XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC

Chia sẻ: Ngoc Dung | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
1.006
lượt xem
309
download

XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo tài liệu 'xây dựng, hoàn thiện mối quan hệ giữa nhà nước', kinh tế - quản lý, quản lý nhà nước phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC

  1. XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ CÔNG DÂN - MỘT NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN Ở NƯỚC TA Ths. Trần Quang Trung Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 7 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta. Từ đó đến nay, chúng ta đã làm được nhiều việc, đạt được nhiều thành tựu to lớn trong lĩnh vực này, từ việc nghiên cứu, hình thành cơ sở lý luận, quan điểm, cho tới xây dựng mô hình, cơ cấu tổ chức và thể chế pháp lý cho hoạt động nhà nước. Tuy nhiên, việc xây dựng nhà nước ta cũng mới chỉ đạt những thành tích bước đầu. Chúng ta còn rất nhiều việc cơ bản phải làm, mà một trong những việc đó là tiếp tục xây dựng, hoàn thiện mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Đây là vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách trong điều kiện hiện nay của nước ta. Bình đẳng - công bằng là một giá trị cao đẹp mà nhân loại luôn hướng tới suốt chiều dài lịch sử. Trải qua hàng nghìn năm, các cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và cách mạng xã hội, suy cho cùng cũng nhắm tới mục tiêu là tạo ra một xã hội công bằng, bình đẳng hơn. Sự thay thế nhau của các chế độ nhà nước từ chiếm hữu nô lệ cho đến chế độ xã hội chủ nghĩa, xét về bản chất và thực chất, đó là tiến bộ của sự công bằng, bình đẳng. Nhà nước pháp quyền – dù là tư sản hay xã hội chủ nghĩa, đều có những đặc trưng chung, đó là một nhà nước chịu sự chi phối của quyền lực pháp luật, đồng thời là một nhà nước mang tính dân chủ. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo pháp luật, sử dụng pháp luật để quản lý nhà nước và xã hội. Nhà nước được xây dựng trên cơ sở thừa nhận nguyên tắc “ nguồn gốc quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân”. Trong một xã hội pháp quyền như vậy, đương nhiên phải thừa nhận và xác lập mối quan hệ bình đẳng giữa các công dân với nhau và mối quan hệ bình đẳng giữa nhà nước và công dân. Việc thừa nhận và xác lập sự bình đẳng giữa các công dân với nhau trước pháp luật, tuy là một vấn đề không dễ dàng, nhưng việc thừa nhận và xác lập sự bình đẳng giữa nhà nước và công dân mới thực sự là một vấn đề nan giải. Nhà nước ta, với bản chất xã hội chủ nghĩa, thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Việc xây dựng, hoàn thiện mối quan hệ thực sự bình đẳng giữa nhà nước và công dân là vấn đề thuộc về bản chất. Chúng ta có những điều kiện thuận lợi to lớn và rất cơ bản để thực hiện việc này, đó là: lợi ích cơ bản giữa nhà nước 1
  2. và nhân dân là nhất trí, không có mâu thuẫn đối kháng. Nhà nước có sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân, tính dân tộc. Nhân dân ta lại có một quá trình lâu dài đi theo và bằng chính kinh nghiệm bản thân, chấp nhận sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, đấu tranh giành lấy chính quyền và tự xây dựng chính quyền của mình. Nhân dân ta có Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của dân tộc, lãnh đạo nhà nước và xã hội, không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân. Đó là những nền tảng tự nhiên, khách quan, cơ bản vững chắc cho việc xác lập mối quan hệ bình đẳng giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa với nhân dân - công dân hiện nay ở nước ta. Tuy nhiên, trong vấn đề này, chúng ta có những khó khăn không nhỏ, cả về khách quan và chủ quan. Về khách quan, sự phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, ảnh