Việt Nam trong những năm khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933

Chia sẻ: Tran Canh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:3

0
320
lượt xem
64
download

Việt Nam trong những năm khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Từ năm 1930 kinh tế Việt Nam bước vào thời kỳ khủng hoảng bắt đầu từ nông nghiệp. Lúa gạo bị sụt giá, ruộng đất bỏ hoang sản xuất nông nghiệp biij suy giảm.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Việt Nam trong những năm khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933

  1. B. NỘI DUNG. I.Việt Nam trong những năm khunhr hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 1. Tình hình kinh tế Từ năm 1930 kinh tế Việt Nam bước vào thời kì khủng hoảng bắt đầu từ nông nghiệp. Lúa gạo bị sụt giá. Ruộng đất bỏ hoang năm 1930 là 200.00 hecta ,năm 1933 là 500.000 hecta sản xuất nông nghiệp bi suy giảm. Năm 1929 tổng giá trị sản lượng khai khoáng của dông dương là 18 triệu đồng, năm 1933 chỉ còn 10 triệu đồng.Trong thương nghiệp, xuất nhập khẩu đình đốn. Hàng hóa khan hiếm, giá cả đắt đỏ.Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam rất nặng nề so với các thuộc địa của Pháp cũng như so với các nước trong khu vực. 2. Tình hình xã hội Khủng hoảng kinh tế làm trầm trọng thêm tình trạng đói khổ của các tầng lớp nhân dan lao động. Nhiều công nhân bị xa thải ở Bắc Kỳ,nơi tập trung nhiều công nhân, có tới 25 000 người bị xa thải.Số người có việc làm thì lương bị cắt giảm tư 30- 50%.Cuộc sống của thợ thuyền ngày càng khó khăn.Nông dân phải chịu cảnh thuế cao, vay nợ nặng lãi, nông phẩm làm ra phải bán hạ giá.Ruộng đất bị địa chủ người Pháp và người Việt chiếm đoạt.Họ bị bần cùng hóa,các tầng lớp nhân dân lao động khác cũng không tránh khỏi tác động xấu của khủng hoảng kinh tế. Các nghề thủ công bị phá sản ,nhà buôn nhỏ phải đóng cửa ,viên chức sa thải ....Mâu thuân xã hội ngày càng sâu sắc trong dó có hai mâu cơ bản là giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và nông dân với dịa chủ phong kiến ,chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thưc dân Pháp và tay sai phản động .Vì vậy cuôi thập niên 20 của thế kỷ XX phong trào công nhân và phong trào yêu nước pháp triển mạnh mẽ.Đầu năm 1930 cuôc khởi nghĩa Yên Bái bị thất bại.Chính quyền thực dân ngày càng khủng bố dã man những người yêu nước . Điều đó càng làm căng thẳng thêm những mâu thuẫn và tình trạng bất ổn định trong xã hội. II Phong trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao xô viết nghệ tĩnh. 1.Phong trào cách mang 1930-1931 Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và phong trào cách mạng dâng cao , ngay sau khi ra đời ,Đảng Cộng Sản Việt Nam đã kịp thời lãnh đạo phong trào đấu tranh của công- nông trong cả nước. Phong trào trên toàn quốc Từ tháng 2 đến tháng 4 -1930,nhiều cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân đã nổ ra đồi tăng lương giảm giờ làm , giảm sưu thuế , . . . Khẩu hiệu chính trị cũng xuất hiện như :"Đả đảo chủ nghĩa đế quốc ! Đả đảo phong kiến !","Thả tù chính trị"... Nhân ngày Quốc tế lao động 1-5 trên cả nước bùng nổ nhiều cuộc đấu tranh . Lần đầu tiên ,công nhân Việt Nam biểu tình kỷ niệm ngày Quốc tế lao động , đấu tranh đòi quyền lợi cho nhân dân lao động trong nước , thể hiện tình đoàn kết cách mạng với nhân dân lao động toàn thế giới Từ tháng 6 đến tháng 8-1930, liên tiếp nổ ra cấc cuộc đấu tranh của công nhân,nông dân và các tầng lớp lao động khác trên pham vi cả nước . Phong trào ở Nghệ-Tĩnh Tháng 9-1930 ,phong trào đấu tranh dâng cao, nhất ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Nông dân biểu tinh có vũ trang tự vệ có hàng nghìn người kéo đến huyện Lị tỉnh Lị đòi giảm sưu, thuế...Được công nhân Vinh-Bến Thuỷ hưởng ứng. Tiêu biểu là cuộc biểu
  2. tinh ngày 12-09-1930 của 8 nghìn nông dân huyện Hưng Nguyên. Nông dân kéo đến huyện Lị với khẩu hiệu"Đả Đảo Chủ Nghĩa Đế Quốc", "ruộng đát về tay dân cày"...pháp đàn áp rã man, cho máy bay lém bom làm chết 217 người, bị thương 125 người. Song sự đàn áp đó không ngăn cản được cuộc đấu tranh xủa nhân dân Quần chúng kéo đến huyện Lị phá nhà lao, đốt huyện đường, vây đồn lính khố xanh... Chính quyên thực dân, phong kiến bị tê liệt, tan rả ở nhiều xã, thôn. Nhiều cấp Uỷ Đảng thôn, xã lãnh đạo nhân dân làm chủ vận mênh tự quản lý đời sống chings trị king tế văn hoá xã hội ở địa phương làm chức năng của chinh quyền gọi là"Xô Viết". b.Xô Viết Nghệ Tĩnh Tại Nghệ An xô viết ra đời từ tháng 9-1930. Ở các xã thuộc các huyện Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên,...Ở Hà Tĩnh, Xô Viết hình thành ở Can Lộc, Nghi Xuân, Hương Khê,...các Xô Viết đã thực hiện quyền làm chủ của quân chúng điều hành mọi mặt đời sống xã hội Về chính trị: quần chúng được tự do tham gia các hoạt động trong các đoàn thể cách mạng, tự do hội họp. Các đội tự vệ đỏ và toà án nhân dân được thanh lập Về kinh tế: chia ruộng đát công cho dân cày nghèo phải bãi bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, thuế muối, xoá nợ cho dân nghèo. Về văn hoá xã hội: mở lớp dạy chữ quốc ngữ, các tệ nạn xã hội cũng bị xoá bỏ, trật tự an ninh được giữ vững, tình đoàn kết giúp đỡ nhau trong nhân dân được củng cố. Xô Viết Nghệ Tĩnh là đỉnh cao của phong trào cách mạng 1930-1931. Tuy chỉ tồn tại được 4 - 5 tháng nhưng đó là nguồn cổ vũ mạnh mẽ quần chúng nhân dân trong cả nước. 3. Hội nghị lần thứ nhất ban chấp hành trung ương lâm thời của Đảng Cộng Sản Việt Nam tháng 10-1930 Giữ lúc phong trào cách mạng của quần chúng đang diễn ra quyết liệt, ban chấp hành trung ương lâm thời của Đảng cộng sản Việt Nam họp hội nghị lần thứ nhất tại Hương Cảng Trung Quốc từ ngày 14-30/10/1930, do Trần Phú chủ trì. Hội nghị đã thông qua nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cần kíp của Đảng, thảo luận luận cương chính trị của Đảng điều lệ Đảng, điều lệ các quần chúng thực hiện chỉ thị của quốc tế cộng sản hội nghị quyết định đổi tên Đảng Cộng Sản Việt Nam thành Đảng Cộng Sản Đông Dương. Hội nghị cử ra ban chấp hành trung ương chính thức và cử Trần Phú làm tổng bí thư. Nội dung của luận cương : Luận cương đã phân tích đặc điểm ,tình hình xã hội thuộc địa nửa phong kiến và nêu lên những vấn đề cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương do giai cấp côtng nhân lãnh đạo.ươg Luận cương chỉ rõ :Mâu thuẫn giai cấp, diễn ra gay gắt giã một bên là thợ thuyền ,dân cày và các phần tử lao khổ với một bên là địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc. Luận cương vạch ra phương hướng chiến lược cách mạng Đông Dương là: Lúc đầu cách mạng đông dương là một cuộc cách mạng dân quyền ,có tính chất thổ địa và phản đế " tư sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dụ bị để làm xã hội cách mạng", sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục"phát triển bỏ qua thòi kỳ tư bổn mà đấu tranh lên con đường xã hội chủ nghĩa Luận cương khẳng định nhiêm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ phông kiến thực hành cách mạng ruộng đất triệt để và đánh đổ đế quốc chủ nghĩa pháp làm
  3. cho Đông Dương hoàn toàn độc lập.Hai nhiệm vụ này khăng khít với nhau ,vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được giai cấp địa chủ ,để tiến hành cách mangj thổ địa thắng lợi và có phá tan được chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa . Luận cương xác định "vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền và là cơ sở để Đảng giành quyền lãnh đạo dân cày" Về lực lượng cách mạng luận cương chỉ rõ ,giai cấp vô sản vừa là động lực chính của chủ nghĩa dân quyền , vừa là giai cấp lãnh đạo cách mạng .Dan cày là lực lượng đông đảo nhất và là động lực mạnh của cách mạng. Về phương pháp cách mạng luận cương chỉ rõ để đạt được mục tiêu cơ bản của cách mạng là đánh đổ đế quốc và phong kiến , giành chính quyền về tay công nông thì phải ra sức chuẩn bị cho quần chúng về con đương "võ trang bạo động " .Võ trang bạo động để binh " Về quan hệ giữa cách mạng Việt Nam vơi cách mạng thế giơi,Luận cương khăng định cachs mạng Đông Dương là môt bộ phận của cách mạng thế giới ,vì thế giai cấp vô sản Đông Dương phải đoàn kết gắn bó với giai cấp vô sản thế giới , trước hêt là giai câp vô sản Pháp và phải liên lạc mât thiết với phong trào cách mạng ơ các nươc thộc địa và nửa thuộc địa nhằm mở rộng và tâng cường lược cho cụa đấu tranh cách mạng Đông Dương. Vai trò lãnh đạo của Đảng Luận cương khăng định sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là điều kiện tốt yếu cho thắng lợi của cuộc cách mạng .Đảng phải có đương lối chính trị đungs đắn ,có kỷ luật tâp trung ,liên hê mât thiết với quần chúng .Đảng là đội tiên phong của giai câp vô sản,lấy chủ nghĩa Mac-Lênin làm nền tảng tư tưởng ,đại biểu cho quyền lợi của giai câp vô sản ơ Đông Dương ,đấu tranh để đat được mục đích cuối cùng là cchur nghĩa cộng sản. Ý nghĩa của luận cương Tư nôi dung cơ bản nêu trên ,có thể thấy ,Luân cương ching trị khẳng định lại nhiêu vân đề căn bản thuôc vê chiến lược cách mạng mà Chánh cương vắn tắt và Sách lược tóm tắt đã nêu ra .Bên cạnh mặt thống nhất cơ bản ,giữa Luân cương chánh trị với Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt có mặt khác nhau .Luận cwowng chinh trị không nêu ra được mâu thuân chủ yếu là mâu thuân giữa dân tôc Viêt Nam và đế quốc pháp , từ đó không đặt nhiệm vụ chôngs đế quốc lên hàng đầu;dánh giá không đúng vai tró cách mạng của tầng lớp tiểu tư sản ,phủ nhận mặt tích của tư sản dân tộc và chưa thấy đươc khả năng phân hoá ,lôi kéo một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ trong cách mạng giải phóng dân tộc ,tư đó Luận cương đa không đề ra được môt chiến lược liên minh dân tộc va giai câp rộng rãi trong cuôc đấu tranh chống đế quốc xâm lược va tay sai. Nguyên nhân chủ yếu của các măt khác nhau : Thư nhât luân cương chính trị chưa tim ra và nắm vững những đặc điêm của xã hội thuộc địa , nửa phong kiến Viet Nam.Thư hai do nhận thưc giao điều máy móc về vấn dê dân tôc và giai câp trong cách mạng ơ thuôc địa và phải chịu ảnh hương trưc tiêp khunh hương ta"tả" cửu đế quôc tê cộng sản và một số đang cộng sản trong thời gian đó .Chính vì vậy hội nghị ban chấp hành trung ưng đảng thang 19-1930 đã không chấp nhận những quan diêm mới, sáng tạo ,độc lâp tư chủ của Nuyen Ai Quôc nêu đươc đương cách mệnh chanh cương vắn tăt và sach luoc van tăt.
Đồng bộ tài khoản