Văn hóa với tiềm năng hoạt động sáng tạo của con người -1

Chia sẻ: Ke Langdu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
88
lượt xem
24
download

Văn hóa với tiềm năng hoạt động sáng tạo của con người -1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Văn hoá là "bản tính thứ hai" của loài người, nơi chứa đựng toàn bộ tinh hoa trí tuệ, phẩm chất, năng lực, ý chí, khát vọng và niềm tin của con người, nói tổng quát, đó là toàn bộ sức mạnh bản chất Người. Quá trình tạo ra thiên nhiên thứ hai thực chất cũng là quá trình loài người không ngừng tự nâng cao và hoàn thiện chính mình trong suốt chiều dài lịch sử.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Văn hóa với tiềm năng hoạt động sáng tạo của con người -1

  1. Văn hóa với tiềm năng hoạt động sáng tạo của con người Văn hoá là "bản tính thứ hai" của loài người, nơi chứa đựng toàn bộ tinh hoa trí tuệ, phẩm chất, năng lực, ý chí, khát vọng và niềm tin của con người, nói tổng quát, đó là toàn bộ sức mạnh bản chất Người. Quá trình tạo ra thiên nhiên thứ hai thực chất cũng là quá trình loài người không ngừng tự nâng cao và hoàn thiện chính mình trong suốt chiều dài lịch sử. Văn hoá luôn hiện thân trong mọi lĩnh vực hoạt động sống của xã hội, nó quy định phong cách tư duy, phương thức hành động, lối sống, nó cũng quy định hiệu quả và chất lượng hoạt động sáng tạo của mỗi cá nhân. Sức mạnh quy định đó nằm trong nhân lõi tinh tuý được kết tụ thành tiềm năng sáng tạo to lớn của văn hoá. Từ thời cổ đại, loài người đã nhận thức được sức mạnh tiềm tàng của văn hoá. Các nhà tư tưởng thời Trung đại, Phục hưng, Khai sáng đề cao sức sống của văn hoá trong các hoạt động tinh thần, nhất lả nghệ thuật. Tuy nhiên, trong thời Cận đại, khi máy móc tham gia ngày càng nhiều vào lao động, đã có quan niệm hạ thấp vai trò của văn hoá. Thay cho, việc đề cao văn hoá trong triết học cổ điển, văn hoá “đại chúng" hiện đại chỉ coi văn hoá như là chức năng phiên bản, giữ gìn và tái sản xuất những thành tựu và ý chí của con người, thậm chí chỉ là tập hợp các dấu ấn, các mẫu hành vi, phong cách và hình thức tư duy, nó không những không có chức năng tạo ra cái mới mà còn che lấp con đường đi tới cái mới?
  2. Từ giữa thế kỷ XIX, C.Mác đã dự báo rằng, với sự phát triển của khoa học và kỹ thuật, phần lao động sống ngày càng giảm, phần lao động bằng máy móc tăng lên, lao động thủ công được thay thế bằng các thao tác tự động, trí tuệ con người được dùng cho việc chiếm lĩnh kỹ năng lao động, kỹ năng điều khiển máy móc. Và ngày nay, ở các nước phát triển, trong các ngành công nghiệp chủ đạo, người lao động lẽ ra phải tập trung hơn vào việc phát triển những phẩm chất và các năng lực toàn điện của bản thân để sáng tạo ra văn hoá và sử dụng văn hoá cho việc nâng cao hoạt động sống thì dường như họ chỉ tận dụng thời gian và sức lực cho việc học tập để nâng cao tay nghề? Chạy theo xu hướng phát triển của kỹ thuật, công nghệ chỉ vì lợi ích vật chất trước mắt thực chất là đánh mất văn hoá với tư cách là mục tiêu và động lực phát triển cá nhân và xã hội. Trong thời đại khoa học công nghệ, thời đại trí tuệ, văn hoá càng giữ vai trò đặc biệt trong việc cung cấp tiềm năng sáng tạo