hưởng tâm lý của một xã hội tiểu nông còn nặng nề, tàn dư tư tưởng phong kiến, thực dân còn chi phối trong một bộ phận không nhỏ xã hội… Tất cả những điều đó sẽ ảnh hưởng - một cách tự nhiên, trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, từ việc xây dựng, ban hành các quy định pháp luật, cho đến thái độ, trách nhiệm của cán bộ, công chức trong giải quyết các công việc của nhân dân, mà một trong những biểu hiện của nó là hiện tượng cửa quyền, hách dịch, vô trách nhiệm. Về chủ quan, chúng ta còn chưa xây dựng hoàn thiện hệ thống lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung và lý luận về mối quan hệ bình đẳng giữa nhà nước và công dân nói riêng. Do đó hệ thống pháp luật - cơ sở pháp lý phản ánh và thể chế hóa lý luận, cũng còn rất nhiều hạn chế về vấn đề này. Mặt khác, sự thiếu bình đẳng đó còn biểu hiện phổ biến trong quan hệ giữa các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước với nhân dân khi giải quyết công việc liên quan đến quyền công dân, mặc dù các quyền đó đã được pháp luật quy định.Trong khi nhà nước, các cơ quan nhà nước buộc công dân phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình, thì ngược lại, trong nhiều trường hợp, nhà nước, cơ quan nhà nước lại thiếu hoặc gần như “ vô trách nhiệm” trong việc quy định hay thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đã được pháp luật quy định. Đặc biệt, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường như hiện nay, đã và sẽ nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp hơn đối với việc giải quyết mối quan hệ bình đẳng giữa Nhà nước và công dân (ví dụ, quan hệ giữa nhà nước - doanh nghiệp - công dân trong việc thu hồi, đền bù quyền sử dụng đất, giải phóng mặt bằng…) Trên nhiều vấn đề, pháp luật đã không theo kịp sự phát triển kinh tế - xã hội, hoặc quá lạc hậu với nó. Tất cả những vấn đề trên đã làm tình hình xã hội, trên nhiều lĩnh vực, trở nên phức tạp, làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước. Từ đó, việc hoàn thiện mối quan hệ bình đẳng giữa Nhà nước và công dân trở thành một trong những vấn đề cấp bách hiện nay. 2
  3. Mặc dù vậy, đây là vấn đề phức tạp cả về lý luận và thực tiễn, không thể giải quyết trong một sớm một chiều. Trong thời gian tới, chúng ta nên tập trung vào một số việc cơ bản, cần thiết: 1. Nghiên cứu hoàn thiện cơ sở lý luận về sự bình đẳng giữa Nhà nước và công dân. Trên cơ sở thừa nhận nguyên tắc đó của nhà nước pháp quyền, tiến tới làm rõ thực chất và cụ thể quan điểm, nội dung, phương thức thực hiện, hệ thống công cụ, phương tiện…hay nói cách khác, làm rõ nội hàm khoa học của nguyên tắc này trong nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trong đó, đặc biệt nghiên cứu phân tích chính xác, đầy đủ nội dung khái niệm “ bình đẳng” giữa nhà nước và công dân. Đây là vấn đề phức tạp, nhưng nếu không làm rõ thì sẽ không thể giải quyết được những vấn đề tiếp theo một cách đúng đắn và rất dễ sai lầm. Trong một nhà nước dân chủ, người ta hay hoặc thích dùng từ “ bình đẳng” như một mỹ từ, như một khẩu hiệu, hoặc để ca ngợi, hoặc để chê bai, tùy vào động cơ của người dùng. Nhưng không phải ai cũng hiểu một cách đúng đắn về bình đẳng, nhất là sự bình đẳng giữa nhà nước và công dân - một vấn đề rất mới mẻ ở nước ta. Nhà nước - một tổ chức đặc biệt của xã hội, sinh ra từ xã hội, được sử dụng quyền lực của xã hội trao cho, để chuyên làm nhiệm vụ tổ chức, quản lý, điều hành công việc của xã hội. Nhà nước có quyền lực đặc biệt- quyền lực công, với hệ thống công cụ, phương tiện đặc biệt, trong đó có cưỡng chế bằng bạo lực, để thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của mình. So với nhà nước, công dân có vẻ “ nhỏ bé”, “ thấp cổ, bé họng” hơn nhiều. Vậy làm sao bình đẳng? ( nhất là mỗi khi “ các ngài công dân”- các “ ông chủ”, đến công sở gặp các quan chức Nhà nước - các “ đầy tớ” của mình, lại phải thấy những khuôn mặt lạnh lùng, thái độ kẻ cả, hách dịch) Thật là khó thừa nhận giữa Nhà nước và công dân có tồn tại sự bình đẳng…! Thực chất, sự bình đẳng ở đây phải được hiểu là sự bình đẳng theo quy định của pháp luật. Trong quan hệ này, mỗi bên - Nhà nước và công dân, đều có quyền và có nghĩa vụ do Hiến pháp và pháp luật quy định. Quyền của Nhà nước được bảo đảm bằng nghĩa vụ công dân, quyền của công dân được bảo đảm bằng nghĩa vụ của Nhà nước. Nếu mỗi bên khi xác lập quan hệ với nhau, đều thực hiện đúng và đầy đủ những gì mà pháp luật quy định, thì đó là bình đẳng. Nhà nước, các cơ quan Nhà nước, mỗi cán bộ, công chức Nhà nước đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình trước nhân dân và ngược lại, công dân cũng vậy, khi đó sự bình đẳng sẽ được xác lập. Như vậy, bình đẳng không có nghĩa là cào bằng, các bên như nhau. Bình đẳng là tự do, nhưng không đồng nghĩa với sự tùy tiện, vô chính phủ, vì suy 3
  4. cho cùng, ngay cả trong một chế độ dân chủ nhất, thì “nhà nước vẫn là nhà nước”… 2. Như vậy, vấn đề cơ bản còn lại có ý nghĩa quyết định bình đẳng hay không, lại là bản thân pháp luật. Nhà nước có quyền xây dựng, ban hành pháp luật, nhưng pháp luật phải được xây dựng thành một đại lượng mang tính chuẩn mực, tiêu biểu cho sự khách quan, công lý, là hiện thân của lẽ phải và công bằng. Muốn vậy, pháp luật phải là sự phản ánh một cách thực chất ý chí chung của xã hội, của nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ quá trình xây dựng cho đến nội dung. Điều đó lại tùy thuộc vào những điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội cụ thể trong từng giai đoạn lịch sử. Mặt khác, không thể nói đến pháp luật công bằng, nếu không có sự “ phản kháng” của xã hội trước những quy định không công bằng của Nhà nước. Ở đây, sự phản biện của xã hội – nhân dân, đóng vai trò là “ đối trọng” vô cùng quan trọng. Suy đến cùng, sự bình đẳng cao nhất và khái quát nhất trong nhà nước xã hội xã hội chủ nghĩa của chúng ta là: Nhà nước (và pháp luật ) thực sự là công cụ, phương tiện của nhân dân để phục vụ nhân dân, tất cả vì lợi ích của nhân dân. Trong thời gian tới, cần tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về vấn đề này theo hướng: một mặt, quy định đầy đủ hơn, cụ thể hơn, rõ ràng hơn về quyền và nghĩa vụ của các cơ quan Nhà nước, của các chức danh, chức vụ của cán bộ, công chức nhà nước, về các chế độ trách nhiệm mà cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước phải chịu khi có hành vi gây thiệt hại cho công dân trong thi hành nhiệm vụ, công vụ; hoàn thiện cơ chế bảo đảm và những ràng buộc pháp lý về chế độ chịu trách nhiệm của nhà nước trước công dân. Mặt khác, hoàn thiện quy định của pháp luật cụ thể hóa các quyền công dân theo hướng “ công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm”. Trong đó, đặc biệt chú trọng hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền của công dân được bồi thường thiệt hại do cơ quan, cán bộ, công chức Nhà nước gây ra; xác định cụ thể trách nhiệm của công dân nhằm bảo đảm quyền của Nhà nước; quy định rõ và thực hiện đúng các khoản nghĩa vụ đóng góp của công dân như các loại phí, lệ phí, và các khoản thu khác v.v… Tập trung xây dựng, hoàn thiện chế độ chịu trách nhiệm của cơ quan, cán bộ, công chức Nhà nước trước công dân, theo hướng nâng cao và cụ thể hóa. Hiện nay chế độ này còn nhiều thiếu sót, hạn chế trong cả hai mặt: quy định của pháp luật và trong thực hiện thực tế. Mặc dù, chúng ta đã có một số văn bản về vấn đề này, như Bộ luật dân sự quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra; cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra khi tiến hành các hoạt động tố tụng. Luật hành chính có một số quy định về trách nhiệm bồi thường vật 4
  5. chất của cơ quan và cán bộ, công chức khi thi hành nhiệm vụ, công vụ gây ra thiệt hại cho công dân…Tuy nhiên, những quy định như trên còn ít và chưa được cụ thể hóa, vì vậy rất khó thực hiện. Nhưng vấn đề quan trọng hiện nay lại là ở chỗ: mặc dù đã có quy định của pháp luật, nhưng trong nhiều trường hợp, cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước vẫn không muốn thực hiện trách nhiệm của mình, cố tình đổ lỗi, né tránh hoặc đùn đẩy cho cơ quan khác, người khác. Hiện tượng cán bộ, công chức giải quyết công việc chậm trễ, dây dưa quá thời gian quy định, gây tốn kém công sức, thời giờ, tiền bạc… của dân mà không phải chịu trách nhiệm, đang là việc bình thường trong quản lý Nhà nước của chúng ta hiện nay. Quy định bảy giờ rưỡi làm việc, dân chờ “dài cổ” đến tám giờ, thậm chí chín giờ, mới thấy “ông cán bộ” lững thững đến…Chẳng sao, đến là tốt rồi…không đến, còn tệ hơn! Dân theo giấy hẹn đến nhận hồ sơ, cán bộ bảo: chưa xong! Về, tuần sau đến! Tuần sau, mà không biết ngày, giờ nào? Hỏi lại, được trả lời: cứ tuần sau đến, chưa biết xong ngày nào, việc nhiều quá… Những quy định về đền bù thiệt hại đã có, nhưng để nhận được đền bù, công dân phải vượt qua một con đường đầy gian nan, tốn kém mà không chắc chắn có đến được đích… Những hiện tượng trên cứ diễn ra, nơi này, nơi khác mà không biết đến khi nào mới hết, mặc dù chúng ta đã có rất nhiều cố gắng để hạn chế, khắc phục, nhất là từ khi thực hiện cải cách hành chính đến nay. Nguyên nhân chính là ở chỗ, chúng ta còn thiếu quy định về nhiều chế độ trách nhiệm, những chế độ đã có lại thiếu cụ thể; mặt khác, ý thức chịu trách nhiệm của cơ quan, cán bộ, công chức chưa cao, thiếu lương tâm, danh dự trong việc tôn trọng lẽ phải, lẽ công bằng. 3. Tăng cường giáo dục, nâng cao ý thức trách nhiệm trước công dân cho đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Đề cao trách nhiệm bảo đảm các quyền của công dân và thái độ dám chịu trách nhiệm trong thi hành nhiệm vụ, công vụ, chống hiện tượng khi phải chịu trách nhiệm lại tìm cách “ chạy trách nhiệm”, né tránh, đùn đẩy… Dám chịu trách nhiệm phải được đề cao, coi đó là danh dự công vụ. 4. Hoàn thiện quy chế pháp lý về phản biện xã hội, giám sát xã hội, nhằm tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng, các cơ quan thông tin đại chúng, nhất là vai trò của báo, đài… trong việc kiểm tra, giám sát các cơ quan, cán bộ, công chức Nhà nước, phát hiện những vi phạm trong các mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, góp phần bảo đảm công lý, công bằng. 5. Đề cao vai trò, trách nhiệm của Đảng, nhất là của các tổ chức đảng và đảng viên trong lãnh đạo xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Tăng cường công tác kiểm tra của Ban chấp hành Trung ương Đảng, của các tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra đảng các cấp đối với các 5
  6. cơ quan nhà nước, với đảng viên giữ chức vụ trong các cơ quan nhà nước. Xử lý nghiêm minh đối với đảng viên vi phạm quy định của Đảng và pháp luật nhà nước về quan hệ nhà nước và công dân. Xây dựng hoàn thiện mối quan hệ giữa nhà nước và công dân ở nước ta hiện nay là một vấn đề rất lớn, rất mới mẻ, do đó phải làm từng bước, vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Phải phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, huy động đông đảo nhân dân tham gia, trong đó sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định; Nhà nước đóng vai trò nòng cốt trong thể chế hóa và tổ chức thực hiện. Trong quá trình này, việc phát huy trí tuệ của đội ngũ trí thức, các nhà khoa học chính trị và pháp lý là rất quan trọng. XÂY DỰNG VĂN HÓA THỊ DÂN- MỘT NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ CẤP BÁCH CỦA VIỆC XÂY DỰNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY. Trần Quang Trung Thành phố Hồ Chí Minh là một đô thị lớn nhất trong cả nước, là trung tâm về nhiều mặt của đất nước và trong tương lai, sẽ là một trung tâm lớn về nhiều mặt của khu vực Đông Nam Á. Thành phố đang trong quá trình đô thị hóa nhanh cả về chiều rộng và chiều sâu. Quá trình đó đã và đang đặt ra nhiều vấn đề lớn, cơ bản mà tổ chức Đảng, chính quyền và nhân dân thành phố phải giải quyết, trong đó có 6
