Văn Học Thiền Môn

Chia sẻ: Ngoc Ha | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
223
lượt xem
40
download

Văn Học Thiền Môn

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ngày nay trong nền văn học Việt nam Hán văn đã không còn thịnh hành nữa...4. Hồ bạn khởi thiền quan, giáo diễn chân thừa, nhất tánh viên minh hoàn bản tế. ... Trên bờ dựng cảnh chùa, diễn cảnh chân thừa giáo, nhất tánh tròn sáng trở ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Văn Học Thiền Môn

  1. Văn Học Thiền Môn LTS. Ngày nay trong nền văn học Việt Nam Hán văn đã không còn thịnh hành nữa, mà chỉ còn có ở trong phạm vi nghiên cứu. Nhất là các câu đối Hán văn thì người ta chỉ còn thấy ở các nơi thờ tự như đình chùa. Vào những thập niên qua, Hòa Thượng Thích Thiện Siêu , một vị cao tăng túc nho, cũng đã làm rất nhiều câu đối chữ Hán tặng cho các Chùa, các khuôn hội Phật Giáo và các tịnh xá. Đặc biệt là thể đối của Hoà Thượng rất súc tích , sát với thục tế và hoàn cảnh. Sau đây chúng tôi xin đăng một số câu đối Hán văn mà Hòa Thượng đã tặng cho các Chùa, trích trong bài báo của Tập Văn Phật Đản . 1.- Nhập môn nghi xả dung thường tánh (tặng Tòng Lâm Lam Sơn ở đồi Lam Sơn làng Hựu Đáo tự ưng sinh hoan hỷ tâm Bảo, Huế 1968) 入門宜捨庸常性 4. Hồ bạn khởi thiền quan, giáo diễn chân thừa, 到寺應生歡喜心 nhất tánh viên minh hoàn bản tế. Sơn đầu khai thắng hội, thính lai thuyết pháp, Nghĩa : thâm tâm tín nhạo ngộ tiền căn. Vào cổng (chùa) nên bỏ tánh tầm thường. 湖 畔起 禪 關 敎 演 眞乘 一 性 圓 明 還 Đến chùa hãy sinh tâm hoan hỷ. 本際 山 頭 開勝會聽 來 說 法 深 心 信 樂 悟 2. Nhân y pháp, pháp y nhân, động tĩnh tùy duyên 前 根 tiêu cựu nghiệp Phật tức tâm , tâm tức phật , cổ kim bất dị Nghĩa : hợp chân tông. Trên bờ dựng cảnh chùa, diễn cảnh chân thừa giáo, 人依法法依人動靜隨 緣 消舊業 nhất tánh tròn sáng trở về nơi bản thể 佛即心心即佛古今不 異 合眞宗 Đầu non mở hội lớn, người đến nghe pháp, phát tâm tin vui sâu xa, ngộ đuợc tiền căn. Nghĩa : (tặng chùa Hổ Sơn do tổ Tế Căn lập tại Tuy Hòa, Người nương pháp, pháp nương người, động tĩnh kiến thiết lại năm 1984) tùy duyên tiêu nghiệp cũ. Phật tức tâm, tâm tức Phật, xưa nay chẳng khác 5. Hàm Long tái ngọ, đàm kinh phò luật xuất chân hợp chân tông. thuyên, ứng vật khúc trần, huề đăng thật địa (Câu đối tặng các Chùa) Báo Quốc trùng quang, bát hỏa ma chuyên truyền tổ đạo đương cơ trực chỉ, bất lạc kỳ đồ. 3. Kim địa tòng lâm, cô nguyệt quang hàm không 含龍再午談經夫律出眞詮應物曲 tức sắc 陳攜登實地 Sơn đầu bảo sát, quần loan thúy tỏa cổ do 報國重光撥火磨磗傳祖道當機直 kim 旨不落岐途 金地叢林孤月光含空即色 山頭寶剎群巒翠鎖古犹今 Nghĩa : Nghĩa : Núi Hàm Long trở lại giữa trưa, giảng kinh phù trì Đất báu lập Tòng lâm, trăng rọi ánh vàng, không giới luật, nêu rõ lý mầu, ứng theo căn cơ cao thấp mà tức sắc trình bầy quanh co để dìu dắt lên thật địa. Non cao dựng Chùa Phật, núi phơi màu lục nay Chùa Báo Quốc trở lại rạng quang, bới lửa mài gạch giống xưa. để truyền tổ đạo, ngay vào căn cơ chỉ thẳng, không trang 22 Nguoàn Ñaïo soá 59
  2. bị rơi lạc vào đuờng rẽ. Mở rộng hạnh lớn, phát tâm sâu, vạch áng mây (Câu đối bàn thờ Tổ Chùa Báo Quốc sau khi kiến mê muội, dạy người vun bồi Phật chủng không biết thiết lại năm 1969) mỏi mệt. Cứu xét chân không, nghiên tầm diệu chỉ, mở toang 6. Khiêm nhẫn hữu dư, phát ý viên thành Tam mặt trời trí tuệ, gặp nơi gặp lúc, dụng tích truợng tụ giới. hưng chấn tông phong, Trí bi vô ngại, chung thân bất thối Tứ hoằng (tặng tháp HT Thích Trí Thủ , Chùa Báo Quốc tâm. - Huế) 謙忍有餘發意圓成三聚戒 智悲無礙終身不退四弘心 9. Ngự lãnh thanh phong, phất diện vấn thùy năng tác Phật Nghĩa : Bình tiền khô mộc, đãi nhân tri ngộ vi khai Đức khiêm tốn nhẫn nhục có thừa, phát tâm tròn hoa. thành Tam tụ giới. 御嶺清風拂面問誰能作佛 Trí bi vô ngại, trọn đời không thối tâm bốn Hoằng 屏 前 枯 木 待 人知 悟 爲 開 花 thệ nguyện. (Câu đối ở tháp HT Thanh Trí, Chùa Báo Quốc , Nghĩa : Huế) Gió lành đỉnh Ngự, phe phất trên mặt hỏi ai hay làm Phật 7. Chỉ đồ kiến tánh , ngôn hạ tri quy, thùy thị can Cây khô trước Ngự Bình, chở người tri ngộ để vì đầu tiến bộ họ nở hoa. Bát thảo tham huyền, thanh tiền ngộ chỉ, thí (tặng Khuông Hội PG Ngự Bình - Huế) năng tâm nội thừa đương 指 圖 見 性 言 下 知 歸 誰 是 竿 頭 進 10. Tức tục nhi chân, xứ xứ tận thành Hoa tạng 步 giới Bội trần hiệp giác, tâm tâm viên nhiếp Đại 撥草參玄聲前悟旨始能心內承 thừa môn. 當 即俗而眞處處盡成花藏界 Nghĩa : 背塵合覺心心圓攝大乘門 Chỉ nơi bản đồ mà thấy tánh, ngay dưới câu nói biết nẻo về, ai là kẻ đầu sào bước thẳng tới. Nghĩa : Vạch gai gốc tìm học đạo thâm huyền, trước khi Tức tục mà chơn, xứ xứ đều thành Hoa Tạng tiếng phát ra đã ngộ tông chỉ, mới tự trong lòng thừa giới. đương lấy đuợc. Bội trần hiệp giác, tâm tâm viên nhiếp Đại Thừa (Câu đối ở tháp Tổ Chùa Báo Quốc -Huế và bàn môn. thờ Tổ ở Long Sơn – Nha Trang) (tặng tháp HT Mật Nguyện, Chùa Trúc Lâm - Huế) 8. Quảng đại hạnh, phát thâm tâm, bát thác mê vân, bất quyện hối nhân bồi Phật chủng. 11. Quảng khai phương tiện môn, thiện xiển tần Cứu chân không, nghiên diệu chỉ, xung khai tuệ già phổ kiến pháp tràng vu xứ xứ nhật, phùng trường trác tích chấn Tông phong Hương biến trang nghiêm độ, tư bồi đạo thụ cao tiêu đức bổn ư trùng trùng 廣大行發深心撥拓迷雲不倦誨 廣開方便門善闡頻伽普建法場 人培佛種 于處處 究眞空硏妙旨沖開慧日逢場卓 香遍莊嚴土滋培道樹高標徳本 錫振宗風 Nghĩa : 於重重 Nguoàn Ñaïo soá 59 trang 23
  3. Mở tiếng chuông sớm , khi dứt nối thì một mảng Nghĩa : bụi trần không dính mắc. Mở rộng cửa (pháp môn) phưong tiện, khéo tuyên Hiểu được cảnh mộng huyễn tươi khô rõ ràng tam dương lời pháp, khắo dựng pháp tràng ở mọi xứ. giới chỉ do tâm. Hưong khắo cõi trang nghiêm, vun bồi gốc đạo, (tặng chùa Tây Thiên -Huế) nêu cao cội đức tầng tầng lớp lớp. (tặng HT Trí Thủ năm 1970) 15. Hậu thương hải, tiền bích giang, thủy nguyệt ba quang tương ánh hiện 12. Bội giác hiệp trần, mộng lý na tri Thân thị Triêu kim kinh, mộ ngọc kệ, cổ chung thanh huyễn. hưởng cộng diêu hưng Quy nguyên đắc chỉ, định trung thường chiếu 後滄海前碧江水月波光相映現 Phật do tâm. 朝金經暮玉偈皼鍾聲響共遥興 背覺合塵夢裡那知身是幻 歸源得旨定中常照佛猶心 Nghĩa : Sau biển rộng, trước sông xanh, trăng nước chập Nghĩa : chờn cùng ảnh hiện. Trái giác hiệp trần, trong mộng chẳng hay thân là Sáng kinh vàng, chiều kệ ngọc, tiếng chuông huyễn trốngcùng vang dội xa. Về nguồn đặng gốc, lúc định thường thấy Phật tại tâm 16. Hoa bảo phiệt, phiếm từ hàng, bạt tế ái hà (tặng chùa Hương Sơn - Huế) danh lợi khách Diễn kim kinh, tuyên diệu kệ, hoán hồi khổ hải 13. Bảo ấn tông phong, chỉ vật truyền tâm, nhất mộng mê nhân cú thoại đầu chân liễu ngộ. 找寶筏泛慈航拔濟愛河名利客 Tịnh quang cao đức, tùy duyên hóa đạo, huyền 演金經宣妙偈喚廻苦海夢迷人 nhai tán thủ tận quán thông. 寶 印 宗 風 只 物 傳 心 一 句 話 頭 眞 Nghĩa : 了悟 Thả bè báu, dong thuyền từ, vớt khách lợi danh 淨光高德隨緣化道懸崖散手盡 trên biển ái. 觀通 Diễn kinh vàng, tuyên kệ diệu, gọi người mơ mộng giữa sông mê. Nghĩa : (tặng Khuông hội An Dương - Huế) Tông phong bảo ấn , chỉ vật truyền tâm, một câu thoại đầu liền liễu ngộ. 17. Phạm vũ biến trang nghiêm, nhật phóng trùng Cao đức tịnh quang, tùy duyên hóa đạo, vực thẳm tân cảnh sắc buông tay hiểu thấu tuờng. Liên đài thường xán lạn, vân khai hiển hiện (tặng chùa Bảo Tịnh – Phú Yên) tường quang 梵宇遍莊嚴日放重新景色 14. Tục đoạn khởi thần chung thức đắc tiêm trần 連臺常燦爛雲開顯現祥光 bất trứ nhãn Nghĩa : Vinh khô thành mộng huyễn giác lai thế giới tổng Chùa Phật trang nghiêm, ảnh nhật linh linh cảnh duy tâm. sắc mới. 續斷起晨鐘識得纖塵不著眼 Đài sen xán lạn, vầng mây hiển hiện ánh sáng 榮枯成夢幻覺來世界總唯心 lành. Nghĩa : 18. Kiều thụ lăng không thất bảo trang nghiêm trang 24 Nguoàn Ñaïo soá 59
  4. quang Phật sát Trăm ngàn ức kim thân, chánh pháp tuyên dương, Tùng lâm tủng tú tứ sơn loan bích ánh Thiền nhiếp hóa chúng sanh về nẻo giác. quan. Ba mươi hai bảo tướng, ánh từ chiếu khắp, dìu dắt 橋樹陵空七寶莊嚴光佛剎 muôn loại thoát đường mê. 叢林聳秀四山巒碧映禪關 (ba cặp đối trên tặng chùa Bát Nhã – Phú Yên) Nghĩa : 20. Cảnh trị thâm u, dã thảo nhàn hoa vong tuế Cây vút tầng không, bảy báu trang nghiêm cõi nguyệt. Phật Sơn cư khoáng khoát, thần chung mộ cổ liễu sắc Rừng tùng xinh tốt, bốn bề non biếc cửa Thiền. không. 境値深幽野草閑花亡歲月 19. Thiên bách kim thân , giáo pháp tuyên dương, 山居曠闊辰鍾暮皼了色空 nhiếp chúng sanh vu giác địa. Tam thập nhị bảo tướng, từ quang biến chiếu, Nghĩa : cứu vạn loại xuất mê đồ. Gặp cảnh thâm u, cỏ nội hoa đồng quên năm 千百億金身敎法宣揚攝眾生于 tháng. 覺地 Ở non sáng rộng, chuông sớm trống chiều rõ sắc không. 三十二寶相慈光遍照救萬類出 迷途 Nghĩa : Niềm tin trong quan niệm của Phật giáo Phật giáo không ngừng nhấn mạnh đến nhu cầu liên kết niềm tin và lý trí để tiến tới con đường tâm linh. Bồ Tát Long Thọ, vị thầy Ấn Độ ở thế kỷ thứ II tuyên bố trong cuốn sách luận nổi tiếng của ngài, “Tràng hoa quý giá” , rằng niềm tin và lý trí, hay niềm tin và sự phân tích là những đòi hỏi của khát vọng tâm linh. Niềm tin sẽ dẫn các bạn đến sự giải thoát trọn vẹn. Trong bối cảnh của việc thực hành tâm linh, điểm quan trọng là niềm tin phải có nền tảng là lý trí và sự hiểu biết. Để phát triển một niềm tin xuất phát từ lý trí hay sự hiểu biết, một người có khát vọng tâm linh bước đầu phải tỏ ra có sự cởi mở tinh thần. Do thiếu từ ngữ thỏa đáng chúng ta có thể gọi đó là tình trạng hoài nghi lành mạnh. Khi các bạn ở trong trang thái tinh thần cởi mở, các bạn có thể lý luận; và qua lý luận, các bạn có thể triển khai một sự hiểu biết nào đó. Khi sự hiểu biết ấy được củng cố, nó sẽ sinh ra một xác tin, một niềm tin, một lòng cậy trông vào đối tượng ấy. Lúc bấy giờ chánh tín, lòng cậy trông và sự tín nhiệm này sẽ rất vững chắc bởi vì nó cắm rễ trong lý trí và sự hiểu biết. Chính vì thế, chúng ta thấy đức Phật trong các kinh điển khiển trách các môn đệ chấp nhận lời Ngài chỉ vì lòng tôn kính đối với nhân cách của Ngài. Đức Phật khuyến khích họ đem lời Ngài ra thử thách giống hệt một người thợ kim hoàn đem vàng ra thử trong lửa. Chỉ khi đó, họ mới hiểu mình có thể chấp nhận giá trị của lời Phật dạy hay không. (Theo Le Dalai Lama parle de Jesus) Nguoàn Ñaïo soá 59 trang 25
Đồng bộ tài khoản