  3. cho người lao động. Chỉ trên nền văn hoá, chỉ khi chiếm lĩnh được văn hoá nhân loại, người ta mới có thể phát triển khả năng hoạt động, nhất là đối với sự phát triển các năng lực sáng tạo của cá nhân. Văn hoá hiện đại được đặc trưng bởi nhũng nội dung phong phú của các khả năng kỹ thuật và công nghệ, thậm chí cho cả kỹ thuật làm thơ, hội hoạ? Nhưng sự chiếm lĩnh kỹ thuật để đem lại hiệu quả lao động không đồng nghĩa với hoạt động sáng tạo có hiệu quả. Các hoạ sĩ hiện đại nắm rất chắc kỹ thuật hội hoạ, có thể tái tạo bất cứ bức tranh nào của Raphaen, Rembran, song đó không phải là sáng tạo. Ngay từ đầu thế kỷ XX, L.Tônxtôi đã viết: "ở thời đại chúng ta, trong tất cả các loại hình nghệ thuật, kỹ thuật đã đạt tới trình độ hoàn hảo, nhưng điều đó chưa phải là tất cả những gì mà nghệ thuật cần. Về kỹ thuật, Đôxtôépxki có thể chưa đạt tới độ hoàn hảo, nhưng tác phẩm nghệ thuật của ông đã không chỉ là mẫu mực cho nghệ thuật Nga, mà còn cho cả nghệ thuật toàn thế giới?". Tất nhiên, không nắm được kỹ thuật, người ta không thể làm được cái gì mới trong hội hoạ, trong văn chương, không thể làm rung động được người nghe bằng cảm xúc âm nhạc, không đề ra được những nguyên tắc trong sáng tạo. Văn hoá là sản phẩm của sự phát triển khoa học, kỹ thuật, của sự ứng dụng chúng vào sản xuất và mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng khi nó không được sử dụng như là tiềm năng sáng tạo thì tự nó đã mất hết ý nghĩa. Với khoa học, kỹ thuật, người ta có thể làm một việc gì đó mà không cần biết thực chất nó là gì? Người ta có thể lái xe tất mà không cần biết cơ chế vận hành của bộ máy, có thể điều khiển thành thạo một dây chuyền sản xuất nhưng không hề biết nguyên lý hoạt động của nó. Điều đó cho thấy, giáo dục - đào tạo mà không đứng trên cơ sở văn hoá nhằm tạo ra năng lực sáng tạo thì đối tượng giáo dục - đào tạo sẽ tự đánh mất mình và trở thành cái máy vô
  4. tri, vô giác. Khuynh hướng lao động tự động hoá hiện đại có nguy cơ vô cảm hoá con người - người ta chỉ biết lao động kiếm tiền mà không quan tâm tới những vấn đề khác. Đó hoàn toàn không phải là mâu thuẫn nội tại của hoạt động, mà là vấn đề xã hội: Phải tận dụng văn hoá với tư cách là nguồn năng lượng nhân loại, là tiềm năng sáng tạo trong mọi hoạt động sống của con người. Là kho tàng tri thức, là sức sống và bản lĩnh xã hội, văn hoá đã trở thành nền tảng và nguồn lực nội sinh của mọi hoạt động sống. Sự khám phá và sáng tạo cái mới, dù là trong lĩnh vực lý thuyết hay thực tiễn, chỉ có được trên cơ sở các thành tựu văn hoá. Tổng hoà các yếu tố văn hoá chứ không chỉ các nguồn tâm - sinh lý cá nhân là cái đem lại khả năng cho sáng tạo. Gơtơ từng nói rằng, "những thành tựu vĩ đại có được không phải chỉ do sự kết tinh tinh hoa trí tuệ của riêng thời đại mà cá nhân nhà sáng tạo đang sống". Còn theo Mikenxơn, để có thể xuất hiện thuyết tương đối ở Anhxtanh thì trước đó, đã diễn ra sự biến đổi công nghệ - sự xuất hiện các chất liệu, đụng cụ, cơ sở thực nghiệm khoa học, có sự cải biến toán học - lý thuyết số, hình học, sự phát triển vật lý học và triết học những quan niệm mới về thế giới, những phương pháp quan sát mới... Rõ ràng, văn hoá không chỉ tồn tại như những hình thức, khuôn mẫu hoạt động, mà còn tiềm ẩn những giá trị phổ quát sâu thẳm bên trong. Việc chiếm lĩnh cái bên trong sâu thẳm và do đó, cái động lực, khuynh hướng, phong cách của văn hoá là công việc đầy ý nghĩa. Bởi đó là công việc biến những giá trị văn hoá phổ biến thành phẩm chất bên trong đầy năng động và tích cực của mỗi cá nhân. Điều đó chỉ có thể thực hiện được khi người ta cảm nhận được ý nghĩa sâu xa, hiểu được cái toàn vẹn hữu cơ và quy luật vận động đặc thù của nó.
  5. Sự khác nhau giữa văn hoá bên ngoài sống động và văn hoá bên trong trầm tích những nguồn năng lượng - cái bệ phóng của hoạt động sáng tạo, được thể hiện ở sự khác nhau giữa lao động sống và lao động văn hoá. Lao động sống là lĩnh vực hoạt động có tính thực dụng hàng ngày, kết quả của nó tồn tại dưới hình thức "hoá thạch" các tài năng của lao động cụ thể. Lao động văn hoá vượt lên trên lao động sống, nó thể hiện giá trị phổ quát, là tổng các "hoá thạch" của lao động cụ thể. Những sản phẩm của lao động sống chỉ là những thời điểm, những yếu tố của sáng tạo văn hoá và phụ thuộc vào hoạt động sáng tạo văn hoá. Gônđentrích cho rằng, đặc trưng của hoạt động vật chất là ở chỗ, nó được chương trình hoá, điều chỉnh hoá bởi cơ chế văn hoá hiện hữu, còn cái sáng tạo lại được phát sinh từ các phản ứng bên trên văn hoá vật chất. Sự nội tâm hoá sức mạnh văn hoá vào bên trong hoạt động của cá nhân là sự nâng cao chất xã hội của cá nhân đó. Sức mạnh của năng lực sáng tạo vì thế cũng tác động đến hình thức sáng tạo vật chất, làm ra thế giới văn hoá. Văn hoá chỉ trở thành nền tảng của sáng tạo khi nó không bị quy về sản phẩm, về kết quả cố định, mà là một tổng năng lượng toàn vẹn luôn vận động cùng với cá nhân, hướng tới việc tích tụ năng lượng và tạo dựng sức mạnh con người. Vì vậy tiền đề quan trọng của hoạt động sáng tạo là khả năng thức tỉnh các động lực và cơ chế vận hành bên trong của tổng hoà năng lượng văn hoá. Đó là lúc chủ thể phát hiện ra các "nút thần kinh" văn hoá, xử lý một cách tinh tế các mâu thuẫn, những bước ngoặt và chỗ đứt đoạn, nắm bắt được những bí ẩn trong sự tương tác giữa các yếu tố của đối tượng. Bản thân các khuynh hướng văn hoá trở thành kim chỉ nam cho nhà sáng tạo tìm tòi, khám phá. Chỉ trong tình huống như vậy trong óc nhà sáng tạo mới lóe lên những cách
  6. lý giải bất ngờ và những phát kiến xuất thần kỳ diệu. Khả năng hướng tới một chỉnh thể văn hoá theo phương thức đó đã thể hiện ở Môda với toàn bộ những kết cấu bí ẩn của âm nhạc và ở Puskin với các sắc thái hài hoà của từ ngữ, nhịp điệu và tiết tấu thơ hết sức tinh tế. Mỗi nền văn hoá đều chứa đựng một tổng thể các phong cách và hình thức của tất cả các sản phẩm văn hoá vật chất và tinh thần: kỹ nghệ và kiến trúc, các quan niệm vật lý và các trường phái hội hoạ, các tác phẩm âm nhạc và những công thức toán học... Nhà sáng tạo với tư cách chủ thể văn hoá nhìn thấy hình thức và phong cách bên trong văn hoá như là quy luật sắp xếp toàn bộ những hiện tượng phong phú, đa hình, đa dạng của đời sống hiện thực, của các lĩnh vực khác nhau trong một thời đại và vấn dụng chúng vào việc biến đổi cách nhìn