Viết báo về môi trường thời toàn cầu hóa (1)

Chia sẻ: Nguyen Hoang Phuong Uyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:24

0
458
lượt xem
142
download

Viết báo về môi trường thời toàn cầu hóa (1)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Viết báo về môi trường không chỉ bao hàm viết về những sự kiện môi trường. Định nghĩa về môi trường bao gồm mối quan hệ tích cực của con người đối với hoạt động sống, các yếu tố môi trường, cùng các hoạt động khác. Do đó viết về môi trường cũng có nghĩa là viết về sức khỏe. Viết báo về môi trường thời toàn cầu hóa I- Khái niệm viết báo về môi trường 1- Định nghĩa rộng Viết báo về môi trường không chỉ bao hàm viết về những sự kiện môi trường. Định nghĩa...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Viết báo về môi trường thời toàn cầu hóa (1)

  1. Viết báo về môi trường thời toàn cầu hóa (1) Viết báo về môi trường không chỉ bao hàm viết về những sự kiện môi trường. Định nghĩa về môi trường bao gồm mối quan hệ tích cực của con người đối với hoạt động sống, các yếu tố môi trường, cùng các hoạt động khác. Do đó viết về môi trường cũng có nghĩa là viết về sức khỏe. Viết báo về môi trường thời toàn cầu hóa I- Khái niệm viết báo về môi trường 1- Định nghĩa rộng Viết báo về môi trường không chỉ bao hàm viết về những sự kiện môi trường. Định nghĩa về môi trường bao gồm mối quan hệ tích cực của con người đối với hoạt động sống, các yếu tố môi trường, cùng các hoạt động khác. Do đó viết về môi trường cũng có nghĩa là viết về sức khỏe, kinh tế, chính trị, thương mại, phát triển, các nguồn vật chất và các vấn đề khoa học rộng lớn. Tóm lại, những quan hệ tương tác với các yếu tố môi trường nuôi sống và phục vụ con người, có khả năng làm thay đổi môi trường do sử dụng, phân phối hay lại phá vỡ các nguồn tài nguyên của nó.Tất cả hợp lại như là một đề tài cho lĩnh vực viết về môi trường. 2- Định nghĩa hẹp. Viết báo về môi trường là phản ánh những mối quan tâm về môi trường với cấp độ liên tục, từ cấp độ quốc tế tới cấp độ khu vực, quốc gia, cơ sở, cho đến cấp độ cá nhân, bao hàm những vấn đề cần giải quyết cũng như những hoạt động tích cực.
  2. 3- Đề tài về môi trường: Đề tài viết báo về môi trường rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực theo khái niệm về môi trường đã trình bày ở phần trên. Tuy nhiên đề tài viết báo về môi trường có nhiều cấp độ khác nhau như: a- Đề tài cấp độ quốc tế, bao gồm nhiều vấn đề rộng lớn có tính toàn cầu, khu vực như sự bùng nổ dân số, sự nghèo đói, nạn dịch và bệnh tật, nạn thiếu nước sạch, nạn ô nhiễm môi trường, nạn phá rừng, nạn sa mạc hoá, thủng tầng ô zôn, động vật tuyệt chủng, sự chuyển giao công nghệ v. v. b- Đề tài cấp độ quốc gia, có thể gây ảnh hưởng đến toàn quốc như trong lĩnh vực đô thị hoá, ô nhiễm do tiếng ồn, ô nhiễm nguồn nước và không khí, các dự án lồng ghép bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sử dụng các loại hoá chất, quản lý đất đai, diệt trừ côn trùng có hại, v.v. c- Những cấp độ thấp hơn, như giữ gìn môi trường khu phố, làng bản thôn xóm, phòng tránh dịch bệnh, ăn uống đúng cách và hợp vệ sinh, v .v. Tóm lại đề tài viết báo về môi trường rất rộng, bao trùm lên nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, nông nghiệp, v. v. và được thể hiện theo sự phân chia các trang, mục, chuyên đề trên các phương tiện thông tin đại chúng, các loại hình báo chí. Emil Salim, thành viên của WCED, chỉ ra rằng ở Châu Á nhiều nước như Hàn Quốc, Singapore cố gắng thoát khỏi tình trạng kinh tế yếu kém bằng cách phát triển những ngành kinh tế có khả năng xuất khẩu. Thành công của những nước này thúc đẩy các quốc gia khác trong khu vực làm theo họ và đã tạo ra thách thức thứ ba cho môi trường. Đó là sự phát triển của các đặc khu. Sự phát triển các đặc khu có đặc điểm là tăng trưởng kinh tế theo từng lĩnh vực riêng biệt như nông nghiệp, công nghiệp, khai thác mỏ, công việc xã hội và chăm sóc sức khoẻ. Nhưng tất cả đều theo tính riêng lẻ của nó chứ không hội nhập theo
  3. mục tiêu phát triển kinh tế. Theo Salim, chính những điều này làm huỷ hoại môi trường vì qui hoạch và sử dụng tài nguyên không hề quan tâm đến quản lý hệ sinh thái. Mỗi đặc khu chỉ đơn giản khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên mà không quan tâm đến khả năng tái tạo của chúng. Việc khai thác, sử dụng tiềm năng kinh tế một cách không hợp lý và hậu quả của ngày càng trở nên xấu hơn từ khi có sự góp mặt của công nghệ hiện đại. Nó làm thay đổi các cách tiếp cận truyền thống trong sản xuất nông nghiệp của người châu Á thông qua sử dụng các chất hoá học thay thế cho phân bón và thuốc trừ sâu tự nhiên. Cách mạng công nghiệp đồng thời cũng có ảnh hưởng tiêu cực đối với môi trường châu Á vì kinh tế thị trường đòi hỏi sự đầu tư ít hơn bằng những công nghệ lạc hậu rẻ tiền thay vì sử dụng công nghệ sạch đắt tiền hơn. Kết quả là sông, suối, biển, đất và không khí bị ô nhiễm, việc giải quyết những vấn đề về ô nhiễm ngày càng trở nên phức tạp và rắc rối hơn. Salim nhấn mạnh, "Đó là cuộc đấu tranh khốc liệt mà ở đó lợi nhuận trước mắt chiếm ưu thế so với những chi phí cho lợi ích lâu dài của môi trường. Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác mà không hề tính toán tới nhu cầu sử dụng bền vững vì các thế hệ mai sau". Nền kinh tế thế giới không phù hợp với môi trường có đặc điểm là sự giảm giá của tất cả các sản phẩm nông nghiệp, sắt thép và các loại khoáng sản để tạo nên sức mạnh về xuất khẩu cho châu Á. Trong khi đó các loại máy móc thiết bị và các mặt hàng công nghiệp nhập khẩu thì giá lại rất đắt so sự chênh lệch tỷ giá với các đồng tiền phương Tây và Nhật Bản. Điều này khiến cho các nước châu á phải khai thác nhiều tài nguyên hơn để đạt được cùng mức nhập khẩu máy móc so với 10 năm trước đây.
  4. Những thách thức Theo Elim Salim, những cố gắng để có thể vượt qua những trở ngại từ trước đến nay đều đã thất bại. Các quốc gia cần phải quyết tâm hơn nữa trong việc biến những lời nói, văn bản thành hành động. Một thách thức lớn hơn, đó là sự chuyển giao thông điệp về phát triển bền vững sao cho nó phải được tất cả mọi người trên thế giới hiểu rõ, đặc biệt là các nhà lãnh đạo, những người đưa ra những quyết định có thể ảnh hưởng đến tương lai của thế giới. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta có thể bắt đầu từ giáo dục phổ cập cơ bản. Bản ghi chú rất dễ hiểu và mạch lạc của Chương trình Nghị sự 21 của Michael Keating viết cho Trung tâm Nghiên cứu về Tương lai của Con người nêu ra rằng các quốc gia cần cố gắng trong công tác giáo dục. Những khái niệm về môi trường và phát triển bao gồm cả những vấn đề về dân số cần được lồng ghép vào tất cả các chương trình giáo dục và phải được phân tích kỹ lưỡng về nguyên nhân cơ bản. Đồng thời cũng cần chú ý đến việc đào tạo những người làm quyết định. Học sinh cần phải tham gia vào các chương trình học tập trong cộng đồng của địa phương về tình trạng môi trường bao gồm cả về nước sạch, vệ sinh, lương thực và các tác động về môi trường và kinh tế của việc sử dụng tài nguyên. Ngoài ra, các quốc gia cũng được khuyến khích đẩy mạnh việc tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đẩy mạnh các cuộc thảo luận tích cực và rộng rãi về môi trường. Nhưng hiện nay rất nhiều người gặp rắc rối khi họ tìm những thông tin mà họ cần. Cho dù được diễn đạt bằng một ngôn ngữ dễ hiểu, những thông tin đang có này vẫn chưa được quản lý thích hợp do thiếu công nghệ và những người có nghiệp vụ, người dân vẫn chưa nhận thức được giá trị của việc có được những thông tin như thế và cũng chưa hiểu rõ được tính cấp bách của một số vấn đề nghiêm trọng khác.
  5. Chương trình Nghị sự 21 nhấn mạnh rằng các thông tin về phát triển bền vững cần được cung cấp kịp thời cho những người cần đến chúng và phải làm sao cho người ta hiểu được những thông tin này một cách dễ dàng. Ngoài ra các quốc gia cũng cần phải đảm bảo rằng các cộng đồng địa phương, những người sử dụng tài nguyên phải nắm bắt được những thông tin này và có kỹ năng cần thiết để có thể quản lý môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững. Vai trò các nhà báo Emil Salim, thành viên của WCED, cho rằng vai trò của một nhà báo, hoặc một nhà biên tập là làm sao phải thông tin được những vấn đề nhức nhối này đến được với công chúng. Điều cực kỳ quan trọng là phải tạo được sự nhận thức của công chúng rộng rãi như một tiền đề nhằm thay đổi thái độ, cách nhìn của mọi người về vấn đề môi trường và phát triển. Về vấn đề này, các phương tiện thông tin đại chúng đóng một vai trò quan trọng có tính chiến lược trong việc nâng cao nhận thức của người dân và tạo ra cho họ cách nhìn mới về phát triển bền vững... Ơ từng quốc gia đơn lẻ cũng như trên toàn khu vực Châu A Thái Bình Dương Salim nói thêm: “Trong tình hình Châu A đang phải đương đầu với những thách thức lớn về môi trường như hiện nay, các bài báo cần phải đề cập được về các vấn đề môi trường, giải pháp thích hợp nhằm nâng cao chất lượng của môi trường, việc sử dụng tài nguyên cũng như việc các nguồn tài nguyên đang bị vắt kiệt”. Việc theo dõi chất lượng và các vấn đề về môi trường khá dễ dàng vì những vấn đề này có thể nhìn thấy được. Những việc viết về những vấn đề trong quản lý tài nguyên và sử dụng cạn kiệt tài nguyên thì lại khó khăn hơn nhiều do nhiều dữ liệu sẽ phải thu thập từ những lĩnh vực hoạt động khác nhau. Tương lai của châu A- Thái Bình Dương cũng sẽ đè nặng lên đôi vai của các nhà báo như nó đang đè lên trên đôi vai của các nhà lãnh đạo. Là một nhà báo, bạn
  6. phải truyền đạt thông tin và giúp tạo ra được công luận. Có rất nhiều vấn đề về môi trường, nhưng bạn phải chọn lọc kỹ lưỡng để đưa đến độc giả những thông tin, vấn đề thật cốt yếu. Vai trò nhà báo của bạn vì thế là hết sức quan trọng trong việc canh giữ môi trường chung cho các thế hệ tương lai. Để có thể làm tốt được vai trò này, các nhà báo cần phải cố gắng tạo thêm cho mình những vốn kiến thức cần thiết, thậm chí phải trở thành người bạn đáng tin đối với các nhà khoa học, các chuyên gia, và những người đi đầu trong lĩnh vực môi trường. Chức năng của nhà báo là truyền đạt thông tin nên nhà báo phải đảm bảo giữ được tính khách quan bằng cách tạo ra được một sự phân định rõ ràng giữa thông tin và dư luận. Nhà báo sống trong một xã hội mà ở đó người ta chỉ quan tâm đến nghỉ ngơi giải trí hơn là được thông tin. Đó là lý do tại sao nhà báo thường “chết” vì dựa dẫm quá nhiều vào những người được gọi là chuyên gia mà những tuyên bố của họ đôi khi hoá ra lại không chính xác do tính thiếu xác định của những phán đoán và những giả thuyết được đưa ra. Lúc này nhiệm vụ của người phóng viên là dứt mình ra khỏi điều được dự đoán này, và bắt tay điều tra toàn bộ vấn đề từ đầu, hoặc thậm chí điều này sau đó có thể trở thành một nghiên cứu của chính anh ta. Người phóng viên phải nhận thức được rằng kết quả của một bài báo về môi trường là những dữ kiện được thay đổi nhằm xác định được tính thiếu căn cứ của họ, không thuần tuý là tuyên bố của một nhà khoa học hay một chuyên gia. Nhưng để có đủ khả năng phân biệt được đâu là sự thật và đâu là viễn tưởng, nhà báo phải tự giáo dục bản thân mình để có khả năng truyền đạt kiến thức sao cho thật dễ hiểu đối với mọi người. Trong bài báo của mình “Hai thập kỷ với những tin tức môi trường được đưa lên hàng đầu”, giáo sư, nhà báo người Mỹ Sharon M.Friedman, đã khám phá ra rằng ngày càng nhiều người, kể cả những người trong nghề, kêu gọi các nhà báo về môi trường thay đổi để trở thành nhà giáo dục, chứ không thể đơn thuần là một người cung cấp thông tin. Bà cho rằng điều đó có nghĩa là mỗi nhà báo nên phụ trách
  7. một vấn đề. "Để giáo dục, theo tôi, các nhà báo về môi trường với sự giúp đỡ của các nhà biên tập, phải đưa ra được những thông tin có giá trị cả về chiều sâu lẫn nội dung, những thông tin này phải chỉ ra cho độc giả biết được những ảnh hưởng nào của những vấn đề về môi trường tác động lên họ và lên cả cộng đồng. Đồng thời, các nhà báo cũng có thể chỉ ra cho độc giả cách hành động để giải quyết những vấn đề này". Cá nhân bà Sharon không cho rằng các nhà báo về môi trường có nhiều sự lựa chọn, nhưng họ phải giáo dục và phải nắm bắt được mức độ gia tăng trong sự ngụy biện của mọi người về các vấn đề môi trường. Môi trường, bà giải thích, đang trở thành vấn đề nổi bật và sẽ chiếm vị trí trên trang đầu của các báo. Tất cả các nhà báo, không riêng gì các nhà báo về môi trường, đều có thể có những bài báo về môi trường trong tương lai. Nhưng trong khi bất kỳ một phóng viên tốt nào cũng có thể cung cấp thông tin về các sự kiện, thì việc của các nhà báo môi trường là phải cung cấp bối cảnh và những thông tin cơ bản do người đọc hay người xem cần hiểu những vấn đề này, bà nhấn mạnh. Nếu các nhà báo về môi trường vẫn tiếp tục vai trò của họ như hiện nay những thông tin quan trọng có thể tiếp tục thu hút sự chú ý hoặc có thể trở thành "thể chế hóa" giống như một số nhà báo đã làm trước đây về chính trị, thương mại, y tế vào những năm cuối thập kỷ bảy mươi và đầu những năm tám mươi. Vị trí của những tin tức quan trọng đó tiếp tục được hay không, bà nói, điều này phụ thuộc vào các nhà báo về môi trường. Viết báo về môi trường Trong chương I, chúng tôi đã giới thiệu về những vấn đề môi trường quan trọng và đề cập những lý do tai sao nhiều người cho rằng rất cần có những bài báo về môi trường trên các phương tiện thông tin đại chúng. Trong chương này, chúng ta sẽ nghiên cứu một số vấn đề có liên quan đến nội dung và cách thức đưa tin về môi trường. Thật lý tưởng nếu như có những phóng viên được đào tạo chuyên về môi
  8. trường và chỉ chuyên viết về môi trường có những chủ bút hiểu biết dành cả trang báo cho những bài báo dài và phức tạp về môi trường, nhưng đầy thú vị của họ. Tuy nhiên, điều đó còn xa với thực tế ở bất kỳ nước nào, hay tờ báo nào mà bạn nghĩ tới. ít tờ báo hay những tạp chí lớn nào có phóng viên chuyên viết về môi trường. Các toà báo châu á thường không có đủ số nhân sự cần thiết chỉ có từ 12 đến 24 phóng viên và rất ít phóng viên chuyên đề. Ngay cả các phóng viên môi trường chuyên nghiệp cũng không đào tạo về tất cả các lĩnh vực về khoa học môi trường để được thừa nhận là thông thạo hơn độc giả của họ. Khi được hỏi về việc đào tạo, một phóng viên môi trường của The York times đã trả lời rằng anh ta không tin là anh cần kiến thức khoa học hay môi trường, mà chỉ cần biết phải hỏi những câu gì. Nhiều biên tập viên báo chí cho rằng viết báo về môi trường là một công việc đơn giản, nên bất kỳ ai cũng có thể làm được. Họ thường phân công bất kỳ phóng viên nào có mặt đi đưa tin về một sự kiện môi trường khi nó xảy ra. Nhưng làm như vậy, họ không thể phục vụ tốt những độc giả của mình. Trong khi thực tế là hầu hết các phóng viên không được đào tạo nhiều về môi trường hay khoa học, cần tạo cơ hội cho những người được phân công viết về môi trường làm quen với một phần, nếu như không phải là toàn bộ vấn đề trước khi họ viết về nó, sao cho họ có thể đưa ra những câu hỏi đúng. Điều này không thể thực hiện được nếu như một phóng viên chuyển từ đưa tin về buổi khai trương một khách sạn vào buổi sáng sang những vấn đề về rạn san hô buổi chiều. Như đã đề cập ở chương I, những vấn đề môi trường có tính tổng hợp vậy bạn nên hiểu chúng ở một mức độ nào đó trước khi viết về chúng một cách hiệu quả. Phóng viên không nên coi những vấn đề này như những tin thời sự, ngay cả khi chúng có những yếu tố thời sự. Một phóng viên có tài không có kiến thức trước về môi trường cũng có thể viết ngay được phóng sự ngắn thú vị về việc phá hại rạn
  9. san hô chỉ trong một buổi chiều, nhưng người đó có thể viết được một phóng sự hoàn chỉnh hơn nhiều để phục vụ độc giả tốt hơn nếu như có nhiều thời gian, hoặc được viết dài hơn và nếu người đó được tạo điều kiện để hiểu vấn đề đó một cách thấu đáo hơn. Ở Thái Lan, có nhiều tranh cãi về việc xây dựng một dự án đập nước Nam Choan. Nếu như con đập được xây thì nó sẽ nhấn chìm khoảng 944 km2 của một vùng được coi là "Một trong những khu vực giầu có nhất về sinh học của Đông Nam á". Các nhà môi trường cho biết đập nước này sẽ nhấn chìm một phần của khu bảo tồn động vật hoang dã đã được xây dựng, cũng như một trong hai sinh cảnh rừng ven sông vùng đất thấp còn lại ở Thái Lan. Loại sinh cảnh này rất quan trọng đối với nhiều loài động thực vật hoang dã (theo WWF Thái lan). Tại đây, báo chí cũng đóng vai trò tích cực trong việc đưa tin về cuộc tranh luận này. Do những tác động rộng lớn của các dự án phát triển như vậy đối với người dân trong khu vực và thường là ngay đối với chính quốc gia đó, các phóng viên phải thận trọng để có thể đề cập được tất cả các mặt của vấn đề và họ phải dành nhiều thời gian cho việc điều tra vấn đề đó. Tuy nhiên, đôi lúc họ không hoặc không thể thực hiện được như vậy vì một số lý do liên quan tới sự hạn chế về trình độ báo chí hay khoa học. Trong một cuộc tranh cãi như vậy về xây dựng một con đập, những phóng viên được chỉ định đưa tin về vấn đề này theo định kỳ trong hơn hai năm, đã viết về những lời phát biểu khác nhau của các nhà chính trị, quan chức, chính phủ, các nhà môi trường học và chuyên gia kỹ thuật. Thỉnh thoảng, họ điều tra nghiên cứu một số tài liệu của chính phủ bao gồm những số liệu về lưu lượng dòng chẩy và những vấn đề kỹ thuật khác, nhưng họ không viết nhiều về chúng. Khi bị đặt câu hỏi, một phóng viên tổng hợp có hạng nói rằng anh ta đã viết về các khía cạnh xã hội và chính trị của vấn đề nhiều hơn là các mặt thuật mặc dù những mặt này là chủ đề chính của cuộc tranh cãi. Khi người ta hỏi tai sao anh làm như vậy, anh ta
  10. nói rằng anh cảm thấy không thoải mái khi viết về những vấn đề kỹ thuật và tránh làm như vậy. Hơn nữa, anh cho biết ngay cả khi muốn viết về khía cạnh này, anh cũng không có đủ thời gian để nghiên cứu về nó hoặc tìm kiếm những nguồn thông tin có thể giúp anh hiểu được nó. Nếu như anh ta có ý định này, có nhiều thời gian hơn và được khuyến khích viết về mặt kỹ thuật, anh ta có thể phục vụ độc giả tốt hơn bằng cách cung cấp cho họ nhiều thông tin hơn về các nhân tố của vấn đề đang tranh cãi. Cuối cùng, mọi người phải quyết định liệu họ có ủng hộ cho việc xây dựng con đập này hay không, dựa trên những thông tin được cung cấp bởi tờ báo của phóng viên. Vấn đề không phải là họ đưa ra quyết định đúng hay không, mà là liệu họ đã nhận được đủ thông tin để đưa ra quyết định đúng hay không, mà là liệu họ nhận được đủ thông tin để đưa ra quyết định đúng hay chưa. Vì tờ báo không cung cấp đủ những thông tin cốt yếu cho độc giả để họ xem xét vấn đề một cách đúng đắn nên nó đã không thực hiện được trách nhiệm của mình. Giáo dục bản thân và hãy là một nhà giáo dục Để giúp độc giả hiểu được tất cả những chi tiết phức tạp đòi hỏi bản thân các phóng viên phải hiểu biết về những vấn đề môi trường mà họ viết nhiều hơn là những sự kiện bề ngoài. Để viết bài một cách am hiểu hơn, bạn sẽ phải dành nhiều thời gian nghiên cứu những vấn đề môi trường và có thể bạn phải dành thời gian của riêng bản thân mình nếu như chủ bút không cho bạn thời gian trong lúc đang làm nhiệm vụ. Nhưng nếu bạn thực sự muốn trở thành phóng viên am hiểu về môi trường, bạn sẽ phải đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu đó. Để giúp độc giả hiểu được tất cả những chi tiết phức tạp đòi hỏi bản thân các phóng viên phải hiểu biết về những vấn đề môi trường mà họ viết nhiều hơn là những sự kiện bề ngoài.
  11. Để viết bài một cách am hiểu hơn, bạn sẽ phải dành nhiều thời gian nghiên cứu những vấn đề môi trường và có thể bạn phải dành thời gian của riêng bản thân mình nếu như chủ bút không cho bạn thời gian trong lúc đang làm nhiệm vụ. Nhưng nếu bạn thực sự muốn trở thành phóng viên am hiểu về môi trường, bạn sẽ phải đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu đó. Hãy là nhà cảnh báo Chấp nhận chức năng giáo dục của các phương tiện truyền thông, tuy nhiên, không có nghĩa là phủ nhận một chức năng quan trọng khác của việc viết báo về môi trường, đó là vai trò cảnh báo. Cảnh báo là một trong những mục tiêu hàng đầu của báo chí điều tra. Để thực hiện vai trò này, phóng viên cũng cần phải biết ít nhiều về tình hình. Là nhà cảnh báo có nghĩa là phải biết những tổ chức nào có liên quan tới một sự kiện cụ thể, cơ quan chính phủ nào sẽ giám sát nó, những hành động gì đang được tiến hành và những hành động nào khác cần được tiến hành. Nghĩa là phải cố tìm xem liệu tất cả những gì nên làm có đang được thực hiện không, nếu không thì tại sao. Điều đó có nghĩa là trong một số cuộc điều tra, người viết báo cần phải hiểu vấn đề một cách sâu xa và có một số nguồn tin tốt. Với tư cách là một người giám sát, bạn phải có trách nhiệm thông tin cho mọi người ngay cả khi bạn phải đối mặt với sự quan liêu. DarrylD' Monte, một nhà báo chuyên về môi trường, viết: Thường thường, ý niệm đầu tiên mà mọi người có được về bất cứ sự việc nào là qua báo chí. Ví dụ, khi một dự án thuỷ lợi đã được hoàn chỉnh, các kỹ sư thi công sẽ bám theo bản kế hoạch chi tiết. Trừ phi, công chúng biết được bao nhiêu hecta đất sẽ bị chìm ngập trong hồ chứa nước cho con đập, nếu không họ hiếm khi có thể hành động bảo vệ quyền lợi của mình. Công việc của phóng viên môi trường là thu thập những thông tin như vậy và công bố: những vùng
  12. nằm trong dự án, số người phải di chuyển đi nơi khác, v.v. (Nhận thức về môi trường). D'Monte cũng chỉ ra rằng một lý do tại sao nhiều quan chức lại tuyển thư ký là để tránh làm lộ quá trình đi đến quyết định. Rất nhiều quyết định chính thức được đưa ra không chỉ từ sự xem xét thiển cận mà còn dựa trên những cơ sở không liên quan gì đến việc biện minh về kinh tế kỹ thuật cho quyết định đó. Ông cũng đưa ra một ví dụ điển hình là một dự án phát triển lớn được lựa chọn thực hiện tại một khu vực vì có một nhà chính trị đầy quyền lực muốn như vậy để có lợi cho các cử tri của ông ta. Vì những quyết định được đưa ra theo kiểu này rất khó khăn và quả là hao tiền tốn của nếu không làm nên việc đưa tin về quá trình đưa ra quyết định này và vạch rõ những yếu tố bất lợi của nó là một nhiệm vụ rất quan trọng đối với người làm báo. Để làm một nhà giáo dục và một người cảnh báo đòi hỏi rất nhiều từ một phóng viên, nhưng nếu một người muốn làm một công việc có hiệu quả trong việc viết về môi trường thì anh ta không thể làm ít hơn. Nên nhớ rằng, bài báo có thể gây ảnh hưởng tới những hành động của các cá nhân, doanh nghiệp hay quan chức chính phủ. Bài báo của bạn có thể làm nổi bật luận điểm tranh cãi hay những vấn đề ảnh hưởng xấu đến môi trường và đưa ra công chúng để những người ra quyết định và những người khác có thể đánh giá phản ứng của công luận. Nó cũng có thể kêu gọi sự chú ý tới những nỗ lực bảo tồn, duy trì hoặc cải thiện môi trường và xây dựng những hình mẫu cho các nơi khác làm theo. Vì những sự kiện về môi trường tồn tại lâu dài vượt quá phạm vi các chính quyền, thời cuộc và đời người, nên bạn có thể giúp công chúng chú ý vào một vấn đề cho tới khi đạt được một kết quả nào đó. Rõ ràng vai trò của người viết báo về môi trường là rất quan trọng.
  13. Một số định nghĩa Để định nghĩa về làm báo môi trường mà chỉ qua những sự kiện môi trường thì quả là quá hạn hẹp. Một định nghĩa rộng hơn với vấn đề môi trường bao hàm mối quan hệ tích cực giữa con người và hoạt động sống cùng các hoạt động khác, các yếu tố môi trường, thì hầu như bài báo nào cũng là bài báo môi trường. Do đó, viết về môi trường bao gồm cả viết về sức khoẻ, kinh tế, chính trị, thương mại, phát triển, các nguồn vật chất và phạm vi các vấn đề khoa học rộng lớn. Nói tóm lại, những quan hệ tương tác với các yếu tố môi trường nuôi sống và phục vụ con người có khả năng làm thay đổi môi trường do sử dụng, phân phối lại hay phá vỡ các nguồn tài nguyên của nó, hợp lại thành một đề tài cho lĩnh vự viết về môi trường. Một định nghĩa hẹp hơn về làm báo môi trường có thể là phản ánh những mối quan tâm về môi trường với tốc độ liên tục, từ cấp độ quốc tế tới cấp độ thấp hơn cho đến cá nhân. Nó bao gồm những vấn đề cần phải giải quyết cũng như hoạt động tích cực. Ví dụ, những vấn đề quốc tế đáng viết như sự bùng nổ dân số hơn bao giờ hết, nghèo đối và thiếu lương thực cung cấp cho số dân gia tăng, và những vấn đề liên quan tới sự phá huỷ môi trường – phá rừng, sa mạc hóa, xói mòn đất và sự phá huỷ các sinh cảnh. Những hoạt động quốc tế tích cực như những nỗ lực hợp tác bảo vệ tầng ozone của Liên hợp quốc, các công ước quốc tế về bảo vệ các loài động, thực vật đang bị đe doạ tuyệt chủng và những nỗ lực hợp tác giữa các quốc gia nhằm giúp chuyển giao các công nghệ. Ở cấp độ quốc gia, những vấn đề về đô thị hoá và kèm theo nó là ô nhiễm tiếng ồn, nước và không khí cũng là một phần của các bài viết về môi trường có sức thu hút. Các hoạt động trong nước bao gồm quy hoạch phát triển bền vững và các dự án có lồng ghép bảo tồn ác nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trong phạm vi định hướng về các vấn đề liên quan tới con người, sử dụng thuốc trừ sâu là một vấn đề nghiêm trọng liên quan đến việc con người sẽ ăn những loại rau quả bị phun thuốc trừ sâu. Quản lý đất đai tốt, diệt trừ
  14. muỗi và vệ sinh sạch sẽ rác rưởi đều là những hoạt động tích cực ở cấp độ thấp hơn và cá nhân. Chúng cũng cần được chú ý tới. Từ cả định nghĩa rộng hay hẹp hơn nói trên, bạn có thể thấy rằng các vấn đề môi trường xuyên qua sự phân chia trang, mục chuyên đề của các phương tiện thông tin đại chúng như chính trị, khoa học, y tế hay nông nghiệp. ở Mỹ, khi những mối quan tâm môi trường mới nổi lên vào những năm chín mươi, những tin tức môi trường đáng chú ý và những nhà báo viết về môi trường ở nhiều tờ báo đã được đưa lên hàng đầu. Hiện nay, còn lại rất ít nhà báo môi trường chuyên nghiệp, loại trừ một số ít tờ báo lớn nhất và uy tín nhất. Khi vấn đề môi trường được thể chế hoá và đưa vào cuộc sống cũng như vào các hoạt động của chính phủ, nhiều nhà báo viết về những môi trường phụ thuộc vào lĩnh vực mà vấn đề môi trường nổi lên. Ví dụ, nếu một bài viết là về sự nguy hại từ môi trường đối với sức khoẻ, nhà báo viết về khoa học và y tế sẽ viết về nó. Và nếu nó liên quan đến pháp luật, nhà báo chính trị sẽ viết về nó. Tất nhiên, nhiều tờ báo ở Việt Nam không có nhà báo chuyên nghiệp như nhà báo chính trị hay y tế, khoa học. Thiếu độ tin cậy Vấn đề này, tuy nhiên, thường tạo ra những rắc rối do bài viết về môi trường rất khác với những kiểu bài viết khác. Sự khác nhau này được thể hiện trong nhiều lĩnh vực. Trước hết, nhiều bài viết về môi trường là những bài báo chỉ dựa trên phỏng đoán. Ví dụ, các nhà khoa học có thể không biết nguồn gốc của những chất gây ô nhiễm đặc biệt, hoặc chúng nguy hiểm như thế nào đối với sức khoẻ của con người. Đó là sự thiếu thuyết phục. Các chuyên gia thường bất đồng về nhiều vấn đề như chúng ta có thể làm gì để chấm dứt nạn phá rừng trong khi vẫn tiếp tục cung cấp nhiên liệu gỗ nhằm đáp ứng dân số đang gia tăng và duy trì nhu cầu xuất khẩu các sản phẩm gỗ. Một báo cáo của một tổ chức có uy tín có thể hoàn toàn mâu thuẫn với nhiều báo cáo của những tổ chức khác. Đó cũng là sự thiếu thuyết phục và độ tin cậy.
  15. Quá trình nghiên cứu nhằm cung cấp các dữ liệu về các vấn đề môi trường cũng mang tính phỏng đoán. Và chính bản chất của các bằng chứng và hiểu biết khoa học dựa trên ước lượng và phỏng đoán. Ví dụ, từ nhiều năm nay, các nhà khoa học khắp nơi trên thế giới tranh cãi về những mối nguy hiểm của sự bức xạ mức độ thấp. Nội dung của cuộc tranh cãi liên quan tới vấn đề liệu có một mức độ đủ thấp mà không gây tác hại không, hau liệu có bằng chứng về bất kì mức độ bức xạ nào dù thấp như thế nào vẫn gây tác hại không? Nhiều nhà khoa học nổi tiếng tin rằng có một giới hạn mà dưới mức đó sẽ không gây tác hại. Nhiều nhà khoa học nổi tiếng khác nói điều đó không đúng. Thực tế ủng hộ cả hai luận điểm trên đều ngang bằng nhau. Và nếu như có mối nguy hiểm, nó chỉ xuất hiện sau một thời gian rất dài. Vì vậy, những giả thiết trên đây cũng chỉ là dựa theo phỏng đoán và nó gây ảnh hưởng tới nhiều chính phủ đang lưỡng lự trước việc có cần đặt ra những tiêu chuẩn an toàn phóng xạ không khi mà nhiều người bị ảnh hưởng phóng xạ ở mức độ thấp. Ví dụ, mọi người có khả năng bị bệnh ung thư trong tương lai không khí mức độ thấp của phóng xạ lan khắp các khu vực ở châu Âu vào năm 1986 do vụ nổ nhà máy điện nguyên tử Chernobyl? Rất nhiều chuyên gia có thể tiên đoán những gì họ tin là sẽ xảy ra dựa trên ý kiến của họ về phóng xạ mức độ thấp. Nhưng vẫn chưa có một câu trả lời chắc chắn nào cả. Khối lượng và loại thông tin xuất phát từ các quan chức chính phủ cũng có thể dẫn tới phỏng đoán, đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp. Trong suốt sự cố Bhopal ở ấn Độ, nhiều nhà báo cho biết, chính phủ đã công bố những thông tin hạn chế và đã làm tăng thêm rắc rối. Các quan chức nói: "Nước rất an toàn, nhưng hãy đun nó trước khi uống; rau quả cũng rất an toàn, nhưng hãy rửa chúng trước khi ăn", trong khi việc đòi hỏi an toàn cho thực phẩm khiến họ lại đóng cửa các chợ cá và thịt, và cấm giết súc vật để ăn thịt. Các quan chức cũng từ chối trả lời các câu hỏi về những xét nghiệm gì đã được thực hiện và khi nào. Nhiều lời chỉ trích về vấn đề sức khoẻ dân chúng đã đẩy các quan chức vào một tình thế khó xử, và một nhà
  16. báo đã phải tìm những câu trả lời cũng dựa trên phỏng đoán trước tình trạng không rõ ràng này (Thảm hoạ Bhopal, tr. 221). Phức tạp Thêm một khía cạnh nữa làm cho những bài báo về môi trường khác với những bài báo về các chủ đề khác là tính tổng hợp của nó. Hầu hết các vấn đề môi trường liên quan không chỉ tới những thông tin kĩ thuật, mà cả các mặt khác như xã hội, chính trị và tài chính. Phần lớn những gì được viết đều có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, và thường là sang cả thế hệ sau, và liên quan tới cả những chi phí đánh giá phức tạp và nhiều lợi ích. Thường thì không chỉ một hoặc hai khía cạnh ảnh hưởng đến một vấn đề môi trường mà là một số lớn. Và những vấn đề môi trường thường không phát triển một sớm một chiều, mà chúng hình thành lâu dài. Mặc dù chúng thường được đề cập như một sự kiện đơn lẻ trong từng bài báo, ví dụ, hôm nay viết về một người có một bài phát biều về một nỗ lực mới của chính phủ nhằm bảo vệ rừng, trong khi có nhiều câu chuyện về vấn đề môi trường cần được viết hơn là một bài phát biểu. Trong ví dụ này, có thể đã có những cuộc thảo luận về những vấn đề chung về nạn phá rừng, và việc phá rừng xảy ra như thế nào ở một quốc gia hay khu vực, và những nguyên nhân nào gây ra nó, đặc biệt là những nguyên nhân liên quan tới phát triển, hay thiếu đất trồng trọt, hay gia tăng dân số. Theo sự gợi ý của các cơ quan liên chính phủ, ESCAP và các tổ chức Liên hợp quốc khác, những biện pháp trước đây mà một chính phủ đã thực hiện và thành công thì các chính phủ khác nên tham khảo và áp dụng những biện pháp đó. Một biện pháp khác giúp thăm dò xem khoa học có thể đóng góp như thế nào vào những nỗ lực tái trồng rừng và liệu các trường đại học khu vực này có nghiên cứu vấn đề này không. Gần đây ở Thái Lan, lực lượng quân đội đã tiến vào khu vực phía đông nam để giúp đỡ bảo vệ rừng và bất kì ai cũng có thể dễ suy diễn ra những câu chuyện về tại sao quân đội lại dính líu vào việc này, liệu điều này có đưa ra một sự thay đổi chính sách đáng kể nào không, hay những người đang sống
  17. trong khu rừng này và đang sử dụng gỗ có phải chuyển đi nơi khác không và điều đó liệu có ảnh hưởng gì đối với họ. Tiền là một trong những điều được quan tâm trong các bài viết về các vấn đề môi trường: tiền để xử lí vấn đề ô nhiễm, tiền để bảo vệ đất đai và các loài động vật đang bị đe dạo tuyệt chủng, và chính phủ sẽ phải dùng tiền để tái định cư những người đã chiếm dụng đất đai bất hợp pháp, và cũng chính tiền được sinh ra từ các ngành công nghiệp dựa trên những luật môi trường lỏng lẻo. Việc bảo vệ môi trường nghiêm ngặt hơn sẽ có ảnh hưởng sâu sắc đến cơ sở kinh tế của các cộng đồng cũng như quốc gia. Làm thế nào để duy trì phát triển lâu dài mà các nguồn tài nguyên thiên nhiên được bảo vệ hơn là bị tàn phá? Những vấn đề môi trường xuyên suốt qua nhiều vấn đề có liên quan với nhau, phần lớn giống như những mối quan hệ qua lại của chính những hệ thống sinh thái mà tất cả đều có ảnh hưởng đối với cuộc sống con người. Các phóng viên môi trường vì thế cần phải đề cập tất cả những vấn đề liên quan để viết được một bài báo thích hợp và điều này đòi hỏi bài viết về môi trường phải tổng hợp và có tính liên ngành. Yếu tố kĩ thuật Sự khác nhau thứ ba giữa các bài báo môi trường và những bài báo khác là các bài báo môi trường thường chứa đựng các thông tin kĩ thuật. Các vấn đề môi trường bao hàm trong nó các phương diện khoa học, kĩ thuật và kinh tế và do đó cần phải phỏng vấn các chuyên gia về chúng. Thường thường các chuyên gia sẽ nói bằng ngôn ngữ khoa học với đầy thuật ngữ khó hiểu đối với những người không có chuyên môn (trong đó có các phóng viên). Cố gắng tiếp xúc được với các chuyên gia để họ giúp giải thích những thuật ngữ kỹ thuật khó hiểu này sao cho mọi người đọc đều có thể hiểu được - đó là nhiệm vụ của nhà báo.
  18. Đáng tiếc rằng, việc các nhà báo chỉ đơn giản nhắc lại những gì một chuyên gia được phỏng vấn phát biểu mà thiếu đi sự sàng lọc cho dễ hiểu và sự soạn thảo tỉ mỉ về nó là một tình trạng phổ biến. Một độc giả đọc hết một bài báo sẽ quên ngay với rất ít những gì lĩnh hội được vì người viết đã không hoặc không thể giải thích điều các chuyên gia nói nghĩa là gì. Không giống với nhiều tin tức quan trọng khác, nơi mà các nhà báo chỉ đơn giản thông báo sự việc hoặc ai đó đã nói gì, một phóng viên môi trường phải làm tốt công việc giải thích. Điều này có nghĩa là anh hay chị phải nói chuyện với nhiều người hơn về một vấn đề để tìm kiếm sự phân định và giải thích về những vấn đề kĩ thuật hay những ý kiến và quan điểm khác. Thường một nhà báo không đủ kiến thức để viết một bài về môi trường. Ví dụ, trong một bài báo viết về một sự cố rò rỉ thuốc trừ sâu chẳng hạn, để thực hiện hoàn hảo công việc này, một nhà báo phải phỏng vấn những chuyên gia ở các khoa nghiên cứu về chất độc, dịch tế học, kinh tế, sự vận động của các nguồn nước ngầm, khí tượng học, phòng sơ tán khẩn cấp, mà không đề cập các quan chức chính phủ. Nhưng một nhà báo có thể tìm tất cả các chuyên gia này ở đâu? Chỉ tìm kiếm học đã mất thời gian và phỏng vấn họ còn mật nhiều thời gian hơn. Thông thường các chuyên gia không nhiệt tình giúp các nhà báo hiểu các vấn đề kĩ thuật có liên quan, mà để các nhà báo trích dẫn lời của mình trong bài báo. Ngay cả khi bạn tìm được một chuyên gia nhiệt tình giúp bạn thì có nguy cơ bạn cũng không biết giới hạn hiểu biết của chính anh ta. Bị bao bọc bởi những chi tiết kĩ thuật và những ngôn ngữ kĩ thuật khó hiểu, một nhà báo phải làm thế nào để biết điều gì quan trọng và làm thế nào để xác định ý nghĩa của những sự kiện? Một khía cạnh khác liên quan về thông tin kĩ thuật là tính bí mật. Darry D'Monte, một nhà báo môi trường tự do ở ấn Độ, đã chỉ ra rằng: Những lợi ích về thương mại, quan liêu và chính trị đảm bảo rằng công chúng luôn bị chìm trong bóng tối của sự thiếu hiểu biết và rất nhiều khía cạnh liên quan đến phát triển đang ảnh hưởng tới môi trường. Những thông tin này có
  19. thể bị giữ kín một cách cố tình; hoặc là làm cho mất tác dụng, bằng cách dựng lên các hàng rào về thủ tục ngăn cản khiến cho việc tiếp cận với chúng trên thực tế là không thể được. Xu hướng về phía một số cơ quan chính phủ đòi hỏi rằng mọi tài liệu phải được giữ "bí mật" và chúng không được cấp cho các nhà báo. Thậm chí nếu được thì cũng đã bị rút hết nội dung chính. Các công ty công cộng và tư nhân, mặt khác, tìm cách nấp đằng sau bằng việc làm lộ những thông tin không đầy đủ để triệt những đối thủ cạnh tranh của học. Một lí do cụ thể không cho phép một nhà báo tới thăm một nhà máy hoá chất chẳng hạn, là những thông tin chi tiết của những quá trình hay kế hoạch sẽ giúp cho các công ty cạnh tranh của họ (Nhận thức về môi trường, tr.7). Cân bằng các quan điểm Điều thứ tư làm cho bài báo môi trường khác xa với những bài báo viết về những lĩnh vực khác là có quá nhiều người, quá nhiều tổ chức và các khía cạnh liên quan tới những vấn đề môi trường này. Trong một số vấn đề khác cũng liên quan tới nhiều người, nhiều tổ chức, nhưng vì vấn đề môi trường phức tạp và chứa đựng yếu tố kĩ thuật, nên nó thường gây khó khăn cho một nhà báo trong việc cân bằng những quan điểm khác nhau. Một số nhà báo cố gắng giới thiệu những ý kiến trái ngược nhau thậm chí bằng cách tiếp cận và nêu ý kiến trái ngược của phía này và tiếp đó lại tiếp cận và nêu ý kiến của phía khác. Kiểu cân bằng có tính định lượng này có vẻ công bằng cũng có thể không, bởi vì nhiều người có khả năng hiểu biết hơn có thể chấp nhận ý kiến của một phía, trong khi lại không chấp nhận ý kiến của phía khác; cũng có thể cả hai phía đều được đề cập nặng kí như nhau trong bài viết. Một cách tiếp cận khác là cố gắng đánh giá cái đã được "công nhận về khoa học" của những bằng chứng, đó là để nhà báo tự quyết định bằng chứng môi trường hay khoa học có sức thuyết phục như thế nào. Để làm như vậy, các nhà báo sẽ phải biết thật tốt các chủ đề hoặc là được các nhóm chuyên gia tư vấn. Nhưng các
  20. chuyên gia có thể bị dao động hoặc ủng hộ tình trạngnày vì một số lí do về mặt chính trị. Vì vậy các nhà báo phải hết sức thận tọng trong việc cố gắng cân đối tất cả những quan điểm liên quan trong một cuộc tranh cãi về môi trường và đây thường là một việc rất khó. Khác biệt của những bài báo môi trường Những bài báo môi trường cũng khác với những bài báo viết về những vấn đề khác do mức độ nhạy cảm cao xung quanh một cuộc tranh cãi về môi trường và các nhà báo phải thận trọng, không kích động và làm người dân hoang mang. Tuy nhiên, có một điều cần thiết là phải làm cho mọi người quan tâm tới những vấn đề môi trường và để làm như vậy, nhà báo phải chỉ ra được một vấn đề môi trường có thể ảnh hưởng tới con người như thế nào. Một nhà báo môi trường đã nói: "Để tạo được nhận thức môi trường trong mọi người, cần phải nhấn mạnh kinh nghiệm cá nhân và phát triển sự nhận thức thông qua tác động vào ý thức". Điều này nghĩa là những bài báo môi trường phải chỉ ra cho mọi người thấy sự thích hợp của vấn đề - nó sẽ giúp hoặc gây tác hại đến họ hoặc có ảnh hưởng tới cuộc sống của họ như thế nào - và điều đó có thể dẫn tới thái độ thiện cảm hơn đối với môi trường. Một điều khác nữa của những bài báo môi trường là một bài báo thường không đủ đề cập về cả một vấn đề. Các vấn đề và giải pháp cho môi trường thường ở phạm vi lớn và sẽ có ảnh hưởng lâu dài mà không thể đoán trước ở bất kì thời điểm nào diễn ra cuộc tranh cãi. Điều này đòi hỏi sự xử lí sâu, với sự quan tâm cẩn thận, liên tục để phát triển những bài báo và những vấn đề bên ngoài của chúng. Một khía cạnh cuối cùng mà các bài báo môi trường khác với các bài báo khác là nhu cầu mà nhiều người cảm thấy đối với các nhà báo trở thành các hoạt động xã hội. Điều này đặc biệt đúng ở châu á, nơi mà chính các nhà báo cũng như các quan chức từ các tổ chức chính phủ hay phi chính phủ kêu gọi các nhà báo tích cực hỗ
Đồng bộ tài khoản