WTO

Chia sẻ: Vũ Thị Thơm | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:30

0
69
lượt xem
18
download

WTO

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã hướng tới một nền kinh tế thị trường t ừ gi ữa th ập niên 80. Đ ặc bi ệt trong vòng ba năm qua, khi những cuộc đàm phán gia nhập WTO bước vào giai đoạn...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: WTO

  1. Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã hướng tới một nền kinh tế thị trường t ừ gi ữa th ập niên 80. Đ ặc bi ệt trong vòng ba năm qua, khi những cuộc đàm phán gia nhập WTO bước vào giai đoạn cu ối cùng, t ốc đ ộ c ải cách hướng tới ''thân thiện hơn với nước ngoài'' gia tăng đáng kể. Nền kinh tế đang phục hồi của Việt Nam đã tăng trưởng với tỉ lệ 6,4% trong quí hai năm nay, thấp hơn chút đỉnh so với chỉ tiêu 6,5% mà chính phủ đề ra cho năm 2010. Rất nhiều nhà kinh tế học dự báo, việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ t ạo đà thuận l ợi h ơn cho th ương m ại và dòng chảy đầu tư nước ngoài, thậm chí thúc đẩy tăng trưởng kinh t ế Vi ệt Nam h ơn c ả Trung Qu ốc trong năm nay. Trước khi trở thành thành viên của WTO, Vi ệt Nam đã có l ợi th ế h ơn nhi ều trong cu ộc cạnh tranh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) so với nh ững quốc gia láng gi ềng nh ư Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Philippines.
  2. Theo giới phân tích, những đảm bảo về bảo hộ đầu t ư mà các thành viên WTO ph ải tuân th ủ, cùng v ới dấu hiệu chống lại đầu tư nước ngoài từ Thái Lan sẽ làm cho dòng FDI ch ảy t ừ các quốc gia Đông Nam Á khác vào Việt Nam, đó là chưa kể lợi thế về lực lượng lao động cần cù, siêng năng, giá rẻ. K ết qu ả một cuộc điều tra năm trước do Tổ chức Thương mại đối ngoại Nhật Bản thực hiện cho th ấy, mức l ương tối thiểu hàng tháng ở Việt Nam là khoảng 50 USD, thấp hơn so với Ấn Độ (74 USD), Indonesia (90 USD), Philippines (135 USD), phía nam Trung Quốc (92 USD) và Thái Lan là 110 USD. Cơ sở hạ tầng vẫn là một quan ngại với giới đầu tư, nhưng quyết định của t ập đoàn công nghệ kh ổng l ồ Mỹ, Intel khi xây dựng một trong những nhà máy sản xuất chip bán d ẫn l ớn nh ất thế gi ới ở mi ền Nam Việt Nam là một lời cảnh báo cho Thái Lan và Malaysia, vốn d ựa nhiều vào xuất kh ẩu đi ện t ử trong tăng trưởng kinh tế. Tương tự như vậy, quyết định gần đây của Canon trong việc xây d ựng nhà máy s ản xuất máy in laser lớn nhất thế giới, ba nhà máy in phun đã minh ch ứng m ột điều, Vi ệt Nam đã t ự mình xây dựng vị thế vững chắc trong thu hút FDI cũng như là cung cấp cơ sở lý t ưởng cho các nhà máy s ản xu ất. "WTO như một con tem đảm bảo mà nhiều, rất nhiều công ty Mỹ tìm kiếm. Họ chỉ ch ờ có v ậy đ ể ồ ạt vào Việt Nam'', Tim Tucker, nhà quản lý địa phương của Ford Motor - hãng đã có m ột nhà máy l ắp ráp ô tô ở bắc Việt Nam, nhận xét. Việt Nam cũng tránh được những cản trở hạn ngạch của Mỹ với công nghi ệp dệt may - ngành h ưởng l ợi hơn cả khi nước này gia nhập WTO so với các ngành công nghi ệp khác. Gần đây, EU đã áp d ụng h ạn ngạch mới với hàng dệt may Trung Quốc, bởi thế, một s ố nhà phân tích tin r ằng, các nhà nh ập kh ẩu d ệt may EU và nhà xuất khẩu dệt may Trung Quốc sẽ tăng cường hướng t ới th ị trường Việt Nam đ ể l ấp ch ỗ trống. Hội đồng Phát triển Thương mại Hong Kong gần đây đã khuyến cáo nh ững công ty Hong Kong ch ịu ảnh hưởng bởi hạn ngạch của EU mở rộng hoạt động của mình t ại Việt Nam. Jordan Lee, nhà kinh t ế h ọc của Hội đồng dự báo: "Mục tiêu của Việt Nam là trở thành một trong nh ững nhà xu ất kh ẩu d ệt may chính của thế giới sau khi nước này gia nhập WTO. Tổng giá trị kế hoạch xuất kh ẩu trong lĩnh v ực này là 5,5 tỉ USD, tăng 15% so với 2006''. Tuy vậy, kinh tế Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn quá độ chuyển t ừ t ập trung sang h ệ th ống th ị tr ường tự do. Rất nhiều doanh nghiệp địa phương trong khi hào hứng với viễn cảnh thành viên c ủa WTO, v ẫn đang phải vật lộn với những kiến thức kinh doanh quốc tế thực tế. Cùng lúc ấy, c ạnh tranh gia tăng, nhập khẩu nước ngoài nhiều hơn sẽ tạo ra sự thay đổi lớn, có tính bước ngoặt ở nhiều ngành công nghiệp, tạo ra áp lực tiềm năng về mặt xã hội với chính ph ủ. Cam kết hủy bỏ trợ cấp khi gia nhập WTO, cạnh tranh nước ngoài l ớn sẽ trực tiếp tác đ ộng và có kh ả năng đẩy những doanh nghiệp địa phương vào chỗ phá s ản. 2.000 doanh nghiệp quốc doanh, chi ếm 38% GDP và sử dụng hàng triệu nhân công cũng phải đối mặt với thực t ế này. Bài toán làm sao đ ể có thể quản lý tốt một số ngành công nghiệp sản xuất không hi ệu quả, gi ữ v ững ổn đ ịnh xã h ội và ti ếp t ục để Việt Nam thành điểm đến của FDI, đặt ra cho chính ph ủ là không h ề dễ dàng gi ải đáp. Để giải quyết những vấn đề to lớn ấy, Chính phủ Việt Nam đã sẵn sàng xem xét l ại và c ải t ổ m ạng l ưới an sinh xã hội hiện nay, đặc biệt trong lĩnh vực liên quan tới b ảo hiểm lợi t ức và ti ến trình đào t ạo, h ướng nghiệp. Gia nhập WTO không chỉ yêu cầu ''đại tu'' nguồn l ực con ng ười, mà còn đ ặt ra áp l ực đào t ạo l ại cho hàng nghìn công nhân viên chức từng làm vi ệc theo hệ th ống, quan đi ểm, b ộ máy cũ. Trong lĩnh vực nông nghiệp, chiếm gần 20% GDP và nơi t ập trung h ơn n ửa dân s ố lao đ ộng, theo quy định của WTO, Việt Nam sẽ phải giảm mức trợ cấp với nhi ều s ản phẩm nông nghi ệp, d ẫn t ới th ực t ế là giảm sức cạnh tranh của rất nhiều mặt hàng xuất khẩu. Khi đối mặt với nghịch cảnh, Việt Nam nổi tiếng giành thắng lợi - trên c ả chi ến thường l ẫn th ương trường. Sau khi chiến tranh kết thúc, từ một nước thiếu lương thực trầm trọng, công ngh ệ k ỹ thu ật đã thay đổi Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nh ất th ế gi ới, nước xu ất kh ẩu h ạt tiêu lớn nhất thế giới và nhà xuất khẩu cà phê, hạt điều thứ hai thế giới. Nông nghiệp đã sẵn sàng chạy đua với những chương trình m ới, bao g ồm c ả ti ến trình s ửa đ ổi c ấu trúc hướng tới phát triển lợi thế cạnh tranh khu vực, cải thiện chất l ượng kiểm tra và gia tăng s ản xuất s ản phẩm trang trại, phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở sản xuất phù hợp với tiêu chuẩn qu ốc t ế. Trong một lĩnh vực khác, sự cạnh tranh cũng dẫn tới thay đổi l ớn đó là ngân hàng. V ới s ự trợ giúp c ủa các ngân hàng nước ngoài, rất nhiều cơ quan tài chính của Vi ệt Nam đã s ẵn sàng m ở r ộng m ạng l ưới hoạt động của mình, tăng vốn điều lệ và hiện đại hóa công nghệ, mặc dù v ẫn ph ải kh ẳng định con đường phía trước còn quá dài. Theo Ngân hàng nhà nước Vi ệt Nam, các ngân hàng n ước ngoài đã xây dựng 34 chi nhánh, bốn liên doanh và 40 văn phòng đại di ện ở Vi ệt Nam.
  3. Các hãng tài chính nước ngoài cũng đã thể hiện sự quan tâm của mình trong vi ệc thi ết l ập nhi ều h ơn những công ty tài chính do người nước ngoài làm chủ tại Việt Nam. Một s ố ngân hàng c ổ ph ần, trong khi đó, gần đây đã nỗ lực tăng vốn thông qua phát hành cổ phi ếu cho các c ổ đông hi ện t ại ho ặc bán cho c ổ đông chiến lược nước ngoài, một con đường nhanh và dễ dàng để tiếp cận giúp đỡ v ề công ngh ệ và k ỹ năng quản lý thực tiễn tốt nhất. Theo ông Lê Đắc Sơn, Tổng Giám đốc VP Bank, nhu cầu về nguồn lực con ng ười trong lĩnh v ực này có thể tăng ít nhất 50% một năm trong tương lai khi các nhân tài chuyển t ừ ngân hàng đ ịa ph ương sang ngân hàng nước ngoài với mức lương cao hơn. Một khó khăn đặt ra là WTO có thể làm gia tăng phân biệt giàu nghèo trong t ầng l ớp dân c ư v ốn đã t ồn tại khi kinh tế ngày một phát triển. Việt Nam vẫn là một nước nghèo với GDP bình quân theo đ ầu ng ười là 620 USD. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) của Việt Nam gặp không ít trở ng ại trong vi ệc ti ếp c ận v ới lĩnh vực tài chính chính thức. Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu t ư, ch ỉ có khoảng 32,4% SMEs đ ủ kh ả năng vay nợ ngân hàng. Nếu doanh nghiệp Việt Nam muốn tận d ụng l ợi th ế trong khi ti ếp c ận nh ững th ị trường nước ngoài mới, họ sẽ cần huy động vốn từ nơi nào đó. Lực lượng lao động giá rẻ của Việt Nam và các ngành công nghi ệp thu hút FDI đã s ẵn sàng chuy ển đ ổi trong bối cảnh đất nước vươn mình trở thành ''ngôi sao đang lên''. Rõ ràng là, không ai mu ốn ch ứng ki ến lại thực tế đầu những năm 90, khi các nhà đầu tư nước ngoài ban đ ầu đ ược đón chào sau đó l ại ph ải rút lui khi chính quyền nhận thấy sự xâm nhập của nước ngoài vào nền kinh t ế đ ịa ph ương là quá nhi ều, quá nhanh. Một thế hệ lãnh đạo mới của Đảng, Chính phủ đã nhanh chóng đạt đ ược thành t ựu m ới, đ ưa Vi ệt Nam chính thức trở thành thành viên WTO, và nhanh chóng th ực hiện nhiều bi ện pháp c ải t ổ lát đ ường, thu hút nhiều hơn đầu tư nước ngoài. Tất cả những dấu hiệu ấy thể hi ện rằng, Vi ệt Nam không có ý định quay trở lại. 2:51 16/11/2006 Đăng bởi Vie Tiến sĩ Carl Thayer. Tiến sĩ Carl Thayer, Giám đốc Diễn đàn Nghiên cứu Quốc phòng của Đại h ọc New South Wales (UNSW) và là một chuyên gia về Đông Nam Á, đã nói về những thuận lợi và thách thức đối với Việt Nam, khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Về cơ hội, Tiến sĩ Carl Thayer nói: “Mối lợi lớn nhất là các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ không còn bị phân biệt đối xử. Bình đẳng bước vào thị trường với 149 nước thành viên khác, sẽ được quyền sử dụng các cơ chế giải quyết của WTO khi có sự tranh chấp thương mại với các quốc gia thành viên khác. Hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ được bảo vệ trong các cuộc tranh chấp. Việt Nam có thể cùng với các quốc gia đang phát triển khác gây áp lực để được giúp đỡ hay cứu xét đặc biệt trong việc áp dụng luật lệ của WTO. Điều này sẽ giúp Việt Nam thêm sức mạnh và điều kiện tốt để cạnh tranh với thế giới. Qui chế thành viên WTO sẽ khiến thị trường Việt Nam được nhìn ở một góc độ khác. Thị trường Việt Nam sẽ hấp dẫn hơn với giới đầu tư nước ngoài đã quen thuộc với cung cách làm việc của WTO. Họ sẽ đem đến những công nghệ tiên tiến, những thói quen kinh doanh tốt hơn. Những điều này sẽ giúp gia tăng mức sản xuất tại Việt Nam, phát triển thị trường nội địa, tạo công ăn việc làm cho dân chúng. Thị trường nội địa phát triển sẽ cho người tiêu dùng có nhiều chọn lựa hơn về chất lượng sản phẩm và dịch vụ không có được trước đó”.
  4. Bên cạnh đó, Ông Carl Thayer cũng phân tích ra 6 thách thức lớn khi Việt Nam gia nhập WTO: Trước tiên, các nhà máy Việt Nam có chất lượng thấp, kỹ thuật lạc hậu, giá thành cao, hệ thống phân phối kém, thiếu hiểu biết về hệ thống pháp luật. Khi trở thành thành viên WTO, ngay lúc đầu giới kinh doanh Việt Nam sẽ mất thị trường và phải bước vào đoạn điều chỉnh cấp thời. Thứ hai, rất nhiều doanh gia Việt Nam không am tường luật lệ và thủ tục (mới) của WTO. Những luật lệ và thủ tục hiện hành của WTO còn thay đổi nhiều. Trong bước đầu hội nhập WTO, giới kinh doanh Việt Nam gặp phải những cạnh tranh rất gay gắt vì giới quản lý cũng như nhân viên phải cấp kỳ lãnh hội cách làm ăn mới để thích hợp với thương trường WTO. Nhiều nguy cơ thua đậm trong những vụ tranh chấp pháp lý. Thứ ba, sự thay đổi trong luật lệ kinh doanh là thử thách lớn cho khu vực dịch vụ Việt Nam, không có vốn, không có công nghệ, và cũng chẳng có kinh nghiệm so với các đối thủ quốc tế. Hệ thống phân phối hàng hóa trong nội địa của Việt Nam sẽ gặp phải những cạnh tranh mãnh liệt của những công ty nước ngoài. Thứ tư, tất cả những xí nghiệp nội địa phải cạnh tranh ở mức cao hơn. Các xí nghiệp này phải tự chỉnh đốn để sản xuất hàng chất lượng và có dịch vụ tốt hơn, hay phá sản. Những khu vực yếu kém trong cạnh tranh như dịch vụ, sản xuất sắt thép, lắp ráp xe hơi và nông nghiệp sẽ bị đe dọa trầm trọng. Khu vực trước đây thuộc độc quyền kinh doanh của nhà nước như điện lực, viễn thông, sẽ bị áp lực nặng nề để mở cửa cho tư doanh. Nhiều công ty Việt Nam có khả năng bị công ty ngoại quốc nuốt chửng. Thứ năm, sự phá sản của công ty nội địa làm tăng nạn thất nghiệp và gây bất ổn định trong xã hội. Mặt khác, ngay cả nguồn vốn đầu tư nước ngoài có khả năng, trong vài trường hợp, đưa đến tình trạng tài chính bất ổn định. Thứ sáu, sự thay đổi quá nhanh của nền kinh tế sẽ tiếp tục làm môi trường bị xuống cấp. Theo Tiến sĩ Carl Thayer, Chính phủ và giới đầu tư Việt Nam phải làm việc với nhau giúp các cơ sở kinh doanh trong nước tăng nguồn vốn, thay đổi cách quản lý, đem công nghệ mới vào quy trình sản xuất. Để đem lại điều kiện tốt cho việc đầu tư, nhà nước phải dành nhiều ngân sách hơn cho giáo dục và tăng ngân sách quốc gia vào các công trình nghiên cứu. Thứ đến, nhà nước phải nhanh chóng thực hiện cải tổ hành chính để trở nên hiệu quả hơn nếu không chính nhà nước lại cản trở công cuộc cản của cuộc phát triển kinh tế hiện nay. Bên cạnh đó, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng đòi hỏi nhà nước tăng ngân sách trợ cấp mất việc, ngân sách tái đào tạo công nhân cũng như ngân sách an sinh xã hội. Thực ra việc vào WTO thì Việt Nam cũng đã đàm phán 11 năm rồi. Quá trình đó cũng đã có sự chuẩn bị. Cái chuẩn bị mạnh mẽ nhất có thể nói là chuyển đổi luật pháp cho phù hợp và làm
  5. rất mạnh. Trong 5 - 7 năm vừa rồi có thể nói là Việt Nam đạt được những bước tiến rất là lớn. Cái chuẩn bị thứ hai là bản thân các doanh nghiệp cũng đã có những tập dượt. Tập dượt lớn nhất là thực hiện Hiệp định Tự do Thương mại khu vực Asean (AFTA). Chứ còn tôi nghĩ rằng phải chờ đến tháng 3 vì bản thân nhà nước bây giờ phải đưa ra một chương trình hành động cụ thể và chương trình hành động cụ thể đó phải chờ để họp thông qua, rồi thì góp ý... chậm lắm theo tôi cũng chỉ trong tháng Giêng này thôi thì cũng phải có chương trình hành động cụ thể. Chương trình hành động này để phối hợp các bộ các ngành, phối hợp giữa nhà nước với doanh nghiệp để mà làm, rồi các Hiệp hội phân vai ai làm những công việc gì... Việt Hùng: Việc Việt Nam ra nhập WTO sức cạnh tranh của người nông dân xem ra có vẻ là một trong những trở ngại lớn? Tiến sĩ nhìn vấn đề này như thế nào? Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam: Về sản phẩm nông sản thì đúng như ông nói là sẽ gặp cuộc cạnh tranh rất khó, nhưng mà cái khó với hàng hóa nông sản Việt Nam không phải là do thay đổi về chính sách trợ cấp hay là thay đổi về chính sách thuế quan đâu, cái đó ảnh hưởng ít thôi, mà cái khó cạnh tranh của hàng nông sản lại chính là do trình độ sản xuất của người nông dân Việt Nam, không phù hợp với việc sản xuất hàng hóa với khối lượng lớn. Cái đó bây giờ là vấn đề, bây giờ phải thảo luận tìm ra giải pháp để cho nông dân Việt Nam có thể trụ vững được trong thị trường toàn cầu. Nông dân Việt Nam có mặt mạnh là chăm chỉ, lao động cật lực..., nhưng lại có mặt "nhỏ lẻ và lạc hậu" cái đó là nguy hiểm nhất. Tình trạng này có thể nói là tồi tệ nhất nếu mà anh sang bên Thái Lan hay thậm chí Trung Quốc thì về điểm này họ đã tiến được xa hơn nhiều so với Việt Nam. Việt Hùng: Làm thế nào để người nông dân có thể đủ sức hay nói đúng hơn là theo kịp đà phát triển trong sự hội nhập của Việt Nam? Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam: Thực ra để chuyển người nông dân phù hợp theo việc sản xuất hàng hóa với số lượng lớn như vậy thì rất nhiều việc. Từ vấn đề sử dụng ruộng đất và ở đây lại phải giải quyết vấn đề sở hữu đất đai, sử dụng đất đai như thế nào để không bị "vướng"? Không "vướng" có nghĩa là có thể sử dụng thế này thế kia...nhưng mà ông chủ đầu tư ông ấy có quyền sử dụng những lô đất lớn đủ sức để làm ra những sản phẩm hàng hóa lớn... hay là kinh doanh đất đai, đấy là một vấn đề cũng rất lớn. Vấn đề thứ hai là Giống, giống cây, giống con của Việt Nam cũng rất lỗi thời. Vấn đề thứ ba là lập qui trình sản xuất, chăm sóc. Tất cả những qui trình như vậy là Việt Nam cần phải thay đổi. Còn vấn đề thứ tư là đầu óc của người nông dân, tức là người nông dân phải chuyển hẳn đầu óc suy nghĩ sản xuất không phải chỉ để ăn, bây giờ phải sản xuất để làm hàng hóa chứ không phải thừa sản phẩm rồi thì mới đem đi bán, ở đây phải có suy nghĩ sản xuất ra hàng hóa là để đem đi bán. Thế mạnh của người nông dân Việt Nam là có học vấn, có được giáo dục, có văn hóa và thứ hai nữa là cũng năng động, nhưng bây giờ phải chuyển hẳn tư duy của người nông dân sang sản xuất hàng hóa. Việt Hùng: Đó là vấn đề về giới nhà nông, thế còn vấn đề tiểu thương? Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam: Cũng không thể nói khi các hãng phân phối hàng hóa lớn của các nước vào thì người bán lẻ của Việt Nam sẽ chết hay đi đến chỗ phá sản hàng loạt. Tôi thì tôi lại không nghĩ như vậy, thực ra thì tiểu thương Việt Nam cũng giống như người nông dân, họ
  6. cũng chỉ ở qui mô rất nhỏ, thiếu tính chuyên nghiệp, đặc biệt là chưa có những bàn luận về qui luật của kinh tế thị trường và người ta chỉ biết rằng sống được ngày nào biết ngày ấy chứ còn không thể có tính chiến lược trong kinh doanh của họ. Chính vì vậy tiểu thương Việt Nam cũng không bắt kịp được với hệ thống bán buôn bán lẻ của một nền kinh tế thị trường có tính cạnh tranh cao. Nếu tiểu thương mà cứ tiếp tục làm ăn theo kiểu chộp dựt, mua rẻ bán đắt, hàng thật hàng giả lẫn lộn... thì những tiểu thương đó chắc chắn là chết. Tiểu thương mà biết làm ăn đứng đắn, biết gắn bó với người tiêu dùng, nghề của anh phải làm dịch vụ tốt hơn, bám sát vào người dân thì tôi nghĩ những người đó chẳng chết đâu. Việt Hùng: Việt Nam chưa có chính sách quản lý tư nhân, cộng thêm hệ thống hành chính cồng kềnh như vậy, liệu có phải là vật cản cho những tiểu thương ngoại quốc vào Việt Nam? Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam: Thì đúng rồi, cái này anh đưa ra là rất đúng. Tức là có chuyện, một là lối quản lý hành chánh của anh bây giờ không thể chấp nhận được. Quản lý hoàn toàn là mệnh lệnh, hoặc là không am hiểu gì về kinh tế. Thứ hai là nhũng nhiễu, tham nhũng hành dân là chính thì lối quản lý kiểu ấy cũng sẽ chết. Thứ ba đặt ra là vấn đề nhà nước có hỗ trợ gì cho các tiểu thương có thể liên kết với các nhà kinh doanh. Có thể liên doanh liên kết tạo ra sức mạnh... nhà nước phải hỗ trợ để cho chính tiểu thương họ tập hợp lại với nhau, các nhà kinh doanh tập hợp lại với nhau bàn với nhau làm thế nào để buôn bán tốt hơn, phục vụ người dân tốt hơn và như vậy cuộc sống của họ cũng được tốt hơn. Chứ còn bây giờ nhà nước đúng như anh nhận định, nhà nước ít quan tâm, hoặc là chỉ là làm theo kiểu công chức hành chính thôi, trong khi đó lại còn nhũng nhiễu, gây khó khăn cho người dân nữa thì cái đó dứt khoát là không thể tồn tại được nữa rồi. Đợt này chắc chắn sẽ có một đợt cái cách mạnh về cái đó. WTO va nong dan VN Việt Hùng: Chúng tôi xin được đặt một câu hỏi cuối cùng trước khi chấm dứt câu chuyện thưa tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, một trong những vấn đề dư luận cả trong và ngoài nước quan tâm nhiều đó là vấn đề vi phạm bản quyền. Vấn đề này sẽ phải giải quyết như thế nào trong khi thậm chí một số văn phòng của nhà nước cũng vi phạm bản quyền, chẳng hạn những phần mềm vi tính.... Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam: Về vấn đề vi phạm bản quyền hay nó rộng ra là vấn đề sở hữu trí tuệ thì có thể nói đây là một vấn đề rất là mới. Đối với thế giới có thể họ đã ở trình độ cao hơn trong khi Việt Nam còn ở một trình độ thất nên vấn đề này mới tiếp cận đến và mới đặt ra, chỉ khoảng 5 - 10 năm nay mới nói đến thôi. Thực ra thì cũng chỉ mới lam quen về khái niệm thôi, chứ còn nói thực thi cụ thể như thế nào trong cuộc sống thì phải nói ở Việt Nam thậm chí nhiều người chưa biết đến việc ấy và kể cả một số nhà kinh doanh vì họ cứ dùng được là dùng bất kể biết tài sản đó là của ai.... Gia nhập WTO đã đem lại nhiều cơ hội thuận lợi cho Việt Nam, điều này được thể hiện ở các điểm sau  đây:     Thứ nhất, Việt Nam trở thành thành viên của WTO sẽ khắc phục được tình trạng bị phân biệt đối xử trong  buôn bán quốc tế. Ví dụ như sự đối xử tối huệ quốc (MFN) không điều kiện, thuế quan thấp cho hàng xuất  khẩu của Việt Nam, thúc đẩy việc thâm nhập thị trường cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam, cải thiện  cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại với các nước, sự đối xử theo hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập  và củng cố cải cách kinh tế Việt Nam. Đặc biệt, các Hiệp định của Vòng đàm phán Uruguay đã đem lại  cho Việt Nam các lợi ích như: Đẩy mạnh thương mại và quan hệ của Việt Nam với các thành viên khác 
  7. trong WTO và đảm bảo nâng cao vai trò quan trọng của Việt Nam trong các hoạt động kinh tế và chính trị  toàn cầu như là một thành viên của WTO. Thứ hai, gia nhập WTO sẽ tạo điều kiện mở rộng thị phần quốc tế cho các sản phẩm Việt Nam và thúc  đẩy thương mại phát triển. Việt Nam sẽ có cơ hội xuất khẩu những mặt hàng tiềm năng ra thế giới nhờ  được hưởng những thành quả của các vòng đàm phán giảm thuế và hàng rào phi thuế, tăng cường tiếp  cận thị trường của WTO, đặc biệt trong các lĩnh vực hàng dệt may và nông sản. Cơ hội xuất khẩu bình  đẳng sẽ có những ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của các doanh nghiệp trong nước, sản xuất sẽ được  mở rộng và tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Việc bãi bỏ Hiệp định đa biên (MFA) về hàng  dệt sẽ tạo điều kiện cho xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Các nhà xuất khẩu Dệt  ­May Việt Nam  sẽ được đảm bảo trong vòng 10 năm sau khi trở thành thành viên của WTO, đồng thời, các nước nhập  khẩu sẽ không có các hạn chế MFA đối với hàng dệt may của Việt Nam. Đối với các mặt hàng nông sản,  là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thế giới, Việt Nam sẽ có nhiều thị trường xuất khẩu mặt hàng này  hơn vì hạn ngạch nhập khẩu gạo và các nông sản khác sẽ được thay thế bằng thuế và thuế sẽ phải được  cắt giảm theo Lộ trình quy định của WTO. Việt Nam có lợi nhiều khi các thị trường gạo mở cửa, đặc biệt là  các thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc. So với các nước đang phát triển khác, Việt Nam sẽ có lợi hơn từ  các Hiệp định của Vòng Uruguay vì theo quy định của WTO, hàng xuất khẩu dưới dạng sơ chế của các  nước đang phát triển sang các nước phát triển thường không phải chịu thuế hoặc thuế thấp. Việt Nam là  nước xuất khẩu nhiều hàng sơ chế, sẽ rất có lợi từ quy định này. Bên cạnh việc mở rộng xuất khẩu hàng hóa trong nước, Việt Nam còn tận dụng được cơ hội từ nhập khẩu  như lựa chọn nhập các loại hàng hóa có kỹ thuật cao, công nghệ tiên tiến để nhanh chóng phát triển các  ngành có công nghệ cao, ngành mũi nhọn, nhanh chóng đuổi kịp các nước phát triển trên thế giới. Thứ ba, Việt Nam sẽ có lợi từ việc cải thiện hệ thống giải quyết tranh chấp khi có quan hệ với các cường  quốc thương mại chính. Việc tham gia WTO sẽ cho phép Việt Nam cải thiện vị trí của mình trong các cuộc  đàm phán thương mại, có điều kiện tiếp cận các quy tắc công bằng và hiệu quả để giải quyết các tranh  chấp thương mại. Những nguyên tắc của WTO đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam  cũng sẽ có lợi vì sẽ nhận được một số ưu đãi đặc biệt như được miễn trừ sự ngăn cấm trợ cấp xuất khẩu.  Tuy nhiên, nếu hàng hóa thuộc loại cạnh tranh, sự miễn trừ này sẽ bị loại bỏ trong thời gian 8 năm. Thứ tư, Việt Nam sẽ có lợi gián tiếp từ yêu cầu của WTO về việc cải cách hệ thống ngoại thương, bảo  đảm tính thống nhất của các chính sách thương mại và các bộ luật của Việt Nam cho phù hợp với hệ  thống thương mại quốc tế. Các quy định của WTO sẽ loại bỏ dần những bất hợp lý thương mại, thúc đẩy  cải thiện hệ thống kinh tế và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ hệ thống kế hoạch hóa tập trung sang  nền kinh tế thị trường.     Thứ năm, Việt Nam sẽ có điều kiện thu hút vốn, kinh nghiệm quản lý và công nghệ mới… của nước ngoài.  Trong những năm qua, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực sự đã trở thành một trong những  động lực tăng trưởng sản xuất công nghiệp Việt Nam. Đầu tư nước ngoài đã tác động mạnh mẽ tới tăng  trưởng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng trong  nền kinh tế Việt Nam, chiếm gần 30% vốn đầu tư xã hội, 35% giá trị sản xuất công nghiệp, 20% xuất  khẩu và giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động.  Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài  đã góp phần chủ yếu vào việc chuyển giao công nghệ, đầu tư nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam trong  những năm qua. Sự xuất hiện của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng có tác động tích cực như:  tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường, giúp các doanh nghiệp và các nhà quản lý doanh nghiệp trong  nước học hỏi thêm về cách thức quản lý sản xuất, tiếp thị, tiếp thu công nghệ, kiểu dáng sản phẩm, phục  vụ khách hàng…
  8. Sáu là, nâng cao khả năng cạnh tranh và tính hiệu quả trong nền kinh tế, đồng thời tạo ra môi trường  cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp Việt Nam. Tự do hóa thương mại của WTO sẽ tạo điều kiện  cho hàng hóa của các nước thành viên dễ dàng thâm nhập vào thị trường Việt Nam. Điều này gây sức ép  buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải chấp nhận mức độ cạnh tranh khốc liệt, làm cho họ trở nên năng  động hơn trong việc tạo sản phẩm mới, cải tiến các dịch vụ, hạ giá thành sản phẩm… Bên cạnh những cơ hội đó, Việt Nam đồng thời cũng phải đương đầu với các thách thức sau khi gia nhập  WTO. Bởi lẽ, so với thế giới, Việt Nam còn là một trong những nước nghèo với mức GDP đạt 372  USD/người/năm, hệ thống chính sách kinh tế­xã hội đang trong quá trình hoàn thiện, chưa đồng bộ, trình  độ kỹ thuật, trình độ quản lý… có sự chênh lệch lớn so với các nước phát triển. Bên cạnh đó, Việt Nam còn phải thực thi đầy đủ các cam kết của mình, đặc biệt là các cam kết trong một  số lĩnh vực như dịch vụ, sở hữu trí tuệ, các biện pháp đảm bảo thương mại công bằng, an toàn vệ sinh  thực phẩm, vệ sinh dịch tễ, kiểm dịch động thực vật và hàng rào kỹ thuật thương mại…, nên việc thực thi  sẽ rất khó khăn. Điều này không chỉ yêu cầu Việt Nam phải thông qua các luật lệ, quy định phù hợp với  WTO và nền kinh tế thị trường, mà còn đòi hỏi tình hình thực tiễn phải đáp ứng được các yêu cầu của  WTO.  Cụ thể, Việt Nam phải nâng cao đáng kể năng lực cho các cơ quan có liên quan cũng như thay đổi  cơ bản về quản lý và tổ chức, đầu tư đáng kể cho nguồn nhân lực, hợp lý hóa công tác tổ chức thương  mại và phân bổ ngân sách. Nếu không, sẽ phát sinh hai vấn đề: Thứ nhất, Việt Nam không thể thực hiện  các nghĩa vụ WTO của mình và thứ hai là Việt Nam không thể tận dụng được hết các cơ hội khi gia nhập  WTO, từ đó sẽ dẫn đến những hậu quả hết sức nghiêm trọng, có thể gây tổn hại cho nền kinh tế. Để sớm đạt mục tiêu gia nhập WTO nhằm mở rộng thị trường cho hàng hóa, doanh nghiệp Việt Nam  được đối xử bình đẳng, thu hút vốn và công nghệ, đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ đồng bộ của tất cả các  bộ, các ngành từ khâu chuẩn bị đàm phán và đổi mới cơ chế chính sách cho phù hợp với các cam kết  quốc tế, đến sự chuẩn bị cho nền kinh tế sẵn sàng đương đầu với các thách thức, sự vươn lên vượt bậc  của các doanh nghiệp với sự hỗ trợ của Nhà nước và sự tranh thủ thái độ thiện chí của các nước thành  viên WTO để đưa ra những yêu cầu hợp lý phù hợp với điều kiện Việt Nam Hơn hai thập kỷ hội nhập chính là động cơ chủ yếu cho phát triển kinh tế ở Việt Nam. Việt Nam vẫn đang tiếp tục quá trình hội nhập và thực hiện các sáng kiến hội nhập, bao gồm tự do hóa đa phương thương mại và đầu tư, đàm phán song phương, thực thi các cam kết WTO, đàm phán và thực thi các cam kết hội nhập ASEAN, đàm phán các FTA khác và đàm phán trong khuôn khổ WTO. Mặc dù trong hơn hai thập kỷ qua, hội nhập kinh tế đã mang lại những lợi ích đáng kể, nhưng Việt Nam vẫn cần hội nhập sâu hơn nếu muốn đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong thập kỷ tới. Việt Nam bắt đầu Đổi Mới vào giữa những thập kỷ 80 thông qua tự do hóa và hội nhập đa phương. Sự sụp đổ của Liên bang Sô Viết vào năm 1991 đã chấm dứt chế độ trao đổi hàng hóa và khuyến khích hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Vào giữa những năm 90, Việt Nam bắt đầu quá trình gia nhập WTO, đàm phán hiệp định thương mại với Liên minh châu Âu và gia nhập ASEAN. Sau khi đàm phán hiệp định thương mại với Mỹ năm 2001, Việt Nam chính thức gia nhập WTO vào tháng 1 năm 2007. Quá trình thực thi các cam kết trong WTO đã được thực hiện trong cả 1 thập kỷ qua và một số cam kết trong đàm phán cũng sẽ được thực hiện trong vài năm tới. Ngoài việc tham gia vào hội nhập khu vực ASEAN, Việt Nam cũng tham gia các FTA ASEAN cộng với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, và Úc và New Zealand. Bên cạnh đó, đàm phán của ASEAN về FTA với Ấn độ cũng đang có những bước tích cực và đàm phán FTA với EU cũng đang được thực hiện.
  9. Nói chung, tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam chịu ảnh hưởng tích cực của quá trình hội nhập. Thương mại và đầu tư ở Việt Nam đã phát triển từ cơ chế tương đối hạn chế sang cơ chế mở như hiện nay. Những kết quả đạt được về mặt kinh tế là rất ấn tượng: • Tỷ trọng xuất khẩu (và nhập khẩu) trong nền kinh tế tăng gấp 10 lần từ 1988 đến 2008; • Thu nhập đầu người tăng từ $130 vào đầu thập kỷ 90 lên $800 vào 2008; và • Tỷ lệ nghèo đói giảm đáng kể từ 58% năm 1993 xuống 13% năm 2008. Trọng tâm tăng trưởng trong tương lai ở Việt Nam là quản trị sự năng động trong quá trình hội nhập. Quá trình hội nhập vào khu vực ASEAN sẽ chịu tác động như thế nào bởi các Hiệp định ASEAN cộng đang được thực hiện? Việt Nam có nên đàm phán thêm các FTA? Quá trình hội nhập ASEAN và ASEAN cộng chịu ảnh hưởng của đàm phán Doha trong WTO như thế nào? Việt Nam sẽ áp dụng chính sách thương mại và đầu tư như thế nào để hỗ trợ cho phát triển bền vững? Hội nhập kinh tế và Phát triển ở Việt Nam Trong nghiên cứu này, chúng tôi tìm hiểu quá trình hội nhập ở Việt Nam và xem xét các rào cản trong thương mại hàng hóa và dịch vụ và trong đầu tư còn tồn tại sau khi thực hiện các cam kết gia nhập WTO. Lợi ích tĩnh Chúng tôi phân tích chi tiết những lợi tĩnh tiềm năng của việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan của Việt Nam sau khi gia nhập WTO (hay cách khác là những tổn phí do duy trì rào cản thương mại ở Việt Nam). Để tính tổn phí tĩnh của thuế quan, chúng tôi sử dụng mô hình Giải pháp Tích hợp Thương mại Thế giới (WITS) và một loạt cơ sở dữ liệu. Phương pháp tiếp cận của chúng tôi cũng song hành với một nghiên cứu do IMF thực hiện để phân tích tác động tĩnh của hội nhập WTO. Chúng tôi cũng tiến hành phân tích chi tiết thuế HS ở mức 6 chữ số với sự biến thiên về mức thuế suất với các đối tác thương mại trong các FTA ASEAN và ASEAN cộng. Những lợi ích mất đi do duy trì thuế quan sau khi gia nhập WTO cũng được tính bằng tổng doanh thu thuế và phần mất đi của người tiêu dùng và nhà sản xuất. Chúng tôi cũng xem xét các rào cản phi thuế đối với hàng hóa, dịch vụ và đầu tư trong những ngành cụ thể. Trong phần phân tích chi tiết thuế quan, chúng tôi cũng xem xét những lợi ích tiềm tàng của mở rộng thương mại (trade creation) và tổn phí tiềm tàng của chuyển hướng thương mại (trade diversion) trong hội nhập khu vực thông qua các FTA ASEAN và ASEAN cộng. Nói chung các FTA thường mở rộng thương mại, nhưng thách thức đặt ra là phải tối thiểu hóa những tổn thất do chuyển hướng thương mại. Một vấn đề cốt lõi ở đây là những ngành được bảo hộ cao, như ngành công nghiệp ô tô, vốn không được đưa vào trong các FTA ASEAN và ASEAN cộng, nhưng áp lực hiện nay là phải đưa những ngành này vào. Nếu Việt Nam đưa những ngành có mức độ bảo hộ cao này vào một số FTA và không đưa vào những hiệp định khác và nếu Việt Nam vẫn duy trì rào cản MFN cao trong những ngành này thì sẽ có những thua thiệt đáng kể từ việc chuyển hướng thương mại. Hội nhập ASEAN và ASEAN cộng mang lại cả thách thức và cơ hội để hội nhập vào mạng sản xuất khu vực. Lợi ích động Chúng tôi cũng xem xét những tác động động và tác động đến tăng trưởng của các sáng kiến hội nhập sâu hơn của Việt Nam. Tác động động của các rào cản đối với tạo thuận lợi cho thương mại, đối với thương mại dịch vụ và đầu tư thường khó tính toán hơn cho dù lợi ích kinh tế và phát triển tiềm năng là lớn hơn nhiều. Để phân tích những tác động động và tác động đến tăng trưởng, chúng tôi dùng phương pháp chấm điểm chuẩn và phân tích kinh tế lượng với dữ liệu bảng của các quốc gia. Hội nhập mang lại tác động lớn cho phát triển kỹ
  10. năng và nguồn vốn con người và những sáng tạo và đổi mới công nghệ vốn rất khó để đo lường lại có ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế và xã hội. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm hiểu tác động của Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến tích tụ vốn. Kinh nghiệm trong hai thập kỷ gần đây của Việt Nam khẳng định tác động động và tác động đến tăng trưởng của hội nhập kinh tế là rất có ý nghĩa. Tác động động và tác động đến tăng trưởng, góp phần vào tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế, lớn hơn nhiều so với tổn phí tĩnh của thuế quan. Tự do hóa thương mại và đầu tư ngoài khuôn khổ các cam kết của WTO có thể sẽ góp phần đáng kể vào viễn cảnh tăng trưởng và phát triển bền vững của Việt Nam. Bối cảnh kinh tế vĩ mô Trọng tâm của nghiên cứu này là hội nhập và những thách thức với phát triển trong dài hạn nhưng đồng thời cũng xem xét sự thay đổi của nền kinh tế. Chu kỳ kinh doanh là hiện tượng mang tính chu kỳ trong xu hướng tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch vụ thế giới mang tính dài hạn. Đối với Việt Nam, một nền kinh tế nhỏ mở, bảng cân đối tài sản c ẩn trọng ở cấp quốc gia, chính phủ, lĩnh vực ngân hàng và khu vực doanh nghiệp đóng vai trò chính trong quản lý rủi ro. Tự do các dịch vụ tài chính sẽ góp phần vào tăng trưởng kinh tế tiềm năng, tuy nhiên cũng cần phải củng cố hoạt động giám sát tài chính và các quy định thận trọng. Một trong những thuận lợi mà FDI mang lại là ít có rủi ro tín dụng cho nước nhận. Việt Nam đã thu hút nhiều FDI trong những năm gần đây. Trên thực tế, làn sóng FDI vào Việt nam những năm 2007 và 2008 sau khi gia nhập WTO đã mang lại động lực kích thích nền kinh tế cho dù kinh tế toàn cầu đang suy giảm. Tuy nhiên, kinh nghiệm về chu kỳ kinh tế trước đây cho thấy sẽ phải mất vài năm để FDI phục hồi lại mức đỉnh và thu hút FDI sẽ trở nên cạnh tranh hơn. Tiếp tục tự do hóa tài khoản vốn trong trung hạn sẽ góp phần giúp Việt Nam phát triển kinh tế. Phân tích ngành Nghiên cứu này phân tích những rào cản đối với thương mại và đầu tư trong một số lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam. Dệt và may mặc Ngành may mặc là câu chuyện thành công chính của Việt Nam, và ngành mang lại doanh thu xuất khẩu lớn thứ hai của cả nước. Tuy nhiên, sức cạnh tranh của ngành này vẫn còn chủ yếu dựa trên cho phí lao động thấp, và để nâng cao lợi nhuận và khả năng cạnh tranh, Việt Nam cần phát triển lên nấc cao hơn của chuỗi giá trị. Nguồn vốn FDI tăng với chất lượng cao hơn sẽ hỗ trợ để ngành may mặc đạt được mục đích và sẽ giải quyết những yếu kém còn tồn động trong một số mảng như marketing, thiết kế, nguồn nguyên vật liệu, vốn và đào tạo. Tuy vậy, vẫn tồn tại những rào cản về mặt hành chính trong những lĩnh vực như thủ tục hải quan, cấp phép và kho bãi, gây cản trở cho thu hút FDI mới. Sự phát triển của ngành này đòi hỏi phải hội nhập hoàn toàn vào mạng sản xuất khu vực. Hội nhập ASEAN và ASEAN cộng sẽ khuyến khích cơ cấu lại ngành dệt may, thuế MFN đối với ngành dệt may sẽ giảm dần theo thời gian khi thực hiện cơ cấu lại ngành này. Cải thiện hoạt động hậu cần và thuận lợi hóa thương mại sẽ góp phần đáng kể vào cải thiện khả năng cạnh tranh của ngành. Tổn phí tĩnh tiềm năng của thuế quan sau khi gia nhập WTO của ngành dệt may trong năm 2007 là 1,83 tỷ USD trong tổng doanh thu nhập khẩu là 3,6 tỷ USD. Như đã đề cập, mô hình WITS không tính đến những vấn đề bảo hộ hiệu quả với những rào cản đối với các with the leveraging of the impediments to value-added with input tariffs, which are significant on the different stages of processing in textiles and apparel. Giảm và gỡ bỏ thuế đầu vào giúp cải
  11. thiện những vướng mắc trong hoàn thế và thủ tục hải quan. Thiếu sự hỗ trợ đối với thuận lợi hóa thương mại cũng là một vướng mắc chính của ngành này. Chúng tôi ước tính rằng sản lượng của ngành dệt may sẽ tăng 30% (tương đương 3 tỷ USD một năm) nếu loại bỏ hoàn toàn những rào cản về thuế nhập khẩu nguyên vật liệu và cải thiện đáng kể thuận lợi hóa thương mại, và tăng thêm nguồn vốn FDI. Khả năng cạnh tranh của ngành sẽ tăng thêm nếu thủ tục nhập khẩu và xuất khẩu được cải thiện nhanh hơn (trong vòng 10 ngày thay vì 22 hay 21 ngày như hiện nay) và cơ chế thông quan minh bạch hơn. Giá trị gia tăng của ngành cũng tăng thêm, ước tính nhiều nhất là 10%, nếu các quy chuẩn trong khu vực được áp dụng trong ngành này. Công nghiệp ô tô Ngành công nghiệp ô tô hiện đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn trong tương lai, bởi đây là ngành có kỹ thuật còn yếu, quy mô nhỏ, chịu sự cạnh tranh của các đối thủ lớn trong khu vực, thiếu sự nhất quán trong môi trường chính sách, và phụ thuộc vào mức thuế quan. Đây là ngành có thuế suất cao và hiện vẫn bị loại ra khỏi các FTA trong ASEAN và ASEAN cộng. Từ năm 2008, những loại thuế chính trong ngành công nghiệp ô tô sẽ được đưa vào lộ trình thuế trong ASEAN nhưng vẫn ở mức thuế MFN và sẽ chỉ giảm dần dần. Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 14, cam kết được đưa ra là xóa bỏ những ngoại lệ này vào năm 2015 hoặc 2018. Ngành ô tô cũng chịu áp lực phải được đưa vào các hiệp định ASEAN cộng với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, và Úc và New Zealand. Việt Nam cũng cần xem xét đàm phán các FTA khác và đồng thời giảm thuế MFN ngay hoặc ngay sau khi giảm thuế trong các FTA của ASEAN và ASEAN cộng. Việc giảm thuế trong ASEAN và ASEAN cộng sẽ khuyến khích cơ cấu lại ngành hay bắt buộc các nhà sản xuất với sản lượng nhỏ và chi phí đơn vị lớn ra khỏi ngành. Trừ khi Việt Nam tiến hành đàm phán các FTA trong tương lai và để giảm mức thuế MFN, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ chuyển hướng thương mại, giảm doanh thu thuế và cơ cấu lại ngành. Chúng tôi ước tính rằng điều này có thể dẫn đến giảm kim ngạch nhập khẩu đến 49%, tương đương với 1,45 tỷ USD trong năm 2007, chủ yếu do giảm doanh thu thuế lên đến 745 triệu USD. Hơn nữa, lợi ích mất đi này sẽ ngày càng tăng nếu như không cơ cấu lại ngành công nghiệp lắp ráp ô tô và không có chiến lược hạn chế chuyển hướng thương mại trong tương lai qua thực hiện các FTA ASEAN và ASEAN cộng. Hóa chất Ngành hóa chất Việt Nam là một ngành chiến lược trọng tâm, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, cả về mặt cung cấp đầu vào cho các ngành khác và cả sản xuất ra hàng loạt sản phẩm gia dụng. Tuy vậy, ngành nà vẫn chưa phát triển tương xứng với một ngành công nghiệp hiện đại, do thiếu vốn, thiếu công nghệ hiện đại và khả năng quản lý, và không đáp ứng được nhu cầu của thị trường nội địa. Kế hoạch mở rộng tiểu ngành hóa dầu có thể là động lực chính thúc đẩy sự phát triển của ngành trong tương lai. Nhu cầu thị trường sẽ tăng đáng kể trong trung hạn. Thuế quan đối với ngành này tương đối thấp, cả với lĩnh vực hóa chất và các sản phẩm nhựa, ít rào cản với FDI, và đang tìm kiếm và khuyến khích các nguồn đầu tư khác. Do đó, tác động trực tiếp của việc tự do hóa (như gỡ bỏ thuế) cho cả hai lĩnh vực này cần được giảm tới mức tối thiểu. Tuy nhiên, vẫn cần nhiều đầu tư nước ngoài, và việc tiếp tục cải thiện những lĩnh vực chung có ảnh hưởng đến FDI (bao gồm cả những khía cạnh như quyền thành lập, quản lý kinh tế vĩ mô, can thiệp về mặt hành chính, minh bạch và xử lý lợi nhuận để lại,…) sẽ góp phần cải thiện đáng kể bối cảnh chung toàn ngành trong tương lai.
  12. Về mặt tác động, do mức thuế MFN và CEPT thấp, ít mức thuế trần, và môi trường FDI nhanh chóng được mở rộng, nên có thể giảm thiểu tác động của tự do hóa các rào cản thuế và phi thuế. Chúng tôi đã mô phỏng tác động tiềm năng sử dụng mô hình WITS. Phí tổn của thuế quan sau giai đoạn gia nhập WTO đối với hóa chất cơ bản và phân bón là 16 triệu USD trong tổng kim ngạch nhập khẩu 400 triệu USD trong năm 2007. Phí tổn đối về mặt thuế quan sau giai đoạn gia nhập WTO với ngành hóa chất đặc biệt và nhựa là 153 triệu USD. Tác động của tự do hóa mạnh hơn đến nền kinh tế nói chung, đối với ngành này, còn tương đối khiêm tốn và lợi ích có được là tăng thêm đầu tư. Có khoảng 21 triệu người Việt Nam sống dựa vào ngành nông nghiệp có thể được lợi từ việc bỏ thuế phân bón. Dược phẩm Cải thiện lĩnh vực chăm sóc sức khỏe là ưu tiên của quốc gia thông qua tăng thêm tuổi thọ. Đồng thời, kiểm soát chi phí y tế vẫn là vấn đề thách thức. Tự do hóa lĩnh vực phân phối dược phẩm nằm ngoài giới hạn cam kết trong WTO (dược phẩm không nằm trong các cam kết của GATS về dịch vụ phân phối) và cải thiện môi trường đầu tư sẽ giúp thu hút FDI và góp phân vào nâng cấp ngành. Về mặt tác động kinh tế, do mức thuế MFN và CEPT thấp và ít mức trần thuế, nên tác động cộng dồn của tự do hóa thuế là khiêm tốn. Chúng tôi đã mô phỏng tác động tiềm năng sử dụng mô hình WITS. Tổn phí về mặt thuế quan sau giai đoạn hội nhập WTO là 29 triêu USD trong tổng kim ngạch nhập khẩu 480 triệu USD trong năm 2007. Vẫn còn những khoản chi phí đánh vào thuế đối với dịch vụ y tế. Tác động kinh tế về mặt thúc đẩy đầu tư nước ngoài có nhiều ý nghĩa hơn. Mở cửa thị trường nhiều hơn sẽ củng cố sự hấp dẫn của thị trường Việt Nam với các công ty dược nước ngoài. Kết quả sẽ là tăng thêm đầu tư cho các cơ sở y tế tư nhân, và mở rộng cung cấp dịch vụ qua cả mạng lưới chăm sóc sức khỏe công và tư. Dịch vụ trong nước không hiệu quả là một nhân tố ảnh hưởng đến giá thuốc cao, vốn là mối lo ngại của chính phủ và tự do hóa thương mại sẽ giúp giải quyết vấn đề này. Hiện nay, thị trường Việt Nam đang tăng trưởng ở mức cao gấp 3 lần các nước phát triển (12% so với 4% một năm). Tác động lớn nhất mà tự do hóa mang lại là triệt tiêu tác động của suy giảm kinh tế đang diễn ra, và ước tính thị trường sẽ tăng trưởng lên đến 2,4 tỷ USD vào năm 2015 và 3,3 tỷ USD và 2020, tương đương mức tăng trưởng 9% so với hiện nay. Bên cạnh đó, tự do hóa cũng thu hút đầu tư vào các nhà máy ở Việt Nam theo tiêu chuẩn GMP của WHO, nâng dần từng bước, điều này nằm ngoài khả năng tài chính của hầu hết các công ty ở Việt Nam. Tái tạo điện năng Điện năng là ngành hạ tầng quan trọng và khả năng cung ứng và phân phối điện không tương xứng chính là rào cản đối với đầu tư và phát triển kinh tế. Thách thức lớn nhất là vai trò độc quyền của EVN, thiếu tính minh bạch và hạn chế phạm vi cho đầu tư tư nhân, và thu hút FDI trong ngành này là tương đối khó. Cải thiện môi trường kinh doanh và môi trường đầu tư sẽ góp phần đáng kể vào đáp ứng nhu cầu cơ sở hạ tầng năng lượng của Việt Nam. Thúc đẩy hợp tác với các đối tác nước ngoài là con đường phát triển tiềm năng nhất đối với ngành này ở Việt Nam. Sản lượng tiềm năng của ngành vẫn ở mức thấp và công nghệ vẫn lạc hậu, và chỉ có thể phát triển được thông qua hợp lực với các nhà đầu tư nước ngoài. Tài trợ cho các dự án điện là một thách thức, và nằm ngoài khả năng của EVN. Đòn bẩy tài chính và tiềm năng đào tạo, chuyển giao công nghệ là những lĩnh vực mà chỉ có sự tham gia của các MNC lớn mới mang lại lợi ích trong dài hạn. Môi trường FDI chung ở Việt Nam cũng có thể được cải thiện nhanh chóng nếu thúc đẩy xây dựng các nhà máy năng lượng. Quan ngại về
  13. khả năng cung ứng - không đáng tin cậy và giá cả leo thang - sẽ tác động tới đánh giá của nhà đầu tư về kinh tế Việt Nam, và được giới đầu tư nước ngoài đề cập tới như một rào cản để mở rộng kinh doanh. Nếu rào cản FDI được dỡ bỏ, thì ngành này có thể đạt được mục tiêu tỷ trọng FDI là 30% đến năm 2015. Điều này tương đương với tăng công suất lên trên 13.000 MW, và với chi phí trung bình cho công suất tạo ra là $1.000/kW, thì tiềm năng thu được từ phần đầu tư này lên đến $13 tỷ vào năm 2015. Phân phối Theo các cam kết của WTO GATS, quyền phân phối toàn bộ sẽ được thực hiện từ tháng 1 năm 2009 với một số sản phẩm ngoại lệ, đáng chú ý nhất là dược phẩm. Việc thực hiện các điều khoản này vẫn còn miễn cưỡng và chậm chạp. Ở địa phương, sự tùy tiện vẫn tồn tại. Bán lẻ là một ngành ‘nhạy cảm’, được ví như người lao động chính trong hàng nghìn doanh nghiệp nhỏ hoạt động không hiệu quả và sự mơ hồ của Đánh giá nhu cầu kinh tế chính là nhân tố cản trở hoạt động đầu tư. Tự do hóa lĩnh vực bán lẻ với trọng tâm tập trung nhiều vào những yêu cầu về minh bạch hóa cho các cửa hàng lớn sẽ mang lại hiệu quả cho ngành và tiết kiệm chi phí cho người tiêu dùng. Kết quả mong muốn là ngành bán lẻ trong nước sẽ cạnh tranh hơn. Đồng thời, cũng phát triển cơ sở các nhà cung ứng của Việt Nam. Dựa trên các nghiên cứu so sánh với khu vực Đông Nam Á, chúng tôi ước tính hiệu quả từ tự do hóa ngành này sẽ giảm 15-20% chi phí hàng năm trong lĩnh vực hậu cần và sẽ tăng GDP thêm 2,5-3%. Đối với Việt Nam, với số liệu GDP hiện nay, con số này sẽ tương đương với tăng khoảng 2,1 tỷ đến 2,7 tỷ USD do tự do hóa ngành này Điện tử Ngành điện tử của Việt Nam chưa hội nhập hoàn toàn vào chuỗi cung ứng toàn cầu hay mạng sản xuất khu vực. Mặc dù thuế đối với các sản phẩm điện tử thấp nhưng lĩnh vực thay thế hàng tiêu dùng nhập khẩu vẫn được bảo hộ và do đó thuế vẫn cao. Các doanh nghiệp chi phối trước đây đã được cơ cấu lại để nhằm tăng khả năng cạnh tranh nhưng một số hàng tiêu dùng với công nghệ lạc hậu vẫn được duy trì ở mức thuế bảo hộ cao, kể cả trong lộ trình thuế WTO và trong AFTA và các FTA trong ASEAN cộng. Đầu tư vào ngành này tương đối năng động từ khi gia nhập WTO vào tháng 1 năm 2007. Các công ty lớn như Intel, Foxcom, Samsung, Canon, Neidec và Meikom đã đầu tư nhiều vào Việt Nam. Ngành điện tử của Việt Nam đã bắt đầu hội nhập nhiều hơn vào mạng sản xuất năng động của khu vực và toàn cầu. Tuy vậy, sự phát triển của ngành này vẫn đi sau nhiều so với các đối tác trong khu vực như Malaysia và Philippines. Việt Nam hiện mới chỉ tham gia ở m ức lắp ráp đòi hỏi nhiều nhân công và chỉ có thúc đẩy FDI mới giúp ngành này phát triển đa dạng hơn. Thu hút và cải thiện chất lượng FDI là rất cần thiết với sự phát triển năng động và giúp ngành điện tử ở Việt Nam hội nhập nhanh chóng hơn. Do chuỗi cung ứng và mạng sản xuất mang tính cạnh tranh cao và mỗi quá trình trong chuỗi cung ứng mới tạo thêm giá trị gia tăng nên rào cản đối với thương mại và đầu tư, cho dù nhỏ, cũng là trở ngại lớn để tạo thêm giá trị gia tăng. Vẫn có những khó khăn trong hoàn thuế và một số vấn đề về thủ tục hải quan đối với những sản phẩm hướng về xuất khẩu. Thách thức lớn nhất là dịch vụ hậu cần nghèo nàn và chưa tạo thuận lợi cho thương mại. Ngành điện tử sẽ năng động hơn nếu gỡ bỏ các loại thuế đầu vào (sẽ dần được loại ra khỏi CEPT và FTA với Nhật Bản, và đang giảm dần trong các hiệp định với Hàn Quốc và Trung Quốc), cải thiện các dịch vụ hậu cần và môi trường đầu tư. Ngành điện tử có thể mở rộng nhanh chóng và hội nhập đầy đủ hơn vào mạng sản xuất khu vực và toàn cầu.
  14. Tổn phí về thuế quan sau khi gia nhập WTO là khoảng 200 triệu USD trong tổng kim ngạch nhập khẩu 3 tỷ USD năm 2007. Ước tính rằng chi phí cho các khoản thuế đầu vào chiếm khoảng 4% chi phí sản xuất do những thủ tục hoàn thuế và do đó cải thiện, tạo thuận lợi cho thương mại sẽ mang lại 10% giá trị tăng thêm cho toàn ngành. Ngành điện tử của Việt Nam đang tăng trưởng nhanh và sự phát triển này có thể tăng nhanh hơn nếu dỡ bỏ thuế đầu vào, cải thiện đáng kể các hoạt động thuận lợi hóa thương mại và tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư. Dịch vụ viễn thông Ngành viễn thông của Việt Nam vẫn còn tương đối đóng. Cam kết trong GATS cho phép sở hữu nước ngoài lên đến 49% nhưng điều này vẫn không có tác dụng khi doanh nghiệp nhà nước vẫn chi phối và kiểm soát việc cấp phép. Cam kết trong GATS cho thấy những Hợp đồng Hợp tác Kinh doanh tồn tại trước đó sẽ được chuyển thành hình thức khác nhưng đi ều này vẫn chưa xảy ra. Ngành viễn thông đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế và Việt Nam vẫn đang chậm trễ trong việc cấp phép cho dịch vụ 3G so với các nước ASEAN. Gần đây, Bộ Thông tin và Truyền thông đã cấp phép dịch vụ 3G cho bốn doanh nghiệp nhà nước. Việc triển khai dịch vụ mới đòi hỏi đầu tư lớn và cáh duy nhất để các nhà đầu tư nước ngoài tham gia là thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh. Mặc dù Việt Nam đã có nhiều tiến bộ trong việc phát triển dịch vụ viễn thông trong những năm gần đây, nhưng Việt Nam vẫn tụt hậu nhiều so với các nước trong khu vực về mặt chi phí và chất lượng dịch vụ viễn thông, nhất là sự phát triển dịch vụ băng thông rộng ở Việt Nam vẫn còn chậm so với các nước trong khu vực. Việt nam cần đầu tư vào đổi mới công nghệ cho ngành này. Tác động của tự do hóa dịch vụ viễn thông ở Việt nam sẽ giúp tăng thêm đầu tư nước ngoài và việc cần thiết là thiết lập một cơ quan điều tiết độc lập. Cải cách khuôn khổ pháp lý tổng thể kết hợp với nâng mức trần sở hữu và quy trình đấu thầu cạnh tranh hơn sẽ mang lại những lợi ích lớn lao sau đây: • Tăng mức độ đầu tư vào ngành lên đến 25% trong vòng 5 năm, • Chi phí liên lạc sẽ giảm tương ứng khoản 20% so với dự báo cơ sở ban đầu, và • Đẩy mạnh đáng kể chất lượng dịch vụ nhất là mở rộng băng thông rộng và WIFI và tiềm năng cải thiện các dịch vụ phổ thông. Ngược lại, tác động của giảm chi phí thông tin liên lạc sẽ làm tăng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, nhất là với hàng hóa và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Cải cách pháp lý và tự do hóa sẽ làm tăng đầu tư, cải thiện công nghệ và giảm chi phí ít nhất 20%. Điều này cũng mang lại những lợi ích lan tỏa đáng kể trong toàn nền kinh tế. Dịch vụ xây dựng Ngành dịch vụ xây dựng này tương đối mở để thu hút đầu tư nước ngoài và đã cam kết mở hoàn toàn cho đầu tư trực tiếp nước ngoài theo WTO vào năm 2009, mở chi nhánh vào 2010. Những rào cản chính đối với ngành này bao gồm thiếu minh bạch trong các quy trình mua sắm của chính phủ, vai trò của doanh nghiệp nhà nước kiểm soát những khu đất trống rộng, các rào cản và giấy phép hành chính, sự không rõ ràng của hình thức PPP và khả năng tham nhũng. Những cải cách trong lĩnh vực này sẽ giảm chi phí xây dựng, mang lại lợi ích cho những chủ nhà và hoạt động kinh doanh tiềm năng, và quan trọng hơn là giảm đáng kể chi phí đáp ứng nhu cầu cơ sở hạ tầng ở Việt nam. Có nhiều bằng chứng cho thấy thủ tục hành chính còn chậm trễ, môi trường pháp lý không nhất quán và tình trạng tham nhũng. Rất khó để tính toán các chi phí này, nhưng ở nhiều quốc gia, những chi phí này lại rất lớn. Khi so sánh với các nghiên cứu quốc tế về thủ tục hành
  15. chính chậm trễ, môi trường pháp lý không nhất quán và quan điểm về tham nhũng ở Việt Nam, chúng tôi ước tính rằng nếu quy trình mua sắm của các dự án hạ tầng minh bạch và cạnh tranh hơn kết hợp với quá trình cấp phép hiệu quả và hợp lý, trách nhiệm giải trình tốt hơn, và kết quả kiểm toán hiệu quả hơn thì sẽ giảm từ 5% đến 15% chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng. Dịch vụ tài chính Việt nam vẫn còn chậm trễ trong cấp phép ngân hàng nhưng vẫn tôn trọng các cam kết GATS. Các cam kết về dịch vụ trong ASEAN và ASEAN cộng là tấm gương phản chiếu các cam kết của WTO. Tự do hóa thêm các dịch vụ tài chính sẽ làm tăng thêm sản phẩm, dịch vụ tài chính và sản lượng của các ngành khác trong nền kinh tế. Chính sách tỷ giá và sự giám sát thận trọng với khu vực tài chính sẽ là cần thiết trong bối cảnh khủng hoảng tài chính. Mặc dù những quy định cẩn trọng là cần thiết nhưng khủng hoảng tài chính cũng cho thấy vai trò quan trọng của sự ổn định và tính hiệu quả của các trung gian tài chính trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế. Theo nghiên cứu chuẩn của Ngân hàng Thế giới và phân tích sâu của chúng tôi về khu vực tài chính ở nhiều nước, việc dỡ bỏ các hạn chế còn lại về ngân hàng và công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài sẽ góp phần đáng kể vào cải thiện các trung gian tài chính và đổi mới dịch vụ tài chính. Và rõ ràng là trong bối cảnh khủng hoảng tài chính, cần quan tâm đặc biệt tới các quy định thận trọng, và Việt Nam có thể được lợi từ cải thiện các trung gian tài chính, nhất là cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chúng tôi ước tính rằng đến 2015, khi các hạn chế còn lại được dỡ bỏ sau khi thực hiện các cam kết WTO thì tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt nam sẽ tăng khoảng 0,3% một năm. Tác động đến toàn bộ nền kinh tế Dựa trên phân tích từng ngành và phân tích tác động của toàn bộ nền kinh tế, phí tổn của các rào cản thương mại còn lại giai đoạn sau gia nhập WTO đối với Việt Nam được tóm tắc như sau Tổn phí tĩnh của thuế quan Sử dụng mô hình WITS, chúng tôi ước tính lợi ích tĩnh ròng của việc dỡ bỏ cơ cấu thuế quan đối với hoạt động thương mại là 1,765 tỷ USD trong năm 2007, tương đương với 2,4% GDP. Doanh thu thuế tiềm năng giảm 3,8 tỷ USD, tương đương khhaongr 5,0% GDP. Doanh thu thuế phải chịu những rủi ro do thực hiện lộ trình thuế theo AFTA và AFTA cộng và cần được thay thế bởi diện chịu thuế rộng hơn, nền kinh tế ít phải gánh vác phí tổn hơn. Sau khi điều chỉnh những vấn đề liên quan đến thủ tục hải quan và thực hiện AFTA và FTA ASEAn cộng, chúng tôi ước tính tổn thất ròng sau khi gia nhập WTO là 1,5% GDP thực năm 2012 hay tương đương 1,8 tỷ USD danh nghĩa Theo phân tích của chúng tôi, tổn phí của thuế quan còn lại sau khi thực hiện cam kết WTO là rất lớn do Việt Nam vẫn duy trì nhiều mức thuế trần trong cam kết của WTO. Những mức thuế trần này sẽ dẫn đến những vấn đề về mở rộng thương mại và chuyển hướng thương mại trong các FTA của ASEAN và ASEAN cộng. Mở rộng phạm vi dịch vụ trong FTA, đàm phán FTA mới và giảm thuế MFN đối với thuế suất sau gia nhập WTO sẽ làm tăng đáng kể lợi ích kinh tế ròng thông qua tăng mở rộng thương mại và giảm chuyển hướng thương mại. Giảm thuế MFN hay đàm phán FTA mới là rất quan trọng để ngăn chặn các phí tổn do chuyển hướng thương mại và tối đa hóa mở rộng thương mại gắn với thực thi đầy đủ AFTA và FTA ASEAN cộng. Lợi ích động
  16. Theo ước tính, lợi ích động và tác động đến tăng trưởng của thuận lợi hóa thương mại và tự do hóa dịch vụ và đầu tư sẽ đóng góp thêm 2% cho tốc độ tăng GDP hàng năm của nền kinh tế (tính gộp mỗi năm). Lợi ích động này có được là do hai nhân tố. Thứ nhất, tự do hóa hàng hóa và dịch vụ và đầu tư sẽ làm tăng thêm 1,5% GDP vào tốc độ tăng trưởng. Tăng thêm đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ mang lại những lợi ích từ hội nhập thương mại thông qua cải thiện nguồn vốn con người và tiếp nhận đổi mới công nghệ. Tăng thêm FDI dường như là phương thức hiệu quả nhất để mở rộng thương mại dịch vụ. Tăng FDI cũng có thể góp phần vào tăng tổng đầu tư và cải thiện tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nhân tố thứ hai chính là tác động của tích tụ vốn từ FDI đến kinh tế vĩ mô sẽ góp thêm 0,5% GDP vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Những thách thức chính của hội nhập sâu hơn bao gồm: • Hợp lý hóa và tự do hóa thuế quan, cả thuế MFN và thuế trong các FTA; • Cơ cấu lại và cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước với cơ chế cạnh tranh và minh bạch; • Cải thiện hoạt động hậu cần và tạp thuận lợi cho thương mại; • Tự do hóa Dịch vụ và Đầu tư Thách thức và Cơ hội đối với phát triển Tác động của tự do hóa nền kinh tế trong vòng hai thập kỷ trở lại đây đã giúp Việt Nam dịch chuyển từ thâm dụng lao động trong nông nghiệp sang thâm dụng lao động trong sản xuất. Nhiều nền kinh tế đã đạt tốc độ tăng trường nhanh chóng khi chuyển từ thâm dụng lao động trong nông nghiệp sang thâm dụng lao động trong sản xuất. Hiện nay Việt Nam phải đối mặt với những thách thức như tăng năng suất và dịch chuyển lên nấc cao hơn của chuỗi giá trị nhằm duy trì tăng trưởng bền vững và tăng thu nhập đầu người. Cần phối kết hợp các FTA trong ASEAN và ASEAN cộng để mang lại lợi ích tối đa do mở rộng thương mại và hạn chế tối thiểu chuyển hướng thương mại. Bên cạnh đó, đơn phương giảm thuế hay đàm phán để giảm thuế MFN trong WTO khi đàm phán các FTA cũng sẽ hạn chế chuyển hướng thương mại và mang lại những lợi ích cho phát triển từ quá trình hội nhập. Trong thập kỷ tới, Việt Nam cũng có cơ hội phát triển do “được lợi từ cấu trúc dân số” với lực lượng lao động trẻ đang ngày càng tăng và tỷ lệ phụ thuộc thì giảm dần. Hội nhập chắc chắn mang lại cơ hội tuyển dụng trong các ngành có giá trị gia tăng cao và cạnh tranh cho lực lượng lao động trẻ năng động. Việt nam có thể tăng GDP thêm 1,5% thông qua tăng thêm lợi ích thu được từ tác động tĩnh và tốc độ tăng trưởng hàng năm cũng có thể tăng tới 2% thông qua những tác động động và tác động đến tăng trưởng tiềm năng của hội nhập sâu rộng hơn. Tốc độ tăng trưởng tăng sẽ mang lại những tác động đáng kể cho nền kinh tế. Chẳng hạn, tốc độ tăng trưởng kinh tế thực tăng từ 5%/năm đến 6,5%/năm sẽ làm GDP tăng 15% và GDP đầu người tăng 50% trong vòng 10 năm. Trong vòng hai thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành công do hội nhập mang lại, nhưng cũng vẫn cần tiếp tục những nỗ lực để đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong tương lai. Hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế toàn cầu có thể góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững ở Việt Nam trong thập kỷ tới. Phát triển bền vững cũng được củng cố thêm nếu bổ sung những chính sách nhằm bảo đảm giảm tỷ lệ nghèo đói, cải thiện cơ hội cho phụ nữ và cải thiện thông lệ chính sách. Việc gỡ bỏ các rào cản đối với thương mại và đầu tư và các quy định pháp lý minh bạch hơn sẽ góp phần đáng kể vào cải thiện đời sống cho người dân Việt Nam. Phân tích kỹ lưỡng các nguyên nhân và bản chất của diễn biến cán cân thanh toán giúp đúc rút ra một số điểm đáng lưu ý cần cân nhắc trước khi tiến hành điều chỉnh chính sách thương
  17. mại. Ngoài ra, việc áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu tạm thời, được phép áp dụng theo quy định của WTO, cũng đòi hỏi phải phân tích kỹ lưỡng tổng thể cán cân thanh toán để đảm bảo được sự phù hợp với quy định của WTO. Nghiên cứu này xác định quan điểm chủ đạo là sự mất cân đối về kinh tế vĩ mô là yếu tố quyết định cơ bản dẫn đến tình hình cán cân thanh toán như hiện nay ở Việt Nam. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng mặc dù cán cân thương mại bị mất cân bằng cơ cấu, nhưng bản thân cán cân thương mại không phải là nguyên nhân dẫn tới sự sụt giảm dự trữ quốc tế một các nhanh chóng. Hiện trạng cán cân vãng lai của Việt Nam chủ yếu bao gồm cán cân thương mại hàng hóa và cán cân chuyển khoản, còn dịch vụ và thu nhập tương đối nhỏ. Chuyển khoản giảm mạnh trong năm 2008, một phần là do khủng hoảng tài chính toàn cầu, nên kiều hối giảm xuống, và thoái đầu tư của cá nhân. Cán cân thu nhập bao gồm chuyển lợi nhuận từ hoạt động đầu tư nước ngoài ở Việt Nam thông thường luôn ở trạng thái thâm hụt. Thương mại dịch vụ có quan hệ gắn kết chặt chẽ với thương mại hàng hóa do thống kê dịch vụ chủ yếu bao gồm vận tải và bảo hiểm, mặc dù thương mại dịch vụ còn bao gồm cả các dịch vụ đáng kể khác như du lịch và dịch vụ tài chính. Thương mại hàng hóa là nhân tố lớn nhất gây ra thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai, với mức 12.3 tỷ đôla Mỹ năm 2008 (xem Biểu đồ ii). Thâm hụt tài khoản vốn của Việt Nam2 trước đây thường là thặng dư, chủ yếu là do dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào khá lớn, FDI đạt mức đỉnh là 7,8 tỷ đôla Mỹ vào năm 2008. Do sự sụt giảm chung trong đầu tư của thế giới, FDI có khả năng chỉ đạt được 1 nửa mức này trong năm 2009 (xem Biểu đồ iii). Nợ ngắn hạn hay dòng vốn ngắn hạn vào Việt Nam, dưới hình thức đầu tư gián tiếp cũng có xu hướng dương (mặc dù biến động khá mạnh). Tuy nhiên, sự tin tưởng vào thị trường Việt Nam cũng bị suy giảm mạnh trong năm 2008 và dòng vốn đầu tư gián tiếp giảm mạnh. Số liệu sơ bộ cho Quý II năm 2009 cho thấy đầu tư gián tiếp tiếp tục giảm mạnh, làm tài khoản vốn bị thâm hụt. Tác động tổng hợp của thâm hụt tài khoản vãng lai và cán cân tài khoản vốn giảm xuống đã làm dự trữ quốc tế giảm xuống trong Quý II năm 2009. Tình hình cán cân thanh toán của Việt Nam không bị coi là trầm trọng bởi một số lý do nhất định. Thứ nhất, nghĩa vụ nợ ngắn hạn của Việt Nam có thể được thực hiện. Mức dự trữ hiện nay cao hơn so với năm trước đồng thời nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn tương đối nhỏ, vì vậy xét về ngắn và trung hạn nhu cầu đối với dự trữ quốc tế không lớn. Dự trữ hiện nay đủ lớn để đảm bảo thanh toán nhập khẩu và sự mất cân đối thương mại của Việt Nam cũng đang có những dấu hiệu được cải thiện trong năm 2009. Ngoài ra, luồng vốn quốc tế có khả năng sẽ quay trở lại xu hướng như trước đây khi nền kinh tế thế giới phục hồi trong năm 2010. Điều quan trọng là Việt Nam phải giành được niềm tin vào nền kinh tế của mình từ đó hạn chế tối đa hiện tượng rút vốn. Để đạt được điều này, không chỉ cần ổn định tình hình kinh tế vĩ mô ở Việt Nam mà còn cần đảm bảo môi trường đầu tư hấp dẫn. Phân tích chính sách thương mại Các quy định của WTO liên quan đến Cán cân Thanh toán Việt Nam đã gia nhập WTO, điều đó có nghĩa là Việt Nam phải tuân thủ các quy định và thủ tục của tổ chức này liên quan đến bản chất, hình thức và mức độ của các biện pháp tự vệ đối phó với bất cập tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán của mình. Điều XVIII:B của GATT 1994, được diễn giải trong “Tuyên bố về các Biện pháp Thương mại Áp dụng vì mục đích Cán cân Thanh toán”, thông qua vào 28 tháng 11 năm 1979 (Tuyên bố) và “Cách hiểu về Điều khoản Cán cân Thanh toán của GATT 1994” (Cách hiểu) đặt ra quy định áp dụng với các nước đang phát triển muốn vận dụng các điều khoản về BOP của
  18. WTO. Quy định cơ bản áp dụng với các nước đang phát triển nêu rõ “nhằm tự vệ đối phó với bất cập tài chính đối ngoại và đảm bảo dự trữ quốc tế đủ để thực hiện chương trình phát triển kinh tế, có thể… kiểm soát tổng mức nhập khẩu…” Các biện pháp BOP chỉ được phép áp dụng tạm thời, dựa vào cơ sở giá cả (ví dụ như áp dụng phụ thu nhập khẩu), minh bạch và áp dụng chung đối với toàn bộ hàng hóa nhập khẩu. Mức độ hạn chế nhập khẩu không được vượt quá mức cần thiết để giải quyết bất cập về BOP. Đối với các vấn đề về BOP, WTO hợp tác chặt chẽ với IMF. Theo Điều XV: 2 của GATT 1994, WTO “sẽ chấp nhận kết quả phân tích số liệu và thực tiễn do Quỹ đưa ra liên quan đến tỷ giá ngoại hối, dự trữ tiền tệ và cán cân thanh toán, và sẽ chấp nhận kết luận của Quỹ về việc một nước thành viên thực hiện biện pháp về tỷ giá có phù hợp với Thỏa thuận chung của Quỹ Tiền tệ Quốc tế hay không…” WTO chấp nhận kết luận của IMF về nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng dự trữ quốc tế, về việc xác định mức dự trữ tiền tệ bị coi là quá thấp hoặc tỷ lệ tăng dự trữ tiền tệ hợp lý, và các khía cạnh tài chính khác được thảo luận trong hoạt động tham vấn trong những trường hợp này”. Nhìn chung, dự trữ tiền tệ cần phải đủ mức để đáp ứng yêu cầu tối thiểu là 3 tháng nhập khẩu. Tùy điều kiện từng nước, mức dự trữ cần thiết có thể khác nhau tùy thuộc vào các điều kiện đặc biệt. Các thành viên vận dụng các điều khoản về BOP phải thực hiện thông báo biện pháp hạn chế nhập khẩu được áp dụng và tham vấn với Ủy ban BOP của WTO theo đúng quy định chi tiết của GATT/WTO. Ủy ban này sẽ rà soát hiện trạng và triển vọng BOP của nước đề nghị, xem xét các biện pháp khác có thể giúp phục hồi sự cân đối, hệ thống và phương pháp luận của biện pháp cũng như tác động của biện pháp hạn chế. IMF, Ban Thư ký WTO và nước tham gia tham vấn sẽ chịu trách nhiệm chuẩn bị tài liệu cần thiết. Ủy ban đưa ra kết luận và khuyến nghị nhằm mục đích đảm bảo và nâng cao tính thực thi của các quy định về BOP của WTO. Ủy ban chịu trách nhiệm báo cáo lên Đại Hội đồng. Nếu không thống nhất được ý kiến trong nội bộ Ủy ban, thì báo cáo nộp lên có thể bao gồm các quan điểm khác nhau. Các thành viên có thể vận dụng quy định về giải quyết tranh chấp của WTO để đưa ra quyết định cuối cùng như đã từng xảy ra trong trường hợp liên quan đến Ấn Độ và Hoa Kỳ, trong đó Ấn Độ từ chối xóa bỏ biện pháp hạn chế nhập khẩu vì lý do BOP. Ấn Độ thua kiện trong vụ này và cuối cùng phải xóa bỏ biện pháp hạn chế. Các khuyến nghị với chính sách thương mại Báo cáo đưa ra các kết luận chính như sau: • Việt Nam hiện nay chưa rơi vào tình trạng “khó khăn về cán cân thanh toán” hoặc “tình trạng nghiêm trọng về cán cân thanh toán” theo nghĩa nêu trong quy định của WTO. Vì vậy, với tình hình BOP hiện nay, Việt Nam không nên áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu vì mục đích BOP; • Trong bối cảnh hiện nay, nếu Việt Nam vận dụng các điều khoản BOP của WTO và áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu vì mục đích BOP, thì phản ứng từ các bên tiếp nhận nhiều khả năng sẽ là tiêu cực và Việt Nam có thể bị yêu cầu xóa bỏ các biện pháp này ngay lập tức, đi kèm với nguy cơ bị vận dụng điều khoản giải quyết tranh chấp của WTO; • Việc áp dụng hạn chế nhập khẩu vì mục đích BOP có thể ảnh hưởng xấu tới uy tín của Việt Nam là một nước có môi trường kinh tế có khả năng đoán định, có thể ảnh hưởng quan hệ với các đối tác FTA và đối tác thương mại chủ chốt khác, bao gồm cả các nhà đầu tư nước ngoài, với những hậu quả nghiêm trọng. Tác động trực tiếp sẽ làm tăng chi phí sản xuất hàng xuất khẩu vì 2/3 giá trị xuất khẩu là nguyên liệu nhập khẩu; • Mặc dù tình trạng hiện nay chưa thực sự đáng báo động, nhưng các chuyên gia khuyến nghị Việt Nam thực hiện cải cách cơ cấu kinh tế và điều chỉnh chính sách vĩ mô dưới hình thức
  19. điều chỉnh chính sách tài khóa và tiền tệ để hạn chế tốc độ tăng vay nợ nước ngoài, từ đó đảm bảo thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai là bền vững trong dài hạn. Các chuyên gia cũng khuyến nghị cần tiếp tục tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn ở Việt Nam để duy trì niềm tin đối với nền kinh tế Việt Nam và đảm bảo rằng kiều hối và đầu tư nước ngoài tiếp tục chảy vào các lĩnh vực sản xuất của nền kinh tế và nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng trong xuất khẩu; • Giảm hệ số sử dụng hàng nhập khẩu ở Việt nam có thể được thực hiện tốt nhất thông qua các biện pháp điều chỉnh cung. Từ khía cạnh này, điểm tích cực đáng ghi nhận là đang dần hình hành sự dịch chuyển từ công nhiệp gia công, lắp ráp sang công nghệ cao phục vụ xuất khẩu. Định hướng này có khả năng giải quyết được sự mất cân đối thương mại trong dài hạn. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng khuynh hướng tăng đầu tư vào bất động sản cũng đang tăng lên; • Mở cửa nền kinh tế Việt Nam với thế giới bên ngoài mà đặc biệt là việc gia nhập WTO và tham gia vào các thỏa thuận thương mại tự do đã làm gia tăng nhập khẩu. Nếu sự gia tăng nhập khẩu tạo nên bất cập cho nền kinh tế trong nước, Việt Nam có thể vận dụng các khả năng áp dụng hạn chế nhập khẩu phù hợp với quy định trong nước và cam kết quốc tế (WTO, FTA và song phương). Sau những diễn biến về BOP, nếu tình hình BOP trở nên nghiêm trọng, và cần có biện pháp kịp thời, thì có thể cân nhắc việc áp dụng hạn chế nhập khẩu, nhưng cần ghi nhớ đây là lựa chọn cuối cùng, vì có thể tạo ra nhiều tác động tiêu cực khi áp dụng các biện pháp này. Các giải pháp khác giành cho Việt Nam bao gồm: • Sử dụng không gian chính sách của mình dưới hình thức dư địa thuế suất nhập khẩu chính là phần chênh lệch giữa thuế suất áp dụng hiện hành với mức thuế suất cam kết trần trong WTO, theo đó có thể nâng thuế áp dụng lên bằng với mức thuế cam kết trần; • Cân nhắc áp dụng biện pháp tự vệ trong WTO cũng như quy định về biện pháp tự vệ trong các FTA; • Cân nhắc áp dụng biện pháp chống bán phá giá; • Cân nhắc áp dụng thuế đối kháng theo Hiệp định WTO về Trợ cấp và Thuế Đối kháng; • Cân nhắc sử dụng Điều XXVIII GATT 1994 (Sửa đổi Biểu cam kết) để đàm phán lại cam kết thuế. Gia nhập WTO- gia tăng niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài Sau khi gia nhập WTO, với mức tăng trưởng cao về vốn thực hi ện, t ỷ trọng v ốn đầu t ư c ủa khu v ực đ ầu tư nước ngoài so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã tăng từ 16,2% năm 2006 lên g ần 31% năm 2008. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, tỷ trọng này sang năm 2009 gi ảm xu ống còn 25,5%. Việc gia nhập WTO cũng góp phần tích cực cho việc huy động v ốn đ ầu t ư vào nền kinh t ế. Theo tỷ lệ so với GDP, tổng vốn đầu tư toàn xã hội sau khi nước ta gia nhập WTO cũng đ ạt m ức cao nh ất t ừ trước đến nay. Năm 2007, tổng vốn đầu tư toàn xã hội bằng 46,5%, năm 2008, đ ạt 41,5% và sang năm 2009, con số này là gần 43% GDP. Ba năm sau khi gia nhập WTO, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào nước ta có s ự tăng tr ưởng đ ột biến. Năm 2006 là năm nước ta mới hoàn tất việc đàm phán gia nh ập WTO thì lu ồng v ốn FDI đ ổ vào nước ta đạt 12 tỷ USD. Năm 2007, con số này tiếp t ục lập k ỷ l ực m ới với h ơn 21 t ỷ USD. Năm 2008, vốn FDI đã tăng gấp 3 lần năm trước, với mức gần 72 t ỷ USD. Năm 2009, m ặc dù bị tác đ ộng c ủa cu ộc khủng hoảng kinh tế nhưng vốn FDI vào Việt Nam cũng nhi ều hơn năm 2007. Điều này cho th ấy ni ềm tin vào sự phát triển kinh tế nước ta của các nhà đầu t ư nước ngoài. Không chỉ riêng việc thu hút đầu tư mà việc giải ngân vốn đầu t ư nước ngoài cũng là đi ểm sáng. 5 tháng đầu năm nay, vốn FDI đăng ký mới đạt 7,5 tỷ USD, trong khi lượng vốn gi ải ngân đ ạt t ới 4,5 t ỷ USD. Xu hướng phục hồi tiếp tục thể hiện trong các con số về thu hút, xuất khẩu và tình hình hoạt đ ộng c ủa các doanh nghiệp. Tức là bình quân từ đầu năm đến nay, giải ngân vốn FDI của Việt Nam đ ạt kho ảng 900 triệu USD/tháng.
  20. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài là li ệu nguồn l ực này có t ạo ra năng lực ngoại tệ cũng như quan hệ thương mại tốt giữa Việt Nam với các n ước hay không? PGS – TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam phân tích: “Cách nhìn c ủa chúng tôi b ắt đầu từ chỗ đánh giá lại mô hình tăng trưởng của Việt Nam. Mô hình giúp chúng ta g ặt hái đ ược nhi ều thành công là mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, không cần nỗ l ực theo nghĩa hi ệu qu ả, ch ất l ượng cạnh tranh và khi hội nhập nó cho thấy rằng điều đó đúng là nh ư vậy. Tại sao c ơ h ội nhi ều, FDI vào nhiều, cơ hội mở ra, một nền kinh tế nghèo, thiếu vốn mà lại bội th ực vốn đ ầu t ư? Đấy là câu chuy ện chúng ta phải tính đến, đó là năng lực tiếp nhận được vốn. Chúng ta mở c ửa, bùng n ổ tăng tr ưởng xu ất khẩu, bùng nổ tăng trưởng nhập khẩu nhưng kết quả về mặt cơ cấu là nh ập siêu tăng lên d ữ d ội”. Mừng và lo Vấn đề đối với nước ta hiện nay là đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nhi ều chưa hẳn đã là mừng mà lo nhiều hơn. Có thể nói điều này vì có rất nhiều dự án khổng lồ cam kết vào Vi ệt Nam s ẽ gây ra nh ững xáo trộn không nhỏ đối với môi trường kinh doanh nước ta. Hơn n ữa, li ệu chúng ta có chu ẩn b ị đ ầy đ ủ nguồn lực để tiếp nhận được những “siêu” dự án này hay không. Những chuẩn b ị c ủa n ước ta đ ối v ới những dự án khổng lồ này không đơn thuần về mặt cơ s ở hạ tầng, mà còn là v ề đội ngũ qu ản tr ị, lãnh đạo địa phương. Nếu không chuẩn bị tốt, doanh nghiệp FDI sẽ “bê” h ết bộ máy c ủa họ vào, ch ỉ t ận dụng nguồn đất ưu đãi của nước ta. Tiến sĩ Đinh Văn Ân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương nh ận định: “Tác đ ộng của WTO đối với FDI tại Việt Nam là rất lớn, tuy nhiên cũng có những vấn đ ề đáng l ưu ý khi thu hút FDI với những thuận lợi do WTO đem lại. Thực tế là Việt Nam trước m ắt vẫn d ựa quá nhi ều vào FDI đ ể tăng trưởng; thứ hai, bộc lộ khả năng hấp thụ vốn chưa cao của nền kinh t ế. Chúng ta không bi ết x ử lý, không hấp thu được thì không những không tranh thủ được thời cơ, mà không c ẩn th ận thì th ời c ơ l ại biến thành thách thức.” Từ năm 2000, nước ta đã tiến hành cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. V ới vi ệc tr ở thành thành viên của WTO và trước áp lực cạnh tranh ngày càng tăng, những bi ện pháp đ ược th ực thi ngày càng th ể hi ện tính hiệu quả trong cuộc sống. Khi nước ta tham gia nhiều hơn vào quá trình toàn c ầu hóa, n ền kinh t ế sẽ chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ các biến cố của kinh tế thế giới. Bên cạnh đó, dòng v ốn FDI tăng đ ột biến cho thấy những yếu kém về thể chế cũng như khả năng hấp thụ vốn của nền kinh t ế còn kém. Đây là một trong những nút thắt của nền kinh tế đã được nhìn nhận và đang đ ược tháo gỡ. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nêu ý kiến: “Đây là lúc chúng ta th ực s ự c ần rà soát l ại, nh ững d ự án nào sau một năm không thực hiện được thì cắt bỏ không thương tiếc. Th ứ hai, nh ững d ự án mang l ại hậu quả xấu về lâu dài, không tạo giá trị gia tăng cho ng ười Vi ệt Nam, r ất nên xem xét l ại”. Mặc dù vốn FDI đăng ký khá lớn nhưng còn nhiều vấn đề cần được nhìn nh ận m ột cách xác th ực h ơn để Việt Nam có được những chính sách và biện pháp phù h ợp để vốn FDI phát huy hi ệu qu ả cho s ự phát triển kinh tế đất nước./. Phan Thế: Ông có nói rằng khả năng cạnh tranh của Việt Nam là thấp. Vậy việc gia nhập WTO có thực sự giúp ích cho doanh nghiệp Việt Nam không? Theo ông, ở Việt Nam hiện nay những ngành nào có thể chủ động khi hội nhập? Nguyễn Trần Bạt: Tôi nói rằng sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam là thấp, chứ tôi không nói sức cạnh tranh của bất kỳ ngành nghề nào của Việt Nam là thấp. Khi nào anh có sức cạnh tranh cao thì anh cạnh tranh, cuộc sống bắt anh phải cạnh tranh. Nếu anh liều mạng cạnh tranh khi anh không đủ tiềm lực thì Công ty anh phá sản. Người ta cường điệu việc phải cạnh tranh quốc tế khi chúng ta gia nhập WTO, nhưng thực ra WTO là nơi chỉ để giải quyết các khúc mắc trong quá trình cạnh tranh toàn cầu. Trước khi chúng ta gia nhập WTO thì chúng ta đã cạnh tranh rồi, đã buôn bán quốc tế rồi. Chúng ta đều biết rằng, lộ trình để Việt Nam nâng cao sức cạnh tranh là tới 12 năm. Đã có lộ trình cho nên chúng ta cứ bình tĩnh mà làm.
Đồng bộ tài khoản