cũng như quan niệm của mình về thế giới và về cả phương thức hoạt động. Sự xuất hiện đường sắt ở thế kỷ XIX đã làm biến đổi nhịp điệu và cấu trúc thơ ca Nga. Sự khám phá ra thế giới vi mô đầu thế kỷ XX đã phá vỡ nhiều quan niệm và lối sống truyền thống. Tư tưởng triết học về khả năng nhận thức vô tận của con người đã đặt nền móng cho lâu đài hội hoạ và văn chương hiện đại, thậm chí cho cả sự phát triển nhiều trường phái tôn giáo. Những hình thức của văn hoá được hình thành như là "bộ mã" xã hội, chúng quy định đặc trưng, bản chất xã hội và thời đại, nó không mất đi khi thời đại của nó kết thúc. Thâu tóm được "bộ mã" đặc trưng, bản chất xã hội và thời đại bên trong văn hoá, cá nhân sẽ khẳng định được mình như là chủ thể sáng tạo độc đáo và lúc đó, sáng tạo không phải là sự tìm tòi tuỳ tiện mà là có mục đích. Sứ mệnh chân chính của nhà sáng tạo không phải là phá vỡ, bác bỏ hình thức văn hoá, mà là dựa vào nó, theo đuổi nó, vươn tới bản chất của văn hoá. Nguyên tắc này giải phóng nhà sáng tạo khỏi tình trạng lặp lại cái
  7. cũ, thức tỉnh tiềm năng sáng tạo ở họ và thôi thúc năng lực đó chiếm lĩnh những hình thức, những cảm quan thế giới ở mức độ cao hơn. Trong một nền văn hoá phát triển, tức nền văn hoá có những hình thức chuẩn xác và hoàn thiện thì thậm chí, một nghệ sĩ bình thường cũng có thể tạo ra những tác phẩm có chất lượng. Trường phái hội hoạ lãng mạn Hà Lan và Đức thế kỷ XIX hay thành tựu thơ ca hiện đại Nga được sinh ra trên một trình độ cao không chỉ ở các nghệ sĩ lớn mà cả ở nhiều người trung bình. Nguyên nhân của tình hình đó là do giá trị lớn lao của nghệ thuật truyền thống chiếm vị trí đặc biệt trong các nghệ sĩ. Và ngược lại, ở đâu mà hình thức văn hoá thiếu lành mạnh, chẳng hạn như phong cách giả cổ điển trong kiến trúc hoặc hội họa pop-art hiện đại nguỵ tạo ra sự phù hợp giữa xã hội và tự nhiên không thể là nghệ thuật chân chính. Bởi hình thức văn hoá là cái không thể bịa ra được, một hình thức do nhà sáng tạo bịa ra sẽ hiện nguyên hình cái giả. Hình thức của mỗi nền văn hoá được quy định bởi các quan hệ đô/ với tồn tại, đối với thế giới sự vật cũng như với không, thời gian. Điều này cũng liên quan tới quan niệm về vị trí của con người trong thế giới, quan niệm về hình thức và chuẩn mực tư duy, những phẩm chất và hành vi thiết yếu đối với một nền văn hoá, liên quan tới sự xác định các mối quan hệ giữa con người với con người và với các quan niệm sống của nhà hoạt động, chúng cũng trở thành những nguyên nhân bên trong của khát vọng tìm tòi, làm cơ sở cho những dự đoán và phát kiến trong sáng tạo.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản