Viêm tuyến giáp (Kỳ 2)

Chia sẻ: Barbie Barbie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
59
lượt xem
6
download

Viêm tuyến giáp (Kỳ 2)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Viêm tuyến giáp bán cấp tính: A. Viêm tuyến giáp dạng u hạt bán cấp tính: Còn gọi là viêm tuyến giáp DeQuervain, viêm tuyến giáp tế bào khổng lồ, viêm tuyến giáp do Virut... 1. Bệnh căn: + Viêm tuyến giáp dạng u hạt bán cấp tính (Subacute granulomatous thyroiditis) có nhiều khả năng là do Virut. Tuy nhiên vẫn chưa xác định được rõ ràng mầm bệnh là Coxsackievirus, Adenovirus, Echovirus, virut Epstein-Barr, quai bị, hay cúm. + Triệu chứng làm nghĩ tới bệnh này có nguyên nhân do Virut là: bệnh nhân mắc bệnh thành một nhóm có liên...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Viêm tuyến giáp (Kỳ 2)

  1. Viêm tuyến giáp (Kỳ 2) II. Viêm tuyến giáp bán cấp tính: A. Viêm tuyến giáp dạng u hạt bán cấp tính: Còn gọi là viêm tuyến giáp DeQuervain, viêm tuyến giáp tế bào khổng lồ, viêm tuyến giáp do Virut... 1. Bệnh căn: + Viêm tuyến giáp dạng u hạt bán cấp tính (Subacute granulomatous thyroiditis) có nhiều khả năng là do Virut. Tuy nhiên vẫn chưa xác định được rõ ràng mầm bệnh là Coxsackievirus, Adenovirus, Echovirus, virut Epstein-Barr, quai bị, hay cúm. + Triệu chứng làm nghĩ tới bệnh này có nguyên nhân do Virut là: bệnh nhân mắc bệnh thành một nhóm có liên quan, có các tiền triệu chung giống các bệnh mắc Virut và có mùa mắc bệnh rõ rệt. Cũng có nghiên cứu thấy nhứng người có HLA-Bw35 thì hay bị mắc bệnh này.
  2. 2. Mô bệnh học: + Tổ chức tuyến giáp bị xâm nhiễm bởi các bạch cầu đa nhân, bạch cầu Lympho và các tế bào khổng lồ. Phản ứng viêm làm cho tổ chức tuyến giáp dính vào bao tuyến và tổ chức xung quanh tuyến. + Hình ảnh mô bệnh học đặc trưng là: có các mô hạt trong đó có các tế bào khổng lồ nằm rải rác bao quanh các nang tuyến giáp bị thoái hoá. 3. Triệu chứng chẩn đoán: a) Giai đoạn cấp tính: có thể kéo dài khoảng 4-8 tuần. Đây là thời kỳ quá trình viêm gây phá huỷ tổ chức và giải phóng Hocmon dự trữ của tuyến giáp. Các triệu chứng cơ bản là: + Đau vùng tuyến giáp: - Trước khi đau vài tuần thường có các tiền triệu như: đau cơ, sốt nhẹ, khó chịu và đau họng. - Lúc đầu thường đau một bên, đau lan tới tai và hàm dưới cùng bên, đặc biệt đau tăng lên khi nuốt nên bệnh nhân không dám ăn uống. Khi bệnh tiến triển đau có thể lan sang cả bên đối diện. + Khám tuyến giáp:
  3. - Tuyến giáp to ra, thường ở một bên nhưng có khi to cả hai bên. - Sờ thấy tuyến giáp có mật độ chắc, rất đau. + Có thể có các triệu chứng cường giáp như: mạch nhanh, sút cân, ra nhiều mồ hôi... + Xét nghiệm máu: - Số lượng bạch cầu bình thường, đôi khi tăng nhẹ. - Tăng tốc độ máu lắng. - Có thể tăng nồng độ T3 và T4 huyết thanh (phụ thuộc vào độ rộng và độ nặng của quá trình viêm). + Xét nghiệm tìm các kháng thể kháng tuyến giáp: Có thể có tăng nhẹ kháng thể kháng microsoma và kháng thể kháng thyroglobulin trong vài tuần sau đợt bệnh rồi trở lại bình thường trong vòng vài tháng. + Đo độ tập trung 131I phóng xạ tại tuyến giáp: 131 Độ tập trung I tại tuyến giáp thường bị giảm trong giai đoạn cấp của bệnh.
  4. + Chọc hút sinh thiết tế bào tuyến giáp bằng kim nhỏ: Xác định tế bào học của tuyến giáp khi cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác của tuyến giáp. b) Giai đoạn nhược giáp: thường kéo dài khoảng 2-3 tháng. Đây là thời kỳ tuyến giáp đã giải phóng hết các Hocmon dự trữ. Các triệu chứng cơ bản là: + Tuyến giáp thường không đau, mật độ chắc. + Bệnh nhân có thể vẫn duy trì được tình trạng bình giáp hoặc trong các ca nặng thì bị nhược giáp rõ. + Độ tập trung 131I phóng xạ: nói chung vẫn bị giảm mặc dù sẽ tăng lên dần dần ở giữa và cuối của giai đoạn này. c) Giai đoạn hồi phục: bắt đầu ngay sau giai đoạn nhược giáp. Đây là thời kỳ các cấu trúc tổ chức cũng như khả năng bài tiết của tuyến giáp dần dần được hồi phục. + Tuyến giáp thu nhỏ lại, không đau. + Toàn trạng trở về tình trạng bình giáp.
  5. 131 + Nồng độ Hormone giáp trong máu bình thường, Độ tập trung I phóng xạ tại tuyến giáp có thể tăng lên tạm thời (do tăng khả năng giữ Iot của tổ chức tuyến giáp đang tái tạo). 4. Chẩn đoán phân biệt: Cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh có viêm và đau vùng cổ trước, vùng hàm dưới hoặc vùng tai kèm theo có cường giáp hay không cường giáp.
Đồng bộ tài khoản