Vui lòng download xuống để xem tài liệu đầy đủ.

Vụ án Lệ Chi Viên

Chia sẻ: Nguyen Ngoc Hang | Ngày: | Loại File: doc | 7 trang

0
121
lượt xem
38
download

Vụ án Lệ Chi Viên, tức vụ án vườn vải, là vụ án mà đại thần Nguyễn Trãi bị vu oan và bị tru di tam tộc thời Lê sơ trong lịch sử Việt Nam.

Lưu

Vụ án Lệ Chi Viên
Nội dung Text

  1. Vụ án Lệ Chi Viên, tức vụ án vườn vải, là vụ án mà đại thần Nguyễn Trãi bị vu oan và bị tru di tam tộc thời Lê sơ trong lịch sử Việt Nam. M ục lục [ẩn] 1 Vụ án • 2 Truyền thuyết • 3 Nguyên nhân • o 3.1 Ngôi thái tử o 3.2 Về các bài thơ của Đinh Liệt 4 Trong văn học nghệ thuật • 5 Liên kết ngoài • 6 Tham khảo • 7 Chú thích • 8 Xem thêm • [sửa] Vụ án Ngày 27 tháng 7 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (1442), vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông, duyệt quan ở thành Chí Linh, Hải Dương. Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của Nguyễn Trãi. Ngày 4 tháng 8 (âm lịch) vua về đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định (nay thuộc thôn Đại Lai, xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh). Cùng đi với vua có Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi khi ấy đã vào tuổi 40[1] được vua Lê Thái Tông yêu quý vì sắc đẹp, văn chương hay, luôn được vào hầu bên cạnh vua. Khi về đến Lệ Chi Viên, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ[2][3] rồi băng hà, lúc này ông mới 20 tuổi[3]. Các quan bí mật đưa về, ngày 6 tháng 8 (âm lịch) mới đến kinh sư, nửa đêm vào đến cung mới phát tang. Triều đình đã quy cho Nguyễn Thị Lộ tội giết vua. Nguyễn Trãi và gia đình bị án tru di tam tộc và bị giết ngày 16 tháng 8 (âm lịch) năm này[2]. Đến tháng 7 (âm lịch) năm Giáp Thân (1464), vua Lê Thánh Tông đã rửa oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng ông tước Tán Trù bá và bổ dụng người con còn sống sót của ông là Nguyễn Anh Vũ[4]. [sửa] Truyền thuyết Có truyền thuyết một thời cho rằng lúc (theo truyền thuyết thì cha của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh cho học trò phát cỏ ở gò để làm chỗ dạy học cho học trò chứ không phải là Nguyễn Trãi) Nguyễn Trãi còn dạy học có dự định cho học trò phát hoang khu vườn, đến đêm nằm mơ thấy một người đàn bà với bầy con dại tới xin ông cho thư thả ít hôm mới dọn nhà vì con mọn, sáng ra khi học trò của ông phát cỏ vườn nhà thì đánh chết một bầy rắn, lúc đó ông mới hiểu ra ý nghĩa giấc mơ, ông than thở, cho chôn bầy rắn và cho học trò biết là loài rắn thường hay thù dai, thế nào cũng trả thù ông. Đêm đó, lúc ông đọc sách thì có con rắn bò trên xà nhà nhỏ một giọt máu thấm vào chữ "đại" ("đời") qua ba lớp giấy ứng với việc gia tộc ông bị hại đến ba đời. Ngày sau con rắn hóa ra bà Nguyễn Thị Lộ dụ dỗ ông, hại ba đời nhà ông và biến thành rắn bò đi khi bà Nguyễn Thị Lộ bị dìm xuống sông. Nhiều người tin rằng truyền thuyết này nhằm đổ tội cho bà Nguyễn Thị Lộ, giải thích nguyên nhân tiền định về cái chết của vua Lê Thái Tông và Nguyễn Trãi, xoa dịu lòng tiếc thương Nguyễn Trãi
  2. và chán ghét nhà Lê nhỏ mọn đối với công thần. Họ cho rằng đây là thuật tuyên truyền của tầng lớp thống trị hồi đó lợi dụng lòng mê tín của nhân dân. Ngày nay truyền thuyết này bị bác bỏ và không được xác chứng. [sửa] Nguyên nhân Đến nay, một số nhà nghiên cứu sử Việt Nam, như Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ (trong tác phẩm "Nhìn lại lịch sử"), cho rằng chủ mưu vụ án chính là Nguyễn Thị Anh[5], vợ thứ vua Lê Thái Tông. [sửa] Ngôi thái tử Ngoài các suy đoán căn cứ vào sử sách, gần đây các nhà nghiên cứu nói trên đã tham khảo gia phả dòng họ Đinh là con cháu của công thần Đinh Liệt nhà Hậu Lê và phát hiện nhiều bài thơ của chính Đinh Liệt để lại (được công bố trong "Nhìn lại lịch sử" của họ). Bài thơ được viết bằng chữ Hán nhưng viết theo kiểu ẩn ý, dùng phép nói lái để người đọc suy đoán rằng: Thái tử Lê Bang Cơ (tức vua Lê Nhân Tông) không phải là con vua Lê Thái Tông[6]. Vua Lê Thái Tông lúc mất mới 20 tuổi nhưng trước khi mất vua đã có 4 con trai. Con lớn nhất là Lê Nghi Dân, con thứ hai là Khắc Xương, con thứ ba là Bang Cơ (Lê Nhân Tông sau này), con thứ tư là Tư Thành (Lê Thánh Tông sau này). Vì các hoàng tử đều còn quá nhỏ (chỉ chênh nhau một vài tuổi) nên việc tranh chấp ngôi thái tử xảy ra giữa các bà vợ vua Thái Tông. Nguyễn Thị Anh là mẹ của Bang Cơ. Nghi Dân là con lớn nhất vốn đã được lập làm thái tử dù còn rất nhỏ. Nhưng sau đó Nguyễn Thị Anh được vua sủng ái nên năm 1441 vua truất ngôi của Nghi Dân mà lập Bang Cơ. Bà mẹ của Khắc Xương vốn không được vua sủng ái nên không thể tranh chấp ngôi thái tử. Tuy nhiên, nhiều người trong triều dị nghị rằng, Nguyễn Thị Anh đã có thai trước khi vào cung và Bang Cơ không phải là con vua Thái Tông[6]. Cùng lúc đó, một bà phi khác của vua là Ngô Thị Ngọc Dao lại có mang sắp sinh. Nguyễn Thị Anh sợ chuyện bại lộ thì ngôi lớn sẽ thuộc về con bà Ngọc Dao nên tìm cách hại bà Ngọc Dao[7]. Bà này được vợ chồng Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ hết sức che chở, mang đi nuôi giấu và sinh được hoàng tử Lê Tư Thành năm 1442. Biết bà Ngọc Dao đã sinh con trai mà ngày càng nhiều người đồn đại về dòng máu của Bang Cơ, nhân lúc con mình còn đang ở ngôi đương kim thái tử, Nguyễn Thị Anh chủ động ra tay trước[7]. Nhân dịp vua Thái Tông về thăm Nguyễn Trãi, sợ Nguyễn Trãi gièm pha mình và nói tốt cho Tư Thành nên bà sai người sát hại vua Thái Tông rồi đổ tội cho vợ chồng Nguyễn Trãi[7]. Sau khi vua mất, Bang Cơ lên ngôi, Nguyễn Thị Anh được làm thái hậu, nắm quyền trị nước. Nguyễn Trãi không thể biện bạch cho sự oan uổng của mình và phải thụ án. Theo sử sách, ngày 9 tháng 9 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (1442), chỉ vài ngày sau khi hành hình gia đình Nguyễn Trãi, triều đình (thực ra chính là thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính thay con[8]), ra lệnh giết hai hoạn quan Đinh Phúc, Đinh Thắng vì trước khi chết Nguyễn Trãi có nói là "hối không nghe lời của Thắng và Phúc"[2]. Các nhà nghiên cứu nói trên cho rằng chính Đinh Phúc, Đinh Thắng là những người khuyên Nguyễn Trãi sớm tố cáo Nguyễn Thị Anh với vua Thái Tông[7]. Do đó để diệt khẩu, bà sai giết hai người này. Chính bởi thân thế của Lê Nhân Tông có phần "không chính" nên sau này, năm Kỷ Mão (1459), con trưởng của vua Thái Tông là Lê Nghi Dân lấy lý do để làm binh biến giết hai mẹ con Nguyễn Thị
  3. Anh. Trong bài chiếu lên ngôi, Nghi Dân nói rõ: "... Diên Ninh [Nhân Tông] tự biết mình không phải là con của tiên đế [Thái Tông]..."[2] Dù sao đi nữa, chuyện Bang Cơ có phải con vua Thái Tông thực hay không nhưng cũng như Tần Thủy Hoàng, ngôi chính của ông đã định, bởi thế những người phản lại như Lê Nghi Dân nhà Lê hay tướng Phàn Ô Kỳ nước Tần vẫn bị coi là "nghịch", là trái lẽ. [sửa] Về các bài thơ của Đinh Liệt Trong cuốn “Ngọc phả họ Đinh” do công bộ thượng thư Đinh Công Nhiếp, con trai đầu của thái sư Đinh Liệt, có một số bài thơ do Đinh Liệt viết[9] có liên quan đến vụ án Lệ Chi Viên. Bài thơ Nôm nhận xét về Lê Thái Tông: Tống Thai dáng dấp một anh quân Đắc sắc say chơi biếng kiệm cần Hoạ tự trong nhà nhô đầu mọc Di căn bệnh hoạn hại cho thân Trong bài này Đinh Liệt buộc phải dùng phép nói lái: Tống Thai tức là Thái Tông Lê Nguyên Long. Vua là một “anh quân” khi vì ông biết ngăn ngừa cường thần, dẹp phiên trấn, sùng nho, mở thi cử, song lại quá ham tửu sắc. Về “hoạ tự trong nhà”, Đinh Liệt có bài thơ: Nhung tân lục cá nguyệt khai hoa Bất thức hà nhân chủng bảo đa Chủ kháo Tống khai vi linh dược Cựu binh tân tửu thịnh y khoa “Nhung tân” đọc lái là Nhân Tông, tức là Bang Cơ, con Nguyễn Thị Anh, “thịnh y” là “thị Anh”. Bài này có thể tạm dịch: Nhân Tông sáu tháng đã ra hoa Dòng máu ai đây quý báu à? Núp bóng Thái Tông làm linh dược Thị Anh dùng ngón đổi dòng cha Trước khi vào cung, Thị Anh đã gian díu với Lê Nguyên Sơn[6], một người thuộc họ xa của dòng dõi Lê Khoáng (cha Lê Lợi). Một bài thơ khác, Đinh Liệt viết: Tống Thai mạc kiến nguy ký hiện Nịch ái Thịnh y nhật nhật tăng Mỹ sắc điềm ngôn gia phỉ báng Cơ đồ sự nghiệp hải hà băng Dịch là: Thái Tông chẳng thấy nguy đã hiện Say đắm Thị Anh cứ mãi tăng Sắc đẹp lời ngon kèm phỉ báng Cơ đồ sự nghiệp có ngày băng
  4. Việc Thị Anh giết hai hoạn quan Đinh Phúc, Đinh Thắng được Đinh Liệt viết trong bài thơ mà nhiều người cho rằng vì chính hai người này đã mật báo cho ông và Nguyễn Trãi biết: Nhung Tân hà hữu Tống thai tinh Lục nguyệt khai hoa quái dị hình Niên nguyệt nhật thời Thăng Đính ký Hoàng bào ô nhiễm vạn niên thanh chữ Thăng Đính đọc ngược là Đinh Thắng. Dịch là: Nhân Tông không phải máu Nguyên Long Sáu tháng hoài thai cảnh lạ lùng Năm, tháng, ngày, giờ Đinh Thắng chép Hoàng bào dơ bẩn tiếng ngàn năm Với cách gọi các vua bằng miếu hiệu như Thái Tông, Nhân Tông, chắc chắn các bài thơ này Đinh Liệt viết vào thời Lê Thánh Tông. Dù Nhân Tông và thái hậu Nguyễn thị đã chết nhưng việc này vẫn không thể nói công khai, vì trên danh nghĩa, ngôi vua của Nhân Tông vẫn là hợp pháp. Có như vậy, việc cướp ngôi của Lê Nghi Dân mới là "phản nghịch" và việc lên ngôi của Thánh Tông mới là hợp lẽ. Đây chính là nguyên nhân khiến Đinh Liệt phải dùng phép nói ẩn ý để truyền lại cho đời sau[6]. Sau này tới đời vua Lê Thánh Tông, vua Thánh Tông đã minh oan cho Nguyễn Trãi. [sửa] Trong văn học nghệ thuật Vụ án Lệ Chi Viên từng được thể hiện trong nhiều tác phẩm văn học và nghệ thuật trong đó có các tác phẩm được báo chí đánh giá cao như vở cải lương Rạng ngọc Côn Sơn của Sân Khấu đoàn cải lương Trần Hữu Trang,[10] vở chèo Oan khuất một thời của nhà hát chèo Hà Nội.[11] Đặc biệt vở kịch Bí mật Lệ Chi Viên của Công ty Thái Dương (sân khấu IDECAF) từng được báo chí hết lời ca ngợi đã giành được ba giải Mai Vàng (năm 2007) (giải Đạo diễn sân khấu cho NSƯT Thành Lộc, [12][13] giải Nam diễn viên kịch nói cho Hữu Châu (vai Nguyễn Trãi), giải Nữ diễn viên kịch nói cho Thanh Thủy (vai Nguyễn Thị Anh)[14] Ngoài ra phim tài liệu Bí mật vụ án Lệ Chi Viên từng được chiếu trên VTV1.[15]. Sau rất nhiều lần lần dở các dữ liệu lịch sử, các nhà sử học Việt Nam đã lần lượt tìm ra các manh mối và tìm ra được chủ mưu đích thực của vụ án oan ghê gớm này... Hồi ấy, như bao vị vua phong kiến khác, dù chưa đầy 20 tuổi, nhưng Lê Thái Tông trước khi mất đã kịp có 4 con trai. Con lớn nhất là Lê Nghi Dân, con thứ hai là Khắc Xương, con thứ ba là Bang Cơ (Lê Nhân Tông sau này), con thứ tư là Tư Thành (Lê Thánh Tông sau này). Vì các hoàng tử đều còn quá nhỏ (chỉ chênh nhau một vài tuổi) nên việc tranh chấp ngôi thái tử xảy ra giữa các bà vợ vua Thái Tông.... Một trong những người vợ thứ của ông đã lập nên những âm mưu cực kỳ đen tối. Một kịch bản hoàn hảo. Bắt đầu từ việc diệt trừ 3 người vợ còn lại. Xúi vua phế vợ cả và phế cả ngôi vị thái tử của con đầu.
  5. Sau đó là bỏ qua người vợ không được sủng ái nhất và tấn công vào người vợ cũng đang được yêu chiều như mình... Kế hoạch thất bại vì có sự can thiệp của Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ. Người vợ được hai người này che chở đã thoát nạn và sinh hạ một cậu quý tử, cũng chính là Lê Thánh Tông - người giải oan cho Nguyễn Trãi sau này. Thảm kịch bắt đầu chính từ mấu chốt này. Và Nguyễn Trãi bị chu di tam tộc cũng bởi vì sự che chở này của mình đối với một trong 4 người vợ của Lê Thái Tông. Vụ án Lệ Chi Viên LTS: Xã hội phong kiến xưa có không ít những vụ án oan. Nhưng vụ án oan nổi tiếng nhất và cũng được nhiều người quan tâm nhất chính là vụ án Lệ Chi Viên. Trong vụ án này, không chỉ có gia đình công thần Nguyễn Trãi bị oan và còn liên lụy tới rất nhiều người khác. Hơn nữa, trước khi chết, không ai trong số họ được lên tiếng để minh oan cho chính mình. Đây cũng là một đặc điểm điển hình của xã hội phong kiến xưa. Án xưa: Giết người diệt khẩu Ngày 27/7/1442 (năm Nhâm Tuất), vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông, duyệt quan ở thành Chí Linh, Hải Dương. Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của Nguyễn Trãi. Ngày 4/8 vua Lê Thái Tông về đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định (nay thuộc xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, Bắc Ninh). Cùng đi với vua có Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi khi ấy đã vào tuổi 40 được vua Lê Thái Tông yêu quý vì sắc đẹp, văn chương hay, luôn được vào hầu bên cạnh vua. Khi về đến Lệ Chi Viên, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng hà, lúc này ông mới 20 tuổi. Các quan bí mật đưa về, ngày 6/8 mới đến kinh sư, nửa đêm vào đến cung mới phát tang. Triều đình đã quy cho Nguyễn Thị Lộ tội giết vua. Nguyễn Trãi và gia đình bị án tru di tam tộc. Đến nayÀ, nhiều nhà sử học đã đi đến thống nhất về nguyên nhân đích thực của vụ thảm án này. Chủ mưu vụ án chính là Nguyễn Thị Anh, vợ thứ vua Lê Thái Tông. Ngoài suy đoán căn cứ vào sử sách, mới đây các nhà nghiên cứu tham khảo gia phả dòng họ Đinh là con cháu của công thần Đinh Liệt nhà Hậu Lê (công bố trong tác phẩm "Nhìn lại lịch sử" của Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ) và phát hiện nhiều bài thơ của chính Đinh Liệt để lại. Bài thơ được viết bằng chữ Hán nhưng viết theo kiểu ẩn ý, dùng phép nói lái để người đọc suy đoán rằng: Thái tử Lê Bang Cơ (tức vua Lê Nhân Tông) không phải là con vua Lê Thái Tông. Vua Lê Thái Tông lúc mất mới 20 tuổi nhưng trước khi mất, vua đã có 4 con trai. Con lớn nhất là Lê Nghi Dân, con thứ hai là Khắc Xương, con thứ ba là Bang Cơ (Lê Nhân Tông sau này), con thứ tư là Tư Thành (Lê Thánh Tông sau này). Vì các hoàng tử đều còn quá nhỏ (chỉ chênh nhau một vài tuổi) nên việc tranh chấp ngôi thái tử đã xảy ra giữa các bà vợ vua Thái Tông. Nghi Dân là con lớn nhất vốn đã được lập làm thái tử dù còn rất nhỏ. Nhưng sau đó Nguyễn Thị Anh (là mẹ của Bang Cơ) được vua sủng ái nên năm 1441 vua truất ngôi của Nghi Dân mà lập Bang Cơ. Bà mẹ của Khắc Xương vốn không được vua sủng ái nên không thể tranh chấp ngôi thái tử. Tuy nhiên, nhiều người trong triều dị
  6. nghị rằng, Nguyễn Thị Anh đã có thai trước khi vào cung và Bang Cơ không phải là con vua Thái Tông. Cùng lúc đó, một bà phi khác của vua là Ngô Thị Ngọc Dao lại có mang sắp sinh. Nguyễn Thị Anh sợ chuyện bại lộ thì ngôi lớn sẽ thuộc về con bà Ngọc Dao nên tìm cách hại bà Ngọc Dao. Bà này được vợ chồng Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ hết sức che chở, mang đi nuôi giấu và sinh được hoàng tử Lê Tư Thành năm 1442. Biết bà Ngọc Dao đã sinh con trai mà ngày càng nhiều người đồn đại về dòng máu của Bang Cơ, nhân lúc con mình còn đang ở ngôi đương kim thái tử, Nguyễn Thị Anh chủ động ra tay trước. Nhân dịp vua Thái Tông về thăm Nguyễn Trãi, sợ Nguyễn Trãi gièm pha mình và nói tốt cho Tư Thành nên bà sai người sát hại vua Thái Tông rồi đổ tội cho vợ chồng Nguyễn Trãi. Sau khi vua mất, Bang Cơ lên ngôi, Nguyễn Thị Anh được làm thái hậu, nắm quyền trị nước. Nguyễn Trãi không thể biện bạch cho sự oan uổng của mình và phải thụ án. Theo sử sách, vài ngày sau khi hành hình gia đình Nguyễn Trãi, triều đình thực ra chính là thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính thay con, ra lệnh giết hai hoạn quan Đinh Phúc, Đinh Thắng vì trước khi chết Nguyễn Trãi có nói: "Ta hối không nghe lời Thắng, Phúc". Các nhà nghiên cứu cho rằng chính Đinh Phúc, Đinh Thắng là những người khuyên Nguyễn Trãi sớm tố cáo Nguyễn Thị Anh với vua Thái Tông. Do đó để diệt khẩu, bà sai giết hai người này. Chính bởi ngôi vua của Lê Nhân Tông có phần "không chính" nên sau này, năm 1459, con trưởng của vua Thái Tông là Lê Nghi Dân lấy lý do để làm binh biến giết hai mẹ con Nguyễn Thị Anh. Trong bài chiếu lên ngôi, Nghi Dân nói rõ: "Diên Ninh (niên hiệu của vua Nhân Tông) vốn không phải là con của tiên đế (Thái Tông)...". Năm 1464, vua Lê Thánh Tông rửa oan cho Nguyễn Trãi, cho sưu tầm thơ văn Nguyễn Trãi để lưu lại hậu thế, và ông như đã tạc bia cho Nguyễn Trãi bằng câu thơ: Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo Tạm dịch: hồn ức rực rỡ tựa Tâm Trai sao Khuê. Luật nay: Bà Nguyễn Thị Anh đối diện với án tử hình Theo những nghiên cứu và kết luận mà các nhà sử học đưa ra thì đúng là trong vụ án "Giết Vua", Nguyễn Trãi và gia đình ông đã bị kết tội oan. Vậy, nếu thái hậu Nguyễn Thị Anh thực sự là kẻ chủ mưu trong việc giết Vua và đổ tội cho vợ yêu của Nguyễn Trãi, sau đó tru di tam tộc đối với gia đình ông, thì theo luật pháp ngày nay, bà Anh đã phạm tội gì và bị xử lý như thế nào? Tham chiếu các quy định của Bộ luật Hình sự ngày nay, hành vi của bà Nguyễn Thị Anh đã cấu thành tội Giết người. Chỉ vì sợ Nguyễn Trãi sẽ tiết lộ chuyện mình mưu hại bà phi Ngô Thị Ngọc Dao (lúc này đang có thai con của Vua) nhưng không thành (vì được gia đình Nguyễn Trãi che giấu, bảo vệ), bà Anh đã sai người giết Vua, sau đó gán tội cho bà Nguyễn Thị Lộ, vợ của Nguyễn Trãi. Hành vi giết người của bà Anh có hai mục đích: Một là che giấu việc mưu hại người; Hai là bắt người khác gánh tội thay mình. Về mặt chủ quan, với tư cách là vợ Vua, bà Anh biết rõ rằng việc âm mưu giết người và gian dối (có thai trước khi vào cung) là phạm trọng tội. Nếu bị Vua phát
  7. hiện thì không chỉ có bà bị giết mà ngay cả con trai bà (dù danh là con Vua) cũng sẽ bị xử lý. Chưa hết, sau khi con trai mình được lên ngôi Vua, lợi dụng quyền nhiếp chính, bà này còn đưa ra án tru di tam tộc đối với gia đình Nguyễn Trãi. Mục đích của việc này là nhằm diệt khẩu bởi Nguyễn Trãi là đại công thần, chỉ cần có người tin tưởng ông, lật lại vụ án là kế hoạch của bà Anh sẽ bị vỡ lở. Chỉ thương cho Nguyễn Trãi không có cơ hội để minh oan cho mình và gia đình, phải chết một cách oan ức. Ngoài việc mưu hại bà phi Ngô Thị Ngọc Dao, giết Vua và tru di tam tộc gia đình Nguyễn Trãi, bà Anh còn sai người giết hai viên quan hoạn là Đinh Phúc, Đinh Thắng. Vì hai người này ở trong cung cấm, biết rõ thân phận và những việc làm của bà Anh, nên bà này cũng quyết định giết họ để diệt khẩu. Như vậy, với hành vi giết Vua, bà Anh đã phạm tội Giết người theo quy định tại Điều 93 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bà Anh sẽ bị truy cứu theo khoản 1 của Điều 93 với những tình tiết định khung như: "a. Giết nhiều người; b. Giết phụ nữ mà mình biết là có thai; g. Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác". Chỉ cần phạm vào một trong các tình tiết nói trên là bà Anh đã phải đối diện với mức án bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự, bà Anh còn có nhiều tình tiết tăng nặng khác như "Phạm tội có tổ chức"; "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; "Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng" và "Phạm tội nhiều lần".
Đồng bộ tài khoản