tâm nguyện tạo ra một nhận thức mới cho con người Á Đông hiện đại! 1/ Khắc phục nhược điểm: Thông thường, con người Á Đông hay dùng cảm tính, dễ dàng tin tưởng vào những người có thẩm quyền trong một lĩnh vực nào đó, nên tư duy dễ bị đóng khung. Từ đó tác động đến xã hội cục bộ nhận thức, dễ bảo thủ, Tông môn pháp phái, đoàn thể và địa phương tính…Vì vậy, khi đứng trước một trào lưu mạnh mẽ của phương Tây lan rộng thì tỏ ra lúng túng, chậm chạp trong phản ứng, dễ bị xốc phản vệ, người ta phải mất một thời gian khá dài để thích ứng. Tôn giáo truyền thống cũng không ngoại lệ. 2/ Phật giáo phải tiên phong: Trong hai truyền thống Phật giáo đều tâm đắc bài pháp đức Phật dạy cho dân chúng Kàlàma: “Đừng tin những gì do kinh sách. Đừng tin điều gì do tập quán lưu truyền. Đừng tin điều gì vì được người ta nhắc đi nhắc lại. Đừng tin điều gì do bút tích của thánh nhơn…”[1] hay “Suốt 49 năm ta không nói một lời”. Thật tuyệt vời! Một đạo lý nhân bản không tìm thấy ở bất cứ một tôn giáo nào trên trái đất này. Tinh thần khai phóng đó giúp cho con người, độc lập tìm ra một lối đi riêng trên cái tổng thể, nếu chúng ta không dựa trên lập cước đó thì ngay cả hàng đệ tử của đức Phật cũng rơi vào cảnh nô lệ kiến thức. 3/ Tinh thần thực tiễn: Một trong những định nghĩa về pháp là “thiết thực hiện tại”, nghĩa là giáo lý đạo Phật là thiết thực, không mơ hồ, mang tính thực tiễn, có tác dụng cụ thể, không phải lý thuyết suông. “ Hiện tại” có nghĩa là không chờ đợi kết quả của tương lai, có tu tập là có hướng thượng, có giải thoát ngay hiện tại, đời này. Vì vậy, giáo lý đạo Phật là giáo lý thực nghiệm, không chờ đợi một ân sủng hay một mặc khải nào. Đức Phật thường từ chối trả lời những câu hỏi về những vấn đề siêu hình. Bởi nó không mang lại mục đích giải thoát. Ngài chỉ dạy những gì cần thiết cho cuộc đời, cho con đường thoát khổ. Có lần ở Kosambi, Đức Phật dạy: “ Những gì Như Lai biết ví như lá trong rừng, còn những gì Như Lai giảng dạy như nắm lá ở trong tay, nhưng đây là những phương pháp diệt khổ”[2]. Đạo Phật cho rằng phần lớn những nỗi khổ của con người do họ không sống thật với hiện tại. Thử nhìn lại xem, con người Á Đông hiện nay đang chạy theo thụ hưởng vật chất của người phương Tây bởi những tiện nghi: “xe hơi, máy lạnh, nhà máy điện nguyên tử, nhà cao tầng, khai thác khoáng sản và mạch nước ngầm… ” Nó không chỉ dừng lại ở mức sản xuất để thụ hưởng mà đã được xem như là cứu cánh cho việc tăng trưởng GDP cho từng quốc gia. Điểm này cần phải thống nhất: “không chỉ đơn thuần là một nhận xét cảm tính, vì đúng là tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) không phải là thước đo chính xác cho sự phát triển của xã hội” [3] Một việc làm lẩn quẩn, thiên tai, mất cân bằng sinh thái, dịch bệnh… có phải là di chứng của “ tiện nghi” mang đến? Những trận động đất, sóng thần hay băng ở Bắc cực tan là lời cảnh báo cho thế giới nói chung và Á châu nói riêng? Nhưng xem ra, lời cảnh báo đó chưa đủ giúp cho con người dừng lại. Vì vậy, có một số người hiểu lầm đến với Phật giáo là đồng nghĩa với sự trì trệ, lạc hậu! Trong khi giáo lý của Phật giáo rất “hiện đại” là hướng con người đến một đời sống ổn định và phát triển bền vững. “Do mong việc sắp tới Do than việc đã qua Nên kẻ nghi héo mòn Như lá xanh lìa cành”[4] 4/Tinh thần không chấp thủ: Đạo Phật là giải thoát và tự do; vướng mắc vào bất cứ điều gì cũng đều đưa đến đau khổ. Đức Phật dạy: “Cuộc đời là vô thường, nên nó đem đến đau khổ (vì chấp là thường). Cái vô thường mà ta cho là của ta, là ta thì hoàn toàn không hợp lý”. Nhờ tinh thần không chấp thủ nên thái độ của đạo Phật rộng rãi, bao dung, tinh thần tu tập của người Phật tử rất thoáng. Tinh thần không chấp thủ là nội dung trí tuệ của đạo Phật; tác dụng của tinh thần ấy ngoài sự đem đến giải thoát, còn đem đến sự giải tỏa tất cả mọi áp lực, ức chế của đời sống lên trên tâm lý của con người. Tính thực tiễn, thiết thực hiện tại là một đặc tính của đạo Phật. 5/ Trung Đạo: Chúng ta có thể gọi đạo Phật là “Trung Đạo”, con đường chân chính của cuộc sống, một hệ thống đạo đức triết học và là một tôn giáo tự do và lý trí. Tôn giáo này dạy cho chúng ta thực hiện ba điều chính: “ loại bỏ những điều ác; thực hiện các hạnh lành; giữ tâm ý thanh tịnh bằng cách xóa bỏ tất cả những phiền não nhiễm ô”.
  11. Hành vi đạo đức của một con người đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống, nên có lần, bậc Đạo sư đã khẳng định: “Lời dạy của ta không phải đến để tin, mà đến để thấy và thực hành ” (My teaching is not to come and believe, but to come, see and practise). Nó khuyến khích người ta học hỏi giáo lý một cách đầy đủ và cho phép họ dùng trí phán đoán của mình để quyết định có nên chấp nhận hoặc không chấp nhận về giáo lý cũng như các lĩnh vực khác. Đến đây chúng ta có thể nhận thức được rằng: phương Tây đang quay về Á Đông để tìm lại cái mà họ đã quên gần một thế kỷ qua. Họ đang khuyến khích con người ăn rau quả tốt cho cơ thể, (giúp cân bằng lại sinh thái) hạn chế đi lại bằng máy bay, không xây thêm những lò phản ứng, (giảm bớt khí thải) khuyến khích đi xe đạp để giảm bớt khai thác quặng, (tránh bớt động đất, hoặc sóng thần) tiết kiệm nước để khỏi đánh nhau giành nước sạch… Thiết nghĩ, hội thảo lần này rất thiết thực cho Tăng Ni Á Đông sớm trở thành những “đại sứ” cho hòa bình, môi trường… nhằm xóa bỏ “kẻ thù” của nhân loại: “mất mùa, bão lụt, động đất, sóng thần, dịch bệnh, chiến tranh… ”. Đồng thời, cũng là dịp để mỗi cá nhân tự hoàn thiện chính mình: “ Hình thức lễ nghi rườm rà không có giá trị hoặc có ý nghĩa giáo dục thật sự; những pháp môn tu tập không có trong hai truyền thống Nam và Bắc truyền. Nâng cao trí tuệ cho nam, nữ Phật tử, mọi thứ đều phải được công khai hóa để cho người theo Tam bảo được chọn lọc, tự do tìm hiểu những lời dạy và tham vấn bất cứ khi nào họ muốn làm rõ các mối nghi ngờ của họ tâm linh. ” Bởi đạo Phật không phải là chủ nghĩa giáo điều cũng không phải là chủ nghĩa hoài nghi; Ngài đã làm lóe lên tia sáng chói lọi của sự giác ngộ để đẩy lùi bóng đêm của vô minh. Đối với nhà đạo đức, Ngài đã đạt đến giới hạnh cao độ và Ngài là biểu trưng tối thiện. Ngài là khuôn mẫu toàn bích cho mọi đức tính mà Ngài đã thuyết giảng. Cuộc sống của Ngài không bị vết nhiễm ô nào cả. Ngài là người phục vụ khiêm tốn của nhân loại, Ngài không bị giao động trước lời khen chê cũng như không chùng bước trước mọi khó khăn. Hãy thắp sáng chân lý ấy để nhân loại lấy nó làm hành trang cho cuộc đời; hãy biến kho tàng tri thức vô giá đó là bức thông điệp vượt thời gian, không chỉ đúng cho con người ở quá khứ, mà giáo pháp ấy sống động và thiết thực trong hiện tại và mãi đến ngàn sau. Sài Gòn, ngày 15.08.2007 VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT TRONGĐỔI MỚI TƯ DUY Sự đổi mới không bao giờ tự nó đến mà phải thông qua đấu tranh. Trong những cuộc đấu tranh đó, đấu tranh đổi mới tư duy là phức tạp nhất, khó khăn nhất và lâu dài nhất, không chỉ vì quan hệ giữa nhận thức và tồn tại, mà trước tiên nó phải giải quyết một loạt quan hệ giữa người và người, nó quyết định từ mỗi con người. Con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của sự đổi mới. Chính những vấn đề này là ý nghĩa của sự tồn tại của văn nghệ. Sự đổi mới tư duy bắt đầu là một cuộc đấu tranh với chính mình và với những đồng chí của mình. Tuy vậy, cuộc đấu tranh đổi mới tư duy chủ yếu là sự vận dụng nhạy bén và chính xác phương pháp tư duy biện chứng duy vật để giải quyết các vấn đề lý luận mà thực tiễn cuộc sống đặt ra. Để đổi mới tư duy, cần khuyến khích tranh luận, thu hút trí tuệ của các giới khoa học, của giới trí thức báo chí và văn nghệ sĩ. Ý nghĩa của văn nghệ cách mạng gắn liền với mọi sự đổi mới, và trước tiên ở đổi mới tư duy. Văn nghệ phải góp phần tích cực nhất tạo cho được một phong trào quần chúng có ý thức ủng hộ những người đi đầu trong sự đổi mới, tạo cho được một tình thế mới trong suy tư, trong tâm lý của nhân dân, một xu thế tiên phong ủng hộ cái mới chân chính. (Không phải chủ nghĩa tiên phong). Có một số đồng chí cho rằng Đại hội lần này nói về văn học, nghệ thuật không được đậm nét bằng các đại hội trước, nhất là Đại hội IV. Tôi cho rằng Đảng ta đã nói khá nhiều và hay về văn học, nghệ thuật. Nhân dịp chào mừng Đại hội, nhà xuất bản Văn học vừa hoàn thành hai tập sách của đồng chí Trường Chinh, kiến trúc sư chính của đường lối đó mang tên Về văn hóa và nghệ thuật. Thực tiễn mấy chục năm qua, đã chứng minh từ khi thành lập đến nay, lãnh đạo phong trào văn nghệ Việt Nam, "Đảng ta không hề mắc sai lầm về đường lối" đúng như đồng chí Trường Chinh đã khẳng định. Vấn đề hiện nay là cụ thể hóa, bổ sung và phát triển đường lối đã được đề ra từ các đại hội trước, đó là phương hướng đổi mới tư duy trong văn hóa, nghệ thuật. Tư duy của sáng tác văn học, nghệ thuật là tư duy hình tượng, nó không giống tư duy khoa học và lý luận. Đó là tính đặc thù của tư duy theo những đặc điểm của loại hình, nhưng về cơ bản, nó cũng phải xuất phát từ tư duy biện chứng mác-xít, không thể khác được. Cái khó của văn học và nghệ thuật là thực hiện đúng chức năng của mình và sự đánh giá của người đời đối với nó. Chuẩn mực của văn nghệ vừa cụ thể vừa trừu tượng, muôn màu muôn vẻ, cuộc đời như thế nào thì văn nghệ như thế ấy, tác giả là chủ thể của tác phẩm, người đọc, người xem cũng lại là một chủ thể khác - sự nhận thức, sự cảm thụ của mỗi người trên tác phẩm. Do đó các nhà lý luận tư sản, và các nhà văn nghệ chán đời thường hay "thần bí hóa" công việc của văn nghệ, đặt cho mình một thế giới riêng. Theo tôi, để làm công việc của mình, văn nghệ sĩ cần nắm và mài sắc tư duy biện chứng cùng những phương pháp tư duy khác bổ sung cho nó, vì tư duy biện chứng và lịch sử (duy vật) là thực chất của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Văn nghệ là "từ con người để đi đến con người", con người là đối tượng, là mục tiêu. Ngày nay, yêu cầu của sáng tạo nghệ thuật là phải đi sâu vào tâm lý xã hội, và mang được chất trí tuệ sâu sắc, nó vừa hình tượng vừa chính luận, có khi chính luận lại nổi lên như là khuynh hướng chủ yếu. Vì thời đại ngày nay đã mở rộng rất nhiều cho khả năng tư duy của nghệ thuật, mở rộng rất nhiều con đường cho văn nghệ đến với quần chúng một cách không thụ động chờ đợi cái có sẵn mà tác giả đưa đến. Vì cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt trên mọi phương diện, đặc biệt trong những
  12. chố gắng của loài người đấu tranh cho hòa bình và hiểu biết lẫn nhau. Báo cáo Chính trị nêu rõ: "Không có hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người trong quá trình phát triển của cách mạng", Đại hội đã giao cho văn nghệ tham gia vào đổi mới tư duy, đổi mới lối sống là nhiệm vụ cao quý và cấp thiết nhất trước mắt và cả thời kỳ quá độ. Để làm nhiệm vụ đó tất yếu là sự đổi mới ấy phải bắt đầu từ văn nghệ sĩ. Trách nhiệm của văn nghệ sĩ không chỉ dừng ở nhiệm vụ phản ánh trung thực những gì mình nhận thức được, hoặc ở lòng mong muốn mang lại những điều từ bài học đã có sẵn mà, cao hơn nữa, phải vươn lên trước công chúng của mình, dự đoán được những điều công chúng mong đợi. Tinh thần trách nhiệm không đủ nữa, mà còn ở hiểu biết, ở tính ngạy cảm - một đức tính chỉ có thể có được với một vốn sống dồi dào, với những kinh nghiệm phong phú trong cuộc đời. Nghệ sĩ phải trực tiếp đối thoại, tâm sự với đối tượng thưởng thức của mình, khêu gợi, thúc đẩy họ cùng suy nghĩ và hành động, đóng góp vào quá trình nhận thức và hoàn thiện xã hội cũng như bản thân. Nói như Aragon, nhà thơ cộng sản Pháp: "Sự thật có bộ mặt giai cấp của nó, ở đó cái thực không phải là mục đích, mà là một công cụ của sự biến đổi cách mạng của bản thân nó". Không ai khác ngoài nghệ sĩ và công chúng thưởng thức tạo nên sức mạnh cải tạo của nghệ thuật. Sức mạnh ấy ở bản thân tác phẩm, ở ngay bản thân nhận thức của công chúng. Để tạo nên sức mạnh đó, trước tiên nghệ sĩ phải có sức hướng tới sự biển đổi cách mạng cho hiện thực cuộc sống và bản thân người thưởng thức. Do đó, sức chiến đấu, trách nhiệm của văn nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa trước nhiệm vụ xây dựng con người mới không thể dừng lại ở những vấn đề thiện - ác, tốt - xấu, tích cực - tiêu cực, mà vượt lên khỏi sự thông thường đó với tinh thần phê phán và cách mạng của tư duy mác-xít. Làm văn nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa ở giai đoạn mới này của cách mạng Việt Nam đòi hỏi phải vượt mình, kể cả sự vượt mình trong đời sống hàng ngày. Vượt mình trước hết là vật lộn với chính mình, chống cái cũ và vươn tới cái mới, tự nó không thể là "sự tự nhận thức" mà trái lại công khai bộc lộ được mình, công khai thử thách trong cuộc đấu tranh ngoài xã hội bằng tác phẩm, và trong cuộc đấu tranh đó, trong cuộc đối thoại với cuộc sống, với quần chúng mà hiểu mình, rèn luyện và bồi dưỡng mình. Văn nghệ sĩ phải là người đi đầu trong sự phát biểu công khai có ý thức, có suy ngẫm, là "người phát ngôn của thời đại". Mấy năm qua, trong văn học và nghệ thuật đã bắt đầu có xu thế đi thẳng vào những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống, trực tiếp đối thoại với đối tượng của mình, nhưng có lúc, có nơi đã bị những quan niệm thẩm mỹ lỗi thời, những thiên kiến quá lâu ngày cản trở. Vì vậy tôi hoàn toàn tâm đắc với chủ trương mà Báo cáo Chính trị nêu lên: "Nâng cao trình độ lãnh đạo văn hóa, văn nghệ của cán bộ quản lý các cấp cho phù hợp với đặc thù và yêu cầu phát triển của văn hóa, văn nghệ: chống lối gò ép không buông lỏng". Tôi cho rằng cần khuyến khích thảo luận và tranh luận, thì mới có đà cho đổi mới tư duy. Từ trước tới nay tự nhiên hình thành một khuynh hướng gần như thống trị và tạo nên một thói quen là ca ngợi một chiều, "trang điểm" cho hiện thực (tôi không muốn dùng chữ "tô hồng" vì nó không chính xác), nhất là đối với nhân vật lãnh đạo. Nhân vật lãnh đạo bị phê phán trong tác phẩm trước đây thường dừng ở cán bộ lãnh đạo cơ sở, huyện, mà nói chung cũng chỉ động đến chức "phó", tuy vậy người viết còn sợ, nên đã phê phán anh "phó" thì phải đề cao anh "chánh". Mấy năm nay đã bắt đầu có sự phá vỡ tình trạng trên, nhưng cũng mới là bắt đầu, và chưa sâu sắc. Ấy thế mà cũng đã có sự phản ứng, có khi sự phản ứng khá quyết liệt. Do hoàn cảnh tiến hành chiến tranh cách mạng, chống một kẻ thù ác độc và mạnh hơn mình nhiều lần, nên trong xã hội ta có một nếp nghĩ, một cách thưởng thức khá bền vững là coi trọng trên hết những mẫu người trọn vẹn, những nhân vật lý tưởng, tập trung những nét cao đẹp của con người trong cuộc đấu tranh sống còn với kẻ thù xâm lược. Điều đó hoàn toàn đúng đắn trong những thử thách ác liệt, khi cả một dân tộc phải trở thành anh hùng, khi toàn bộ cuộc sống là sự mất còn của đất nước, khi ca ngợi tình yêu đôi lứa cũng bị coi như là một việc bất nhẫn. Những hình tượng ấy vẫn còn cần thiết cho ngày hôm nay và mãi mãi về sau. Nhưng nhu cầu nghệ thuật của xã hội đã khác và rất đa dạng. Tuy có sự đe dọa của chiến tranh, nhưng về cơ bản xã hội đã trở lại cuộc sống bình thường, con người trở lại trạng thái tự nhiên với những nhu cầu phát triển trọn vẹn của nó. Ngày nay, quần chúng yêu cầu hiện thực được miêu tả với các chiều, những nhân vật phải được miêu tả với chiều sâu tâm lý xã hội, chiều sâu tình cảm và trí tuệ. Quần chúng không chỉ bắt chước, học theo nhân vật, mà còn muốn tranh luận với nhân vật, với tác giả để cùng tìm chân lý. Do đó có nhân vật trở nên phức tạp, chứa đầy mâu thuẫn, kể cả nhân vật anh hùng, văn chương trở nên gồ ghề, gai góc, ngang bướng. Cuộc sống phải được thể hiện đúng như nó đang diễn ra, đồng thời văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa, bằng chức năng và ưu thế của mình, lại phải soi rọi, lý giải, chỉ rõ xu thế phát triển của nó. Tác giả phải bàn luận, đấu tranh với quần chúng thưởng thức của mình, tiếp thêm nghị lực cho họ trong cuộc sống đầy mâu thuẫn hiện nay, gợi thêm cho họ những suy nghĩ mới mẻ để tự họ hoàn thiện nhân cách và bản lĩnh. Chỉ có như vậy mới đúng với tinh thần của Đại hội: "Tính chân thực, tính tư tưởng và tính nghệ thuật bao giờ cũng là tiêu chuẩn của giá trị tác phẩm hiện thực xã hội chủ nghĩa". *** Đổi mới tư duy là yêu cầu cấp thiết nhưng là một quá trình vừa phê phán vừa khẳng định, vừa khẳng định vừa phê phán, mục tiêu là khẳng định. Đó là một cuộc vận động phê phán và cách mạng không ngừng mang âm hưởng chủ nghĩa anh hùng của thời đại. Như Mác nói: "Phép biện chứng (duy vật) về bản chất mang tính phê phán và cách mạng, phép biện chứng không chịu khuất phục trước một cái gì". Những người làm công tác văn hóa, văn nghệ hơn bao giờ hết đề cao chức trách "người phát ngôn của thời đại", bằng hoạt động, bằng tác phẩm có chất lượng, biến Nghị quyết Đại hội, thành thực tiễn đời sống theo hướng đổi mới mà Đại hội đã mở ra. ĐỜI SỐNG VĂN NGHỆ THỜI ĐẦU ĐỔI MỚI
  13. NHỮNG QUAN ĐIỂM VĂN HÓA VĂN NGHỆ TRONG ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ VI TRẦN ĐỘ Nội dung chủ yếu của các vấn đề đường lối của Đại hội VI nằm trong toàn bộ Báo cáo Chính trị của Trung ương do đồng chí Trường Chinh trình bày. Báo cáo Chính trị đã đánh giá tình hình với tinh thần tự phê bình nghiêm túc và vạch ra những nhiệm vụ và các quan điểm kinh tế phù hợp với yêu cầu của tình thế cách mạng và thực tiễn của đất nước. Báo cáo Chính trị cũng chứa đựng nhiều quan điểm về văn hóa nghệ thuật. Những quan điểm này hoàn toàn phù hợp với tinh thần cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, và cũng hoàn toàn thích hợp với sự phát triển lý luận văn hóa văn nghệ của thế giới xã hội chủ nghĩa. Những quan điểm này nằm rải rác trong nhiều đoạn, chứ không tập trung trong một mục chuyên về văn hóa. Tính về số chữ, số trang thì các vấn đề văn hóa văn nghệ không nhiều. Nhưng số ít chữ nghĩa ấy lại chứa đựng nhiều nội dung phong phú và mới mẻ. Ta có thể rút ra ít nhất những quan điểm như sau: 1 - Quan điểm về chính sách xã hội và vai trò con người Đại hội VI đã hết sức coi trọng vấn đề chính sách xã hội, coi chính sách xã hội quan trọng ngang với các chính sách kinh tế, chứ không coi các chính sách xã hội chỉ là những chính sách có ý nghĩa phúc lợi, ban ơn. Báo cáo Chính trị khẳng định: "Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc... Cần thể hiện đầy đủ trong thực tế quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, khắc phục thái độ coi nhẹ chính sách xã hội, tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội". Và: "Trong việc phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt động, cần có kế hoạch chủ động xây dựng cơ cấu giai cấp của xã hội mới, cụ thể hóa và thực hiện đúng chính sách dân tộc và chính sách tự do tín ngưỡng". "Cùng với việc tiến tới xóa bỏ cơ sở kinh tế - xã hội của sự bất công xã hội, phải đấu tranh kiên quyết chống những hiện tượng tiêu cực, làm cho những nguyên tắc công bằng xã hội, lối sống lành mạnh được khẳng định trong cuộc sống hàng ngày của xã hội ta". Trong Nghị quyết của Đại hội, các ý tưởng trên được rút gọn và cô đúc trong một câu: "Chính sách xã hội nhằm phát huy mọi khả năng của con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất. Coi nhẹ chính sách xã hội cũng là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc". Từ những nội dung trên ta có thể thấy ở đây có một loạt quan điểm quan hệ với nhau có tính hệ thống và đó cũng là những vấn đề cần lý giải kỹ hơn về mặt lý luận và cần được các cấp lãnh đạo nhận thức sâu sắc và đầy đủ hơn: - Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người. - Chính sách xã hội phải thống nhất với các chính sách kinh tế, các vấn đề xã hội phải được đặt ra và giải quyết ngay trong từng mục tiêu kinh tế. - Các chính sách xã hội phải nhằm "phát huy mọi khả năng của con người" nghĩa là phải nhằm bồi dưỡng mọi mặt cho con người, con người với tư cách chủ thể tích cực sáng tạo và xây dựng xã hội, chứ không phải con người làm thuê, cần ban ơn làm phúc. - Các chính sách xã hội lại phải coi con người là mục tiêu của cách mạng là đối tượng cần phục vụ, vì vậy phục vụ con người là mục đích cao nhất của mọi hoạt động kể cả các hoạt động sản xuất, lưu thông phân phối, giao thông vận tải và các hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực văn hóa và xã hội. Ta thường tập trung và khẩu hiệu "tất cả để sản xuất" nhưng nay cần phải nhận rõ thêm sản xuất nhằm để phục vụ con người. Hai điểm vừa kể trên là tư tưởng nhất quán với tinh thần của khẩu hiệu: "Tất cả vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân" - và là nội dung cụ thể và nhất quán với tư tưởng "Lấy dân làm gốc". Chúng ta cần cố gắng hoạt động, không để cho những tư tưởng đúng đắn tuyệt vời như vậy chỉ dừng lại ở khẩu hiệu. Tư tưởng về chính sách xã hội và vai trò của yếu tố con người là một tư tưởng lớn của Đại hội VI và cũng là một vấn đề văn hóa lớn. 2 - Quan điểm về nhiệm vụ xây dựng văn hóa Trong Nghị quyết của Đại hội, có ghi "Xây dựng một nền văn hóa văn nghệ xã hội chủ nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc". Và trong Báo cáo Chính trị thì viết: "Trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới đặc biệt chú ý xây dựng quan hệ xã hội và lối sống lành mạnh, khắc phục các hiện tượng tiêu cực; giữ gìn và phát huy tinh thần dân chủ, nhân đạo, chủ nghĩa anh hùng và những giá trị văn hóa khác của truyền thống dân tộc và cách mạng".
  14. Ở đây nổi rõ quan niệm về văn hóa: Văn hóa không phải chỉ là một số hoạt động của công tác văn hóa, mà văn hóa nằm trong mọi mặt hoạt động của cuộc sống. Cho nên xây dựng văn hóa là phải chú ý xây dựng lối sống, xây dựng các quan hệ xã hội tốt đẹp. Một nền văn hóa văn nghệ, có nghĩa là một tổng thể văn hóa trong đó có văn hóa nghệ thuật, cũng có nghĩa là một nền văn hóa và một nền văn nghệ - Văn nghệ nằm trong cấu thành của văn hóa nhưng là một thành tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng có nhiều đặc thù và có tính tiêu biểu của văn hóa. Hiện nay ta phải xây dựng một nền văn hóa văn nghệ xã hội chủ nghĩa. Chúng ta chưa dự đoán được nền văn hóa văn nghệ của giai đoạn cộng sản chủ nghĩa và thế giới đại đồng nó như thế nào. Nhưng rõ ràng trong một thời gian còn khá dài nữa, mỗi nền văn hóa văn nghệ xã hội chủ nghĩa còn phải gắn với dân tộc, của một dân tộc. Màu sắc dân tộc khác nhau của văn hóa làm cho văn hóa thế giới phong phú tốt đẹp hơn. Công thức "một nền văn hóa văn nghệ xã hội chủ nghĩa đậm đàn bản sắc dân tộc" vẫn nhất quán tinh thần với công thức đã nêu ở Đại hội IV và V: "một nền văn hóa nội dung xã hội chủ nghĩa, tính chất dân tộc", nhưng nó được diễn tả đầy đủ hơn, chính xác hơn, hợp lý hơn, nó bao hàm cả ý nghĩa quốc tế và dân tộc của văn hóa xã hội chủ nghĩa. Khi ta nói "đậm đà bản sắc dân tộc" là ta yêu cầu nền văn hóa văn nghệ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phải mang rõ rệt trong mình những sắc thái (hoặc một sắc thái) cơ bản thể hiện rõ cái dáng vẻ, cái bộ mặt riêng của Việt Nam, của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Nói như thế cũng bao hàm ý nghĩa văn hóa Việt Nam phải kế thừa được đầy đủ các truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của cách mạng. Nhưng phải nói các di sản văn hóa của Việt Nam rất phong phú mà cũng rất phức tạp nặng nề. Đại hội lần này định hướng cơ bản cho việc kế thừa là "giữ gìn và phát huy tinh thần dân chủ nhân đạo, chủ nghĩa anh hùng". Đó là những truyền thống tốt đẹp. Nó tốt đẹp vì nó phù hợp với những giá trị văn hóa xã hội chủ nghĩa. Khi Báo cáo Chính trị còn có thêm câu "... và những giá trị văn hóa khác của truyền thống dân tộc và cách mạng" thì ta cũng cần hiểu các giá trị văn hóa khác đây cũng là những giá trị gần gụi với dân chủ, nhân đạo và anh hùng, chứ không phải là những cái gì đi ngược lại với dân chủ, nhân đạo và anh hùng. Sự định hướng này có ý nghĩa rất quan trọng trong các hoạt động văn hóa của ta. 3 - Quan điểm về nhiệm vụ của công tác văn hóa Báo cáo Chính trị nói về nhiệm vụ công tác văn hóa văn nghệ không nhiều, chỉ có một câu ngắn gọn, nhưng bao hàm nhiều ý mới mẻ và quan trọng. Báo cáo Chính trị viết: "Công tác văn hóa văn nghệ phải được nâng cao chất lượng. Mỗi hoạt động văn hóa văn nghệ phải tính đến hiệu quả xã hội, tác động tốt đến tư tưởng tâm lý tình cảm, nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ thẩm mỹ của nhân dân. Quan tâm đáp ứng nhu cầu, thị hiếu lành mạnh của các tầng lớp xã hội và các lứa tuổi". Ta chú ý đọc kỹ đoạn văn trên, ta có thể thấy rõ một quan niệm về công tác văn hóa văn nghệ một cách chính xác, khoa học. Quan niệm này yêu cầu hoạt động văn hóa văn nghệ phải tính đến, phải có hiệu quả xã hội, hiệu quả xã hội do sự tác động tốt đến tư tưởng, tâm lý và tình cảm của nhân dân, là hiệu quả nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ thẩm mỹ của nhân dân. Như vậy công tác văn hóa văn nghệ không phải chỉ hạn chế và bó hẹp trong ý nghĩa "bị động", "công cụ", và "theo sau". Không phải chỉ tập trung vào sự cổ động các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, cổ động mọi người thực hiện những nhiệm vụ hàng ngày của sản xuất, công tác. Không phải chỉ là những động tác "cờ, đèn, kèn, trống", "đóng đinh leo thang" v.v... Không phải chỉ là những sự giúp vui, giải trí. Công tác văn hóa văn nghệ phải là một loại hoạt động có hiệu quả xã hội, phải chú ý đến hiệu quả xã hội. Có những hoạt động văn hóa văn nghệ có cả hiệu quả kinh tế, nhưng không thể coi hiệu quả kinh tế là mục đích chủ yếu. Hiệu quả xã hội là hiệu quả tác động đến từng con người, là hiệu quả có ý nghĩa cao thượng, là hiệu quả về mặt tinh thần. Đó phải là hiệu quả "xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa", chứ không phải là những hiệu quả kịp thời, tức thời, ngắn hạn, trước mắt. Đó phải là sự "tác động tốt" tức là tác động xây dựng, bồi dưỡng, nâng cao, tác động tốt vào tư tưởng tâm lý và tình cảm con người. Và vì vậy nó có nhiệm vụ cao cả là "nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa của nhân dân", không những thế nó còn phải nâng cao cả "trình độ thẩm mỹ" cho nhân dân nữa. Có nâng cao trình độ thẩm mỹ, mới làm cho các thị hiếu được lành mạnh, mới làm cho các tác phẩm nghệ thuật có tác dụng mạnh mẽ và cao đối với mọi người, mới góp phần tích cực vào việc phát triển toàn diện con người mới, ngăn chặn và xóa bỏ được các ảnh hưởng độc hại của các thứ nghệ thuật phản động đồi trụy, các âm mưu thâm độc dùng nghệ thuật trong chiến tranh tâm lý của các loại kẻ địch. Và cũng lại chính vì thế mà yêu cầu gay gắt đối với các hoạt động văn hóa văn nghệ phải nâng cao chất lượng, chất lượng thì chủ yếu là chất lượng nghệ thuật. Phải đòi hỏi cao, phải nghiêm khắc đối với chất lượng nghệ thuật, và điều đó đòi hỏi chất lượng cả ở các khâu kỹ thuật, tổ chức. Toàn bộ các khía cạnh khác nhau của quan niệm về nhiệm vụ công tác văn hóa văn nghệ này quan hệ chặt chẽ với nhau trong một sự thống nhất. Trên cơ sở quan niệm này khắc phục những quan niệm thiển cận, hẹp hòi và thực dụng đối với công tác văn hóa văn nghệ. Quan niệm này cũng chính là sự thể hiện nguyện vọng chân chính của các người làm công tác văn hóa văn nghệ và các nghệ sĩ. 4 - Quan điểm về nhiệm vụ các chính sách văn hóa Báo cáo Chính trị không nói nhiều được về các chính sách văn hóa, nhưng báo cáo đã đề cập vấn đề chính sách như một nhiệm vụ và vạch ra tinh thần cơ bản của yêu cầu về chính sách. Vấn đề chính sách văn hóa được đề cập ở hai chỗ trong Báo cáo Chính trị. Ở phần nói về các chính sách xã hội, đoạn về công tác văn hóa.
  15. "Cải tiến chính sách đối với người làm công tác nghệ thuật chuyên nghiệp, đãi ngộ xứng đáng lao động nghệ thuật, động viên sáng tác, khuyến khích tài năng". Và một đoạn khác ở phần thứ tư: "Phát huy quyền làm chủ tập thể của...". "Đối với trí thức, điều quan trọng nhất là đảm bảo quyền tự do sáng tạo. Đánh giá đúng năng lực và tạo điều kiện cho năng lực được sử dụng đúng và phát triển. Phá bỏ những quan niệm hẹp hòi, không thấy tầng lớp trí thức ngày nay là những người lao động xã hội chủ nghĩa được Đảng giáo dục và lãnh đạo, ngày càng gắn bó chặt chẽ với công nhân và nông dân". Câu trích trên được cô đúc lại trong Nghị quyết như sau: "Đối với trí thức điều quan trọng nhất là đánh giá đúng năng lực và tạo điều kiện cho các khả năng sáng tạo được sử dụng đúng và phát triển". Tất cả đều toát lên một tinh thần nhất quán đòi hỏi các chính sách cụ thể phải thể hiện được. Đó là thái độ của Đảng đối với các năng lực sáng tạo, với lao động nghệ thuật. Tinh thần của Báo cáo Chính trị là thừa nhận rõ rệt là có thứ "lao động nghệ thuật". Đó là lao động, chứ không phải chỉ là những hoạt động vui chơi phù phiếm. Các nghệ sĩ phải lao động, và thứ lao động nghệ thuật có những đặc thù, những khó khăn phức tạp không phải ai cũng làm được. Chính vì vậy, lao động nghệ thuật cần phải được đãi ngộ xứng đáng. Hiện nay lao động nghệ thuật chưa được đãi ngộ xứng đáng, còn bị coi nhẹ và coi thường. Đảng yêu cầu phải cải tiến chính sách. Sự cải tiến này phải được tiến hành trên cơ sở sự hiểu biết sâu sắc đến bản chất các loại lao động nghệ thuật: lao động của người viết văn, lao động của những người sáng tác nhạc và đặc biệt của những người sáng tác trong các thể loại của nghệ thuật tạo hình, lao động của diễn viên múa, diễn viên sân khấu, diễn viên ca hát, các nhạc công, diễn viên xiếc v.v... Mỗi loại lao động có những sự tiêu hao năng lượng khác nhau và những yêu cầu điều kiện lao động khác nhau. Sự cải tiến không thể chỉ là sự tính toán vài chế độ thù lao đãi ngộ, mà phải được nghiên cứu trên những cơ sở khoa học kỹ càng. Ngoài tinh thần đối với lao động nghệ thuật, các chính sách còn có những yêu cầu khác cũng rất quan trọng, đó là chính sách đối với sự sáng tạo, cần "động viên sáng tạo", cần "bảo đảm quyền tự do sáng tạo". Cần phải lý giải đầy đủ và đi tới những quan niệm thật đúng đắn về "quyền tự do sáng tạo" và "sự sáng tạo" trong các hoạt động văn hóa văn nghệ. Phải có thái độ cởi mở với mọi tìm tòi sáng tạo, phải có chính sách thực hiện các cuộc thể nghiệm và các tổ chức thể nghiệm. Phải khoan dung với mọi kết quả thể nghiệm, kể cả những thể nghiệm không thành công. Cần có chính sách đối với tài năng, cần "khuyến khích tài năng". Cần phải hiểu khuyến khích tài năng bao gồm cả việc phát hiện tài năng, bồi dưỡng tài năng và tạo điều kiện cho tài năng phát triển, sử dụng đúng các tài năng. Thái độ trân trọng tài năng thực chất là một thái độ cách mạng. Không thể để lãng phí tài năng. Lãng phí tài năng là một sự lãng phí tội lỗi nặng nề. Chính sách đối với trí thức, bao gồm cả trí thức khoa học, trí thức chính trị - xã hội, và trí thức nghệ thuật. Đối với trí thức, có một yêu cầu chung là "đánh giá đúng năng lực", "sử dụng đúng năng lực", và "tạo điều kiện phát triển năng lực". Chỉ có đánh giá đúng thì mới sử dụng đúng được, có sử dụng đúng thì mới phát triển được năng lực. Muốn đánh giá đúng phải có sự hiểu biết đến mức cần thiết, hiểu biết đến bản chất sự việc mới có quyền đánh giá. Các người trí thức thông thường có nguyện vọng rất sâu sắc là yêu cầu được đánh giá đúng. Chính sách đối với trí thức nói chung và trí thức nghệ thuật nói riêng là chính sách cực kỳ quan trọng, là then chốt để thúc đẩy sự nghiệp phát triển văn hóa văn nghệ. Đại hội VI đã vạch ra phương hướng yêu cầu hết sức chính xác và rõ ràng. Trách nhiệm các cơ quan quản lý trong việc thể chế hóa các chính sách và thực hiện các chính sách là một trách nhiệm nặng nề. 5 - Quan điểm về vai trò và chức năng của văn học nghệ thuật Đây là quan điểm quan trọng nhất trong các quan điểm về văn hóa văn nghệ. Báo cáo Chính trị trong Đại hội VI đã xác định quan điểm này một cách hết sức mác-xít-lêninít, hết sức khoa học và hết sức tiên tiến phù hợp với các trào lưu lý luận thế giới về vấn đề này, là sự phát triển tốt đẹp những quan điểm của Đảng ta về văn hóa văn nghệ đã có từ lâu được phát triển nhiều lần trong các văn kiện của các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng. Quan điểm về vấn đề này quan trọng và cơ bản vì nó sẽ chi phối sự hiểu biết và xử lý các vấn đề khác như các vấn đề chính sách, các vấn đề về vai trò của công tác văn hóa văn nghệ, về sự cần thiết phải nâng cao trình độ lãnh đạo v.v... Về vai trò của văn học nghệ thuật, Báo cáo Chính trị viết: "Không có hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ và nếp sống của con người". Để giáo dục và phát triển toàn diện con người thì việc xây dựng tình cảm là việc cực kỳ quan trọng. Tình cảm lành mạnh, tình cảm tốt đẹp càng mãnh liệt bao nhiêu, càng tác động đến ý thức đạo đức mạnh mẽ bấy nhiêu, càng tạo nên năng lực hành động cao và mạnh bấy nhiêu, càng làm cho ý chí được vững vàng kiên định. Giáo dục tình cảm là một thành tố cực kỳ quan trọng trong toàn bộ công tác tư tưởng của Đảng. Thế mà trong việc ấy không có hình thái ý thức nào thay thế được văn học nghệ thuật. Các sản phẩm văn học nghệ thuật vừa là những món ăn tinh thần không thể thiếu của đời sống con người vừa là những môn thuốc đặc hiệu nâng cao tình cảm con người. Không thể coi nó chỉ là những trò, những phương tiện để giải trí, vui chơi. Báo cáo Chính trị nói rõ chức năng của văn học nghệ thuật trong đoạn sau đây: "Đảng yêu cầu các văn nghệ sĩ thường xuyên trau dồi ý thức trách nhiệm của công dân chiến sĩ, thực hiện chức trách cao quý: tạo nên những giá trị
  16. tinh thần bồi dưỡng tâm hồn và tình cảm, xây dựng nhân cách và bản lĩnh của mọi thế hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội". Ở đây, ta cần đặc biệt chú ý mấy chữ tạo nên những giá trị tinh thần. Hoạt động văn học nghệ thuật không phải là những hoạt động phi sản xuất chỉ có tiêu phí, mà là những hoạt động sản xuất tạo ra những giá trị tinh thần. Văn học nghệ thuật không phải chỉ là vũ khí hay công cụ của công tác tư tưởng, tuy rằng các sản phẩm của nó là để bồi dưỡng tinh thần cho con người. Nó tạo ra những giá trị tinh thần, làm cho đời sống tinh thần của xã hội ngày càng giàu có, càng cao đẹp. Nó xây dựng nhân cách và bản lĩnh cho mọi thế hệ công dân, nghĩa là nó tạo ra và nâng cao những năng lực hoạt động của con người để con người xây dựng xã hội có hiệu quả hơn. Nó không tiêu phí, không làm tiêu mòn của cải xã hội mà ngược lại nó làm cho xã hội giàu hơn và đẹp hơn. Nó còn làm cho xã hội đẹp hơn ở chỗ xây dựng môi trường đạo đức cho xã hội. Về cơ bản, có thể suy luận là như vậy, nó cũng chỉ là thực hiện chức năng giáo dục và điều đó thì từ trước ta vẫn nói. Có thể hiểu đó là văn học nghệ thuật thực hiện chức năng giáo dục. Nhưng không nên hiểu giáo dục chỉ là lên lớp, chỉ là dạy bảo. Văn học nghệ thuật vừa làm chức năng giáo dục với ý nghĩa là bồi dưỡng tâm hồn tình cảm, là xây dựng nhân cách và bản lĩnh cho con người, mà cần phải thấy những giá trị tinh thần đó (kể cả các giá trị tinh thần được vật thể hóa như tượng đài, kiến trúc... và các văn hóa vật chất khác như nhà ở, đồ dùng, quần áo) làm cho xã hội và con người giàu và đẹp thêm, làm cho môi trường sống gồm cả môi trường đạo đức được nâng cao. Nó làm việc sản xuất chứ không phải tiêu phí. Quan điểm này rất nhất quán với quan điểm về nhiệm vụ của công tác văn hóa và nó mở rộng một tầm hoạt động lớn lao, một phương hướng chỉ đạo cho các công tác văn hóa văn nghệ. 6 - Quan điểm về nâng cao trình độ lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa văn nghệ Trong Báo cáo Chính trị có một câu như sau: "Nâng cao trình độ lãnh đạo văn hóa văn nghệ của cán bộ quản lý các cấp cho phù hợp với tính đặc thù và yêu cầu phát triển của văn hóa văn nghệ, chống lối gò ép hoặc buông lỏng". Ở đây có điểm cần chú ý ngay là trong Báo cáo Chính trị của Đại hội V, về mục này, có viết: "Tăng cường và cải tiến sự lãnh đạo...", còn ở đây lại là "Nâng cao trình độ lãnh đạo". Nói "nâng cao trình độ lãnh đạo" là chính xác hơn, trúng hơn, rõ ràng hơn, là nói thẳng vào vấn đề hơn. Thực ra, từ Đại hội V, trong báo cáo về xây dựng Đảng cũng có nội dung yêu cầu "nâng cao kiến thức và bản lĩnh lãnh đạo". Đứng trước tình hình mới và nhiệm vụ mới nặng nề, phức tạp khó khăn, sự lãnh đạo của Đảng trên bất cứ lĩnh vực nào cũng cần phải "nâng cao trình độ". Vì vậy việc phải nâng cao trình độ lãnh đạo đối với văn hóa văn nghệ cũng là một tất yếu, một điều tự nhiên. Nâng cao trình độ lãnh đạo trước hết phải là nâng cao sự hiểu biết. Ở đây sự hiểu biết về lĩnh vực văn hóa văn nghệ đòi hỏi nhiều mặt: phải hiểu biết những quan điểm triết học Mác-Lênin về văn hóa văn nghệ, phải hiểu biết những điều cơ bản về mỹ học, về lý luận văn hóa, văn học, nghệ thuật. Phải theo dõi được thông tin về sự phát triển lý luận trên thế giới, phải hiểu biết được đặc trưng ngôn ngữ của các môn nghệ thuật, phải rèn luyện để nâng cao không ngừng khả năng cảm thụ nghệ thuật, từ đó mà nâng cao năng lực đánh giá chính xác các hiện tượng văn hóa văn nghệ và các tác phẩm nghệ thuật. Kinh nghiệm cho thấy muốn thế phải biết yêu nghệ thuật và tích cực tiếp xúc với nghệ thuật, nghĩa là phải đọc nhiều, xem nhiều, nghe nhiều và phải biết thưởng thức nghệ thuật một cách chủ động và tích cực. Người quản lý và lãnh đạo không thể có kiến thức sâu và kỹ như những người nghệ sĩ sáng tạo, nhưng lại phải nắm vững được đến bản chất các vấn đề: bản chất của văn hóa, bản chất của nghệ thuật. Chỉ có như thế sự lãnh đạo mới bảo đảm sự sâu sát và đúng đắn. Trình độ lãnh đạo còn gồm cả trình độ tổ chức, thực hiện những kế hoạch đó. Đặc biệt quan trọng là trình độ đánh giá đúng được các tài năng, các con người hoạt động văn hóa văn nghệ. Tất cả đều phải được nâng cao. Yêu cầu "nâng cao trình độ lãnh đạo" nói ở đây lại đi liền với yêu cầu "phù hợp với tính đặc thù, phù hợp với yêu cầu phát triển của văn hóa văn nghệ". Điều này bao hàm ý nghĩa là sự lãnh đạo phải đạt tới trình độ có thể thúc đẩy sự phát triển của văn hóa văn nghệ, phải cao hơn trình độ văn hóa văn nghệ của xã hội và từ ở phía cao đó mà chỉ ra phương hướng, chỉ đạo dẫn dắt cho văn hóa văn nghệ phát triển cho đúng với tinh thần đường lối của Đảng, gỡ được những khó khăn vướng mắc, khơi dòng cho sự phát triển văn hóa văn nghệ được mạnh mẽ. Đó là một trình độ lãnh đạo cao, muốn đạt tới không phải dễ dàng, nhưng đó lại là yêu cầu bắt buộc của nhiệm vụ cách mạng và là yêu cầu khách quan của quy luật phát triển xã hội: lực lượng tiền phong lãnh đạo phải đủ sức để thực hiện tiền phong lãnh đạo. Trên đây là sáu vấn đề quan điểm, có thể rút ra từ nội dung của Đại hội Đảng lần thứ VI, và ít nhất là như vậy. Cho nên xin nhắc lại là không phải ít chữ, ít dòng là không quan trọng, là ít vấn đề. Những dòng chữ ít ỏi nhưng chứa đựng nhiều vấn đề. Cần quan tâm nghiên cứu kỹ hơn. Những vấn đề này có mới không? Có người thấy hình như không có gì mới. Bởi vì hình như cũng đã nghe và đọc ở đâu những câu những chữ như thế. Cái mới ở đây không phải là có những ý, những câu, những chữ hoàn toàn mới lạ, chưa ai nghe thấy ở đâu, đọc thấy ở đâu... Cái mới ở đây là nó "không như cũ". Nghĩa là đối với các vấn đề nói trên trước đây cách đề cập và cách diễn giải khác và nay đề cập, diễn giải khác. Đó là một sự phát triển, sự phát triển đi lên của trình độ lãnh đạo của Đảng ta. Mọi sự phát triển đều có bao hàm sự phủ định các yếu tố cũ, phủ định không hẳn là đối lập. Sự phủ định có thể là phủ định những yếu tố trong hoàn cảnh trước đây, là đúng và cần thiết nhưng trước tình hình mới thì không thích hợp; cũng có thể là phủ định những yếu tố không toàn diện, những yếu tố nhấn mạnh bộ phận, hoặc khía cạnh là cái toàn thể, toàn diện. Vì vậy, ở đây ta không gặp lại những cụm từ quen thuộc như "bám sát nhiệm vụ chính trị" như "phục vụ kịp thời", như "vũ khí hay công cụ tư tưởng", thì không phải vì là những cụm từ đó trước đây đã sai.
  17. Những quan niệm và quan điểm thể hiện từ các cụm từ ấy trước đây là hoàn toàn cần thiết và rất đúng. Nhưng nay do yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, do trình độ xã hội đã đặt ra trong tình hình khác, đòi hỏi những vấn đề văn hóa văn nghệ ở cấp độ cao hơn. Vì vậy sự phát triển và nâng cao các quan điểm của Đảng là rất cấp bách, cần thiết và chủ yếu. Không có những yếu tố phủ định thì không có sự phát triển. Vì vậy ta phải rời bỏ những gì là quen thuộc chính là biểu hiện của sự phát triển. Các quan điểm được nêu lên ở trên, đều xuất hiện trên cơ sở những nguyên lý lý luận rất vững chắc và nó còn phải được phát triển cụ thể thành những lý luận cụ thể để từ đó làm thành những thể chế, quy định cụ thể của luật pháp của chính sách của những chủ trương và kế hoạch công tác thì nó mới càng hoàn thiện và vững vàng. Nó còn phải tiếp tục đối chiếu một cách có phê phán với những gì là lỗi thời, là không đầy đủ, nó mới nhận thức một cách rộng rãi trong dư luận và ý thức xã hội. Đó thực sự là những việc cần làm tiếp tục trong mọi thời gian sau Đại hội và để đưa Nghị quyết Đại hội vào cuộc sống. Chúng ta mong và tin rằng những công việc ấy sẽ thành công. VỀ CÁI TIÊU CỰC VÀ CÁI TÍCH CỰC NGUYÊN NGỌC Những ngày gần đây chúng ta đang chứng kiến sự hình thành, hoặc đúng hơn sự khẳng định một quyền lực mới trong xã hội, quyền lực của báo chí. Có lẽ, ít nhất là kể từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay, chưa bao giờ như bây giờ, báo chí lại có vai trò năng động đến thế, lại tham gia trực tiếp, mạnh mẽ và có hiệu lực đến thế vào các quá trình xã hội sôi động và phức tạp. Tất nhiên điều đó phản ánh một hiện tượng khác sâu sắc và to lớn hơn, to lớn hơn chính bản thân "hiện tượng báo chí" nhiều: nó phản ánh quá trình dân chủ hóa đang diễn ra đầy khó khăn, trăn trở nhưng quyết liệt và không gì ngăn nổi trong đời sống của đất nước. Quyền lực của báo chí những ngày này, đó chính là quyền lực của nhân dân. Đó chính là một cách - và quả là một cách khá hiệu lực - nhân dân dùng cái quyền của mình đòi hỏi và tham gia trực tiếp vào công việc lập lại trật tự, lập lại công bằng xã hội. Đã bao nhiêu lần chúng ta nói về cái khái niệm đẹp đẽ "nhân dân làm chủ". Nhưng làm chủ bằng cách nào vậy? Cái số đông và vì là số đông nên lại trừu tượng ấy có thể thực sự làm chủ bằng cách nào? Thì ra nhân dân có thể làm chủ bằng công luận. Đó là sự thức tỉnh mới mẻ của nhân dân, của xã hội ta. Hãy ngẫm lại mà xem: "hiện tượng báo chí" thật ra cũng chỉ mới xuất hiện trên dưới một năm nay, thực sự sôi nổi, gay gắt cũng chỉ mới vài tháng nay. Vậy mà không khí xã hội đã thoáng đãng ra kha khá. Lòng tin và niềm hy vọng đã thấy có cơ sở hơn. Bởi vì sao? Kỳ thực thì những "vụ việc" được đưa ra trước công luận cũng chưa có gì nhiều, và có thể cũng chưa phải là những cái quan trọng nhất, đích đáng nhất. Kết quả những "vụ việc" đưa ra đó cụ thể cũng còn chưa bao nhiêu, thậm chí chưa ngã ngũ... Nhưng có một điều này thì đã có thể nói là chắc chắn: nhân dân đã biết đến thứ quyền lực này của mình, nhân dân sẽ không từ bỏ nó. Đương nhiên, cuộc đấu tranh hiện nay không thể làm tất cả mọi người vui vẻ, bằng lòng. Đây đó có thể nghe không ít những lời bàn tới bàn lui chung quanh cái quyền lực nói trên và cách sử dụng nó. Có hoài nghi phân vân, lo lắng, có cả lo sợ, và có cả căm ghét hằn học trong những "lời bàn ấy". Một trong những "lời bàn" đó là luận điểm sau đây: phê phán cái tiêu cực, đúng rồi, nhưng lại phải nói cái gì tích cực nữa chứ, mà cái tích cực mới là chính. Trong xây và chống, thì bao giờ cũng nên lấy xây làm chủ yếu. Sao lại chỉ tập trung làm mỗi một việc phơi bày mãi cái xấu ra? Báo chí phản ánh cái tiêu cực nhiều quá mà nói cái tích cực ít quá, không cân đối chăng? E không đúng thực chất xã hội ta chăng? Riêng tôi thì tôi nghĩ: cuộc đấu tranh đang diễn ra hiện nay trên công luận, cuộc đấu tranh trên báo chí hiện nay hoàn toàn không phải là "phô bày cái xấu ra". Không phải là mô tả nó, mà là vạch mặt và đấu tranh chống lại nó. Nếu gọi là phản ánh thì trên báo chí (và cả trong văn học) hiện nay đang phản ánh không phải là cái tiêu cực, trái lại đang phản ánh một hiện tượng rất tích cực: đó là cuộc đấu tranh quyết liệt chống cái xấu, cái ác, cái tiêu cực. Đang được phản ánh hàng ngày trên những trang báo của chúng ta là cái khả năng mới mẻ, tốt đẹp, đáng mừng: khả năng của cơ thể xã hội ta có thể tự hủy hoại, tự loại bỏ những tế bào ung thối của nó. Một xã hội có khả năng tự phê phán mình, đó là dấu hiệu của một xã hội còn lành mạnh, đang trở lại lành mạnh. Phải chăng từ khi bùng ra cuộc đấu tranh trên báo chí, trong công luận đến nay, đời sống xã hội chúng ta mặc dầu còn muôn vàn khó khăn, cũng đã bắt đầu khởi sắc ra. Đã ánh lên ánh sáng trong lành của lẽ phải, công bằng, và của lòng tin, hy vọng. Vậy nên, không có gì phải lo sợ về "tỷ lệ thích đáng" giữa biểu dương cái tích cực và phê phán cái tiêu cực trên báo chí. Bản thân việc nhân dân biết nắm lấy cái quyền lực công luận của mình, và sử dụng nó ngày càng có hiệu quả để làm trong sạch cuộc sống, là một điều tốt đẹp biết bao, tích cực biết bao. VĂN NGHỆ VÀ CHÍNH TRỊ NGUYỄN VĂN HẠNH Việc bàn luận về mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị đã có từ lâu trong lịch sử phát triển văn học, nghệ thuật trên thế giới, cũng như ở nước ta. Ở nước ta, chỉ từ Cách mạng Tháng Tám đến nay, vấn đề này đã trở đi trở lại nhiều lần, gần đây lại rộ lên trong giới sáng tác và lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật. Đây không phải là một vấn đề có tính chất sách vở, kinh viện mà có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng, liên quan đến cả văn nghệ và chính trị, có ảnh hưởng sâu sắc và trực tiếp đến phương hướng, chất lượng và hiệu quả
  18. của hoạt động văn học nghệ thuật, cũng như đến công tác lãnh đạo, quản lý lĩnh vực sản xuất tinh thần quan trọng này. Văn nghệ và chính trị có thể được xem xét như những bộ phận của kiến trúc thượng tầng; những hình thái ý thức xã hội trong mối quan hệ với cơ sở hạ tầng, với tồn tại xã hội và đối với nhau, nhưng những vấn đề này nhìn chung đã sáng tỏ. Với tư cách hoạt động xã hội, chính trị và văn nghệ cần được phân biệt kỹ hơn, vì ở đây còn nhiều điều chưa rõ, nhiều ý kiến khác nhau, mâu thuẫn nhau. Nhưng ngay trên phương diện này, chính trị và văn nghệ cũng có những nội hàm, những phẩm chất, những cấp độ khác nhau, do đó mà quan hệ giữa chúng cũng rất phức tạp. Chính trị có đường lối chính trị, chế độ chính trị, tổ chức chính trị, cán bộ chính trị; lại có chính trị tiến bộ và chính trị phản động; chính trị lớn, chính trị đúng đắn và chính trị thiển cận, sai lầm; chính trị của lực lượng đang nắm quyền và chính trị của lực lượng đối lập, bị trị đang đấu tranh v.v... Văn nghệ cũng có văn nghệ lớn và văn nghệ xoàng, văn nghệ tiến bộ và văn nghệ phản động, văn nghệ sĩ và tác phẩm v.v... Tuy nhiên, cũng có thể nêu lên một số đặc điểm tổng quát của chính trị và văn nghệ, quan hệ của chúng với nhau với tư cách là hai lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, hai hoạt động khác nhau của con người. Có căn cứ để phân biệt trong hoạt động xã hội của loài người ba loại hình lớn: hoạt động thực tiễn, hoạt động khoa học và hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Ba loại hình này quan hệ với nhau, ảnh hưởng và thâm nhập lẫn nhau, nhưng vẫn tuân theo những quy luật đặc thù riêng biệt. Hoạt động chính trị thường dựa vào khoa học, có phần sáng tạo nhiều khi rất lớn, nhưng chủ yếu và trước hết nó là hoạt động thực tiễn. Nghệ thuật cũng có phần là nhận thức khoa học, là hoạt động thực tiễn, nhưng đứng về bản chất và chức năng mà xét thì nó là hoạt động ý thức, hoạt động tinh thần, hoặc là hoạt động tinh thần - thực tiễn, một hoạt động sáng tạo đặc biệt. Chính trị và văn nghệ có thể cùng chung những lý tưởng lớn, chẳng hạn như tự do, bình đẳng, bác ái, hoặc độc lập, tự do, hạnh phúc. Nhưng để đến những lý tưởng đó, chính trị và văn nghệ lại có những con đường, những cách làm khác nhau. Chính trị luôn phải xác định cho mình những mục tiêu cụ thể, phân biệt các giai đoạn, tính toán các bước đi cho phù hợp. Văn nghệ thì lại "đốt cháy giai đoạn", hướng ngay tới cái đích cuối cùng, soi sáng mọi cảnh đời, mọi biểu hiện của cuộc sống từ ánh sáng của lý tưởng. Chính trị là hoạt động có ý thức nhất, có trình độ tổ chức rất cao, có khả năng tạo nên những bước ngoặt lớn, những chuyển biến quyết định đối với sự phát triển của lịch sử, đối với vị trí xã hội của các giai cấp, đối với số phận của các dân tộc và cả loài người. Các nhà chính trị huy động vào cuộc đấu tranh tất cả những gì có thể huy động được, cả lực lượng vật chất và lực lượng tinh thần, cá nhân và tổ chức, kinh nghiệm và khoa học, ý chí và mưu lược, cả sức mạnh của lẽ phải, niềm tin và cả bạo lực... để giành chính quyền, giữ chính quyền, nắm lấy quyền lực, dựa vào đó mà chi phối sự phát triển của xã hội, mà tổ chức và điều hành xã hội theo những quan niệm và lý luận nhất định, phù hợp với lợi ích của giai cấp này hay giai cấp khác, của tập đoàn xã hội này hay tập đoàn xã hội khác. Trong sáng tạo nghệ thuật, nghệ sĩ chủ yếu làm việc một mình, tự mình tìm hiểu, cảm nhận, suy ngẫm về cuộc sống, ức đoán, tưởng tượng, "bịa đặt" để tạo ra tác phẩm, nó vừa là con đẻ tinh thần của tác giả. Nghệ sĩ là một cá tính sáng tạo. Cái chủ quan, cá tính, sự độc đáo, năng lực hư cấu thường không có tác dụng gì đáng kể, thậm chí gây trở ngại trong khoa học và ngay trong chính trị, thì trong nghệ thuật không những được thừa nhận đương nhiên, mà còn có ý nghĩa rất quan trọng. Nghệ sĩ càng có bản lĩnh, tài năng, có sức tưởng tượng phong phú, thì tính độc đáo càng lớn, càng có thể có nhiều đóng góp đặc sắc, bất ngờ cho nghệ thuật. Trong nghệ thuật con người cảm thấy được tự do nhất, "là mình" nhất theo nghĩa thoát ra khỏi những ràng buộc và lợi ích chật hẹp để vươn tới những lý tưởng cao đẹp, được "thanh lọc", có điều kiện bộc lộ đầy đủ nhất bản chất người, năng lực và phẩm chất tinh thần của mình, luôn luôn tìm tòi, đổi mới, sáng tạo. Sức mạnh của nghệ thuật là sức mạnh của sự thật và lẽ phải, còn ở sự hòa quyện giữa chất đời và chất lý tưởng, giữa lao động và niềm vui, ở bản chất tự do, sự chân thành và tính độc đáo, đa dạng của chủ thể sáng tạo, ở chất sống, sự phong phú và đặc sắc của những hiện tượng được miêu tả, ở tính đơn nhất, không lặp lại của hình tượng và tác phẩm nghệ thuật. Chính trị là đấu tranh liên tục, nỗ lực liên tục để giành thắng lợi này đến thắng lợi khác. Văn nghệ lại thường khi là sự ngừng nghỉ, sự yên lắng để con người nhìn lại con đường đã qua, nó là khát vọng của con người về sự hoàn thiện và hài hòa, sự ăn năn của con người về những lỗi lầm, là sự tự ý thức liên tục, thiết tha, sâu thẳm của con người về chính mình, về những giá trị của cuộc sống, về tình cảm con người đang sống và đã "người" đến mức độ nào, về những gì đang chờ đợi con người trong hành trình đầy kịch tính của mỗi cá nhân, của dân tộc, của nhân loại. Trong quá trình tự ý thức này, con người tự đặt mình trước sự phán xét của những năng lực trong sáng nhất như lương tâm, lương tri, tự đánh giá mình theo những đòi hỏi cao nhất của ý thức trách nhiệm, lẽ công bằng, lòng nhân ái. Văn nghệ là tấm gương vĩ đại và chân thực nhất của cuộc sống và của nhân loại, nó là người bạn đồng hành trung thành, vô tư, thân ái và nghiêm khắc của con người trên tiến trình lịch sử cũng như trong cuộc sống hàng ngày. Chính vì những lẽ đó mà văn nghệ có sức mạnh riêng, không thay thế được, thật sự cần thiết cho con người, đặc biệt trong các xã hội văn minh. Đại diện và đấu tranh cho những lợi ích sống còn của con người và hàng triệu quần chúng, với khả năng giải quyết những vấn đề chung của toàn xã hội, với trình độ tổ chức cao và sức mạnh quyền lực của nó, từ xưa đến nay trong lịch sử loài người chính trị vẫn nắm quyền lãnh đạo xã hội, chi phối mạnh mẽ mọi lĩnh vực hoạt động khác của
  19. con người. Chính trị chi phối văn nghệ và văn nghệ phụ thuộc vào chính trị là một thực tế khách quan. Nội dung và mức độ sự chi phối và phụ thuộc này là tùy vào bản chất và tầm vóc cụ thể của chính trị và văn nghệ trong những tương quan cụ thể. Chính trị cách mạng và văn nghệ cách mạng cũng nằm trong quan hệ có tính quy luật đó. Không phải ngẫu nhiên mà để nhấn mạnh tầm quan trọng của một vấn đề, một nhiệm vụ, ta lại gọi đó là vấn đề chính trị, nhiệm vụ chính trị. Đường lối văn hóa văn nghệ thực chất cũng là đường lối chính trị trong văn hóa văn nghệ. Ta nói chính trị chi phối văn nghệ, văn nghệ phụ thuộc vào chính trị, nhưng như thế không có nghĩa rằng sự chi phối đó, sự phụ thuộc đó chỉ có một chiều, mà trong hoạt động của con người, trong ngôn ngữ biện chứng của sự vật, thật ra đó là sự chi phối lẫn nhau, sự phụ thuộc lẫn nhau, khác nhau chỉ là ở chiều hướng chính, ở cường độ của lực tác dụng mà thôi. Và chính trị lớn là chính trị không những biết chi phối văn nghệ, lãnh đạo văn nghệ, mà còn phải biết lãnh đạo đúng, biết phát huy sức mạnh riêng của văn nghệ vì lợi ích của văn nghệ và của bản thân chính trị, vì những mục tiêu cao cả chung của chính trị lớn và văn nghệ lớn. Hạ thấp vai trò chính đáng của văn nghệ, làm cho văn nghệ không thực hiện được tốt sứ mệnh cao cả của nó, thậm chí bị thủ tiêu đi, thì điều đó không những tai hại cho văn nghệ, mà còn cho bản thân chính trị, cho sự phát triển chung của xã hội và con người, và trong trường hợp đó, vai trò lãnh đạo của chính trị và lý do tồn tại của nó cũng bị đặt thành vấn đề. Về phía nó, văn nghệ đích thực, văn nghệ lớn phải hiểu rõ vai trò và tác dụng chi phối khách quan của chính trị, đồng thời phải ý thức sâu sắc sức mạnh riêng của văn nghệ, ảnh hưởng ngược lại của văn nghệ đối với chính trị, vai trò không thay thế được của văn nghệ trong đời sống của con người, trong sự phát triển của xã hội. Có người nói chính trị thì ngắn ngủi, văn nghệ thì lâu dài. Thật ra không phải như vậy. Chính trị lớn cũng như văn nghệ lớn đều trường tồn, còn chính trị thiển cận và văn nghệ xoàng thì đều qua đi nhanh chóng. Chỉ có điều sự phát triển của chính trị theo con đường phủ định biện chứng, thành tựu của thời kỳ trước chỉ tồn tại như là tiền đề, một cách gián tiếp, trong thành tựu của thời kỳ sau. Tác phẩm văn nghệ lại tồn tại và lưu truyền trong dạng nguyện vẹn, riêng biệt, đơn nhất, không lặp lại, như là đối tượng thẩm mỹ trực tiếp của từng người thuộc những thế hệ công chúng khác nhau, những thời đại khác nhau. Ý nghĩa thực tiễn việc bàn luận hiện nay về quan hệ giữa chính trị và văn nghệ là để giải quyết cho đúng sự lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ và vấn đề tự do sáng tác của văn nghệ sĩ. Đảng là một tổ chức chính trị lãnh đạo mọi mặt của công tác cách mạng, của đời sống đất nước, tất nhiên cũng lãnh đạo văn nghệ. Sự lãnh đạo này chỉ là một hình thức thể hiện cụ thể quy luật chính trị lãnh đạo xã hội đã được khẳng định, trong lịch sử hàng nghìn năm của nhân loại, do đó là một tất yếu. Hơn thế nữa, sự lãnh đạo của một đảng theo quan điểm Mác-Lênin đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động, thể hiện trí tuệ và lý tưởng nhân đạo cao nhất của dân tộc và thời đại là một thuận lợi cho văn nghệ. Nhưng vấn đề không đơn thuần là bảo đảm sự lãnh đạo mà còn phải lãnh đạo cho đúng. Lãnh đạo là quyền lực cũng đồng thời là trách nhiệm cực kỳ to lớn. Lãnh đạo có thể đúng mà cũng có thể sai. Do đó phải luôn luôn kiểm tra sự lãnh đạo, nâng trình độ, đổi mới sự lãnh đạo cho phù hợp với tình hình, với sự phát triển khách quan của sự vật, theo yêu cầu mới của cách mạng. Muốn lãnh đạo đúng, lãnh đạo tốt văn hóa văn nghệ thì cần phải hiểu biết vai trò, bản chất, chức năng của văn hóa, văn nghệ, quy luật và đặc điểm của hoạt động này, hướng dẫn và tạo điều kiện cho văn hóa văn nghệ đi đúng đường lối cách mạng của Đảng, bảo đảm cho văn nghệ sĩ được tự do sáng tác, vì tự do sáng tác, như Nghị quyết Bộ Chính trị đã chỉ rõ, là "điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hóa, văn nghệ, để phát triển tài năng". Với trách nhiệm và uy tín lớn của Đảng, trong hoàn cảnh đảng cầm quyền, lại càng phải sử dụng quyền lực một cách đúng đắn và thận trọng, nhất là đối với một lĩnh vực sáng tạo tự do như văn học nghệ thuật. Cần bảo đảm cho văn nghệ và chính trị thống nhất trong việc thực hiện những nhiệm vụ lớn của cách mạng, phục vụ Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, nhưng không được đồng nhất văn nghệ và chính trị, vì như vậy không những là làm yếu văn nghệ, mà là làm yếu chung sự nghiệp cách mạng của chúng ta. Cần học tập và làm quen dần với phong cách làm việc dân chủ, ngăn ngừa thái độ mệnh lệnh, áp đặt, hấp tấp, bình quân trong việc xử lý các vấn đề văn học nghệ thuật vốn rất phong phú, đa dạng, nhạy cảm, tế nhị, thật sự tự nguyện và mang tính cá biệt sâu sắc. Trong nội dung lãnh đạo văn hóa văn nghệ, Đảng không những phải tiếp tục quan tâm lãnh đạo về chính trị và quan điểm, về tổ chức và cán bộ, mà thực tế ngày càng đòi hỏi Đảng phải chú ý lãnh đạo cả về mặt lý luận và phương pháp luận vì sự coi nhẹ và yếu kém ở phương diện này sẽ dẫn đến thái độ kinh nghiệm chủ nghĩa, sự trì trệ và thiếu sót ngay trong lãnh đạo chính trị và quan điểm tổ chức và cán bộ. Trong lịch sử lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam, đến nay đã để lại 3 dấu mốc quan trọng được nhân dân và hầu hết văn nghệ sỹ nước nhà ghi nhớ, coi đó là những bước ngoặt trong chiến lược lãnh đạo văn hoá của Đảng: Đề cương văn hoá Việt Nam năm 1943; Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) năm 1988; và Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật Việt Nam trong thời kỳ mới. Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị giành riêng cho văn học, nghệ thuật, tập trung trong 5 hoạt động cốt lõi, quan trọng là sáng tác; lý luận, phê bình; sản xuất, công bố, trình diễn, sử dụng, truyền bá các tác phẩm (bao gồm cả giao lưu, hợp tác trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật); đội ngũ và công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ hoạt động văn học, nghệ thuật; công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tổ chức, đầu tư, tài trợ đối với hoạt động văn học, nghệ thuật. VŨ VIỆT HÙNG Nghị quyết 23-NQ/TW về văn học, nghệ thuật
  20. Từ khi có Đảng lãnh đạo, văn học, nghệ thuật của nước ta không chỉ đáp ứng vai trò là nhu cầu thiết yếu của con người mà còn trực tiếp tham gia cách mạng. Văn học, nghệ thuật đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành độc lập tự do cho dân tộc với vai trò, vị trí của một binh chủng đặc biệt trên mặt trận tư tưởng, văn hoá của Đảng, cổ vũ toàn dân tộc hồ hởi đi theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã chọn. Nhận thức về tầm quan trọng của nghị quyết về văn học, nghệ thuật, quá trình chuẩn bị xây dựng Đề án, các bộ phận giúp việc cho Ban chỉ đạo thường xuyên được Bộ Chính trị, Ban Bí thư quan tâm, chỉ đạo nhằm đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn trong đánh giá, nhận định, đề ra các quan điểm, mục tiêu, chủ trương và giải pháp xây dựng, phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới. Hàng chục cuộc trao đổi, tham gia ý kiến vào đề án được tổ chức với sự tham gia đầy trách nhiệm, tâm huyết của đông đảo văn nghệ sỹ các Hội văn học nghệ thuật ở Trung ương, địa phương; cán bộ nghiên cứu, quản lý, lãnh đạo trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật của các cơ quan, viện, nhà trường, sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch; ý kiến của các tầng lớp nhân dân, những người quan tâm đến văn hoá, văn học, nghệ thuật thông qua các phương thức, hình thức góp ý kiến khoa học, ... Nghị quyết đánh giá, nhận định rất thẳng thắn, nghiêm túc và khách quan về tình hình văn học nghệ thuật những năm qua; về sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực này, cả những thành tựu và những yếu kém, khuyết điểm; chỉ ra những nguyên nhân chủ quan của những yếu kém, khuyết điểm. Nhận định những thời cơ lớn và những thách thức mới có tác động trực tiếp đến lĩnh vực văn học, nghệ thuật, nghị quyết đưa ra mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, đồng thời xác định chủ trương và các giải pháp thực hiện. Về quan điểm chỉ đạo, nghị quyết yêu cầu phải tiếp tục quán triệt và thực hiện 5 quan điểm của Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời nhấn mạnh và bổ sung những quan điểm chỉ đạo mới. Theo đó, văn học nghệ thuật trong thời kỳ này không chỉ là nhu cầu thiết yếu của con người mà còn có vai trò, vị trí quan trọng hơn, nặng nề hơn: là khát vọng chân, thiện,mỹ; là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam. Xác định nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, đích cuối cùng của văn hoá là xây dựng con người, văn học, nghệ thuật còn là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hoá bởi văn học nghệ thuật trực tiếp nhất, ảnh hưởng sâu sắc nhất đến nhiệm vụ cao cả nhất của văn hoá. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, văn học, nghệ thuật phải phát triển toàn diện và mạnh mẽ, thầm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ. Đây là đặc điểm rất quan trọng, là điểm nhấn của “thời kỳ mới” mà nghị quyết đặt ra. Để đáp ứng tình hình đó, quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị nhấn mạnh phải phát triển sâu rộng văn nghệ quần chúng, đồng thời với tập trung xây dựng, phát triển văn học, nghệ thuật chuyên nghiệp; tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài…. Hơn nữa, trong quá trình hội nhập, cùng với những yếu tố tích cực, trên lĩnh vực văn hoá, văn học, nghệ thuật cũng có những biến động rất phức tạp. Những sản phẩm văn hoá xấu độc, kích động lối sống đồi truỵ, bạo lực, sự áp đặt văn hoá ngoại lai thông qua các hình thức liên kết, liên doanh, đầu tư, mở rộng thị trường, tài trợ… ngày càng biểu hiện sự bành trướng, lấn át các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc. Do vậy, việc tập trung xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ này còn có nhiệm vụ hết sức quan trọng đó là ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn áp đặt, xâm lăng văn hoá của các thế lực thù địch. Để văn học, nghệ thuật phát triển đúng định hướng và những quan điểm chỉ đạo của Đảng, việc cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa lâu dài đó là quan tâm phát hiện, bồi dưỡng, quý trọng và phát huy các tài năng văn học, nghệ thuật. Nghị quyết chỉ rõ đó là trách nhiệm của toàn xã hội, mà trước hết là của Đảng, của Nhà nước và của các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp. Trong những ngày đầu tháng 9 này, cả nước nói chung và văn nghệ sỹ nói riêng đang rất phấn khởi, kỳ vọng vào những chủ trương, định hướng mới trong các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 7 (khoá X), Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị đối với văn học, nghệ thuật. Để các nghị quyết của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống, trở thành sức mạnh tinh thần, sức mạnh vật chất làm chuyển biến rõ nét diện mạo của đất nước, tạo không khí mới trong toàn xã hội, cần có sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, cụ thể của Chính phủ, sự chủ động của các bộ, ngành liên quan đến việc thể chế hoá từng nghị quyết thành những chương trình, nhiệm vụ phù hợp, thiết thực, khả thi, cộng với tinh thần trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền các cấp và đặc biệt là ý thức của mỗi công dân. Văn hóa - nghệ thuật gắn bó với cuộc sống và đấu tranh vì cuộc sống Ngay từ Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất sau giải phóng, trên cơ sở đường lối nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IV, thành phố đã nêu rõ phương hướng công tác văn hóa - tư tưởng là : "Cùng với việc cải tạo và xây dựng cơ sở kinh tế của xã hội, cần phải xây dựng nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa, làm cho tư tưởng và văn hóa xã hội chủ nghĩa xâm nhập ngày càng sâu trong đời sống văn hóa và tinh thần của nhân dân lao động, đấu tranh không khoan nhượng chống tư tưởng tư sản, tàn dư tư tưởng

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản