Viêm gan mạn: Âm thầm mà nguy hiểm

Chia sẻ: Tae_in Tae_in | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
80
lượt xem
7
download

Viêm gan mạn: Âm thầm mà nguy hiểm

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Viêm gan mạn (VGM) là biểu hiện của nhiều loại tổn thương gan do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó viêm và hoại tử tế bào gan kéo dài trên 6 tháng. Thể nhẹ là thể không tiến triển hoặc tiến triển rất chậm và không đưa đến xơ hoặc ung thư gan, còn thể nặng là thể viêm hoại tử dồn dập hoặc nhiều đợt tiến triển tấn công vào tế bào gan để rồi cuối cùng đưa đến xơ và ung thư hóa. Nguyên nhân nào dẫn tới VGM? VGM do nhiều nguyên nhân, thường gặp là...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Viêm gan mạn: Âm thầm mà nguy hiểm

  1. Viêm gan mạn: Âm thầm mà nguy hiểm Lấy máu xét nghiệm huyết học và sinh thiết gan để chẩn đoán bệnh Viêm gan mạn (VGM) là biểu hiện của nhiều loại tổn thương gan do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó viêm và hoại tử tế bào gan kéo dài trên 6 tháng. Thể nhẹ là thể không tiến triển hoặc tiến triển rất chậm và không đưa đến xơ hoặc ung thư gan, còn thể nặng là thể viêm hoại tử dồn dập hoặc nhiều đợt tiến triển tấn công vào tế bào gan để rồi cuối cùng đưa đến xơ và ung thư hóa. Nguyên nhân nào dẫn tới VGM? VGM do nhiều nguyên nhân, thường gặp là sau viêm gan virut nhất là B, C và phối hợp với D. Gần đây là VGM G; VGM tự miễn, VGM do thuốc. Ngoài ra, một số ít trường hợp còn do rối loạn di truyền, biến dưỡng; ngay cả viêm gan do rượu cũng có thể gây ra VGM. Có các loại VGM nào?
  2. Có nhiều cách để phân loại VGM. Hiện nay, người ta phân loại dựa vào sự phối hợp của lâm sàng, huyết thanh học và thay đổi về mô học nên cho nhiều giá trị thông tin hơn. Phân loại VGM dựa trên các yếu tố sau: Theo nguyên nhân: chúng ta có VGM do virut (chủ yếu là virut B, C phối hợp D); VGM tự miễn, VGM do thuốc; VGM không rõ nguyên nhân. Theo mức độ bệnh: Sự phân chia độ là dựa vào sự lượng giá mô học của hoạt tính viêm hoại tử khi sinh thiết gan. Thực tế lâm sàng VGM được chia ra 3 mức độ: nhẹ, vừa và nặng. Theo giai đoạn: Phân loại này phản ánh giai đoạn tiến triển của bệnh, dựa trên mức độ xơ gan. Theo cách phân loại này, chúng ta có VGM không có xơ, có xơ nhẹ, có xơ vừa, có xơ nặng và xơ cầu nối, có xơ gan thật sự. Phân loại phối hợp với mô học, chúng ta có: VGM tồn tại, VGM tiểu thùy, VGM hoạt động. Tổn thương ở gan diễn ra như thế nào? Tổn thương chính trong VGM, nhất là VGM hoạt động là tổn thương giải phẫu bệnh, đây cũng là một tiêu chuẩn chính trong chẩn đoán bệnh. Các tổn thương thường phối hợp giữa thâm nhiễm tế bào viêm, hoại tử và xơ hóa.
  3. Thâm nhiễm tế bào viêm chủ yếu là ở khoảng cửa, làm cho khoảng cửa bị giãn rộng, viêm còn xảy ra ở quanh các tiểu thùy gan, với các tế bào gan bị hoại tử. Các tế bào viêm thâm nhiễm chủ yếu là các tế bào viêm đơn nhân, nhất là tế bào lympho và tương bào, tế bào đơn nhân, đôi khi còn có tế bào đa nhân trung tính và ái toan. Hoại tử tế bào gan thường nặng và lan rộng, đặc biệt là hoại tử từng đám nhỏ vài ba tế bào ở chỗ tiếp cận với khoảng cửa gọi là hoại tử kiểu mối gặm, rất đặc trưng cho VGM hoạt động. Một loại hoại tử khác cũng thường gặp là hoại tử kiểu cầu nối, nối liền khoảng cửa và tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy. Trong trường hợp hoại tử cấp và nặng như trong thể bán cấp có hoại tử đám hoặc mảng. Xơ và nốt tân tạo thay đổi ít nhiều tùy theo giai đoạn diễn tiến của bệnh. Trong giai đoạn sau, xơ chiếm ưu thế và làm cho cấu trúc gan hoàn toàn bị đảo lộn, đồng thời có sự xuất hiện của nốt tân tạo, còn biểu hiện viêm thì lại giảm dần cho hình ảnh giải phẫu bệnh như trong xơ gan và cuối cùng có thể bị ung thư hóa. Biểu hiện của VGM Triệu chứng khởi đầu có thể biểu hiện những đợt rầm rộ như trong viêm gan cấp (l/3 trường hợp), phần còn lại thường âm thầm làm phần lớn bệnh nhân không nhận biết được, thường chỉ biểu hiện bởi triệu chứng cơ năng chung là mỏi mệt, cảm giác nặng tức vùng hạ sườn phải, nhiều lúc có đau cơ, đau khớp hoặc nhiều lúc chỉ có cảm giác nhức mỏi chung chung.
  4. Trong những đợt tiến triển, các triệu chứng thường phong phú và rầm rộ hơn với sốt, vàng da, vàng mắt, nước tiểu vàng hoặc sẫm màu, đau cơ, đau khớp, nhất là đau tức vùng gan và ngứa. Khám thấy gan to vừa, căng chắc, ấn đau tức, vàng da, vàng mắt, hồng ban và giãn mạch hình sao. Có thể có lách to, cổ trướng... Các biểu hiện ngoài gan có thể gặp: ban da, viêm tuyến giáp tự miễn Hashimoto, viêm mạch, viêm cầu thận, hội chứng Sjogren, viêm đại trực tràng loét chảy máu, thiếu máu, chảy máu do giảm tiểu cầu. Giai đoạn sau khi đã có biến chứng xơ gan, các biểu hiện viêm thường giảm dần, thay vào đó là các triệu chứng của xơ gan với cổ trướng và suy gan là nổi bật; hoặc các triệu chứng của ung thư gan với gan rất lớn, cứng, có nhiều khối u lổn nhổn. Để chẩn đoán nguyên nhân và mức độ, giai đoạn bệnh cần làm các xét nghiệm huyết học, sinh hóa, miễn dịch và chẩn đoán hình ảnh. Điều trị và dự phòng bệnh VGM Tùy theo nguyên nhân và mức độ, giai đoạn VGM mà có các phương thức và thuốc điều trị khác nhau. Ngoài các thuốc điều trị nguyên nhân (thuốc ức chế virut, thuốc ức chế miễn dịch, corticoid), cần sử dụng thêm các thuốc điều trị triệu
  5. chứng đi kèm (nếu có), các thuốc tăng cường thể trạng và tăng sức đề kháng của cơ thể. Có thể xem xét điều trị ngoại khoa (ghép gan) nếu điều kiện cho phép. Cách tốt nhất là ngăn chặn các yếu tố nguy cơ dẫn tới VGM bằng cách tiêm phòng vaccin viêm gan các loại, hạn chế sử dụng rượu bia, khi dùng các loại thuốc cần có ý kiến của bác sĩ, ăn uống sinh hoạt và luyện tập điều độ để giữ cho lá gan khỏe mạnh.
Đồng bộ tài khoản