  7. vấn đề xây dựng văn hóa, lối sống cho dân cư đô thị,( thị dân) nhằm góp phần xây dựng thành phố văn minh và hiện đại. Đây là một vấn đề vừa cơ bản, vừa mang tính cấp bách hiện nay. Văn hóa nói chung và văn hóa thị dân nói riêng, là một khái niệm có nội hàm rất rộng. Bài viết này chỉ đề cập đến khái niệm văn hóa thị dân theo nghĩa hẹp, đó là văn hóa tinh thần, lối sống, ý thức, phương thức ứng xử của con người thành phố- con người đô thị. 1. Vai trò của văn hóa thị dân đối với sự phát triển của TPHCM. - Vai tro của văn hóa - Vai trò của văn hóa thị dân. 2. Những yếu tố khách quan tác động đến sự hình thành và phát triển của văn hóa thị dân ở TPHCM. - Yếu tố kinh tế: các mối quan hệ về lợi ích vật chất trong làm ăn, sinh sống - Yếu tố chính trị: yêu cầu về quản lý nhà nước, về dân chủ ở đô thị. - Yếu tố môi trường xã hội: mật độ dân số cao quan hệ xã hội ( ngoài quan hệ gia đình, huyết thống) đa dạng, phức tạp hơn vùng phi đô thị.( sự tác động lẫn nhau thường xuyên), tính biến động cao.làm cho ý thức, tư tưởng có thể thay đổi nhanh, phức tạp, nhiều chiều.. - Yếu tố văn hóa: sự nhạy bén và đa dạng văn hóa, đan xen văn hóa.tác động nhanh và thường xuyên của văn hóa, lối sống nước ngoài 2. Khó khăn, thuận lợi trong xây dựng… - Khó khăn + Tàn dư văn hóa cũ, ( nông nghiệp tiểu nông, đế quốc thực dân) thói quen cũ + Thiếu truyền thống pháp chế. + Lối sống chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hưởng thụ, xa hoa, đồi trụy + Ảnh hưởng kinh tế thị trường - Thuận lợi + Đời sống vật chất nâng cao + Truyền thống dân tộc: nhân nghĩa, lá lành đùm…thương người như…tôn trọng con người. + Quan tâm giáo dục của Đảng nhà nước chính quyền địa phương. 7
  8. + Các phong trào thi đua xây dưng đời sống văn hóa mới, chống hiện tượng tiêu cực về văn hóa 2. Các tiêu chí của văn hóa thị dân cần xây dựng. - Dân trí cao.đời sống văn hóa tinh thần phong phú, giàu có - nhận thức pháp luật cao. - Ý thức xã hội- cộng đồng cao.trách nhiệm với cộng đồng.mỗi người vì… - Ý thức tự giác pháp chế cao. - phương thức ứng xử trong quan hệ người- người văn minh, lịch sự( lời ăn, tiếng nói, thái độ, cử chỉ, xử sự theo pháp luật.( không theo luật giang hồ) Văn hóa của cán bộ công chức làm việc ở đô thị (cần có đặc trưng riêng.) 3. Các giải pháp xây dựng.( hệ thống công cụ) - Các giải pháp về tư tưởng. + Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, đào tạo, nâng cao học vấn + Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục đa dạng.nhiều hình thức, thường xuyên - các giải pháp về pháp lý. + Hệ thống pháp luật nhà nước + Quy định của địa phương. + Thực hiện pháp luật nghiêm minh, xử lý vi phạm, nhất là cán bộ, đảng viên - Các giải pháp về tổ chức quản lý. + Công tác tổ chức các phong trào thi đua nêu người tốt, việc tốt. + Tổ chức bình xét gia đình văn hóa, khu phố văn hóa… + Tổ dân phố neu gương. + Quản lý đảng viên của tổ chức Đảng + Quản lý của cơ quan đối với cán bộ công chức + Quản lý của tổ chức xã hội + Quản lý của Tổ dân phố. 4.Các lực lượng tổng hợp( là sự nghiệp toàn dân) 8
  9. - Đảng - Nhà nước, cq cơ sở khu phố, tổ dân phố - Tổ chức xã hội - Phương tiện TTĐC( báo. Đài) - Dư luận xã hội KẾT LUẬN. 9

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản