Vi khuẩn gây bệnh trên người_ Vi khuẩn lao

Chia sẻ: mymy310890

Lao là tình trạng nhiễm vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis, thường gặp nhất ở phổi nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương ( lao màng não), hệ bạch huyết, hệ tuần hoàn ( lao kê), hệ niệu dục, xương và khớp.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Vi khuẩn gây bệnh trên người_ Vi khuẩn lao

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC


ĐỀ TÀI:
Vi Khuẩn Gây Bệnh Trên Người
Vi Khuẩn Lao
GVHD: Th.S Bạch Phương Lan
2
SVTH: 1. Trần Quốc Thạch 0707350 (NT)
2. Đào Duy Hiệp 0707354
3. Cao Phong Phúc 0707359
4. Phạm Hữu Sinh
0707360
5. Đào Thị Thúy Phượng 0707363
6. Võ Thị Bích Trâm 0707364
7. Hồ Thị Mộng Trinh 0707365
8. Phạm Thị Nhung 0707373
9. Trần Thị Yến 0707379
10. Lê Thị Hái Hà 0707380 (BCV)
11. Bùi Thị Mai 0707383




Lớp: 04SH03
3




I. KHÁI NIỆM
•Robert Koch trong phòng thí nghiệm.
4
Lao là tình trạng nhiễm vi khuẩn
Mycobacterium tuberculosis,
thường gặp nhất ở phổi nhưng
cũng có thể ảnh hưởng đến
hệ thần kinh trung ương (lao màng
não), hệ bạch huyết, hệ tuần hoàn
(lao kê), hệ niệu dục, xương và
khớp.
5




vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis
6

Hiện nay lao là bệnh nhiễm khuẩn
chính và thường gặp nhất, ảnh hưởng
đến 2 tỉ người tức 1/3 dân số, với 9
triệu ca mới mỗi năm, gây 2 triệu
người tử vong, hầu hết ở các
nước đang phát triển.
7

Vi khuẩn lao thuộc loại vi khuẩn có cấu
tạo đặc biệt bởi lớp sáp do đó sức đề
kháng của chúng rất mạnh với môi trường
bên ngoài khi chúng ra ngoại cảnh. Ngay
cả cồn và axit ở một đậm độ nhất định
làm chết các vi khuẩn khác nhưng vi
khuẩn lao vẫn tồn tại. Vì vậy người ta
gọi vi khuẩn lao là loại vi khuẩn kháng
cồn-kháng toan.
8

Tác nhân gây bệnh lao,
Mycobacterium tuberculosis (MTB), là
vi khuẩn hiếu khí. Vi khuẩn này phân
chia mỗi 16 đến 20 giờ, rất chậm so với
thời gian phân chia tính bằng phút của
các vi khuẩn khác (trong số các vi
khuẩn phân chia nhanh nhất là một
chủng E. coli, có thể phân chia mỗi 20
phút).
9
Mycobacterium tuberculosis không
thuộc nhóm Gram + hay Gram – vì
phương pháp nhuộm Gram không
nhuộm được nó mặc dầu vi trùng này
cũng có 1 màng bọc peptydoglycan.
Ngoài màng này còn có 1 màng sáp
làm cho các thuốc nhuộm Gram không
thấm vào được.
10




II. BỆNH HỌC
1. Lây truyền 11
Lao lan truyền qua các giọt nước trong
không khí từ chất tiết khi ho, nhảy mũi,
nói chuyện hay khạc nhổ của người
nhiễm vi khuẩn hoạt động. Tiếp xúc gần
gũi (kéo dài, thường xuyên, thân mật) là
nguy cơ nhiễm bệnh cao nhất (khoảng
22%, nhưng có thể đến 100%).
• Vi khuẩn lao dưới kính hiển vi.




Vi khuẩn lao dưới kính hiển vi.

1-40 13
2. Bệnh sinh 13

Nhiễm lao bắt đầu khi trực khuẩn lao vào
đến phế nang, xâm nhiễm vào đại thực
bào phế nang và sinh sôi theo cấp số mũ.
Vi khuẩn bị tế bào đuôi gai bắt giữ và
mang đến hạch lympho vùng ở trung thất,
sau đó theo dòng máu đến các mô và cơ
quan xa, nơi mà bệnh lao có khả năng phát
triển: đỉnh phổi, hạch lympho ngoại biên,
thận, não và xương.
14

Lao được phân loại là trình
trạng viêm u hạt. Đại thực bào,
lympho bào T, lympho bào B và
nguyên bào sợi là các tế bào kết
tập lại tạo u hạt, với các
lympho bào vây quanh đại thực
bào.
15
Điều trị với kháng sinh thích hợp có 16
thể tiêu diệt được vi khuẩn và lành
bệnh. Vùng bị ảnh hưởng được thay
thế bằng mô sẹo.
Nếu vi khuẩn lao xâm nhập vào dòng
máu và lan toả khắp cơ thể, chúng tạo
vô số ổ nhiễm, với biểu hiện là các
củ lao màu trắng ở mô. Trường hợp
này được gọi là lao kê và có tiên
lượng nặng.
17



III. TÁC HẠI VÀ
CÁCH PHÒNG BỆNH
LAO
1. Tác hại 18
Bệnh lao tàn phá cơ thể, làm giảm khả năng lao
động của người bệnh, làm suy kiệt sức khoẻ của
người bệnh.
Bệnh lao đã làm cho cho nhiều gia đình lâm vào
cảnh đói nghèo, nếu người mắc lao không được
chuẩn đoán và điều trị kịp thời thì 50% số đó sẽ chết
trong vòng 5 năm, 25% trở thành bệnh nhân mãn tĩnh
tiếp tục lây bệnh cho mọi người và chỉ khoảng 25%
tự khỏi nếu sức khoẻ tốt.
Một người mắc bệnh lao không được điều trị mỗi
năm sẽ gây bệnh cho 15 – 20 người khác.
19
bệnh lao có thể tấn công tất cả
mọi cơ quan, từ màng não cho tới
ruột non đi qua xương, thận, tử
cung, thì bệnh lao phổi chiếm đến
80%. Laennec đã chứng minh tính
riêng biệt của bệnh ở những giai
đoạn khác nhau và phân biệt dạng
lao phổi khác với những sự nhiễm
trùng phổi khác.
2. Cách phòng ngừa bệnh lao 20

Bacille Calmette-Guerin hay BCG là
loại vắc-xin phổ biến hiện nay. Nó có
thể giúp phòng ngừa một số dạng
bệnh lao nguy hiểm tuy nhiên nó
không có hiệu quả tốt đối với bệnh
lao phổi, dạng bệnh lao phổ biến
nhất.
21
Do lây lan theo không khí thở hít
nên khi trong nhà có người bị lao
phổi việc phòng tránh. Ðờm và các
chất khạc nhổ, các hạt nước bọt li
ti chứa trực khuẩn lao bắn ra không
khí khi người lao phổi ho, khạc là
yếu tố lây truyền bệnh lao quan
trọng nhất.
Với người đang bị bệnh thì biện pháp 22
ngăn ngừa lây lan bệnh là được điều
trị đến nơi đến chốn, đủ số lượng
thuốc, đủ liều lượng thuốc, đủ thời
gian chữa trị, điều trị có sự theo dõi
chặt chẽ của thầy thuốc chuyên khoa:
Thường khi không còn tìm thấy trực
khuẩn lao trong đờm nữa sau nhiều
lầm làm xét nghiệm đờm thì khả năng
lây nhiễm ở người bị bệnh giảm
Loại trừ nguồn gốc gây lan truyền 23
bệnh.
Bệnh nhân lao phổi và cuống họng
cần được chẩn đoán càng sớm càng
tốt, tạm thời để họ ở riêng và bắt đầu
điều trị ngay bằng dược phẩm để tiêu
diệt vi khuẩn gây lao. Thường
thường, sau 2-3 tuần lễ uống thuốc
đều đặn, thử nghiệm đàm âm tính thì
khả năng lây truyền bệnh giảm.
3.Một số vấn đề liên quan 24

- Lao kháng thuốc:
Các nhà nghiên cứu cho rằng cơ chế
kháng thuốc của vi khuẩn lao là do di
truyền ở tầm nhiễm sắc thể bằng cách
đột biến sinh ra chủng vi khuẩn lao kháng
thuốc. Hiện tượng này diễn ra khi những
chủng vi khuẩn lao chưa một lần tiếp xúc
với thuốc chống lao nhưng ngay từ khi
tiếp xúc lần đầu tiên chúng đã kháng lại
25
Vì vậy, nhiều tác giả đã khẳng định
cơ chế kháng thuốc của vi khuẩn lao
là do sự đột biến ngẫu nhiên của
nhiễm sắc thể của vi khuẩn lao đã
trải qua sự sao chép và có thể được
chọn lọc do trong khi điều trị không
sử dụng đầy đủ liều lượng và không
kết hợp các loại thuốc với nhau.
26


Để hạn chế vi khuẩn lao
kháng thuốc, nếu có điều
kiện nên tiến hành phân lập,
xác định vi khuẩn ngay từ
đầu.
27

Từ trong chất dịch mà bệnh nhân ho
khạc làm bắn ra, vi khuẩn lao có
thể đi vào mắt người lành dễ dàng
như một hạt bụi, gây bệnh ở nhiều
tổ chức mắt như da mi, củng mạc,
màng bồ đào...
28
Các tổn thương mắt:
Lao da mi
Lao kết mạc, củng mạc
Lao giác mạc
Lao màng bồ đào
Lao võng mạc
Lao màng nhện và giao thoa thị giác
Viêm mủ toàn mắt cấp tính
29




IV. KẾT LUẬN
30

Lao được coi như bệnh của người
nghèo, với lợi tức thấp, sống trong
điều kiện kém vệ sinh, nhà cửa chật
chội, không thoáng khí, bệnh dễ lây
lan. Nghèo đói lại làm bệnh lao dễ
phát triển, khó chữa vì người dân
không đáp ứng được với phí tổn trị
bệnh.
31

Theo tổ chức Y tế Thế giới,
bệnh lao đang có khuynh
hướng tái xuất hiện tại các
quốc gia đang phát triển, đặc
biệt là khi lao kết hợp với
nhiễm HIV và với các trường
hợp vi khuẩn lao kháng thuốc.
32
Tổ chức cố gắng giúp các quốc gia
cải tiến hệ thống điều trị với trực
tiếp theo dõi trị liệu (DOT-directtly
observe therapy), bảo đảm sự tuân thủ
của bệnh nhân dùng thuốc.
Cao vọng của tổ chức là vào thập niên
2050, bệnh lao sẽ không còn là vấn
nạn y tế của mọi quốc gia và tỷ lệ
bệnh sẽ là 1/1 triệu người dân.
33

Và cũng không còn các trường hợp
lao kháng thuốc, di chuyền tiếp cận
với người lành trên máy bay, xe
chuyên chở công cộng cũng như nơi
có nhiều dân chúng tụ họp, để lây
truyền căn bệnh nan trị.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản