Vốn và các phương thức huy động vốn của các doanh nghiệp

Chia sẻ: nopusb

Tham khảo tài liệu 'vốn và các phương thức huy động vốn của các doanh nghiệp', luận văn - báo cáo, tài chính - kế toán - ngân hàng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Vốn và các phương thức huy động vốn của các doanh nghiệp

BẢN QUYỀN


ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

LỚP TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 45 C




www.TCDN45C.net.tf
www.TCDN45C.vze.com

TCDN45C@yahoo.com
TCDN45C@gmail.com


Tài liệu chỉ được sử dụng vì mục đích nghiên cứu khoa học.

Nghiêm cấm sử dụng với mục đích thương mại.

Xin liên hệ trực tiếp tác giả để biết thêm chi tiết.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG




ĐỀ ÁN MÔN HỌC

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ



Đề tài: Vốn và các phương thức huy động vốn
của doanh nghiệp.



Giáo viên hướng dẫn : Th.S Lê Thu Thủy
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Quang Sơn
Lớp : Tài Chính Doanh Nghiệp 45C




Hà Nội - 2006
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C



LỜI CẢM ƠN.


Đề án này là kết quả của quá trình học tập tại trường Đại học Kinh tế
Quốc dân và nghiên cứu tìm hiểu thực tế.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo - Th.S Lê Thu Thủy đã tận tình
chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề án môn học
Lý thuyết Tài chính tiền tệ này! Em cũng xin chân thành cảm ơn thầy giáo -
TS. Đào Văn Hùng, người đã trực tiếp giảng dạy môn Lý thuyết Tài chính
tiền tệ và thầy giáo - PGS.TS. Đàm Văn Huệ, người đang trực tiếp giảng
dạy môn Tài chính Doanh nghiệp đã cung cấp những kiến thức cơ bản làm
nền tảng kiến thức để em có thể hoàn thành đề án môn học.




Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2006.


Nguyễn Quang Sơn.




Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 1
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C



MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................. 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN................................................ 5
1. Khái niệm về vốn................................................................................. 5
2. Phân loại vốn........................................................................................ 7
3. Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp.................................................. 8
3.1. Điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp........................... 8
3.2. Cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp..... 10
3.3. Cơ sở cho việc mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh............. 10
4. Các phương thức huy động vốn......................................................... 11
4.1.1. Vốn góp ban đầu.................................................................. 12
4.1.2. Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia..................................... 13
4.1.3. Phát hành cổ phiếu mới........................................................ 14
4.2. Huy động vốn nợ......................................................................... 17
4.2.1. Tín dụng thương mại............................................................ 17
4.2.2. Tín dụng thuê mua................................................................20
4.2.3. Tín dụng ngân hàng.............................................................. 27
4.2.4. Phát hành trái phiếu.............................................................. 30
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VỀ VỐN VÀ PHƯƠNG THỨC HUY
ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM...................... 34
1. Thực trạng về vốn và các phương thức huy động vốn của các doanh
nghiệp Việt Nam..................................................................................... 34
1.1. Thực trạng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp............................ 34
1.2. Thực trạng việc huy động từ vốn nợ của doanh nghiệp.............. 37
1.2.1. Thực trạng về tín dụng thương mại...................................... 37
1.2.2. Thực trạng về tín dụng ngân hàng........................................ 39
1.2.3. Thực trạng về Tín dụng thuê mua........................................ 42
1.2.4. Huy động vốn từ việc phát hành trái phiếu công ty. ........... 44
2. Những thành tựu đạt được.................................................................. 46
3. Những tồn tại và nguyên nhân........................................................... 48
KẾT LUẬN................................................................................................ 56



Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 2
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C




LỜI MỞ ĐẦU

Khi muốn khởi tạo doanh nghiệp, điều kiện cần đầu tiên là phải có
vốn. Trong quá trình hoạt động, sự biến động của vốn cũng là cơ sở và dấu
hiệu cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để tiếp tục phát triển và
đứng vững, doanh nghiệp không những phải duy trì số vốn bỏ ra ban đầu
mà còn phải tìm kiếm những khoản vốn bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau.
Chính vì lẽ đó, huy động vốn trong doanh nghiệp luôn được coi là một
trong những ưu tiên hàng đầu. Thực hiện tốt huy động vốn là cũng đồng
nghĩa với thành công trong xây dựng một cơ cấu vốn hợp lý với chi phí
thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp cạnh tranh với các chủ thể
kinh tế khác trên thương trường.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế đang diễn ra sôi động, môi trường
kinh doanh ngày một trở nên khắc nghiệt hơn, các doanh nghiệp càng phải
quan tâm hơn nữa đến huy động vốn. Bên cạnh các hình thức huy động
truyền thống (xin cấp vốn ngân sách, vay các tổ chức tín dụng,…), thị
trường chứng khoán ra đời đã và đang tạo ra một địa chỉ huy động vốn đầy
tiềm năng cho các doanh nghiệp. Việc tự do hoá hoạt động đầu tư của các
nhà đầu tư nước ngoài cũng đang mở ra vận hội mới cho các doanh nghiệp
Việt Nam tìm kiếm nguồn tài trợ. Tuy nhiên, do trình độ phát triển của hệ
thống tài chính còn chưa cao, cũng như một số hạn chế mang tính chủ quan
khác, thực trạng huy động vốn của các doanh nghiệp trong nước hiện còn
tồn tại nhiều bất cập cần sớm được giải quyết. Điển hình là tình trạng
doanh nghiệp quá phụ thuộc vào nguồn vốn vay ngân hàng – một nguồn
vốn không dễ tiếp cận, trong khi đó lại bỏ qua hoặc ít để ý tới các nguồn


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 3
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

huy động nhiều tiềm năng khác. Mặt khác, do hạn chế về trình độ nhân sự,
các mô hình tính toán chi phí vốn một cách khoa học hầu như không được
các doanh nghiệp áp dụng khi tìm kiếm nguồn tài trợ.

Trong quá trình học tập và nghiên cứu tìm hiểu về tình hình hoạt
động tài chính của các doanh nghiệp hiện nay, em nhận thấy việc làm thế
nào để huy động vốn cho doanh nghiệp và huy động vốn bằng cách nào
đang là một bài toán khó. Nhất là những doanh nghiệp đang trong giai đoạn
phát triển mạnh mẽ và có các yêu cầu cấp thiết về việc mở rộng huy động
vốn để phục vụ cho sự mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Đây là một vấn đề mà em hết sức tâm đắc. Do vậy, em đã lựa chọn đề tài
cho Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ của mình là: “Vốn và các phương
thức huy động vốn của doanh nghiệp”. Kết cấu của đề án gồm hai phần:

I. Cơ sở lý luận về vốn.

II. Thực trạng về vốn và các phương thức huy động vốn của các
doanh nghiệp Việt Nam.

Để tìm hiểu kỹ lưỡng và sâu sắc về tình hình huy động vốn các doanh
nghiệp Việt Nam đòi hỏi phải có nhiều thời gian. Do trình độ còn hạn chế
và thời gian nghiên cứu không nhiều nên em chỉ tập trung vào những vấn
đề cơ bản nhất về vốn và các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp.
Đề án chắc chắn không tránh khỏi sai sót, em rất mong sự đóng góp của
thầy cô, bạn bè và những người quan tâm.

Em xin chân thành cảm ơn!




Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 4
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C




CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN



1. Khái niệm về vốn.

Vốn là gì? Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh
nghiệp được thành lập và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong
mọi loại hình doanh nghiệp, vốn phản ánh nguồn lực tài chính đầu tư vào
sản xuất kinh doanh.
Vốn là khái niệm được xuất phát từ tên tiếng Anh là “capital” có
nghĩa là “tư bản”. Tuy nhiên, khi nói về vốn, trên thực tế còn tồn tại rất
nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa về vốn và hiện nay vẫn tiếp tục có
sự tranh luận về định nghĩa chính xác của nó.
Theo Marx, dưới góc độ các yếu tố sản xuất, vốn được khái quát hoá
thành phạm trù tư bản. K.Marx cho rằng: Vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá
trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản xuất. Định nghĩa này có một tầm
khái quát lớn vì bao hàm đầy đủ cả bản chất và vai trò của vốn. Bản chất
của vốn là giá trị cho dù nó được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
như: tài sản cố định, nhà cửa, nguyên vật liệu, tiền công...Vốn là giá trị
đem lại giá trị thặng dư vì nó tạo ra sự sinh sôi về giá trị thông qua các hoạt
động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển lúc
bấy giờ, K.Marx đã bó hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản xuất vật
chất và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho
nền kinh tế.
Theo P.Samuelson: “Vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục
vụ cho quá trình sản xuất mới, là đầu vào của hoạt động sản xuất của một
doanh nghiệp (máy móc, trang thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu…).

Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 5
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

Còn theo D.Begg, tác giả cuốn “Kinh tế học”, cho rằng: vốn bao
gồm vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá, sản
phẩm đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác. Vốn tài chính là tiền và
các giấy tờ có giá của doanh nghiệp. Theo định nghĩa trên, D.Begg đã đồng
nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. Thực chất vốn của doanh nghiệp là
biểu hiện bằng tiền của tất cả các tài sản mà doanh nghiệp dùng trong quá
trình sản xuất kinh doanh. Vốn của doanh nghiệp được phản ánh trong
bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp.
Qua đó ta thấy vốn đưa vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
có nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra sản phẩm hàng hoá,
dịch vụ tiêu thụ trên thị trường. Lượng tiền mà doanh nghiệp thu về sau quá
trình tiêu thụ phải bù đắp được chi phí bỏ ra ban đầu, đồng thời phải có lãi.
Quá trình này phải diễn ra liên tục thì mới bảo đảm cho sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là một loại hàng hoá. Nó
giống các hàng hoá khác ở chỗ có chủ sở hữu đích thực, song nó có đặc
điểm là người sở hữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời
gian nhất định. Chi phí của việc sử dụng vốn chính là lãi suất. Chính nhờ
có sự tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng nên vốn có thể lưu chuyển
trong đầu tư kinh doanh để sinh lợi.
Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật
chất cơ bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho
quá trình sản xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong
quá trình sản xuất vật chất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và
tái sản xuất liên tục suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu
quá trình sản xuất đầu tiên đến chu kỳ sản xuất cuối cùng.
Một cách thông dụng nhất, vốn được hiểu là các nguồn tiền tài trợ


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 6
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn tiền (quỹ)
này được hình thành dưới nhiều cách thức khác nhau và tại các thời điểm
khác nhau. Giá trị nguồn vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào
sản xuất kinh doanh. Tùy từng loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ
thể mà mỗi doanh nghiệp có các phương thức tạo vốn và huy động vốn
khác nhau.

2. Phân loại vốn.

Nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với tài
sản đang quản lý và sử dụng ở doanh nghiệp. Để có thể quản lý vốn một
cách có hiệu quả, doanh nghiệp cần phải phân loại vốn. Tuỳ theo loại hình
doanh nghiệp và đặc điểm cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có thể lựa
chọn phương thức phù hợp nhất cho doanh nghiệp của mình. Có nhiều
tiêu thức khác nhau để phân loại như theo nguồn hình thành, theo
phương thức chu chuyển, theo thời gian huy động và sử dụng vốn...
Tuỳ theo mỗi tiêu thức phân loại mà vốn của doanh nghiệp có các loại khác
nhau:
- Phân loại theo nguồn hình thành thì vốn của doanh nghiệp bao gồm
2 loại chính là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Vốn chủ sở hữu là phần vốn
thuộc về các chủ sở hữu của doanh nghiệp. Nếu chia nhỏ hơn thì vốn chủ
sở hữu bao gồm các bộ phận như: vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia,
vốn do phát hành cổ phiếu mới... Còn nợ phải trả là phần vốn không thuộc
sở hữu của các chủ sở hữu của doanh nghiệp, bao gồm các khoản vốn
chiếm dụng và nợ vay.
- Phân loại theo phương thức chu chuyển thì vốn của doanh nghiệp
bao gồm 2 loại là vốn cố định và vốn lưu động. Vốn cố định là phần vốn
dùng để đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp. Đây là các tài sản có


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 7
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

thời gian sử dụng dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm,
thường có giá trị lớn. Còn vốn lưu động là phần vốn dùng để đầu tư vào tài
sản lưu động của doanh nghiệp. Tài sản lưu động là các tài sản có thời gian
sử dụng ngắn, chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và thường có giá trị
nhỏ. Cách thức phân loại này rất quan trọng bởi vì vốn lưu động và vốn cố
định có hình thái tồn tại và vai trò khác nhau trong quá trình sản xuất, do
đó cần có các cơ chế quản lý khác nhau.
- Phân loại theo thời gian thì vốn được chia thành vốn ngắn hạn và
vốn dài hạn. Vốn ngắn hạn là vốn có thời hạn dưới 1 năm, còn vốn dài hạn
là vốn có thời hạn từ 1 năm trở lên. Vốn chủ sở hữu được coi là vốn dài
hạn.

3. Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp.

Vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp. Vốn là điều
kiện không thể thiếu được để thành lập một doanh nghiệp & tiến hành các
hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn
phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Trong
quản lý tài chính, các doanh nghiệp cần chú ý quản lý việc huy động & sự
luân chuyển của vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thái khác nhau của
tài sản & hiệu quả tài chính.

3.1. Điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp.

Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một doanh nghiệp. Về
mặt pháp lý, mỗi doanh nghiệp khi thành lập đều phải có một lượng vốn
nhất định và phải lớn hơn hoặc bằng mức vốn pháp định do Nhà nước quy
định đối với lĩnh vực kinh doanh đó. Như vậy vốn lúc này có vai trò đảm
bảo sự hình thành và tồn tại của doanh nghiệp trước pháp luật.
Giá trị vốn ban đầu có thể ít hoặc nhiều tuỳ theo quy mô, ngành

Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 8
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

nghề, loại hình doanh nghiệp. Vốn pháp định ở Việt Nam chỉ quy định cho
một số ngành nghề có liên quan đến tài chính như Chứng khoán, Bảo hiểm,
Kinh doanh vàng và Kinh doanh tiền tệ.
Đối với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác mà Nhà nước
không quy định giá trị vốn ban đầu tối thiểu thì giá trị vốn khi thành lập có
thể dao động từ hàng triệu đến hàng tỷ đồng tuỳ khả năng của người thành
lập doanh nghiệp.
Ví dụ: 1
Chứng khoán: (Theo Nghị định số 48/NĐ-CP)
* Môi giới chứng khoán : 3 tỷ đồng
* Tự doanh : 12 tỷ đồng
* Quản lý danh mục đầu tư: 3 tỷ đồng
* Bảo lãnh phát hành: 22 tỷ đồng
* Tư vấn đầu tư chứng khoán: 3 tỷ đồng.
Kinh doanh vàng (Theo Nghị định số 174/NĐ-CP):
* Sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ: Đối với các doanh nghiệp hoạt
động tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, có vốn pháp định
tối thiểu là 5 tỷ đồng Việt Nam. Đối với các doanh nghiệp hoạt động tại
các tỉnh và thành phố khác, có vốn pháp định tối thiểu là 1 tỷ đồng Việt
Nam.
* Sản xuất vàng miếng: 50 tỷ đồng.
Kinh doanh bảo hiểm (Theo Nghị định số 42-43/NĐ-CP):
* Bảo hiểm phi nhân thọ: 70 tỷ đồng.
* Bảo hiểm nhân thọ: 140 tỷ đồng.
* Môi giới : 4 tỷ đồng.
Kinh doanh tiền tệ
Theo quy định của Luật Ngân hàng và Luật các Tổ chức tín dụng.
1 Theo http://vn.wikipedia.com/vốn_pháp_định/


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 9
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C



Công ty cổ phần Công ty trách nhiệm hữu hạn
Áo 70.000 Euro 35.000 Euro
Đức 50.000 Euro 25.000 Euro
Thụy Sĩ 100.000 CHF từ 20.000 CHF đến 2 triệu CHF


3.2. Cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Vốn là điều kiện cơ bản và thiết yếu để tiến hành bất kỳ quá trình và
loại hình sản xuất kinh doanh nào. Điều này thể hiện rõ trong hàm sản xuất
cơ bản P= F(K, L, T), vốn (K) chính là 1 trong 3 yếu tố cơ bản của hàm sản
xuất, bên cạnh các yếu tố lao động (L) và công nghệ (T). Hơn nữa, trong
hàm sản xuất này thì vốn có thể coi là yếu tố quan trọng nhất bởi vì lao
động và công nghệ có thể mua được khi có vốn.
Sau khi thành lập, doanh nghiệp phải tiến hành sản xuất kinh doanh.
Hoạt động thực tế hàng ngày đòi hỏi phải có tiền để chi tiêu, mua sắm
nguyên vật liệu, máy móc; trả lương... Số tiền này không thể lấy ở đâu khác
ngoài nguồn vốn của doanh nghiệp. Khi nguồn vốn tạm thời không đáp ứng
đủ nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ lâm vào
tình trạng khó khăn về ngân quỹ. Các hoạt động hàng ngày của doanh
nghiệp tạm thời bị đình trệ, suy giảm. Nếu tình hình này không được khắc
phục kịp thời, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng khó khăn tài chính triền
miên; hoạt động sản xuất kinh doanh bị gián đoạn; tâm lý cán bộ công nhân
viên hoang mang; mất uy tín với bạn hàng, chủ nợ và Ngân hàng. Những
khó khăn này có thể nhanh chóng đưa công ty đến kết cục cuối cũng là phá
sản, giải thể hoặc bị sát nhập với công ty khác.

3.3. Cơ sở cho việc mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh.

Vốn không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh

Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 10
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

doanh mà còn giúp doanh nghiệp mở rộng và phát triển. Trong quá trình
phát triển của mình, doanh nghiệp luôn mong muốn mở rộng sản xuất kinh
doanh, giữ vững và vươn lên trong thị trường. Để làm được điều đó, đòi hỏi
doanh nghiệp phải liên tục đổi mới, đầu tư, tái đầu tư, cải tiến máy móc,
thiết bị, công nghệ, hệ thống phân phối sản phẩm... Kỷ nguyên của công
nghệ và sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ càng tạo sức ép cho doanh nghiệp;
buộc phải liên tục làm mới mình, đổi mới không ngừng nếu không muốn
giẫm chân tại chỗ hay bị tụt hậu. Để làm được tất cả những công việc đó
doanh nghiệp không thể không cần đến nguồn vốn đầu tư mở rộng sản xuất
kinh doanh.
Thực tế cho thấy nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh trong
các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay là rất lớn. Nhiều doanh nghiệp do
không có nguồn vốn bổ sung kịp thời, đủ lớn nên đã bị mất đi vị trí của
mình trên thị trường.
Vốn còn là nhân tố cực kỳ quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao
khả năng cạnh tranh trên thị trường. Vốn không những là cơ sở để doanh
nghiệp có thể nâng cao khả năng sản xuất, tăng cường mạng lưới phân phối
mà còn có thể giúp doanh nghiệp vượt qua các đối thủ cạnh tranh hay hơn
nữa là loại bỏ họ bằng các chính sách marketing hiệu quả (tăng cường
quảng cáo, giảm giá, khuyến mại...).
Như vậy, vốn có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải nhận thức vấn đề này một
cách rõ ràng, từ đó phải có một chính sách huy động vốn nhanh chóng, hiệu
quả để có thể tồn tại và không ngừng phát triển trên thương trường.

4. Các phương thức huy động vốn.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn
của các doanh nghiệp được đa dạng hoá. Tùy theo điều kiện phát triển của

Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 11
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

thị trường tài chính của một quốc gia, tùy theo loại hình của doanh nghiệp
và các đặc điểm hoạt động kinh doanh cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có thể
có các phuơng thức tạo vốn và huy động vốn khác nhau.
Các hình thức huy động vốn chủ sở hữu chủ yếu là huy động từ:
- Vốn góp ban đầu.
- Lợi nhuận không chia.
- Phát hành cổ phiếu mới.
Các hình thức huy động nợ chủ yếu là huy động từ:
- Tín dụng thương mại.
- Tín dụng ngân hàng.
- Tín dụng thuê mua.
- Phát hành trái phiếu.


4.1. Huy động vốn chủ sở hữu (Equity).
Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp:
bao gồm phần vốn chủ doanh nghiệp bỏ vào đầu tư kinh doanh và phần
hình thành từ kết quả trong hoạt động kinh doanh.
Do vốn chủ sở hữu là vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp nên
doanh nghiệp không có trách nhiệm phải trả vốn đó cho người khác. Số
liệu về vốn chủ sở hữu giúp cho thấy trong số giá trị tài sản của doanh
nghiệp có bao nhiêu được dùng để đảm bảo trả nợ.
4.1.1. Vốn góp ban đầu.
Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ doanh nghiệp cũng phải có
một số vốn ban đầu nhất định do cổ đông - chủ sở hữu góp. Khi nói đến
nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét hình
thức sở hữu của doanh nghiệp đó. Vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính
chất và hình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp.


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 12
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

- Đối với doanh nghiệp Nhà nuớc, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu
tư của Nhà nước, chủ sở hữu doanh nghiệp Nhà nước là Nhà nước.
- Đối với các doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp, chủ doanh
nghiệp phải có một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành lập
doanh nghiệp. Chẳng hạn, đối với công ty cổ phần, vốn góp của các cổ
đông đóng góp là yếu tố quyết định để hình thành công ty. Mỗi cổ đông là
một chủ sở hữu của công ty và chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ
phần mà họ nắm giữ.
- Trong các loại hình doanh nghiệp khác như công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nguồn vốn cũng
tương tụ như trên; tức là vốn có thể do chủ nhân bỏ ra, do các bên tham gia,
các đối tác góp...
4.1.2. Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia.
Khái niệm: Nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia là một phần
lợi nhuận dùng để tái đầu tư.
Quy mô vốn góp ban đầu của chủ doanh nghiệp là một yếu tố quan
trọng, tuy nhiên, thông thường, số vốn này cần được tăng theo quy mô phát
triển của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều
kiện thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn.
- Đối với doanh nghiệp Nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc không
chỉ vào khả năng sinh lời của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào
chính sách tái đầu tư của Nhà nước.
- Đối với công ty cổ phần: khi công ty để lại một phần lợi nhuận vào
tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ
đông không được nhận tiền lãi cổ phần nhưng bù lại, họ có quyền sở hữu
số vốn cổ phần tăng lên của công ty. Điều này một mặt, khuyến khích các


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 13
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài, nhưng mặt khác, dễ làm giảm tính hấp dẫn
của cổ phiếu trong thời kỳ trước mắt do cổ đông chỉ nhận được một phần
cổ tức nhỏ hơn.
Vốn góp ban đầu và lợi nhuận không chia được gọi là hình thức tự
tài trợ của doanh nghiệp. Hình thức này có một số ưu nhược điềm sau.
a) Ưu điểm:
- Doanh nghiệp không bị phụ thuộc vào bên ngoài (Ngân hàng...)
- Tăng khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp
- Giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong các quan hệ tín dụng tại các ngân
hàng, tổ chức tín dụng hoặc với các cổ đông.
- Nguồn lợi nhuận để lại có tác động rất lớn đến nguồn vốn kinh doanh, tạo
cơ hội cho công ty thu được lợi nhuận cao hơn trong các năm tiếp theo.
b) Nhược điểm:
- Khi doanh nghiệp không trả cổ tức cho cổ đông mà giữ lại lợi nhuận có
thể làm cho giá cổ phiếu trên thị trường giảm, ảnh hưởng xấu đến doanh
nghiệp.
4.1.3. Phát hành cổ phiếu mới.
4.1.3.1. Khái niệm
Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích
sở hữu hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với vốn của tổ chức phát
hành.
4.1.3.2. Phân loại cổ phiếu.
Doanh nghiệp có thể phát hành các loại cổ phiếu sau:
- Cổ phiếu thường: là loại cổ phiếu được phát hành bằng nguồn lợi
nhuận để lại hoặc các nguồn vốn chủ sở hữu hợp pháp khác của công ty cổ
phần và không có sự ưu tiên đặc biệt nào trong việc chi trả cổ tức hay thanh
lý tài sản khi công ty phá sản.


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 14
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

- Cổ phiếu ưu đãi: là loại cổ phiếu được phát hành bằng nguồn lợi
nhuận để lại hoặc các nguồn vốn chủ sở hữu hợp pháp khác của công ty cổ
phần nhưng có sự ưu tiên đặc biệt trong việc chi trả cổ tức hay thanh lý tài
sản khi công ty phá sản.
Khi phát hành cổ phiếu ưu đãi, doanh nghiệp vừa tăng được vốn chủ
sở hữu nhưng lại không bị san sẻ quyền lãnh đạo, việc phát hành vẫn hấp
dẫn người đầu tư bởi tỷ lệ cổ tức được đảm bảo tương đối ổn định. Thông
thường cổ phiếu ưu đãi chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong vốn cổ phần của
công ty.
4.1.3.3. Đặc điểm của nguồn vốn do phát hành cổ phiếu.
a) Điều kiện, thủ tục phát hành cổ phiếu.
Tuỳ từng quốc gia, vùng lãnh thổ mà điều kiện và thủ tục phát hành
cổ phiếu là khác nhau.
- Điều kiện phát hành: Ở Việt Nam, điều kiện phát hành cổ phiếu
được quy định trong Điều 6 nghị định 144/2003/NĐ-CP. Doanh nghiệp
muốn phát hành cổ phiếu phải có đủ các điều kiện sau:
+ Là công ty cổ phần có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng
ký phát hành cổ phiếu tối thiểu 5 tỷ đồng Việt Nam.
+ Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành
phải có lãi.
+ Có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát
hành cổ phiếu.
- Thủ tục phát hành: Doanh nghiệp lập hồ sơ đăng ký phát hành cổ
phiếu (được quy định chi tiết trong Điều 10 nghị định 144/2003/NĐ-CP) và
nộp cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.
b) Quy mô phát hành cổ phiếu.
Doanh nghiệp chỉ được quyền phát hành một lượng cổ phiếu tối đa


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 15
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

và được gọi là vốn cổ phiếu được cấp phép.
c) Thời hạn và lãi suất.
- Cổ phiếu không có thời gian đáo hạn.
- Cổ đông được doanh nghiệp trả cổ tức nhưng doanh nghiệp không
phải trả một mức cổ tức cố định và cũng không bắt buộc phải trả cổ tức cho
cổ đông mà có thể giữ lại để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
d) Quản lý và giám sát.
- Quyền lợi của doanh nghiệp và cổ đông gắn bó chặt chẽ với nhau
do đó doanh nghiệp phải chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ từ cổ đông.
Ngoài ra doanh nghiệp cũng phải chịu sự giám sát của Uỷ ban chứng khoán
Nhà nước.
- Cổ đông có quyền tham gia biểu quyết những vấn đề quan trọng
của doanh nghiệp.
e) Áp lực thanh toán.
- Doanh nghiệp không phải chịu áp lực thanh toán đối với cổ đông.
f) Phương thức, phương tiện thanh toán.
- Doanh nghiệp được quyền lựa chọn phương thức thanh toán 6
tháng hay 1 năm trả cổ tức một lần. Phương tiện thanh toán cổ tức có thể là
tiền mặt hay cổ phiếu.
g) Tiết kiệm thuế.
- Cổ tức được doanh nghiệp trả từ lợi nhuận sau thuế do đó doanh
nghiệp không tiết kiệm được thuế. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp có cổ
phiếu được niêm yết lần đầu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ được
giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong 2 năm kể từ khi thực hiện việc
niêm yết.




Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 16
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

4.2. Huy động vốn nợ.

4.2.1. Tín dụng thương mại.
4.2.1.1. Khái niệm & đặc điểm.
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp,
được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp
hàng hoá. Đến thời hạn đã thoả thuận doanh nghiệp mua phải hoàn trả cả
vốn gốc và lãi cho doanh nghiệp bán dưới hình thức tiền tệ.
- Khi doanh nghiệp mua nguyên liệu, hàng hoá chưa phải trả tiền
ngay là doanh nghiệp đã được các nhà cung cấp cho vay nên hình thức này
còn được gọi là tín dụng của nhà cung cấp.
- Để đảm bảo người mua chịu trả nợ khi đúng hạn, bên cạnh sự tin
tưởng, người bán chịu còn đòi hỏi phải có một chứng cứ pháp lý, đó chính
là tờ giấy chứng nhận quan hệ mua bán chịu nêu trên, tờ giấy chứng nhận
này có thể do chủ nợ lập để đòi tiền, hoặc do con nợ lập để cam kết trả tiền,
nó được gọi là thương phiếu. Thương phiếu tồn tại dưới 2 hình thức là hối
phiếu và lệnh phiếu:
° Hối phiếu là chứng chỉ có giá do người bán chịu lập, yêu cầu người
mua chịu trả một số tiền xác định vào một thời gian và ở một địa điểm nhất
định cho người thụ hưởng.
° Lệnh phiếu là chứng chỉ có giá do người mua chịu lập, cam kết trả
một số tiền xác định trong một thời gian và ở một địa điểm nhất định cho
người thụ hưởng.
Như vậy, hối phiếu là lệnh đòi tiền do chủ nợ lập và chỉ sử dụng
trong quan hệ thương mại, còn lệnh phiếu thì do người mua chịu lập, được
sử dụng không chỉ trong quan hệ thương mại mà còn trong các quan hệ dân
sự khác.
4.2.1.2. Chi phí của tín dụng thương mại.


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 17
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

Trong trường hợp giá mua chịu và giá mua trả tiền ngay có sự chênh
lệch, thường là chênh lệch phải chịu giá cao hơn thì chi phí tín dụng thương
mại chính là chênh lệch giữa giá bán chịu và giá trả tiền ngay.
Thông thường, các nhà cung cấp thường có kèm theo các điều kiện
chiết khấu để khuyến khích khách hàng sớm trả tiền. Ví dụ, một giao dịch
tín dụng thương mại quy định điều kiện chiết khấu "2/15 net 40" trên hoá
đơn, có nghĩa là người bán sẽ chiết khấu 2% trên giá trị của hoá đơn mua
hàng nếu người mua trả tiền trong khoảng thời gian 15 ngày kể từ ngày
giao hàng. Ngưới mua sẽ phải trả toàn bộ giá bán sau 15 ngày và được trả
chậm trong vòng 40 ngày.
Trong trường hợp này, chi phí của tín dụng thương mại là chi phí mà
khi người mua không thanh toán được tiền trong thời hạn được hưởng chiết
khấu. Trong trường hợp này người mua đã mất khoản chiết khấu mà có thể
coi là chi phí cơ hội mà doanh nghiệp phải trả để được sử dụng khoản tiền
mua hàng trong thời gian kể từ sau ngày được hưởng chiết khấu. Chi phí
này tính cho 1 năm, có thể được tính như sau:
i 360
Tỷ lệ chi phí = x
100 − i n− t
Trong đó: i - tỷ lệ chiết khấu
n - số ngày mua chịu
t - thời gian hưởng chiết khấu (ngày)
Ví dụ: tín dụng thương mại với điều kiện "3/10 net 45", ta có:
Tỷ lệ chiết khấu i là 3%
Số ngày mua chịu n là 45 ngày
Thời gian hưởng chiết khấu t là 10 ngày.
Do vậy:




Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 18
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C
3 360
Tỷ lệ chi phí/năm = 100 − 3 x 45 − 10 = 31,8%/năm


Như vậy chi phí cho khoản tín dụng này khá cao.
Trên thực tế, loại hình tín dụng này thường có thời hạn rất ngắn và
thường có lãi suất ngầm ẩn cao hơn rất nhiều so với lãi suất có kỳ hạn
tương đương của vốn vay từ ngân hàng thương mại.
4.2.1.3. Ưu và nhược điểm của việc huy động vốn tín dụng thương
mại.
a) Ưu điểm:
- Tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh do doanh nghiệp sẽ vay
trực tiếp bằng nguyên vật liệu và số lượng có thể thay đổi mỗi kì khi kí hợp
đồng.
- Giúp doanh nghiệp mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một
cách lâu bền.
- Chủ động khi huy động vốn: chủ động về thời gian, số lượng, nhà
cung ứng.
- Huy động nhanh chóng dễ dàng.
- Không phải chịu sự giám sát của ngân hàng cũng như các cơ quan
nhà nước.
- Ngoài ra, đối với doanh nghiệp làm chủ nợ: có thể vay ngân hàng
thông qua hình thức chiết khấu thương phiếu (bán hoặc cầm cố).
b) Nhược điểm:
- Hạn chế về quy mô tín dụng :
+ Số lượng mua chịu.
+ Khả năng của nhà cung ứng.
- Hạn chế về đối tượng vay mượn.
- Hạn chế về không gian vay mượn.


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 19
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

- Hạn chế về thời gian vay mượn do chu kỳ sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp khác nhau và thường bị hạn chế về thời hạn vay.
- Phụ thuộc vào quan hệ sản xuất kinh doanh trên thị trường.
- Có thể gặp rủi ro khi buộc phải thay đổi nhà cung ứng và phụ thuộc
nhiều vào sự đúng hẹn, uy tín của nhà cung ứng.
- Dễ gặp rủi ro dây truyền.


4.2.2. Tín dụng thuê mua.
4.2.2.1. Khái niệm chung.
Tín dụng thuê mua là một hình thức tài trợ tín dụng thông qua các
loại tài sản, máy móc thiết bị. Nó có lịch sử khá lâu đời, song chỉ phát triển
mạnh ở những nước có nền kinh tế phát triển. Đây là một hình tức tín dụng
trung và dài hạn đặc biệt rất thông dụng trong việc tài trợ các doanh nhiệp.
Ở nước ta hình thức tín dụng này mới được hình thành và phát triển.
Quan hệ tín dụng thuê mua được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa
người đi thuê tài sản và người cho thuê. Thỏa thuận thuê mua là một hợp
đồng giữa hai hay nhiều bên, liên quan đến một hay nhiều tài sản. Người
cho thuê sẽ chuyển giao tài sản cho người đi thuê trong một khoảng thời
gian nhất định. Đổi lại người đi thuê phải trả một số tiền cho chủ tài sản
tương ứng với quyền sử dụng.
Có hai phương thức giao dịch chủ yếu là phương thức thuê vận hành
(operating lease) & phương thức thuê tài chính (capital lease).
a) Thuê vận hành (operating lease).
Theo Điều 2 Quy chế tạm thời về hoạt động cho thuê vận hành của
các công ty cho thuê tài chính ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước, cho thuê vận hành (cho thuê hoạt động) là hình thức
cho thuê tài sản, theo đó Bên thuê sử dụng tài sản cho thuê của Bên cho


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 20
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

thuê trong một thời gian nhất định và sẽ trả lại tài sản đó cho Bên cho thuê
khi kết thúc thời hạn thuê tài sản. Bên cho thuê giữ quyền sở hữu tài sản
cho thuê và nhận tiền cho thuê theo hợp đồng cho thuê.
b) Thuê tài chính (capital lease).
Theo Điều 1 Khoản 1 Nghị định số 16/2001/NĐ-CP quy định: Cho
thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc
cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác
trên cơ sở hợp đồng cho thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị,
phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và
nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản
thuê và thanh toán tiền trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận.
Khi kết thúc thời hạn thuê bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản
hoặc tiếp tục thuê.
4.2.2.2. Đặc điểm của nguồn vốn tín dụng thuê mua.
a) Điều kiện, thủ tục thuê.
- Điều kiện: Doanh nghiệp phải kí qũy một mức từ 15-30% giá trị tài
sản thuê.
- Thủ tục: Để được xem xét cho thuê tài chính, Doanh nghiệp cũng
phải chuẩn bị một bộ hố sơ đầy đủ bao gồm các tài liệu chứng minh về tư
cách pháp nhân, tình hình tài chính và dự án đầu tư khả thi và có hiệu quả.
Thuê tài chính không cần tài sản đảm bảo nhưng phải làm các thủ thục thuê
như định giá, đăng kí, đăng kiểm…
b) Chi phí thuê: Doanh nghiệp đi thuê tài sản phải chịu một mức tiền
thuê mà có thể bù đắp được hoàn toàn chi phí công ty Cho thuê tài chính
(CTTC) bỏ ra để mua sắm tài sản, phí quản lí, rủi ro và khả năng tích lũy
lãi. Đối với các nước trên thế giới áp dụng phương pháp khấu hao nhanh,
tiết kiệm về thuế sẽ được chia cho 2 bên nên phí phải trả của Doanh nghiệp


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 21
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

sẽ giảm đi.
- Phương pháp tính tiền thuê phải trả:
+ Phương pháp 1: Tổng số tiền gốc được chia đều cho số kỳ hạn thanh toán
( chỉ áp dụng cho trường hợp trả theo định kỳ )
- Số tiền trả gốc theo mỗi kỳ tính theo phương pháp này như sau:
A
M=
N
Trong đó:
M: Là số nợ gốc tiền thuê phải trả mỗi kỳ thanh toán.
A: Tổng số nợ gốc tiền thuê
N: Số kỳ thanh toán.
- Phí cho thuê tài chính mỗi kỳ = Dư nợ tiền thuê * Phí cho thuê
tháng * Số ngày dư nợ.
+ Phương pháp 2: Xác định số tiền trả đều nhau (cả gốc và phí) cho mỗi kỳ
thanh toán.
- Mỗi kỳ thanh toán, bên thuê trả cho bên cho thuê một số tiền cụ thể được
xác định trước, bên cho thuê sẽ tính toán cụ thể để thu gốc và phí.
Tiền thuê trả mỗi kỳ tính theo phương pháp 2 như sau:
A.r.(1 + r ) n
P=
(1 + r ) n − 1

Trong đó:
P: là số tiền thuê trả cho mỗi kỳ thanh toán ( cả gốc và phí)
A: là tổng số nợ gốc tiền thuê.
r: là phí cho thuê mỗi kỳ thanh toán
n: là số kỳ thanh toán.
- Căn cứ vào số tiền bên thuê trả hàng kỳ, bên cho thuê tính thu gốc và phí
như sau:
Tiền phí = Dư nợ tiền thuê đầu kỳ * r


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 22
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

Tiền gốc = P - tiền phí.
c) Thời hạn thuê: Thời gian thuê tối đa đối với tài sản mới (100%)
tối thiểu là 1 năm nhưng không quá thời gian khấu hao cần thiết do Bộ tài
chính quy định. Thời gian thuê đối với tài sản cũ đã qua sử dụng phù hợp
với tình trạng kỹ thuật và công năng thực tế của tài sản đó nhưng không
vượt quá thời gian khấu hao của tài sản đó theo quy định của Bộ Tài chính.
+ Doanh nghiệp thuê TS theo phương thức thuê vận hành thì chỉ thuê trong
thời hạn rất ngắn so với toàn bộ thời gian hữu ích của tài sản, thích hợp với
những hoạt động có tính vụ mùa. Khi Doanh nghiệp muốn chấm dứt hợp
đồng chỉ cần báo trước cho ngưòi cho thuê một thời gian khá ngắn.
+ Doanh nghiệp thuê TS theo phương thức thuê tài chính thì thời hạn thuê
thuờng gồm 1,2 hoặc 3 giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Thời hạn cho thuê chính thức. Đây là khoảng thời gian


quan trọng nhất của hợp đồng cho thuê. Giai đoạn này chiếm ít nhất
là 60% thời gian khấu hao của TS.
Giai đoạn 2: Cho thuê tự chọn. Đây là khoảng thời gian mà Doanh


nghiệp có thể tiếp tục thuê tài sản, nhưng chi phí thuê rất thấp.
Giai đoạn 3: Thông thường hết giai đoạn thuê tài chính, người cho


thuê ủy quyền cho doanh nghiệp thuê làm đại lý bán tài sản. Nếu
Doanh nghiệp quản lý sử dụng tài sản tốt thì giá trị thực tế của tài
sản có thể lớn hơn rất nhiều giá tiền còn lại dự kiến trong hợp đồng,
họ có thể mua lại và cũng có thể bán được giá cao hơn để hưởng
phần chênh lệch.
- Trong giai đoạn 1 Doanh nghiệp không được tự ý kết thúc hợp
đồng.
d) Phương thức trả tiền: Căn cứ vào khả năng, điều kiện của bên
thuê và thời hạn cho thuê đã được thống nhất trong hợp đồng cho thuê tài


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 23
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

chính, bên cho thuê và Doanh nghiệp có thể thoả thuận phương thức trả
tiền như sau:
+ Gốc và phí cùng trả một lần trong một kỳ thanh toán.
+ Trả phí và gốc theo định kỳ.
e) Quy mô của nguồn vốn: Doanh nghiệp có thể được tài trợ 100%
vốn mà Doanh nghiệp cần. Tuy nhiên quy mô này cũng bị hạn chế bởi quy
định:
+ Thuê vận hành: Tổng giá trị TS sử dụng cho thuê vận hành với 1
khách hàng không được vượt quá 30% vốn tự có của công ty CTTC.
+ Thuê tài chính: Tổng giá trị TS cho thuê không được vượt quá 5%
vốn tự có của công ty CTTC.
f) Quản lý và giám sát.
- Quản lí: Bên cho thuê không có quyền tham gia vào các quyết định
của doanh nghiệp đi thuê.
- Giám sát: Doanh nghiệp thuê tài sản chịu sự kiểm tra tài sản định kì
của bên cho thuê.
g) Phương thức hoàn trả của Doanh nghiệp khi kết thúc hợp đồng:
- Việc định kỳ hạn trả gốc tiền thuê và phí tiền thuê được thoả thuận
giữa bên cho thuê và bên thuê.
- Trả gốc: Căn cứ vào khả năng thu nhập định kỳ của bên thuê, thời
hạn thuê để xác định kỳ trả nợ nhưng tối đa không quá 6 tháng một kỳ.
- Đối với những tài sản có thời gian lắp đặt thiết bị, chạy thử, có thời
gian ân hạn phù hợp với thời gian cần có để lắp đặt thiết bị. Thời gian này
công ty cho thuê tài chính chưa thu nợ. Thời gian cụ thể để xác định kỳ trả
nợ lần đầu do hai bên thoả thuận trong hợp đồng Công ty cho thuê tài
chính.
- Trả phí: Phí tiền thuê được trả theo định kỳ hàng tháng hoặc hàng


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 24
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

quý theo hai bên thoả thuận trong hợp đồng.
h) Áp lực thanh toán:
Doanh nghiệp trả nợ không đúng hạn hoặc không thực hiện cam kết
trong hợp đồng sẽ phải chịu lãi suất phạt như vay của Ngân hàng và sự
phán xử của toà án.
i) Tiết kiệm thuế:
Do Doanh nghiệp trích khấu hao (Thuê tài chính) hoặc phản ánh chi
phí trả tiền thuê là một khoản chi phí của Doanh nghiệp nên lợi nhuận
trước thuế của Doanh nghiệp giảm, Doanh nghiệp tiêt kiệm được 1 khoản
thuế.
4.2.2.3. Các loại hình cho thuê tài chính.
a) Bán và tái thuê: Trong hoạt động kinh doanh có nhiều doanh
nghiệp thiếu vốn lưu động để khai thác tài sản hiện có nhưng lại không đu
uy tín để vay vốn ngân hàng. Do đó người mua bán một tài sản của chính
họ cho người cho thuê. Đồng thời ngay lập tức một hợp đồng thuê mua
được kí kết với nội dung người cho thuê đồng ý cho người thuê lại chính tài
sản mà họ vừa bán. Đôi lúc các định chế tài chính cũng sử dụng phương
thức này như một phương thức chuyển nợ quá hạn mà không cần dùng đến
biện pháp thanh lý hay đề nghị tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Kí hợp đồng mua TS của bên thuê (1)
Bên cho --------------------------------------------------------- > Bên
thuê --------------------------------------------------------- > thuê
Kí hợp đồng thuê và cho thuê TS (2)
b) Cho thuê hợp tác ( leveragel lease): Đối với tài sản thuê có giá trị
lớn, một bên cho thuê không đủ vốn để tài trợ hoặc sợ rủi ro vì tập trung
vốn quá lớn vào một khách hàng nên một số bên cho thuê hợp tác với một
hay nhiều bên cho vay để cùng tài trợ. Trong đó bên cho thuê vẫn là trái


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 25
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

chủ trong quan hệ cho thuê, bên cho vay là trái chủ của bên cho thuê. Vốn
vay thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số tiền tài trợ, khoảng 60-80% và
khoản cho vay được đảm bảo bằng chính tài sản cho thuê và cam kết
chuyển nhượng hợp đồng cho thuê và các khoản tiền thuê. Người cho vay
được hoàn trả tiền cho vay từ các khoản tiền thuê. Sau khi hết món nợ vay
sẽ hoàn trả cho người cho thuê.
c) Thuê mua trả góp ( purchase lease): Đây là một hình thức mua trả
góp tài sản trong một thời gian nhất định, thường là từ 1-5 năm, được áp
dụng đối với trường hợp người mua có thế chấp và không có thế chấp.
Trong thực tế, thuê mua trả góp là hình thức tài trợ vốn cho doanh nghiêp
không có vốn thế chấp. Doanh nghiệp thuê mua tài sản theo hình thức này
phả tiến hành kí kết hợp đồng thuê mua với chủ tải sản, thỏa thuận với số
tiền phảI trả ngay (1/4-1/3 giá trị của tải sản) khi giao tài sản hay trong
những kì tiếp theo. Trong thời gian người mua được phép khấu hao nhanh
để đảm bảo lịch trình thanh toán với khách hàng. Khi hợp đồng đáo hạn thì
người mua nhận quyền sở hữu tài sản. Thuận lợi chính cho người đi thuê
trong hình thức này là họ có ngay tài sản sử dụng mà không phải trả ngay
những khoản tiền lớn. Ngoài ra doanh nghiệp có thể giảm bớt được thuế
TNDN do áp dụng phương pháp khấu hao nhanh.
d) Thuê mua giáp lưng (under lease): Thuê mua giáp lưng là phương
thức tài trợ mà trong đó được sự thỏa thuận của người cho thuê, người thuê
thứ nhất cho người thuê thứ hai thuê lại tài sản mà người thuê thứ nhất đã
thuê từ người cho thuê. Hình thức này thường xảy ra trong trường hợp
người thuê thứ nhất không còn nhu cầu đối với tài sản thuê, vì lí do nào đó,
hợp đồng đã kí kết nhưng không thể hủy ngang nên họ tìm người thuê thứ 2
để chuyển giao hợp đồng. Kể từ ngày chuyển giao hợp đồng, mọi quyền lợi
và nghĩa vụ về tài sản được chuyển giao sang cho người thứ 2. Tuy nhiên


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 26
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

người thuê thứ nhất vẫn chịu trách nhiệm liên đới.
Tuy nhiên có rất nhiều trường hợp bên thứ nhất chỉ là bên trung gian
giữa bên cho thuê và bên thứ hai (do bên thứ hai không đáp ứng được yêu
cầu của bên cho thuê hoặc không biết đến công ty cho thuê). Với phương
thức này mặc dù doanh nghiệp không đủ tiêu chuẩn trực tiếp đi thuê với
bên thuê vẫn có được tài sản để sử dụng trong sản xuất kinh doanh.


4.2.3. Tín dụng ngân hàng.
4.2.3.1. Khái niệm.
Tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất
đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Các doanh nghiệp vay vốn
ngân hàng chủ yếu nhằm vào 3 mục đích:
+ Đầu tư vào Tài sản cố định: máy móc thiết bị, công trình nhà
xưởng…
+ Bổ sung thêm vốn lưu động
+ Phục vụ các dự án
4.2.3.2. Các hình thức tín dụng ngân hàng.
Doanh nghiệp vay để đầu tư vào TSCĐ và phục vụ dự án: có thể vay
Ngân hàng theo hình thức như cầm cố, thế chấp tài sản, thông qua bên thứ
3 để bảo lãnh cho mình hoặc vay dưới hình thức trả góp…
+ Đối với những Doanh nghiệp lớn, Doanh nghiệp có thể sử dụng uy
tín của mình với Ngân hàng (Thanh toán nợ đúng hẹn, khách hàng thân
quen) để vay tín chấp…
+ Đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, khi mà tài sản để thế chấp
cầm cố chỉ có thể vay của Ngân hàng một lượng vốn nhỏ không đủ vốn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh thì có thể nhờ uy tín của bên thứ 3 bảo
lãnh, tham gia vào qũy bảo lãnh tín dụng Doanh nghiệp vừa và nhỏ…


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 27
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

- Doanh nghiệp vay để bổ sung vốn lưu động: có thể vay Ngân hàng
dưới hình thức như vay thấu chi, vay trực tiếp từng lần, cầm cố thế chấp tài
sản, tín chấp (DN lớn), bảo lãnh…
4.2.3.3. Đặc điểm của nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
a) Điều kiện vay vốn: Doanh nghiệp muốn vay vốn Ngân hàng cần
phải có một số điều kiện sau:
+ Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
+ Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
+ Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi,
có hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật.
b) Thủ tục vay vốn: Để được vay vốn ngân hàng, Doanh nghiệp phải
có bộ hồ sơ vay vốn gồm:
+ Giấy đề nghị vay vốn.
+ Giấy phép kinh doanh.
+ Dự án, phương án sản suất kinh doanh, kế hoạch trả nợ.
+ Hồ sơ tài sản thế chấp cầm cố.
+ Hồ sơ tài liệu khác theo yêu cầu của NH.
c) Lãi suất vay: Khi Doanh nghiệp vay vốn NH, Doanh nghiệp phải
trả một mức lãi suất phụ thuộc vào kì hạn của khoản vay (Lãi suất của các
khoản vay có kì hạn càng cao thì càng cao), phụ thuộc vào Doanh nghiệp
có phải là đối tượng ưu đãi không,…
- Lãi suất doanh nghiệp phải trả thường là lãi suất cố định. Điều đó
có nghĩa là Doanh nghiệp sẽ phải trả cho Ngân hàng lãi định kì (thường là
lãi định kì) ngay cả khi Doanh nghiệp làm ăn không có lãi.
d) Thời hạn vay: Doanh nghiệp có thể vay Ngân hàng dưới hình thức
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
e) Quy mô nguồn vốn vay: Doanh nghiệp huy động vốn Ngân hàng


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 28
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

với quy mô phụ thuộc vào mục đích sử dụng vốn. Tuy nhiên quy mô này
có thể bị hạn chế do quy định hạn mức tín dụng của Ngân hàng cho doanh
nghiệp , do kì hạn của nguồn vốn, do giá trị của TS thế chấp, do tính hiệu
quả và khả thi của dự án… Trong trường hợp này Doanh nghiệp có thể xin
sự đồng tài trợ của nhiều Ngân hàng cho mình.
f) Quản lý và giám sát: Doanh nghiệp vay vốn Ngân hàng chịu sự
giám sát của Ngân hàng trên 2 phương diện:
+ Doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn có đúng với mục đích ghi trong
hợp đồng vay vốn hay không?
+ Doanh nghiệp trả gốc và lãi có đúng hạn không?
g) Rủi ro - Áp lực thanh toán: Định kì, doanh nghiệp phải trả lãi cho
ngân hàng ngay cả khi doanh nghiệp làm ăn không có lãi, nếu không doanh
nghiệp sẽ phải chịu lãi suất phạt của NH. Đến hạn trả gốc, nếu Doanh
nghiệp mất khả năng chi trả thì tài sản bảo đảm của Doanh nghiệp bị phát
mãi hoặc bên thứ ba đứng ra bảo lãnh cho Doanh nghiệp khi vay sẽ phảI
chịu trách nhiệm trả hộ cho doanh nghiệp . Điều này gây ra ảnh hưởng rất
xấu về uy tín của Doanh nghiệp với NH.
h) Tiết kiệm thuế: Lãi vay được tính là chi phí của doanh nghiệp ,
làm giảm lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp do đó doanh nghiệp tiết
kiệm được một khoản thuế TNDN.
4.2.3.4. Ưu nhược điểm của việc vay vốn Ngân hàng.
a. Ưu điểm:
- Đối với Doanh nghiệp lớn:
+ Tập trung được nguồn vốn lớn cùng một lúc do có thể có tài
sản để thế chấp lớn, có uy tín với NH…
+ Mức độ rủi ro thấp hơn các Doanh nghiệp nhỏ: Đến kì thanh
toán Doanh nghiệp không trả đựơc nợ sẽ được Ngân hàng gia hạn, các


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 29
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

DNNN sẽ được nhà nước trả hộ…
- Đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Ngày nay Doanh nghiệp vừa và
nhỏ đang nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ phía nhà nước để có thể tiếp
cận được nguồn vốn này.
b. Nhược điểm:
- Bị động trong quá trình vay vì số lượng vay là bao nhiêu còn phụ
thuộc vào quyết định từ phía NH
- Doanh nghiệp chịu sự giám sát của Ngân hàng trong quá trình sử
dung vốn vay. Ngân hàng sẽ giám sát Doanh nghiệp về việc sử dụng vốn
vay có đúng mục đích ghi trong hợp đồng không, về việc trả nợ gốc và lãi
có đúng kì hạn cam kết không…


4.2.4. Phát hành trái phiếu.
4.2.4.1. Khái niệm.
Trái phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi
ích đòi nợ hợp pháp của người sở hữu trái phiếu đối với tài sản của tổ chức
phát hành.
4.2.4.2. Phân loại trái phiếu.
Một doanh nghiệp có thể phát hành các loại trái phiếu sau:
a) Trái phiếu có lãi suất cố định: Là loại trái phiếu mà doanh nghiệp
phải trả một mức lãi suất cố định được quy định ngay từ thời điểm phát
hành.
b) Trái phiếu có lãi suất thả nổi: Là loại trái phiếu mà doanh nghiệp
phải trả mức lãi suất thả nổi theo lãi suất thị trường hoặc theo điều chỉnh
của doanh nghiệp.
c) Trái phiếu có thể thu hồi: Là loại trái phiếu mà doanh nghiệp được
phép thu hồi sớm hơn thời hạn.


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 30
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

d) Trái phiếu có thể chuyển đổi: Là loại trái phiếu cho phép các trái
chủ được quyền chuyển đổi sang một số lượng cổ phiếu thường xác định ở
một giá xác định và trong một khoảng thời gian xác định.
- Đối với loại trái phiếu này chỉ có công ty cổ phần mới được phát
hành, cho phép công ty huy động vốn là vay nợ nhưng khi chuyển đổi trái
phiếu thì nợ chuyển sang vốn điều lệ công ty giúp cho công ty có thể tái
cấu trúc vốn để giảm nợ.Việc phát hành trái phiếu loại này có một số ưu
điểm là chi phí sử dụng vốn thấp do trái phiếu chuyển đổi thường có lãi
suất thấp hơn so với các trái phiếu thông thường có cùng độ rủi ro nhưng
không có khả năng chuyển đổi; việc phát hành tương đối dễ dàng do đây là
một công cụ đầu tư rất hấp dẫn. Tuy nhiên việc phát hành trái phiếu chuyển
đổi có nhược điểm là doanh nghiệp khó kiểm soát được cấu trúc vốn khi
đến thời hạn chuyển đổi do quyền lựa chọn thuộc về trái chủ.
e) Trái phiếu kèm quyền mua cổ phiếu: Là loại trái phiếu cho phép
trái chủ được quyền mua thêm một số lượng cổ phiếu thường ở mức giá
xác định và trong khoảng thời gian xác định.
f) Trái phiếu có tài sản đảm bảo: Là loại trái phiếu được bảo đảm
bằng những tài sản của doanh nghiệp hoặc bằng tài sản của bên thứ ba.
Những tài sản để bảo đảm cho các trái phiếu phát hành thường là bất động
sản hoặc nhà xưởng hay máy móc thiết bị...
- Khi phát hành loại trái phiếu này, công ty hoặc bên thứ ba có trách
nhiệm duy trì các tài sản đảm bảo trong tình trạng tốt nhất. Một tài sản có
thể làm vật bảo đảm cho nhiều lần phát hành trái phiếu nhưng, tổng giá trị
trái phiếu phát hành không được vượt quá giá trị của tài sản đảm bảo.
g) Trái phiếu không có tài sản đảm bảo: Là loại trái phiếu không
được bảo đảm cho việc thanh toán gốc và lãi trái phiếu bằng một tài sản cụ
thể nào. Đây là loai trái phiếu được doanh nghiệp phát hành tương đối phổ


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 31
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

biến. Loại trái phiếu này thường đi đôi với lãi suất huy động khá cao do độ
rủi ro cho trái chủ cao. Thường chỉ những doanh nghiệp lớn, có uy tín mới
có thể phát hành thành công các trái phiếu loại này.
4.2.4.3. Đặc điểm của việc huy động vốn từ phát hành trái phiếu.
a) Điều kiện, thủ tục phát hành. Tùy từng quốc gia, vùng lãnh thổ mà
điều kiện và thủ tục phát hành trái phiếu là khác nhau.
+ Điều kiện phát hành: Ở Việt Nam, điều kiện phát hành trái phiếu được
quy định trong Điều 8 nghị định 144/2003/NĐ-CP: Doanh nghiệp muốn
phát hành cổ phiếu phải có đủ các điều kiện sau:
Là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp nhà


nước có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát hành tối
thiểu là 10 tỷ đồng Việt Nam.
Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành


phải có lãi.
Có phương án khả thi về việc sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt


phát hành trái phiếu.
Phải có tổ chức bảo lãnh phát hành.


+ Thủ tục phát hành: Doanh nghiệp lập hồ sơ đăng ký phát hành trái phiếu
(được quy định chi tiết trong Điều 10 nghị định 144/2003/NĐ-CP) và nộp
cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.
b) Quy mô phát hành: Doanh nghiệp chỉ được phát hành một lượng
trái phiếu nhất định dưói sự cho phép của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước.
c) Thời hạn và lãi suất: Lãi suất trái phiếu thường thấp hơn lãi suất
cho vay của ngân hàng và lợi tức cổ phiếu thường.
Ví dụ: Lãi suất Trái phiếu của Tổng công ty Sông Đà kỳ hạn 3 năm là
9,3%/năm. Trong khi lãi suất ngân hàng cho vay ngắn hạn từ 9,36%/năm
đến 12,06%/năm; cho vay dài hạn từ 0,9%/tháng đến 1,2%/tháng,


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 32
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

- Trái phiếu có thời gian đáo hạn xác định. Khi đáo hạn, doanh nghiệp phải
hoàn trả cho trái chủ cả phần gốc và lãi trái phiếu.
d) Quản lý và giám sát: Doanh nghiệp không phải chịu sự quản lý
hay giám sát từ các trái chủ. Doanh nghiệp chỉ phải chịu sự giám sát của
Uỷ ban chứng khoán Nhà nước.
- Trái chủ không có quyền tham gia vào các quyết định và biểu quyết
những vấn đế quan trọng của doanh nghiệp.
e) Áp lực thanh toán: Doanh nghiệp phải chịu áp lực thanh toán tiền
lãi trái phiếu hàng năm và trả nợ gốc khi đáo hạn.
f) Phương thức thanh toán: Doanh nghiệp có thể thanh toán lãi theo
phương thức trả lãi trước hoặc trả lãi sau.
g) Tiết kiệm thuế: Lãi trái phiếu được hạch toán vào chi phí hoạt
động tài chính (TK 635) để xác định lợi nhuận trước thuế do đó doanh
nghiệp tiết kiệm được một khoản thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Ngoài ra, nếu doanh nghiệp có trái phiếu được niêm yết lần đầu tại
Trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ được giảm 50% số thuế TNDN phải
nộp trong 2 năm kể từ khi thực hiện việc niêm yết.




Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 33
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C


CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VỀ VỐN VÀ PHƯƠNG THỨC
HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

1. Thực trạng về vốn và các phương thức huy động vốn của
các doanh nghiệp Việt Nam.

1.1. Thực trạng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.

- Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, tính đến ngày 01/01/2004,
cả nước có 72.012 doanh nghiệp thực tế hoạt động với tổng số vốn là
1.724.558 tỷ đồng (nếu quy đổi ra đô la Mỹ (thời điểm năm 2003) thì quy
mô vốn của các doanh nghiệp ở Việt Nam chỉ tương đương với một tập
đoàn đa quốc gia cỡ trung bình trên thế giới). Trong đó doanh nghiệp Nhà
nước chiếm 59,0/% tổng vốn của doanh nghiệp cả nước (1.018.615 tỷ
đồng), doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 19,55% (337.155 tỷ đồng),
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 21,44% tổng vốn các doanh
nghiệp cả nước (868.788 tỷ đồng). Xét riêng đối với mỗi doanh nghiệp,
vốn của từng doanh nghiệp rất nhỏ (năm 2004, bình quân mỗi doanh
nghiệp là 23,95 tỷ đồng).
Theo Trung tâm thông tin doanh nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
báo cáo Đăng ký kinh doanh từ 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,
trong năm 2005, toàn quốc có 39.959 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh với
tổng vốn đăng ký 108,03 ngàn tỷ đồng, đạt 107,3% về số lượng và 141%
về vốn đăng ký so năm trước.
Ghi nhận từ các phòng đăng ký kinh doanh trong năm 2005 cho thấy,
số lượng và số vốn doanh nghiệp tư nhân vẫn ngày càng giảm trong khi các
loại hình doanh nghiệp khác tăng lên. Loại hình Công ty TNHH 2 thành
viên vẫn đứng đầu về số lượng và số vốn đăng ký, nhưng tốc độ tăng không

Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 34
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

nhiều như các loại hình khác. Trong số các loại hình doanh nghiệp còn lại,
công ty TNHH 1 thành viên là loại hình có số lượng doanh nghiệp và số
vốn đăng ký tăng nhiều nhất so với năm 2005.
Qua 6 năm thi hành Luật Doanh nghiệp, đã có 160.752 doanh nghiệp
đăng ký kinh doanh tại 64 Phòng đăng ký kinh doanh thuộc 64 Sở Kế
hoạch và Đầu tư trên cả nước, huy động 321,25 ngàn tỷ đồng vốn đăng ký
ban đầu. Đồng thời, các doanh nghiệp đang hoạt động cũng đã đăng ký bổ
sung 103,47 ngàn tỷ đồng vốn. Trong đó riêng năm 2005, số vốn đăng ký
bổ sung này là 38,34 ngàn tỷ đồng.
Số liệu thống kê sơ bộ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết trong quý
I năm 2006, có 7.775 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh
nghiệp với số vốn đăng ký 29.063 nghìn tỷ đồng. Tuy giảm 8% về số
doanh nghiệp đăng ký kinh doanh nhưng tăng 25% về số vốn đăng ký.
- Việc huy động vốn từ nguồn lợi nhuận không chia để lại thì còn
khá khiêm tốn. Thực tế ở Việt Nam, do TTCK được thành lập rất muộn so
với các nước, nên nhà đầu tư chưa có kinh nghiệm và trình độ cao trong
đầu tư, bên cạnh đó lại chủ yếu là các nhà đầu tư ngắn hạn. Nếu công ty cổ
phần niêm yết không thanh toán cổ tức lập tức sẽ có sự phản ứng tức thời
trên thị trường, giá cổ phiếu sẽ giảm. Bởi thông thường các nhà đầu tư cho
rằng sự sụt giảm về lợi nhuận và cổ tức là dấu hiệu xấu cho thấy tương lai
của công ty gặp nhiều khó khăn, khi đó đa số nhà môi giới đều khuyên
khách hàng bán cổ phiếu đi. Vì thế, nguồn tài trợ từ nguồn lợi nhuận giữ lại
của các công ty cổ phần hiện nay chưa được quan tâm xem xét đúng mức.
Nếu xem xét trên TTCK Mỹ, các cổ phiếu như Microsoft từ trước đến nay
không thanh toán cổ tức cho cổ đông, chỉ thanh toán vào năm 2003 với cổ
tức năm (0,16 USD) tính đến 30.6.2003 vốn cổ phần thường của Microsoft
là 35.344.000.000 USD, lợi nhuận giữ lại là 25.676.000.000 USD đạt


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 35
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

72,65% so với vốn cổ phiếu thường. Như vậy đây là một nguồn vốn không
nhỏ nếu chúng ta biết cách phát huy nó một cách có hiệu quả.
- Huy động vốn từ việc phát hành cổ phiếu mới là một biện pháp
đang được rất nhiều doanh nghiệp quan tâm hiện nay. Rất nhiều doanh
nghiệp nhà nước trong tiến trình cổ phần hóa đã phát hành thêm cổ phiếu
mới để thu hút vốn đầu từ từ bên ngoài. Các doanh nghiệp cổ phần khác
cũng coi đây là một nguồn vốn vô cùng to lớn. Một số doanh nghiệp đã
tăng được vốn chủ sở hữu lên đáng kể khi sử dụng biện pháp phát hành
thêm cổ phiếu này. Điển hình nhất phải kể đến các ngân hàng thương mại
cổ phần. Như Ngân hàng xuất nhập khẩu VN (Eximbank) đã phát hành
thêm 400 tỷ đồng cổ phiếu cho các cổ đông hiện hữu và nhà đầu tư chiến
lược (8/2006). Đồng thời, hiện Eximbank vẫn trong thời gian tiến hành
đàm phán để hoàn thành kế hoạch bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài,
đồng thời thực hiện kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 815 tỷ đồng lên 1.200 tỷ
đồng vào cuối năm nay. Ngoài những loại cổ phiếu mới, nhiều công ty cũ
trên sàn cũng phát hành thêm cổ phiếu như Công ty cổ phần Cơ điện lạnh
(REE) phát hành thêm 10 triệu cổ phiếu (bằng 100 tỉ đồng mệnh giá), Công
ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) chuẩn bị phát hành thêm 15,9 triệu cổ
phiếu (159 tỉ đồng mệnh giá).
Thị trường chứng khoán Việt Nam còn đang ở giai đoạn phát triển
ban đầu. Tuy nhiên thị trường chứng khoán Việt Nam đang phát triển với
tốc độ rất nhanh. Khoảng một tháng gần đây, hàng loạt công ty nộp đơn lên
Uỷ ban Chứng khoán nhà nước xin cấp phép niêm yết và phát hành thêm
cổ phiếu. Ngoài yếu tố “chạy" ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trước
thời điểm tháng 1/2007, sự phục hồi khả quan của thị trường chứng khoán
(TTCK) cũng tạo sức hút đáng kể.
Các nhà hoạch định chính sách đã đưa ra chỉ tiêu: năm 2006 đưa


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 36
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

tổng giá trị cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch trên TTCK đạt khoảng từ
2-3% GDP. Con số này là khiêm tốn, vì theo đánh giá của Ủy ban chứng
khoán Nhà nước thì năm 2005 quy mô thị trường giao dịch chứng khoán
tăng với tốc độ lớn nhất trong 5 năm qua, 64% so với năm 2004. Giá trị thị
trường của chứng khoán niêm yết và đăng ký giao dịch tăng gấp 1,6 lần,
tương đương 6,5% GDP năm 2005 (năm 2004 con số này là 3,9% GDP).
Mặc dù vậy, kế hoạch phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2010 cũng chỉ
đặt ra mục tiêu tổng giá trị vốn niêm yết trên thị trường chứng khoán đạt
10-15% GDP.
Kế hoạch là một chuyện, còn thực tế lại diễn ra khác xa. theo ông
Nguyễn Sơn (Phó trưởng ban phát triển thị trường, UBCK Nhà nước): kế
hoạch năm 2006 đạt 3% GDP, nhưng ngay quý I năm 2006 đã đạt 6,5%.
Đây là mức tăng trưởng nhanh. Hiện có khoảng gần 50 DN đã đăng ký
niêm yết với tổng giá trị vốn khoảng 50 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 6,5%
GDP. Đó là còn chưa tính đến 2 Doanh nghiệp mới và sắp niêm yết, với
tổng giá trị vốn khoảng 20 nghìn tỷ đồng nữa. Như vậy, đã có khoảng gần
70 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 8% GDP. Cộng với số trái phiếu trên thị
trường 52 nghìn tỷ đồng, chiếm trên 12% GDP. Như vậy, chúng ta đã
nhanh chóng đạt được mục tiêu trong chiến lược đến của năm 2010 là 10-
15% GDP.



1.2. Thực trạng việc huy động từ vốn nợ của doanh nghiệp.

1.2.1. Thực trạng về tín dụng thương mại.
Trong kinh doanh luôn tồn tại nhu cầu về vốn. Doanh nghiệp nào tìm
được biện pháp có thể giải quyết hữu hiệu vấn đề vốn sẽ có thuận lợi lớn
trong hoạt động kinh doanh của mình và dễ dàng chiếm ưu thế trong cuộc
cạnh tranh với đối thủ. Sự đòi hỏi về vốn ngày một tăng trong nền kinh tế

Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 37
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

thị trường chính là “cha đẻ” của hình thức bán chịu, một hoạt động được
coi là “phao cứu sinh” giúp các doanh nghiệp vượt qua những cơn sóng gió
tài chính. Đây chính là quan hệ mua bán chịu giữa các doanh nghiệp với
nhau trong quá trình mua bán hàng hóa. Để thanh toán hoặc đòi tiền lẫn
nhau, các doanh nghiệp thường sử dụng các công cụ như hối phiếu đòi nợ,
hối phiếu nhận nợ hay séc... Những loại giấy tờ này, nếu còn giá trị, đều có
thể chuyển nhượng lại.
Lâu nay, các doanh nghiệp và ngân hàng đều đã sử dụng hối phiếu
trong thanh toán xuất nhập khẩu và vay nợ nước ngoài. Tất cả các giao dịch
này đều thực hiện theo thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, trong thanh toán nội
địa, các doanh nghiệp chưa sử dụng thương phiếu như là công cụ thanh
toán phổ biến. Ngân hàng thương mại cũng chưa đủ điều kiện để cấp tín
dụng cho doanh nghiệp dưới các hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc
cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu. Trong khi đó, mua bán
chịu giữa các doanh nghiệp, bán hàng gối đầu giữa nhà sản xuất và đại lý,
giữa các tiểu thương ở chợ đầu mối là nhu cầu thực tế.
Ở Việt Nam hiện nay theo thống kê có tới 80,5% số doanh nghiệp
huy động vốn từ các nguồn mua bán chịu, sử dụng vốn của đối tác. Tuy
nhiên, những giao dịch đó chỉ được ghi lại một cách đơn giản trên sổ nợ
của người bán; ngay cả khi mua bán trả chậm, các bên cũng chỉ lập văn bản
thỏa thuận với nội dung đơn giản về thời gian và số tiền trả chậm. Vì vậy,
các khoản nợ đã không được xác nhận về mặt pháp lý và khó chứng minh
khi nảy sinh tranh chấp; dẫn đến nguy cơ nợ nần dây dưa, thậm chí mất
trắng tiền tỷ của các tiểu thương ở chợ đầu mối... Mặc dù quan hệ tín dụng
thương mại mua bán chịu giữa các doanh nghiệp, tiểu thương đã tồn tại như
một quan hệ thực tế khách quan trong nền kinh tế Việt Nam, nhưng phải tới
ngày 1/7/2006, với việc Luật các công cụ chuyển nhượng có hiệu lực, quan


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 38
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

hệ này mới chính thức được pháp luật thừa nhận. Đây được xem như một
động lực thúc đẩy sự phát triển thị trường mua bán nợ nói riêng và thị
trường tiền tệ nói chung.
1.2.2. Thực trạng về tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là hình thức huy động vốn chủ yếu của các
doanh nghiệp nước ta. Các Tổ chức Tín dụng, đặc biệt là các Tổ chức Tín
dụng nhà nước hoạt động chủ yếu vẫn là huy động và cho vay với các hình
thức tín dụng truyền thống, chiếm 75 - 80% thị phần cũng như tài sản của
toàn hệ thống ngân hàng.
Hiện nay nền kinh tế nước ta đang phát triển lên một cấp độ mới, nền
kinh tế hội nhập. Điều đó đang đặt ra cho các chủ thể kinh doanh của nền
kinh tế phải đối mặt với những thách thức mới. Đó là làm thế nào để có thể
tồn tại, đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của hội
nhập quốc tế. Trong bối cảnh như vậy, hoạt động tín dụng ngân hàng nổi
lên như một mắt xích trọng yếu trong hoạt động của nền kinh tế hiện đại,
tín dụng ngân hàng có một vai trò cực kỳ quan trọng, với vị trí là trung gian
tài chính của nền kinh tế, thông qua các nguồn lực xã hội được phân bổ sử
dụng một cách hợp lý và có hiệu quả. Thông qua việc cung ứng nguồn vốn,
tín dụng ngân hàng có tác động rất lớn tới quá trình hoạt động của doanh
nghiệp. Đặc biệt đang lúc chúng ta đẩy nhanh quá trình sắp xếp lại và cổ
phần hoá các DNNN thì vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng lại càng
quan trọng hơn, nhất là trong bối cảnh hiện tại khu mà vốn của ngân hàng
thương mại chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản của DNNN, có trường hợp vốn
tín dụng ngân hàng chiếm tới 80% tài sản của doanh nghiệp. Vì thế hoạt
động tín dụng ngân hàng lại càng quan trọng hơn trong việc phân bổ lại các
nguồn lực nhằm lành mạnh và tối ưu hoá các hoạt động kinh tế của loại
hình doanh nghiệp này. Theo đó, cần tích cực cung ứng vốn tín dụng cho


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 39
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

ngành nghề, các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có lợi thế cạnh tranh
trên thị trường quốc tế như các ngành: thuỷ sản, may mặc và da giày. Kiên
quyết không cung ứng và thu hồi vốn tín dụng đối với các doanh nghiệp
làm ăn thua lỗ, nợ nần dây dưa, mất uy tín trên thương trường, hạn chế đầu
tư đối với các ngành mà có sản phẩm khó có thể cạnh tranh trên thị trường,
đó cũng là một trong những biện pháp quan trọng để sử dụng tối ưu hoá
nguồn lực xã hội. Do đó trong thời gian tới cần tăng tỷ trọng vốn tín dụng
trung, dài hạn trong hoạt động đầu tư. Lẽ ra việc đầu tư vốn trung dài hạn
cần được huy động từ thị trường chứng khoán, nhưng hiện tại hoạt động
của thị trường này còn quá non yếu chưa đáp ứng được các bước phát triển
của nền kinh tế. Việc Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương
mại được nâng tỷ lệ vốn huy động ngắn hạn để đầu tư trung, dài hạn từ
25% đến 30% đang là những bước đi tích cực, điều này sẽ tạo nhiều thuận
lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn quan trọng này để đổi mới
và trang bị công nghệ hiện đại.
Hơn nữa, các ngân hàng thương mại cần có quan hệ tín dụng thực sự
bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh, mà cụ thể là các DNNN và các
doanh nghiệp dân doanh, vì theo ước tính những năm gần đây có đến 80%
vốn tín dụng được đầu tư vào DNNN và chỉ có 20% vốn tín dụng được đầu
tư vào các doanh nghiệp dân doanh trong khi đó khu vực dân doanh đóng
góp tới 42% GDP của cả nước. Do vậy, trong thời gian tới cần mở rộng và
gia tăng thị phần tín dụng đối với kinh tế dân doanh, ít nhất cũng tương
đương với mức đóng góp vào GDP của khu vực này, điều này có thể khả
thi vì theo Quy chế cho vay mới - Quyết định số 1627/2001/QĐ- NHNN về
Nghị định 85/2002/NĐ/CP về sửa đổi bổ sung cơ chế đảm bảo tiền vay thì
các ngân hàng thương mại được hoàn toàn chủ động và tự chịu trách nhiệm
về vốn tín dụng.


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 40
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

Tuy nhiên khu vực kinh tế tư nhân có xu hướng được ngân hàng
quan tâm. Năm 1995, khu vực kinh tế tư nhân chỉ mới nhận được vốn từ hệ
thống ngân hàng là 18.198 tỉ đồng. Năm 1999 lưu lượng vốn đạt được
44.873 tỉ đồng, tăng 146% so với năm 1995; trong khi đó, tín dụng cho
doanh nghiệp Nhà nước chỉ tăng 73%. Đến năm 1997, 1998, 1999 tỉ trọng
vốn tín dụng cho khu vực KTTN trong tổng số vốn tín dụng cho các khu
vực kinh tế khoảng 46% và từ năm 2000 - 2003 tỉ trọng này đã tăng lên
đáng kể (năm 2000: 55,7%; năm 2001: 57,8%; năm 2002: 61,3%; năm
2003: 64,5%).
Hiện nay, dư nợ cho vay doanh nghiệp nhà nước của các ngân hàng
thương mại ở Hà Nội đang giảm khá rõ rệt cả về số tuyệt đối và tỷ trọng
trong tổng dư nợ cho vay các thành phần kinh tế. Nếu ở thời điểm cuối năm
2005 dư nợ cho vay doanh nghiệp nhà nước (cả Trung ương và địa
phương) của hệ thống ngân hàng Hà Nội là 42.170 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng
47,6%/tổng dư nợ thì đến nay số dư này còn khoảng 41.500 tỷ đồng và chỉ
chiếm tỷ trọng khoảng gần 41%/ tổng dư nợ. Trong báo cáo đánh giá hoạt
động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2006, hầu hết các ngân hàng thương mại
đều nêu đối tượng khách hàng được quan tâm hiện nay của họ là các doanh
nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và
vừa và nhu cầu vay của người dân... Không có ngân hàng nào đặt ưu tiên
tín dụng vào doanh nghiệp Nhà nước trong thời gian này.
Đây là một điểm đáng chú ý nếu như chúng ta nhớ rằng chỉ cách đây
một vài năm, doanh nghiệp Nhà nước vẫn là đối tượng khách hàng cạnh
tranh của các ngân hàng. Lúc đó dư nợ cho vay doanh nghiệp nhà nước
chiếm đến 70%-80% tổng dư nợ cho vay của các chi nhánh ngân hàng
thương mại nhà nước nhưng từ năm 2004 đến nay tình hình đã khác.
Ước tính 80% lượng vốn cung ứng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ là


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 41
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

từ kênh ngân hàng. Nhưng theo định hướng của Chính phủ, đến năm 2010,
cả nước sẽ có 500.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN). Đi cùng với
con số này là một lượng vốn lớn cần được đáp ứng. Trong hai năm gần
đây, số vốn mà các ngân hàng thương mại cho các DNVVN vay chiếm
bình quân 40% tổng dư nợ. Theo đại diện các ngân hàng, đây là tỷ lệ cao
nhất từ trước tới nay; thậm chí có những trường hợp chiếm từ 50 – 60%
tổng dư nợ như Ngân hàng Công thương Việt Nam.
Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tốc độ tăng trưởng tín dụng
dành cho khối DNVVN trong những năm gần đây cũng đã cho thấy những
tín hiệu khả quan: năm 2003 là 37,1%, năm 2004 là 20,18% và năm 2005
ước tính là 22%. Tuy nhiên, trong một điều tra về thực trạng DNVVN do
Cục Phát triển doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch Đầu tư) công bố mới đây lại
cho thấy chỉ có 32,38% số doanh nghiệp cho biết có khả năng tiếp cận
được các nguồn vốn Nhà nước (chủ yếu là từ các ngân hàng thương mại),
35,24% doanh nghiệp khó tiếp cận và 32,38% số doanh nghiệp không tiếp
cận được. Như vậy, khả năng tiếp cận vốn ngân hàng thương mại của các
DNVVN vẫn còn nhiều hạn chế.
1.2.3. Thực trạng về Tín dụng thuê mua.
Nghiệp vụ cho thuê tài chính (CTTC) ở Việt Nam được NHNN áp
dụng thí điểm bởi quyết định số 14/QĐ-NH5 từ ngày 17-5-1995. Đến ngày
9-10-1995 chính phủ ban hành nghị định 64/CP "Quy chế tạm thời về tổ
chức và hoạt động của công ty CTTC ở Việt Nam". Ngày 9-2-1996, Thống
đốc NHNNVN có thông tư 03/TT-NH5 hướng dẫn thực hiện quy chế tạm
thời về tổ chức hoạt động của công ty CTTC. Ngày 02-5-2001, Chính phủ
ban hành nghị định 16/NĐ-CP về tổ chức hoạt động của công ty CTTC.
Công ty cho thuê tài chính đầu tiên ở VN là công ty CTTC quốc tế
VN VILC (Vietnam International Leasing Company) được thành lập ngày


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 42
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

28-10-1996 theo giấy phép số 01/GP-CTCTTC với số vốn điều lệ là 5 triệu
USD. Đến nay ở VN có 9 công ty CTTC, tất cả đều thuộc ngân hàng. Đến
cuối năm 1999, tổng số vốn điều lệ của 8 công ty (lúc đó công ty CTTC
của ngân hàng Đầu tư chưa tách ra làm 2 công ty) là 494 tỉ VND, năm 2003
đã tăng lên 785,6 tỉ VND (vốn điều lệ của công ty thuộc tổ chức tín dụng là
50 tỷ VND). Đó là các công ty;
1. Công ty CTTC ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn 1
(1998).
2. Công ty CTTC ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn 2
(1998).
3. Công ty CTTC ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam 1
4. Công ty CTTC ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam 2
5. Công ty CTTC ngân hàng Công thương Việt Nam (1998).
6. Công ty CTTC ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (1998).
7. Công ty CTTC Quốc tế Việt Nam VILC.
8. Công ty CTTC ANZ V-TRAC.
9. Công ty CTTC Kexim Việt Nam.
Trong đó 6 công ty đầu tiên là các công ty trực thuộc tổ chức tín
dụng, 100% vốn trong nước. Công ty thứ 7 là công ty liên doanh (giữa 5
bên : ngân hàng công thươnng Việt Nam, công ty tài chính KDB (Hàn
Quốc), ngân hàng AoZora (Nhật bản), công ty tài chính IFC thuộc ngân
hàng thế giới, ngân hàng Natexi banques populairé (Pháp). 2 công ty thứ 8
và 9 là 2 công ty CTTC 100% vốn nước ngoài.
Khách hàng của công ty CTTC nước ngoài là các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài, con khách hàng của công CTTC trong nước là các
doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiêm hữu hạn,
doanh nghiệp tư nhân. Tỉ lệ vốn đầu tư vào doanh nghiệp quốc doanh


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 43
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

chiếm khoảng 74% tổng Dư nợ. Đến tháng 9/2004 tổng dư nợ CTTC đã đạt
5.872.400 triệu VNĐ tăng 36% so với năm 2003.
Theo đánh giá của Phó Thống đốc thường trực Ngân hàng Nhà nước
Trần Minh Tuấn thì từ khi ra đời đến nay, các công ty CTTC đã phát triển
nhanh chóng cả về quy mô và mạng lưới hoạt động. Cụ thể: đã thực hiện
được nhiều nghiệp vụ cho thuê khác nhau, đa dạng hoá các tài sản cho thuê,
phương thức cho thuê và đối tượng khách hàng. Trong 8 năm, các công ty
CTTC đã từng bước phát huy được vai trò quan trọng là hỗ trợ các doanh
nghiệp đầu tư chiều sâu, đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến kỹ thuật. Không
chỉ có thế, tỷ lệ dư nợ quá hạn của các công ty CTTC thấp hơn nhiều so với
các ngân hàng, lợi nhuận năm sau luôn cao hơn năm trước. Dư nợ CTTC
gia tăng mạnh trong khoảng thời gian 1999-2004. Tỷ trọng dư nợ CTTC
trong tổng tài sản chiếm đa số và tăng liên tục từ 65% năm 1999 lên 91%
năm 2004. Do đó, vị trí các công ty CTTC ngày càng quan trọng trong hoạt
động của các tổ chức tín dụng.


1.2.4. Huy động vốn từ việc phát hành trái phiếu công ty.
Nhìn chung thị trường trái phiếu doanh nghiệp nước ta hiện nay chưa
phát triển. Tổ chức phát hành chủ yếu mới chỉ là các ngân hàng thương
mại. Số doanh nghiệp phát hành trái phiếu rất ít, tập trung ở những doanh
nghiệp nhà nước quy mô lớn. Đến hết tháng 5/2005, dư nợ trái phiếu là
1071,9 tỉ đồng, chiếm khoảng 9% GDP.
Thêm vào đó khung pháp lý quản ly việc phát hành trái phiếu còn
thiếu toàn diện, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong
việc huy động vốn. Nghị định 144/2003/NDCP tuy đã được ban hành từ
năm 2003 nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự được áp dụng nhiều vào
thực tế do: Tiêu chuẩn các định việc phát hành trái phiếu ra công chúng tuy


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 44
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

đã được định lượng nhưng khó vận dụng và không phù hợp với điều kiện
thực tiễn Việt Nam, khả năng phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp bị
hạn chế do việc phát hành trái phiếu phải bắt buộc thực hiện theo phương
thức bảo lãnh phát hành thông qua các công ty chứng khoán, trong khi mức
bảo lãnh phát hành của các công ty chứng khoán lại bị giới hạn...
Mới đây, chính phủ vừa ban hành Nghị định 52/2006/NĐ-CP về phát
hành trái phiếu doanh nghiệp đã mở ra một kênh mới để huy động vốn cho
doanh nghiệp. Về phương diện chính sách, Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu
tư mới được Quốc hội thông qua năm 2005 đã cho phép các doanh nghiệp
được phát hành trái phiếu để huy động vốn từ thị trường. Tuy nhiên, hiện
nay chúng ta mới chỉ có quy định về việc phát hành trái phiếu ra công
chúng. Vì vậy, việc ra đời của Nghị định 52/2006/NĐ-CP là một bước kiện
toàn về hệ thống chính sách quản lý của Nhà nước, đảm bảo cho hệ thống
chính sách toàn diện hơn, hoạt động của các doanh nghiệp được thực hiện
công khai, minh bạch hơn.
Vừa qua, được phép của NHNN Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp
và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) phát hành trái phiếu dài hạn
với tên gọi trái phiếu Agribank với 2 thời hạn ban đầu là 10 năm và 15
năm. Thời hạn phát hành trái phiếu Agribank tối đa 60 ngày. Ngày phát
hành trái phiếu: 10/10/2006, ngày đến hạn thanh toán lãi trái phiếu là ngày
10/10 hàng năm. Trái phiếu Agribank được phát hành bằng Đồng Việt
Nam (VNĐ) với khối lượng 3.000 tỷ VNĐ qua hình thức ghi sổ. Việc phát
hành trái phiếu Agribank 2006 là bước đi đúng hướng của Agribank nhằm
đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, tăng thêm nguồn vốn dài hạn đầu
tư cho các dự án phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và tăng
cường năng lực tài chính của mình.




Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 45
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

2. Những thành tựu đạt được.

Mức vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp ngày một tăng. Thời
kỳ 1991-1999, vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp là gần 0,57 tỷ
đồng, năm 2000 là 0,96 tỷ đồng, năm 2001 là 1,3 tỷ đồng và năm 2002 là
1,8 tỷ đồng. Doanh nghiệp có số vốn đăng ký thấp nhất là 5 triệu đồng, cao
nhất là 200 tỷ đồng (hơn 130 triệu USD). Một điều đáng chú ý là số vốn
đầu tư thực tế cao hơn số vốn đăng ký ở cùng thời kỳ và doanh nghiệp tư
nhân trong nước là nhà đầu tư chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn. Như ở Lào
Cai, trong khi vốn đăng ký kinh doanh năm 2002 chỉ khoảng 93 tỷ, thì vốn
đầu tư thực hiện của các doanh nghiệp là 422 tỷ. ở các địa phương khác,
cũng tương tự. Qua 6 năm thi hành Luật Doanh nghiệp, đã có 160.752
doanh nghiệp được thành lập, huy động 321,25 ngàn tỷ đồng vốn đăng ký
ban đầu. Đồng thời, các doanh nghiệp đang hoạt động cũng đã đăng ký bổ
sung 103,47 ngàn tỷ đồng vốn. Trong đó riêng năm 2005, số vốn đăng ký
bổ sung này là 38,34 ngàn tỷ đồng.
- Bước đầu đã thu hút được vốn từ việc phát hành cổ phiếu & phát
hành trái phiếu công ty. Chính phủ đã ban hành những quy định rõ ràng
hơn về việc phát hành cổ phiếu & trái phiếu của doanh nghiệp. Luật Chứng
khoán được Quốc hội thông qua sẽ có hiệu lực từ 1/1/2007 sẽ tạo khung
hành lang pháp lý thuận lợi cho việc phát hành cổ phiếu của các doanh
nghiệp. Như Nghị định 52/2006/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh
nghiệp đã mở ra một kênh mới để huy động vốn cho doanh nghiệp, khuyến
khích các doanh nghiệp trực tiếp tham gia huy động vốn trên thị trường để
phục vụ mục tiêu đầu tư phát triển của doanh nghiệp, kể cả mục tiêu tăng
quy mô vốn tự có.
- Tín dụng ngân hàng vẫn là hình thức huy động vốn chủ yếu của các
doanh nghiệp nước ta. Hoạt động chủ yếu của các Tổ chức Tín dụng vẫn là


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 46
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

huy động và cho vay với các hình thức tín dụng truyền thống, chiếm 75 -
80% thị phần cũng như tài sản của toàn hệ thống ngân hàng. Một số ngân
hàng có chiến lược rõ ràng hướng về khu vực DN vừa & nhỏ, mỗi ngân
hàng đã dành một lượng vốn nhất định để cho khu vực doanh nghiệp này
vay. Một số ngân hàng cũng đang thay đổi chế độ cho vay đối với DN vừa
& nhỏ, có sự linh hoạt hơn, thích hợp hơn với cơ chế thị trường. Trong hai
năm gần đây, số vốn mà các ngân hàng thương mại cho các DN vừa & nhỏ
vay chiếm bình quân 40% tổng dư nợ. Theo đại diện các ngân hàng, đây là
tỷ lệ cao nhất từ trước tới nay; thậm chí có những trường hợp chiếm từ 50 –
60% tổng dư nợ như Ngân hàng Công thương Việt Nam.
- Tính đến nay với hơn chục công ty cho thuê tài chính, trên 500
nhân viên chuyên nghiệp, vốn tự có trên 900 tỷ đồng và vốn đầu tư trên
3.000 tỷ đồng, hoạt động cho thuê tài chính đã đảm bảo nộp ngân sách, có
lãi và góp phần hỗ trợ tích cực trong việc cung cấp các giải pháp tài chính
cho DN, đặc biệt là khu vực DN vừa và nhỏ. Mặc dù ra đời chưa lâu nhưng
hoạt động CTTC của chúng ta đã có những bước phát triển đáng kể. CTTC
thực sự là một kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng được đánh giá là
khá hữu hiệu tạo điều kiện thu hút vốn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh,
nhất là đối với các DN vừa và nhỏ. Quy mô hoạt động kinh doanh CTTC
phát triển khá nhanh và tăng trưởng vượt bậc qua các năm.
Có một điều rất đáng khuyến khích là trong hoạt động kinh doanh
của mình các công ty CTTC thường không có sự phân biệt đối xử với các
thành phần kinh tế khác nhau, đối tượng CTTC chủ yếu là các DN ngoài
quốc doanh; các DN đi thuê còn được hưởng lợi ích từ các thành tựu khoa
học kỹ thuật tiên tiến; được hưởng các dịch vụ tư vấn miễn phí và những
thông tin cần thiết khác từ những nhà cung cấp dịch vụ.




Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 47
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

3. Những tồn tại và nguyên nhân.

Mặc dù có tiến bộ về tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu và hiệu quả
sản xuất kinh doanh ở một số mặt được nâng lên, song so với yêu cầu của
chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2010 và hội nhập kinh tế khu vực,
quốc tế, thì doanh nghiệp nước ta bộc lộ nhiều yếu kém bất cập.
Khoảng 90% trong số các doanh nghiệp hiện hữu là doanh nghiệp
nhỏ và vừa, vốn bình quân của 1 doanh nghiệp chưa tới 10 tỷ đồng. Tổng
số vốn điều lệ của 230.000 doanh nghiệp chỉ có khoảng 250.000 tỷ đồng,
tương đương với khoảng 15,5 tỷ USD- tức chỉ tương đuơng với số vốn của
một tập đoàn đa quốc gia cỡ trung bình trên thế giới - như một số chuyên
gia kinh tế đã đánh giá.
Thị trường chứng khoán ở Việt Nam lại chưa phát triển, chưa trở
thành kênh huy động vốn dài hạn cho đầu tư phát triển. Nước ta hiện nay
có trên 400 công ty cổ phần đủ điều kiện niêm yết trên Trung Tâm giao
dịch Cổ phiếu TP.HCM, song hiện chỉ có hơn 50 công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán, nhưng tổng số tài khoản đầu tư chứng khoán của toàn
thị trường mới chỉ chiếm con số rất khiêm tốn, không bằng số tài khoản
tiền gửi tại một ngân hàng cổ phần nhỏ.
Dường như các công ty cổ phần không muốn niêm yết trên thị trường
CK. Trong khi đó ở các nước khác, được niêm yết là một vinh hạnh lớn,
phải phấn đấu một thời gian nhất định, có khi trong nhiều năm mới đủ điều
kiện niêm yết. Nguyên nhân chính của hiện tượng này liên quan đến lợi ích
của công ty khi niêm yết và khi không niêm yết. Nghịch lý ở Việt Nam là:
Quyền lợi đem lại cho công ty CP khi niêm yết kém quyền lợi mà họ mất đi
khi tham gia niêm yết. Đó là khi không tham gia niêm yết không cần kiểm
toán hàng năm, không tốn phí kiểm toán, không cân công bố thông tin,dễ
trốn thuế hơn... Tuy nhiên những cái gọi là "ưu điểm" khi không tham gia


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 48
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

niêm yết chỉ có thể có trong thời điểm giao thời, lúc tranh tối tranh sáng.
Thực ra những lợi ích này hoàn toàn không bền vững khi nhà nước có các
biện pháp quản lý chặt chẽ hơn.
Nhà đầu tư thiếu thông tin. Giao dịch chứng khoán qua internet chưa
phát triển. Giao dịch chứng khoán qua mạng Internet là 1 hình thức phổ
biến trên thế giới hiện nay. Ở nước ta, hình thức này đã xuất hiện nhưng
còn rất mới mẻ với công chúng và nhà đầu tư. Sau gần 5 năm đi vào hoạt
động, TTCK Việt Nam đã thu hút hơn 20.000 tài khoản đăng ký của các
nhà đầu tư là cá nhân và tổ chức tham gia giao dịch chứng khoán. Hầu hết
trong số đó là các nhà đầu tư tập trung ở TP.HCM và Hà Nội. Thông
thường nhà đầu tư muốn mua bán chứng khoán phải đích thân đến trụ sở,
chi nhánh, văn phòng đại diện, đại lý nhận lệnh của công ty chứng khoán
mà mình mở tài khoản, ghi lệnh và chuyển cho nhân viên của công ty
chứng khoán tại đó.
Doanh nghiệp chưa có phương tiện hiệu quả truyền tải thông tin đến
các nhà đầu tư. Thực tế là đa số các công ty niêm yết chưa sử dụng website
làm công cụ của riêng mình để truyền tải thông tin đến cấc nhà đầu tư.
Thông tin chưa được lưu trữ, thống kê, sắp xếp có hệ thống đẻ phục vụ cho
mọi đối tượng đầu tư. Nguyên nhân của tình trạng này là do: Các quy định
pháp lý chưa được cải thiện, nội dung bắt buộc công bố chưa bao hàm hết
các vấn đề mà nhà đầu tư quan tâm, các công ty niêm yết chưa chú trọng
tới khâu thông tin và quan hệ với nhà đầu tư. Thực trạng này gây ra hậu
qua là:
+ Các nhà đầu tư mới rất khó khăn trong việc tìm hiểu về doanh
nghiệp vì rất mất thời gian trong việc thu thập thông tin.
+ Hiện nay các trang web về chứng khoán còn thiếu trầm trọng tin
tức bằng Tiếng Anh. Vì vậy rất hạn chế cho các nhà đầu tư nước ngoài nào


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 49
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

muốn có cơ hội tiếp cận được các nguồn thông tin.
Việc phát hành chứng khoán ra thị trường nước ngoài đang ở giai
đoạn thử nghiệm. Mới chỉ có 1 số công ty "có ý định" đưa cổ phiếu của
mình ra niêm yết ở thị trường nước ngoài. Bởi trong điều kiện các chuẩn
mực kế toán Việt Nam vẫn còn quá nhiều cách biệt với chuẩn mực kế toán
thế giới, muốn niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán ở các nước
khu vực và xa hơn nữa là TTCK toàn cầu, buộc lòng các doanh nghiệp Việt
Nam phải chuyển đổi các báo cáo tài chính và hàng loạt các báo cáo quản
trị nội bộ khác theo yêu cầu của từng thị trường. Trong khi đó các doanh
nghiệp Việt Nam không có đủ nguồn nhân lực để chuẩn bị các báo cáo theo
những chuẩn mực quốc tế, còn nếu thuê các công ty tư vấn thì lại phải gánh
chịu 1 khoản chi phí hết sức nặng nề.
Vẫn còn tồn tại sự bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế: giữa
DNNN và DN phi nhà nước thì DNNN dễ vay Ngân hàng hơn. Về mặt
quan điểm và nhận thức, Đại hội Đảng lần IX đã khẳng định thành phần
kinh tế tư nhân được tồn tại và phát triển lâu dài. Trong thực tế, quan điểm
này chưa được thực hiện một cách nghiêm túc. Điều này thể hiện ở chỗ
trong công việc hàng ngày người ta vẫn còn phân biệt đối xử đối với khu
vực kinh tế tư nhân, vẫn có cái nhìn không thiện cảm đối với khu vực này.
Người ta vẫn ưu tiên cho khu vực kinh tế nhà nước từ lĩnh vực kinh doanh,
tài chính cho đến tín dụng, ngân hàng và các vấn đề khác. Trong kinh
doanh, còn nhiều lĩnh vực kinh tế tư nhân không được làm như kinh tế nhà
nước. Về vốn, việc tiếp cận đến các nguồn vốn của khu vực tư nhân còn
nhiều khó khăn, nhất là vốn vay ưu đãi.
Khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn
hạn chế, mà nguyên nhân có từ 2 phía: các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
thiếu các điều kiện vay vốn, các Tổ chức Tín dụng lo sợ vấn đề an toàn vốn


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 50
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

vay. Do đó, việc phân bổ tín dụng vẫn được xem còn nhiều ưu tiên hơn cho
các doanh nghiệp nhà nước, nhất là tập trung nhiều vốn cho một số tổng
công ty 90, 91. Cơ cấu nguồn vốn cũng như cơ cấu đầu tư chưa phù hợp và
đáp ứng yêu cầu đầu tư trung dài hạn cho các công trình hạ tầng cơ sở có
tính chất nền tảng cho CNH, HĐH, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp,
nông thôn.
Hiện các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tiềm lực tài chính nhỏ bé. Bình
quân số vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ là 1.800 triệu đồng. Bên cạnh
đó, việc tiếp cận với các nguồn tài chính từ các tổ chức tín dụng của các
doanh nghiệp tuy đã được cải thiện nhưng còn nhiều khó khăn. Tỷ lệ các
doanh nghiệp vừa và nhỏ vay được vốn ngân hàng chỉ khoảng 57% nhưng
lượng vốn vay không nhiều và thời gian cũng như thủ tục vay vốn còn
phức tạp. Không chỉ với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, với các doanh
nghiệp lớn cũng khó khăn không kém, nhất là vay dưới hình thức bảo đảm
nợ vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
Định giá tài sản của doanh nghiệp chưa tốt. Tài sản của doanh nghiệp
thường bị định giá thấp hơn giá thực tế, Doanh nghiệp vay được ít hơn và
ảnh hưởng đến các quyết định của doanh nghiệp.
Các Doanh nghiệp cần vốn nhưng không đủ điều kiện vay vốn khó
có thể tiếp cận được với nguồn vốn này.
Một số giải pháp đối với Doanh nghiệp để có thể vay được vốn Ngân
hàng nhiều hơn: Doanh nghiệp phải tạo uy tín với Ngân hàng: thanh toán
nợ đúng hẹn, lập các báo cáo tài chính đầy đủ… Doanh nghiệp cần có
những dự án kinh doanh hiệu quả để Ngân hàng dễ cho vay hơn, và có thể
được số vốn như mong muốn. Nhà nước cần hoàn thiện cơ sở pháp lý để:
+ Tạo sân chơi bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế, tạo cho khu
vực KTTN (trong đó có các doanh nghiệp) được bình đẳng trong việc tiếp


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 51
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

cận vốn, bình đẳng về lãi suất (trong đó có ưu đãi cho diện chính sách xã
hội).
+ Tạo cơ sở pháp lý để khu vực KTTN đảm bảo các điều kiện vay
vốn ngân hàng và trên cơ sở đó ngân hàng yên tâm cho vay vốn.
+ Tiến hành sắp xếp lại để các đơn vị thuộc khu vực KTTN, trong đó
có các doanh nghiệp vừa và nhỏ lành mạnh về tổ chức, về tài chính, đủ điều
kiện về hạch toán kế toán, thống kê. Thực hiện tốt việc kiểm soát nội bộ,
tiến tới thực hiện kiểm toán độc lập theo định kỳ... qua đó tạo sự minh bạch
với xã hội và lòng tin đối với ngân hàng và nhà đầu tư.
+ Có biện pháp giảm thiểu tối đa tình trạng hình sự hóa quan hệ tín
dụng sẽ là điều kiện để các ngân hàng tăng cường cho các đối tượng của
KTTN vay vốn có thế chấp hoặc tín chấp.
+ Cải cách hành chính theo hướng đơn giản hóa thủ tục để các đối
tượng có thể vay vốn một cách nhanh chóng, kịp thời triển khai các phương
án hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác, cần tăng cường các dịch vụ
thanh toán, bảo lãnh, tư vấn cho KTTN.
+ Thúc đẩy nhanh việc triển khai hoạt động các quỹ bảo lãnh tín
dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
+ Hoàn thiện chính sách kế toán, kiểm toán như: xây dựng chuẩn
mực kế toán doanh nghiệp Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế; bổ sung, sửa
đổi để hoàn thiện Chế độ kế toán đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ...
+ Việc dỡ bỏ những vướng mắc giữa ngân hàng và Doanh nghiệp,
khai thông thế bế tắc của tình trạng “đơn vị thiếu vốn, trong khi ngân hàng
không cho vay được” sẽ là một yếu tố quan trọng thúc đẩy kinh tế phát
triển, đóng góp nhiều hơn nữa vào công cuộc CNH - HĐH của đất nước.
Theo đánh giá chung hoạt động cho thuê tài chính (CTTC) trong thời
gian qua đã dần mở rộng quy mô đối tượng cho thuê và thành phần khách


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 52
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

hàng tham gia, doanh số cho thuê ngày một tăng cao, chất lượng hoạt động
CTTC tương đối tốt, tỷ lệ nợ quá hạn ở mức cho phép, lợi nhuận năm sau
tăng hơn năm trước... Tuy nhiên, các công ty CTTC hiện nay nguồn vốn
huy động còn ít, hoạt động còn rải rác chủ yếu là ở HN và TPHCM. Thêm
nữa, thị trường mua bán máy móc, thiết bị cũ chưa phát triển cũng chưa tạo
được điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của hoạt động thuê tài chính ở
Việt Nam. Bên cạnh những kết quả đã đạt được hoạt động CTTC ở Việt
Nam hiện nay còn tồn tại một số vấn đề sau:
+ Thứ nhất là việc quy định nguồn vốn huy động còn có những bất
cập. Theo đó pháp luật Việt Nam quy định số vốn đầu tư cho các DN đi
vay không được vượt quá 30% vốn điều lệ của công ty. Trên thực tế những
quy định này đang gây cản trở cho hoạt động kinh doanh của các công ty
CTTC. Bởi vì với quy định như trên phần lớn việc đầu tư chỉ dừng lại ở các
DN có quy mô vừa và nhỏ. Việc huy động được nguồn vốn cũng như khả
năng tích luỹ của các công ty CTTC là rất khó khăn trong khi đó việc phát
hành giấy tờ có giá để huy động vốn gần như không thực hiện được vì phải
có sự đồng ý của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
+ Thứ hai, hoạt động CTTC của chúng ta hiện nay còn phát triển khá
manh mún chưa có định hướng chiến lược phát triển trong tương lai, trong
đó vấn đề nhu cầu thị trường chưa được tập trung nghiên cứu làm ảnh
hưởng đến chính sách huy động vốn. Không những thế hoạt động thuê
mua ở Việt Nam cho đến nay còn khá đơn điệu, lãi suất chưa thực sự hấp
dẫn và phần lớn các công ty CTTC đều chưa thành lập được hệ thống các
chi nhánh. Điều đó cũng giải thích tại sao tuy ra đời từ khoảng năm 1997
nhưng đến nay cả nước mới chỉ có 9 công ty CTTC.
+ Thứ ba, phải kể đến hạn chế rất phổ biến hiện nay đó là các công ty
CTTC chưa thiết lập được một mối quan hệ sâu rộng đến các cơ sở cung


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 53
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

ứng máy móc, thiết bị...Và đội ngũ cán bộ của công ty còn thiếu những
chuyên gia giỏi nắm vững những khoa học công nghệ mới tiên tiến, điều
này sẽ làm công ty mất đi tính chủ động khi tham gia thị trường.
+ Thứ tư, việc phân biệt giữa giao dịch CTTC và các giao dịch cho
thuê thông thường khác (cho thuê vận hành) chưa thật sự rõ ràng. Hoạt
động CTTC là hình thức tín dụng trung và dài hạn thông qua hợp đồng
CTTC, còn hợp đồng cho thuê vận hành là hình thức tín dụng ngắn hạn
thông qua hợp đồng cho thuê tài sản. Nếu hợp đồng cho thuê tài sản nào
không đáp ứng được yêu cầu của CTTC thì được xem là hợp đồng cho thuê
vận hành. (Theo quy định của quốc tế và Mục 6- "Thuê tài sản" của Chuẩn
mực kế toán Việt Nam). Với quy định như vậy hợp đồng cho thuê vận hành
của các công ty CTTC chịu sự quản lý của NHNN còn có rất nhiều các DN
khác cho thuê vận hành tài sản có giá trị rất lớn nhưng lại không chịu sự
quản lý như trên.
+ Thứ năm, vấn đề quyền được thu hồi tài sản khi bên thuê vi phạm
hợp đồng cũng là một trong những vấn đề gây nhiều bàn cãi. Trên thực tế
quyền này gần như không thể thực hiện được vì bên thuê thường không
chịu giao tài sản, nếu không có sự hỗ trợ của các cơ quan thi hành pháp
luật. Việc bán tài sản cho bên thứ ba lại phải được sự đồng ý của Bộ
Thương mại và như vậy nảy sinh vấn đề truy thu thuế nhập khẩu? Liệu có
nghịch lý không khi mà chủ sở hữu lại không có quyền định đoạt đối với
tài sản của mình?
+ Một vấn đề nữa thường được nhắc đến hiện nay chính là vấn đề
quáng cáo, tuyên truyền cho các công ty CTTC. Có thể nói mặc dù đã xuất
hiện ở Việt Nam từ khoảng năm 1997 đến nay nhưng nhìn chung các công
ty CTTC còn khá mới mẻ ở thị trường Việt Nam. Trên thị trường Việt Nam
hiện nay rất nhiều DN cần vốn để đổi mới công nghệ, mua sắm máy móc


Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 54
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

thiết bị...nhưng thay vì đến các công ty tài chính để tìm sự giúp đỡ thì các
DN này lại tìm đến ngân hàng để vay vốn mặc dù ở đây thủ tục rất chặt chẽ
và điều kiện để được vay vốn khó hơn rất nhiều. Thực trạng trên một mặt là
do thói quen khó thay đổi của các DN ở Việt Nam nhưng một phần quan
trọng là do hoạt động kinh doanh CTTC chưa được tuyên truyền phổ biến
và quảng cáo rộng rãi ở Việt Nam.
Đặc biệt pháp luật Việt Nam hiện nay chỉ quy định đối tượng CTTC
là các máy móc...và các động sản khác chứ chưa quy định đối tượng cho
thuê là các bất động sản. Điều này trái với thông lệ quốc tế và nhu cầu của
thị trường, vì thế chúng ta cần nhanh chóng nghiên cứu và điều chỉnh
những quy định này.
Để khắc phục những tồn tại trên bên cạnh việc đẩy mạnh việc tuyên
truyền, quảng cáo thì quan trọng hơn chúng ta phải nhanh chóng hoàn thiện
môi trường pháp lý để các công ty CTTC có thể tham gia thị trường liên
ngân hàng, tiếp xúc với các nhà đầu tư nước ngoài, và sớm có những hoạt
động thiết thực nhằm tiến tới thành lập Hiệp hội CTTC tại Việt Nam.




Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 55
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C


KẾT LUẬN

Nền kinh tế đất nước đang từng bước hội nhập với kinh tế thế giới
đem lại nhiều thời cơ cũng như thách thức cho các doanh nghiệp nước ta.
Để tiếp tục phát triển và đứng vững, doanh nghiệp không những phải duy
trì số vốn bỏ ra ban đầu mà còn phải tìm kiếm những khoản vốn bổ sung từ
nhiều nguồn khác nhau. Chính vì lẽ đó, huy động vốn trong doanh nghiệp
luôn được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu. Thực hiện tốt huy động
vốn là cũng đồng nghĩa với thành công trong xây dựng một cơ cấu vốn hợp
lý với chi phí thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp cạnh tranh với
các chủ thể kinh tế khác trên thương trường.
Trong đề án môn học, em đã chỉ ra quan điểm cơ bản về vốn và các
phương thức để huy động vốn cho doanh nghiệp, từ đó có thể áp dụng vào
từng doanh nghiệp cụ thể tùy vào tình hình thực tiễn của doanh nghiệp
nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho doanh nghiệp. Hoạt động huy
động vốn của doanh nghiệp được tăng cường cũng đồng nghĩa với việc
tăng khả năng phát triển, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường.

Bản thân em, khi thực hiện đề án môn học này đã tiếp cận một cách
có hệ thống hơn, khái quát hơn cũng như cụ thể hơn với các phương thức
huy động vốn của doanh nghiệp. Đây sẽ là những kinh nghiệm quý báu để
em có thể tự tin trong công tác sau này.

Mặc dù em đã cố gắng hoàn thành đề án với tất cả khả năng của mình,
tuy nhiên do thời gian và kiến thức có hạn, chắc chắn bài viết còn những
khiếm khuyết, mong các thầy, các cô tận tình chỉ bảo, đóng góp ý kiến để đề
án tiếp tục được hoàn thiện.




Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 56
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. TS Nguyễn Hữu Tài (chủ biên): “Giáo trình lý thuyết tài chính tiền
tệ” Nhà xuất bản Thống kê, 2003.

2. PGS- TS Đàm Văn Nhuệ – TS Ngô Thị Hoài Lam, ”Sử dụng có hiệu
quả các hình thức huy động vốn của doanh nghiệp công nghiệp trong nền
kinh tế thị trường”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2001.

3. PGS.TS Lưu Thị Hương (chủ biên) “Giáo trình Tài chính doanh
nghiệp”, Nhà xuất bản Thống kê 2005.

4. PTS.Vũ Hào - Đàm Văn Huệ, "Giáo trình Quản trị tài chính doanh
nghiệp".

5. Frederic S. Mishkin, bản dịch “Tiền tệ, ngân hàng và thị trường Tài
chính”. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. Hà Nội 2001.

6. Paul Samuelson, bản dịch “Kinh tế học”, Nhà xuất bản Thống kê.

7. Giáo trình “Kinh tế chính trị Mác – Lê nin, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh.

8. Các bài báo, tạp chí, thông tin trên mạng Internet.




Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 57
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

PHỤ LỤC.
Số doanh nghiệp phân theo qui mô nguồn vốn
Ðơn vị tính: Doanh nghiệp

Chia theo qui mô nguồn vốn
Từ
Từ
Từ Từ 5 Từ 200 Từ
Số Từ 1 50 tỷ
0.5 tỷ 10 tỷ 500
doanh Dưới tỷ đến đến
nghiệp 0.5 tỷ đến dưới 5 đến đến đến tỷ
dưới
dưới 1 dưới dưới dưới trở
tỷ 200
tỷ 10 tỷ 50 tỷ 500 lên
tỷ
tỷ
A 1 2 3 4 5 6 7 8 9
Tổng số
Năm 2000 42288 16267 6534 10759 2745 3957 1515 312 199
Năm 2001 51680 18326 8403 14556 3385 4623 1781 383 223
Năm 2002 62908 18591 10994 20141 4490 5771 2160 501 260
Chia theo khu vực và thành phần kinh tế
1. Khu vực doanh nghiệp nhà nước
Năm 2000 5759 133 167 1272 924 2047 968 165 83
Năm 2001 5355 113 100 1009 818 1948 1061 204 102
Năm 2002 5364 73 86 856 748 2001 1195 284 121
2. Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước
Năm 2000 35004 16118 6349 9333 1633 1327 205 24 15
Năm 2001 44314 18058 8271 13310 2328 1980 316 35 16
Năm 2002 55236 18478 10868 18981 3443 2906 478 59 23
3. Khu vực có vốn đầu tư nuớc ngoài
Năm 2000 1525 16 18 154 188 583 342 123 101
Năm 2001 2011 155 32 237 239 695 404 144 105
Năm 2002 2308 40 40 304 299 864 487 158 116




Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

Một số chỉ tiêu phản ánh qui mô và hiệu quả
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp


Tỷ suất lợi nhuận (%)
Nguồn vốn Tỷ lệ nộp
bình quân 1 ngân sách so Trên vốn sản
doanh nghiệp với doanh thu xuất kinh Trên doanh
thu
(tỷ đồng) (%) doanh
A 2 5 6 7
Tổng số
Năm 2000 26 7.50 3.739 5.081
Năm 2001 24 9.23 3.777 5.046
Năm 2002 23 9.04 4.320 5.134
Chia theo khu vực và thành phần kinh tế
1. Khu vực doanh nghiệp nhà nước
Năm 2000 130 6.92 2.351 3.950
Năm 2001 153 10.85 2.453 4.176
Năm 2002 167 9.27 2.900 4.179
2. Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước
Năm 2000 3 2.98 1.798 1.005
Năm 2001 4 2.70 2.277 1.343
Năm 2002 4 3.25 2.311 1.504
3. Khu vực có vốn đầu tư nuớc ngoài
Năm 2000 157 14.77 8.971 13.301
Năm 2001 133 14.82 8.740 13.019
Năm 2002 134 17.75 9.991 13.612




Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

Nguồn vốn của các doanh nghiệp
Ðơn vị tính: Tỷ đồng

01/01/2000 31/12/2000 31/12/2001 31/12/2002
Nguồn Nguồn Nguồn Nguồn
Nợ phải Nợ phải Nợ phải Nợ phải
vốn chủ vốn chủ vốn chủ vốn chủ
trả trả trả trả
sở hữu sở hữu sở hữu sở hữu
A 1 2 3 4 5 6 7 8
Tổng số 510843 386010 725335 375313 847222 403677 954162 486577
Chia theo khu vực và thành phần kinh tế
1. Khu vực
doanh
343870 250216 523848 223171 603463 217899 642618 252607
nghiệp nhà
nước
2. Khu vực
doanh
nghiệp 48307 34906 69810 43687 97355 64227 141741 95577
ngoài nhà
nước
3. Khu vực
có vốn đầu
118666 100888 131678 108455 146404 121551 169803 138393
tư nuớc
ngoài




Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

Nguồn vốn bình quân của các doanh nghiệp
Ðơn vị tính: Tỷ đồng

Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Trong Tỷ lệ Trong Tỷ lệ Trong Tỷ lệ
đó: vốn đó: vốn đó: vốn
Tổng Tổng Tổng
Vốn chủ sở Vốn chủ sở Vốn chủ sở
số số số
chủ sở hữu chủ sở hữu chủ sở hữu
hữu (%) hữu (%) hữu (%)
A 1 2 3=2/1 4 5 6=5/4 7 8 9=8/7
Tổng số 998423 380654 38.13 1186013 395162 33.32 1352076 447677 33.11

Chia theo khu vực và thành phần kinh tế
1. Khu
vực doanh
670233 236692 35.31 781705 221655 28.36 858615 234856 27.35
nghiệp nhà
nước
2. Khu
vực doanh
nghiệp 98348 39290 39.95 142202 56321 39.61 202341 81660 40.36
ngoài nhà
nước
3. Khu
vực có vốn
229841 104671 45.54 262106 117185 44.71 291120 131161 45.05
đầu tư
nuớc ngoài




Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ
Nguyễn Quang Sơn Tài Chính Doanh Nghiệp 45C

Vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp
Ðơn vị tính: Tỷ đồng

Chia theo nguồn vốn
Ngân sách Nhà
Vốn vay
nước cấp
Vốn huy
Trong Trong động từ
Tổng số Vốn tự
đó: đó: Vốn các

Ngân tín dụng nguồn
Tổng số Tổng số
sách đầu tư khác
trung phát
ương triển
1=2+4+6
A 2 3 4 5 6 7
+7
Tổng số
Năm 2000 32252 2416 851 14347 1888 12277 3213
Năm 2001 74565 4430 2676 24695 1558 37364 8076
Năm 2002 139346 5684 3180 50162 16591 73073 10426
Chia theo khu vực và thành phần kinh tế
1. Khu vực doanh nghiệp nhà nước
Năm 2000 13259 2401 849 6527 1798 3170 1162
Năm 2001 28349 4414 2673 14488 1429 6182 3265
Năm 2002 39723 5621 3171 24322 12077 6912 2868
2. Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước
Năm 2000 4320 5 2 1139 91 2656 520
Năm 2001 21616 16 3 6085 129 12119 3396
Năm 2002 65146 63 9 13867 3827 46872 4344
3. Khu vực có vốn đầu tư nuớc ngoài
Năm 2000 14674 10 6682 6450 1531
Năm 2001 24600 4122 19062 1415
Năm 2002 34477 11973 688 19289 3214




Đề án môn học Lý thuyết Tài chính Tiền tệ

Top Download Tài Chính - Ngân Hàng

Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản