XÂY DỰNG CÔNG CỤ ĐỆ TRÌNH CÔNG VIỆC CÓ NGỮ NGHĨA CHO CONDOR

Chia sẻ: Hai Dang | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
66
lượt xem
3
download

XÂY DỰNG CÔNG CỤ ĐỆ TRÌNH CÔNG VIỆC CÓ NGỮ NGHĨA CHO CONDOR

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sự phát triển của môi trường tính toán thông lượng cao đã góp phần giải quyết một số bài toán cỡ lớn mà nếu không có khả năng tính toán của môi trường này thì gần như không giải quyết được.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: XÂY DỰNG CÔNG CỤ ĐỆ TRÌNH CÔNG VIỆC CÓ NGỮ NGHĨA CHO CONDOR

  1. XÂY DỰNG CÔNG CỤ ĐỆ TRÌNH CÔNG VIỆC CÓ NGỮ NGHĨA CHO CONDOR Building a Semantic-based Job Submission Tool for Condor Lê Ngọc Sơn, Đinh Tuấn Việt, Tạ Tuấn Anh, Đỗ Đức Thành, Nguyễn Thanh Thủy Tóm tắt Sự phát triển của môi trường tính toán thông lượng cao đã góp phần giải quyết một số bài toán cỡ lớn mà nếu không có khả năng tính toán của môi trường này thì gần như không giải quyết được. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện nay, phần mềm trung gian hỗ trợ môi trường vẫn có những hạn chế làm cho người dùng khó khai thác sức mạnh của chúng. Một trong số đó là việc đệ trình công việc. Quá trình so khớp yêu cầu của người dùng và khả năng cung cấp của tài nguyên của hầu hết các bộ phần mềm trung gian hiện nay (kể cả Condor) chủ yếu vẫn dựa trên cơ chế so khớp chính xác. Bài báo trình bày một cách tiếp cận theo hướng ngữ nghĩa để làm mềm dẻo quá trình so khớp này bằng việc ứng dụng các công nghệ của Web ngữ nghĩa. Ý tưởng này sau đó được ứng dụng để xây dựng bộ công cụ đệ trình công việc mới bổ sung thêm tính năng cho quá trình đệ trình công việc trong Condor. Từ khóa: Semantic Grid, Condor, Ontology Abstract The development of High Throughput Computing environments helps solve several large- scale problems, which without these environments’ capability are hardly solved. At present, there are however shortcomings in the middleware supporting these environments that prevents users from effectively exploiting the environments’ power. One of these is job submission. The matchmaking between user requirement and resource capability of almost all middleware suites (including Condor) is exact matchmaking. This paper adopt a semantic approach in order to make the submission phase more flexible. The idea is then realized in a new job submission tool which adds new features to the submission process in Condor. Keywords: Semantic Grid, Condor, Ontology 1
  2. 1 ĐẶT VẤN ĐỀ các từ khóa với nhau. Nếu tích hợp được tri thức cho các từ khóa này tạo thành ý nghĩa Ngày nay cùng với sự phát triển như vũ bão và ngữ cảnh, thì việc tìm kiếm sẽ dựa trên của khoa học kỹ thuật, công nghệ, đã xuất khái niệm (concept), chứ không phải theo từ hiện ngày càng nhiều bài toán đòi hỏi sức khóa. mạnh tính toán mà một máy tính riêng lẻ Để hiểu rõ ý này, ta lấy ví dụ một nhóm không thể đảm nhiệm. Ngoài ra các bài toán máy tính có cài hệ điều hành IRIX và Linux. này đòi hỏi một khoảng thời gian lớn để Theo cách thông thường, khi người dùng thực thi, thời gian tính toán có thể lên đến muốn công việc được thực hiện trên các máy hàng tháng, hàng năm. Xuất phát từ nhu cầu tương thích với Unix, họ cần chỉ rõ hệ điều đó, các kỹ thuật tính toán song song, tính hành hoặc là IRIX hoặc là Linux. Tuy nhiên toán phân tán đã được đề xuất, và tính toán trong trường hợp người dùng không biết rõ thông lượng cao (High Throughput tài nguyên của hệ thống đang sử dụng là Computing - HTC [1]) trở thành một công Linux hoặc IRIX mà có nhu cầu thực thi nghệ hứa hẹn giải quyết vấn đề này. công việc theo với những tài nguyên tương Các hệ thống tính toán thông lượng cao thích với 2 loại trên, người dùng đệ trình lớn mạnh ngày càng được xây dựng và phát công việc với yêu cầu tài nguyên là Unix thì triển. Tuy nhiên tính đơn giản về ngữ nghĩa Condor sẽ không xác định được chính xác của các hệ thống này đã dẫn đến một số hạn tài nguyên do cơ chế tìm kiếm của Condor là chế. Điều này khiến cho người dùng phải cơ chế tìm kiếm theo từ khóa. Kết quả là đương đầu với một lượng lớn thông tin công việc không được thực thi, nếu muốn chuyên sâu về hệ thống cũng như xuất hiện thực thi thì người dùng có thể phải đệ trình nhiều thông tin dư thừa so với mục đích sử công việc nhiều lần với mỗi lần là lựa chọn dụng. Tính chất đơn giản của các bộ đệ trình một hệ điều hành thuộc họ Unix. công việc trong các hệ thống tính toán thông Việc sử dụng công nghệ Web ngữ nghĩa lượng cao trước đây đã tạo rất nhiều khó trong tình huống này sẽ giúp che dấu được khăn trong việc tìm kiếm trích rút và bảo trì đi tài nguyên của hệ thống, và giúp cho việc thông tin. Do đó chúng chỉ hỗ trợ người tìm kiếm linh hoạt, dựa trên khái niệm. Khi dùng ở một mức giới hạn nào đó trong việc đó người dùng chỉ cần thiết yêu cầu thực thi truy xuất và xử lý thông tin. Kết quả tất yếu công việc trên hệ điều hành Unix, thành là những người dùng phải gánh trên vai phần suy diễn sẽ tìm ra các phần tử có mối trách nhiệm không những truy cập và xử lý quan hệ tương thích như Linux, IRIX, thông tin mà còn rút trích và thông dịch mọi Solaris … thông tin. Cách tiếp cận này xét về tốc độ là chậm Condor [2] là một phần mềm trung gian hơn so với cách làm truyền thống, tuy nhiên có tác dụng hỗ trợ hoạt động của môi trường nó lại mềm dẻo và có khả năng mở rộng cao tính toán thông lượng cao. Các cơ chế của hơn. Hơn nữa, trên thực tế, các ứng dụng Condor hiện tại là đủ đáp ứng yêu cầu vận chạy trên môi trường tính toán thông lượng hành của môi trường tính toán thông lượng cao phần lớn tốn rất nhiều thời gian để hoàn cao, tuy nhiên nó đòi hỏi người dùng phải có tất. Do vậy thời gian suy diễn là tương đối hiểu biết về hệ thống và phải liệt kê chi tiết nhỏ so với tổng thời gian chạy. Chính vì các thông tin về tài nguyên trong đặc tả yêu điều này, việc xây dựng thêm các thành cầu. Vấn đề tìm kiếm hiện nay trong quá phần mô tả về ngữ nghĩa để trợ giúp việc đệ trình xác định tài nguyên phù hợp của trình công việc là chấp nhận được, ít nhất là Condor sử dụng công nghệ tìm kiếm theo từ trong môi trường tính toán thông lượng cao. khóa (key word). Ngoài ra phương tiện tìm Hệ thống được xây dựng trên ý tưởng kiếm này không hiểu được mối liên hệ giữa tiến hành thu thập thông tin và ngữ nghĩa 2
  3. hóa về các thành phần của các máy trạm thống giám sát và phát hiện tài nguyên trong hệ thống tính toán thông lượng cao. Ý (MDS) của Globus Toolkit. tưởng ngữ nghĩa hóa tài nguyên cho phép Trong [5], các tác giả còn đề xuất kết chúng ta mở rộng các nguồn tài nguyên hợp việc chọn tài nguyên phần cứng và phần thành một môi trường mới với tập các mối mềm để trợ giúp cho việc lập lịch. quan hệ mới giữa các nguồn dữ liệu và tạo Trong [6], các tác giả đề xuất một dịch ra mối liên hệ ngữ cảnh. Các thông tin yêu vụ matchmaker dựa trên ontology hỗ trợ cầu để đệ trình công việc cũng được phân việc phát hiện và mô tả tài nguyên động. tích, xử lý theo hướng ngữ nghĩa hóa. Thành Trong đó, yêu cầu của người dùng được biểu phần suy diễn sẽ làm nhiệm vụ xác định tài diễn bằng ontology của yêu cầu và nó phải nguyên phù hợp với yêu cầu. Sau quá trình được dịch sang mô tả ontology. lựa chọn tài nguyên phù hợp trên công việc Bài báo [7] giải quyết vấn đề mô tả tài sẽ được đệ trình lên hệ thống để thực thi. nguyên để môi giới tài nguyên cho một số Nhằm giúp cho người đọc có được cái hệ phần mềm trung gian cho lưới, trong đó nhìn từ tổng quát đến chi tiết cấu trúc của có Unicore. bài báo bao gồm những phần sau: mục 2 Trong [8], các tác giả đã thiết kế và xây trình bày các giải pháp trên thế giới có liên dựng thử phần mềm lựa chọn tài nguyên dựa quan; mục 3 trình bày kiến trúc tổng thể và trên ontology khai thác ontology, các tri thức các thành phần của hệ thống; mục 4 đưa ra nền tảng và các luật để giải quyết vấn đề các cài đặt thử nghiệm; mục 5 đánh giá kết khớp tài nguyên trên lưới. Cơ sở dữ liệu suy quả đạt được và đề xuất hướng phát triển diễn mà họ sử dụng là TRIPLE/XSB. tiếp theo. Trong [9], các tác giả đưa ra một cơ chế cho phép đặc tả các dịch vụ Web, đủ cho 2 CÁC GIẢI PHÁP CÓ LIÊN QUAN một ứng dụng client xác định tất cả các dịch Đệ trình công việc gồm có đặc tả yêu cầu tài vụ để thực hiện một công việc nào đó. Cơ nguyên, phát hiện tài nguyên và lựa chọn tài chế của họ sử dụng OWL1 để mô tả các dịch nguyên. Các cơ chế này là cần thiết để đảm vụ Web. Ngoài ra, điều đáng chú ý nhất là bảo cho hoạt động của hệ thống. Tuy nhiên họ đã sử dụng các công nghệ cơ sở dữ liệu phần lớn các phần mềm trung gian hiện nay, quan hệ để lưu trữ các thể hiện của các lớp. có cả Condor đều dựa trên khớp chính xác 3 KIẾN TRÚC CỦA HỆ THỐNG yêu cầu. Đó là các bên có liên quan thống nhất về tên thuộc tính và dải giá trị tương 3.1 Kiến trúc phân tầng của hệ thống ứng của chúng. Cách làm này tương đối đơn giản, tuy nhiên rất không mềm dẻo, đặc biệt Cũng giống như kiến trúc của một lưới khi có một tài nguyên với cấu hình mới xuất thông thường, hệ thống được xây dựng có hiện trong hệ thống. kiến trúc phân tầng. Tầng dưới cùng bao Hiện tại cũng đã có một số hướng ứng gồm các dịch vụ cơ bản, tầng trên là các dụng các công nghệ web ngữ nghĩa vào dịch vụ mức cao được xây dựng từ dịch vụ trong các môi trường tính toán. Trong [3], mức thấp. Sở dĩ ta lựa chọn kiến trúc phân các tác giả đã đề xuất đưa thêm một tầng tri tầng bởi những ưu điểm sau của nó: thức vào kiến trúc của bộ môi giới Gridbus [4], nhờ vậy bộ môi giới có thể phát hiện tài nguyên nhờ cơ chế suy diễn. Thành phần ngữ nghĩa trong tầng tri thức tạo mô tả ngữ nghĩa cho tài nguyên nhờ vào một ontology 1 template. Thông tin về tài nguyên không Web Ontology Language, phải do tầng này tự phát hiện mà nhờ vào hệ http://www.w3.org/TR/owl-ref/ 3
  4. • Cung cấp khả năng hoạt động tốt Ngoài ra tầng tri thức còn phụ trách việc trên môi trường không đồng nhất. sinh ra những mô tả tài nguyên hợp với đặc • Người sử dụng đầu cuối trở nên tả của Condor. Điều này đảm bảo rằng công trong suốt với dữ liệu của hệ thống. việc có thể thực hiện một cách chính xác. • Người phát triển ứng dụng chỉ cần biết các API là có thể lập trình dễ Tầng ứng dụng (Application Layer) dàng. Đây là tầng trên cùng trong kiến trúc của hệ • Hỗ trợ một số lượng lớn các ứng thống. Về nguyên tắc người dùng có thể dụng trên lưới. tương tác với hệ thống thông qua tầng ứng • Khả năng phát triển, nâng cấp dịch dụng một cách trong suốt mà không nhận vụ độc lập với xây dựng ứng dụng. biết được sự có mặt của các tầng khác. Tầng Trên cở sở đó, kiến trúc của hệ thống ứng dụng bao gồm giao diện giữa người và bao gồm ba tầng: tầng nền, tầng tri thức và hệ thống bên dưới, nó nhận yêu cầu từ người tầng ứng dụng (Hình 1). sử dụng và đưa đến tầng tri thức cũng như hiện thị kết quả về trạng thái của công việc cho người dùng. Trong ứng dụng này, tầng ứng dụng bao gồm một công cụ đệ trình công việc giúp ích cho người dùng dễ dàng đệ trình công việc với yêu cầu linh hoạt. 3.2 Các thành phần của hệ thống Trên cơ sở của kiến trúc phân tầng, ta sẽ đi chi tiết xem xét chức năng và nhiệm vụ các thành phần của hệ thống. Thành phần đệ trình công việc (Job Submission Tool) Hình 1. Kiến trúc và thành phần của hệ thống Thành phần này là giao diện bao gồm việc lựa chọn các thông tin về tên tệp thực thi, Tầng nền (Fabric Layer) kiểu công việc, các tham số, các yêu cầu sẽ Tầng nền có nhiệm vụ thu thập thông tin về được đưa cho tầng tri thức để phát hiện tài tài nguyên của hệ thống cũng như cung cấp nguyên phù hợp nhất.Nó cũng cho phép lựa cơ chế lập lịch. Phụ thuộc vào loại tài chọn các kiểu công việc có thể thực hiện. nguyên của hệ thống cần xây dựng mà chúng ta có thể chọn các nhà cung cấp khác Thành phần sinh câu truy vấn ngữ nghĩa nhau như Condor hay là PBS. Trong ứng (Query Generator) dụng này ta lựa chọn Condor vì khả năng Vai trò của thành phần này là chuyển đổi phù hợp với tính toán thông lượng cao. yêu cầu tài nguyên của người dùng thành câu truy vấn tương ứng. Câu truy vấn trong Tầng tri thức (Knowledge Layer) trường hợp này thực chất là một đặc tả lớp Tầng tri thức làm nhiệm vụ chuyển đổi của ontology. thông tin về tài nguyên thu thập được từ tầng nền thành các đặc tả tri thức, sau đó lưu các Thành phần phát hiện tài nguyên đặc tả này vào trong một cơ sở tri thức. (Resource Discoverer) 4
  5. Như ta đã biết Condor quản lý và thu thập 4.1 Ontology mẫu thông tin các loại tài nguyên thông qua bộ Ontology mẫu trong ứng dụng này mô tả các thu thập Condor Collector, đồng thời cũng tài nguyên có trong môi trường thông qua cung cấp giao diện WebService cho phép các khái niệm và các thuộc tính. Chúng là khai thác các thông tin này. Thành phần này phương tiện để mô tả mọi tài nguyên có thu thập thông qua các dịch vụ trên tiếp nhận trong môi trường. thông tin dưới định dạng ClassAd 2 sau đó Đối với cơ sở tri thức, ontology mẫu chuyển chúng sang dạng Ontology. Một đóng vai trò giống như vai trò của lược đồ trong những vấn đề thường xảy ra khi thu cơ sở dữ liệu đối với cơ sở dữ liệu. Ontology thập dữ liệu là sự không đầy đủ cũng như mẫu có tác dụng hỗ trợ cập nhật tự động cơ khác nhau về khuôn dạng nên chúng cần sở tri thức về tài nguyên. phải được quy đổi và đưa ra một kiểu thống Ontology mẫu được tạo và cập nhật bởi nhất cho quá trình phân tích dựa theo các con người, sử dụng Protégé do chưa có một thuộc tính của ClassAd. Quá trình sàng lọc cơ chế tự động để cập nhật nó. và loại bỏ những yếu tố dư thừa có thể rất Khi đã có ontology mẫu, mỗi tài nguyên phức tạp nếu dữ liệu vào được lấy từ nhiều được mô tả bằng một thể hiện và lưu ở trong nguồn không đồng nhất và phải tính đến quá cơ sở tri thức. trình biến đổi theo định dạng chung. Tiếp theo các thông tin này sẽ được lưu trữ ở 4.2 Giải pháp lưu trữ cơ sở tri thức trong một cơ sở tri thức. Trong môi trường tính toán thông lượng Đặc tính của tài nguyên trong môi trường cao, một loại tài nguyên có thể được thêm tính toán thông lượng cao là số lượng lớn và vào hay ra môi trường ở bất kỳ thời điểm tính động cao. Số lượng tài nguyên trong nào. Cơ chế thu thập thông tin của Condor là môi trường này có thể lên tới cỡ hàng nghìn. sau một khoảng thời gian nhất định sẽ cập Tính động của môi trường thể hiện ở chỗ các nhật lại thông tin của các các máy trạm. Vì tài nguyên này không cố định mà có thể vào vậy một trong những nhiệm vụ của thành ra môi trường hay tính sẵn sàng thay đổi liên phần này là tự động cập nhật lại kho tri thức. tục. Chính vì điều này, ta cần phải có một Nó sẽ kiểm tra thường xuyên trạng thái của phương pháp quản lý cơ sở tri thức cho phù tài nguyên, xác định được sự thay đổi và cập hợp. nhật lại thông tin về tài nguyên. Cách lưu trữ thông thường nhất là lưu toàn bộ cơ sở tri thức vào một tệp .owl sau Thành phần mô tả công việc (Job đó lợi dụng khả năng của máy suy diễn làm Description Generator) việc trên tệp này. Cách này tuy đơn giản Các thông tin được lựa chọn sau từ thành nhưng hạn chế là bộ nhớ của máy suy diễn phần mô tả tài nguyên được chuyển sang là có hạn, và có khả năng không quản lý dạng ClassAd, cùng với thông tin đầu vào về được cơ sở tri thức lớn. Hơn nữa, khi có các tên tệp, tham số làm thông tin đệ trình công tình huống tương tranh hay truy cập đồng việc lên Condor Schedd. thời, cách làm này có thể dẫn đến hỏng cơ sở tri thức. Nói cách khác, giải pháp này chỉ 4 CÀI ĐẶT CHƯƠNG TRÌNH thích hợp cho số lượng cá thể nhỏ và không thay đổi nhiều. Ứng dụng này áp dụng cách tiếp cận khác trong việc lưu trữ cơ sở tri thức, đó là lưu các thể hiện vào trong cơ sở dữ liệu quan 2 Classified Advertisements, hệ. Theo cách này, chúng ta vừa lợi dụng http://www.cs.wisc.edu/condor/classad/ được khả năng lưu trữ của cơ sở dữ liệu 5
  6. cũng như chống các tình huống tương tranh của chúng. Trong ứng dụng này, ngôn ngữ biểu diễn tri thức cũng như câu truy vấn được viết ở dạng AOWL do ngôn ngữ này tương đương với OWL, nhưng nó súc tích và dễ đọc hơn với con người, do vậy thuận tiện cho việc lưu trữ cũng như dò lỗi khi phát sinh. Ví dụ để mô tả một tài nguyên có RAM = 1024MB, ta có biểu diễn AOWL sau: intersectionOf( restriction( value("1024"^^) ) ) Hình 2. Taxonomy khi chưa suy diễn Biểu diễn AOWL này là tương đương với dạng biểu diễn OWL: 1024 4.3 Về vấn đề suy diễn Trong ứng dụng này, quá trình suy diễn thay thế quá trình so khớp chính xác, nhờ đó, yêu cầu của người sử dụng trở nên mềm dẻo hơn. Ví dụ: • Resource là tập các tài nguyên tính Hình 3. Taxonomy sau khi suy diễn toán. OperatingSystem là tập các hệ Khi chưa suy diễn (Hình 2), ta thấy hai điều hành. nút LinuxHost và UnixHost là đồng cấp. • Unix là tập các hệ điều hành tương Tuy nhiên sau khi suy diễn (Hình 3), nút thích với Unix. LinuxHost được phân loại là một nút • Unix, Solaris, Linux là các phần tử UnixHost. Khi người dùng đưa công việc của lớp Unix. đến một nút UnixHost, công việc sẽ được • UnixHost và LinuxHost là các phần đưa đến một nút LinuxHost nếu có. tử của lớp Resource. Do suy diễn trên một số lượng cá thể • Thuộc tính hasUnixOS là thuộc tính lớn là rất tốn kém, do vậy, giả thiết của ứng mô tả mối quan hệ giữa các phần tử dụng là các cá thể không có liên hệ với thuộc lớp Resource lớp Unix. nhau. Điều này phù hợp với thực tế của môi trường tính toán thông lượng cao hiện nay. Với giả thiết này, suy diễn trên các cá thể được quy về suy diễn trên các khái niệm kết hợp với các phép truy vấn cơ sở dữ liệu. 6
  7. Mà suy diễn trên các khái niệm thông • Tạo mới một mã công việc thường có chi phí nhỏ hơn nhiều [10]. • Xác định các tệp sẽ truyền Các thành phần ở tầng tri thức được cài • Tạo mô tả công việc đặt ở dạng dịch vụ Web để giúp cho nhiều • Đệ trình công việc ứng dụng khác nhau có thể khai thác tính • Xác nhận giao tác năng của chúng. Theo đó, ứng dụng đệ trình Đối với hệ thống tính toán thông lượng công việc có thể coi đơn thuần là một ví dụ cao thì việc đòi hỏi về xác nhận hay giấy ủy về việc khai thác khả năng của dịch vụ web quyền đuợc đơn giản hóa hơn rất nhiều so này. với các hệ thống tính toán khác. Với phần mềm Condor thì ta chỉ cần chỉ ra tên của 4.4 Quá trình thu thập thông tin và đệ người dùng thực thi tài nguyên. trình công việc qua dịch vụ web Birdbath 3 là một dự án mở phát triển cung 4.5 Hoạt động của chương trình cấp giao diện dịch vụ web cho các dịch vụ của Condor (Hình 4). Trong các tiến trình Thiết lập các thông số: ngầm của Condor, hai dịch vụ là Collector Để cấu hình cho dịch vụ Web của bộ đệ và Scheduler cung cấp đầy đủ các tính năng trình công việc, chúng ta có thể thực hiện cần thiết cho ứng dụng của đối tác thứ ba thông qua giao diện như Hình 5. cũng như các cổng thông tin (portal) để liên lạc với Condor thông qua mô hình ủy nhiệm công việc. Với hai dịch vụ này thì những ứng dụng bên ngoài có thể truy cập Collector để xác định kiểu và tài nguyên sẵn có trong tập máy, sau đó đệ trình công việc lên thông qua giao diện của bộ Scheduler. Hình 5. Giao diện cấu hình Người dùng trước hết đưa vào địa chỉ dịch Hình 4. Dịch vụ Web của Condor vụ Web sau đó nhấn Initialize để lấy các Quá trình đệ trình công việc bao gồm thông số từ dịch vụ web. Các thông số người các thao tác sau: dùng thay đổi được gồm: • Tạo mới giao tác • URI của dịch vụ Collector và Scheduler của nút trung tâm • URI của tệp chứa ontology mẫu • URI của máy suy diễn (Chú ý máy 3 http://www.cs.wisc.edu/condor/birdbath/ suy diễn phải cài đặt giao diện DIG) 7
  8. • Namespace của các khái niệm định Bài báo này đã trình bày hướng tiếp cận ngữ nghĩa trong Ontology mẫu. nghĩa hóa tài nguyên của hệ thống tính toán • Các thông số truy cập cơ sở dữ liệu: thông lượng cao trên cơ sở đó xây dựng tên cơ sở dữ liệu, tên người dùng, công cụ đệ trình công việc có ngữ nghĩa. Bài mật khẩu. báo cũng mô tả cách biểu diễn ontology Sau khi đã thiết lập, người dùng nhấn trong miền ứng dụng về tài nguyên hệ thống Set Config để thiết lập thông số hoặc Store và việc sử dụng ontology này trong quá trình Config để thiết lập và lưu lại thông số ra tệp. trao đổi, tương tác giữa các thành phần của hệ thống. Đệ trình công việc: Dù những kết quả thử nghiệm chỉ mới Quá trình đệ trình công việc được thực hiện thực thi trên phạm vi nhỏ hẹp trên hệ thống thông qua giao diện đệ trình công việc (Hình Condor nhưng mô hình xây dựng bài toán có 6). Trong đó, người dùng cần chỉ định địa thể áp dụng cho các hệ thống tính toán thông chỉ của dịch vụ web đệ trình công việc sau lượng cao khác. Các ontology mẫu được xây đó nhấn Initialize để tạo phiên làm việc. Cây dựng cũng cho phép dễ dàng tổng hợp, phát ngữ nghĩa được dịch vụ Web sinh ra và gửi triển và sử dụng lại để tích hợp thông tin. lại cho ứng dụng. Người dùng có thể chọn LỜI CẢM ƠN trên cây bằng cách nhấn các nút chọn bên phải. Cách bố trí này đảm bảo chúng ta dễ Chúng tôi chân thành cảm ơn Trung tâm tính dàng bổ sung các tiêu chí khác vào cây ngữ toán hiệu năng cao trường Đại học Bách nghĩa. Khoa Hà Nội đã tạo điều kiện vật chất, kỹ thuật trong quá trình thực hiện đề tài này. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] M. Livny, J. Basney, R. Raman and T. Tannenbaum: “Mechanisms for High Throughput Computing”, SPEEDUP Journal, Vol. 11, No. 1, June 1997. [2] T. Tannenbaum, D. Wright, K. Miller and M. Livny: “Condor - A Distributed Job Scheduler”', in Thomas Sterling, editor, Beowulf Cluster Computing with Linux, The MIT Press, 2002. ISBN: 0-262-69274-0. [3] T.S. Somasundaram, R.A. Balachandar, V. Kandasamy, R. Buyya, R. Raman, N. Mohanram and S. Varun: “Semantic-based Grid Resource Discovery and its Integration with the Grid Service Broker,” ADCOM 2006. [4] R. Raman, M. Livny and M. Solomon: “Resource Hình 6. Giao diện đệ trình công việc Management through Multilateral Matchmaking'”, HPDC9 2000. Người dùng có thể chỉ định các tiêu chí [5] A.C.T. Vidal, and S.T. Kofuji: Semantics-Based khác của ClassAd trong ô Other Criteria. Grid Resource Management, 2007. Sau khi chọn loại công việc, dòng lệnh, các [6] A. Harth, S. Decker Y. He H. Tangmunarunkit and C. Kesselman}: “A semantic matchmaker service tham số của lệnh, người dùng ấn nút Submit on the Grid”, WWW 2004. để đệ trình công việc và ấn View Job Status [7] J. Brooke, D. Fellows, K. L. Garwood and C. A. để xem trạng thái công việc thực hiện. Goble: “Semantic Matching of Grid Resource Descriptions” EAGC 2004. 5 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VÀ HƯỚNG [8] H. Tangmunarunkit, S. Decker and C.Kesselman: PHÁT TRIỂN “Ontology-Based Resource Matching in the Grid - The Grid Meets the Semantic Web”, ISWC 2003. 8
  9. [9] O. Caprotti, M. Dewar and D. Turi: Mathematical KS. Thành đang theo học Tiến sỹ tại Department of service matching using Description Logic and Computer Science, Wayne State University, USA. OWL. MKM 2004. [10] F. Baader, D. Calvanese, D. L. McGuinness, D. Hiện tại KS.Thành đang quan tâm tới các lĩnh vực Nardi and P. F. Patel-Schneider: “The description như: Data Intensive Computing, Cloud Computing, logic handbook: theory, implementation, and Fault Tolerance. applications”, Cambridge University Press, 2003. E-mail: thanh@wayne.edu ISBN: 0-521-78176-0. Trang web cá nhân: http://is.hut.vn/~thanhdd Về các tác giả- Kỹ sư Lê Ngọc Sơn tốt nghiệp PGS. TS. Nguyễn Thanh đại học Bách khoa Hà nội Thuỷ. ngành Công nghệ thông tin năm 2008. Từ năm 2006 – 2008 Ks Sinh ngày 14 tháng 8 năm Sơn làm cộng tác viên tại Trung 1960, tại Thường Tín, Hà tâm tính toán hiệu năng cao – Tây Trường ĐHBKHN. Các vấn đề Tốt nghiệp Đại học Bách quan tâm của KS Sơn bao gồm Khoa Hà Nội, 1982 trí tuệ nhân tạo, logic mô tả, chuyên ngành Toán máy web ngữ nghĩa, tính toán hiệu tính. năng cao. Bảo vệ luận án Tiến sỹ chuyên ngành Tin học năm E-mail: lns.gmt@gmail.com 1987 tại ĐHBK Hà Nội. Được phong hàm PGS năm 2001. Hiện đang là Viện trưởng Viện Đào Tạo Sau Đại Học, Giám đốc Trung tâm Tính Toán Hiệu Năng Cao, Đại Học Bách Khoa Kỹ sư Đinh Tuấn Việt tốt Hà Nội nghiệp đại học Bách khoa Hà nội năm 2008. KS Việt hiện Hướng nghiên cứu chính: Suy diễn, Học máy, Trí tuệ đang công tác tại công ty tính toán, Tính toán hiệu năng cao, Tính toán lưới. Oracle Việt Nam. KS Việt Email: thuynt@it-hut.edu.vn đang nghiên cứu các vấn đề về lý thuyết CSDL, các hệ truy Kỹ sư Đỗ Đức Thành tốt vấn thông tin, tính toán hiệu nghiệp Đại học Bách Khoa Hà năng cao. Nội chuyên ngành Hệ thống Thông tin năm 2006. KS. Thành là Giảng viên bộ môn E-mail: dinhtuanviet@gmail.com Hệ thống Thông tin, khoa Công nghệ Thông tin, Đại học Bách Khoa Hà Nội. 9

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản