Vỡ túi phình động mạch chủ bụng
biến chứng cần được phát hin sm, ngăn ngừa kịp thời bởi tỉ ltử
vong khá cao, kể cả khi đã được mổ cấp cứu.
Phình động mạch chủ bụng (ĐMCB) là nh trạng một đoạn động
mạch chạy qua phần bụng giãn qmức, với đường kính ngang tại vị trí giãn
ln hơn chỗ bình thường ít nhất 1,5 lần. Phình ĐMCB là bệnh lý ở người lớn
tuổi, nam gặp nhiều hơn nữ. Trên 90% c trường hợp là phình ĐMCB dưới
động mạch thận, nguyên nhân chính là do xơ vữa động mạch.
Thành mạch suy yếu
Nghiên cu trong cộng đồng cho thấy tỉ lệ phình ĐMCB ca người
cao tui khoảng 2% các nước phương Tây khong 1% VN. Ước tính
c3-8 bnh nhân phình ĐMCB nam mới gặp một bệnh nhân nữ. Người ta
cho rằng phình ĐMCB có tính gia đình và rõ nét nhất giới nữ.
Trong trng thái bình thường, ĐMCB tính bền vững cao nhờ cấu
tạo đặc biệt của lớp giữa thành mạch tạo tính đàn hồi độ vững chắc.
Những đặc tính này sbmất đi nếu những tác động m ng áp lực t
bên trong lòng mạch như cao huyết áp tổn thương thành mạch như
vữa, nhiễm trùng, chấn tơng, thoái hóa, rối loạn chuyển hóa...
Phình ĐMCB diễn tiến thầm lặng và kthất thường. Mỗi m, kích
thước túi phình ĐMCB ng trung bình khong 0,5cm. Túi phình ĐMCB
khoảng 5cm chiều ngang cn phải can thiệp phẫu thuật nhằm tránh các
biến chứng nguy hiểm. Túi phình ĐMCB càng ln, khả ng vỡ càng cao,
tuy nhiên vẫn có thể gặp các trường hợp túi phình nhvỡ.
Tử vong cao
Trong hai biến chứng thường gặp của phình ĐMCB là tắc mạch ngoại
biên vtúi phình thì biến chứng sau nguy hiểm n, gây tử vong cao.
Trên thế gii, kể từ thành ng đầu tiên trong phẫu thuật phình ĐMCB v
vào m 1954 tới nay, mặc dù đã nhiều tiến bộ trong phẫu thuật, gây mê
hồi sức, cm sóc sau mổ... nhưng tvong sau mổ ở các bệnh nhân bvỡ i
phình còn lên đến 30-70%.
Khoảng một nửa số bệnh nhân tvong trước khi kịp nhập viện do sốc
mất máu nặng. một nửa còn lại, 24% bệnh nhân sẽ tử vong trước khi các
bác sĩ có thể can thiệp phẫu thuật do sốc không hồi phục và 42% tvong do
các biến chứng trầm trọng trong và sau mổ, nhất là các biến chứng về tim
mạch, rối loạn đông máu, suy đa quan.
Như vậy vấn đề cần quan m nhằm ng hi vọng sống cho các bệnh
nhân phình ĐMCB là m sao giảm tỉ lệ vỡ túi phình. Điều đó cũng nghĩa
phải ng khả năng tầm soát phát hiện sớm, đồng thời quản theo dõi chặt
chcác trường hợp phình ĐMCB đã được phát hiện và can thiệp ngoại khoa
thích hợp.
Việc phát hiện sớm phình ĐMCB thể thực hiện qua tm km
định kỳ, siêu âm mạch máu. Cần ng cao sự hiểu biết của người n về
nguy cơ gây bệnh, các biểu hiện thông tờng có thể gặp trong các giai đoạn
của bệnh cũng như các biến chứng tắc mạch ngoại biên hay v túi phình.
Đau bụng ở bệnh nhân có phình ĐMCB rất thlà triu chứng báo hiệu túi
phình sắp vỡ hay vỡ.
Chđịnh điều trị nội khoa và theo i định kỳ được đặt ra đối với c
trường hợp phình ĐMCB kích thước nhỏ chưa có biến chứng. Thăm
khám m sàng và siêu âm mch máu định k3 tháng hoặc 6 tháng/lần là
cần thiết. Việc sử dụng thuốc điều chỉnh chế độ ăn uống, sinh hoạt của
người bệnh cũng rất quan trọng nhằm ngăn chặn sự phát triển của túi phình.
Đối vi tình hung phình ĐMCB dọa vỡ hoặc v, điều quan trọng là phát
hiện càng sm càng tốt và kịp thời đưa người bệnh tới các trung m ngoại
khoa.