XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Chia sẻ: caolaw

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội nhân dân là tư tưởng chiến tranh nhân dân Việt Nam và quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng xác định là một trong những nội dung cơ bản trong hệ thống quan điểm, tư tưởng của Người về cách mạng Việt Nam.

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

…………..o0o…………..




XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN THEO TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1. Xây dựng Quân đội nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh
2. Chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về tổ chức hợp lý chính
quyền địa phương ở nước ta.
3. Vĩnh Phúc chủ động khắc phục khó khăn, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã
hội.
4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước kiểu mới.
5. “Trung với nước, hiếu với dân” – Một sáng tạo độc đáo của tư tưởng Hồ Chí
Minh trong xây dựng quân đội.
6. Tăng cường cơ chế tự chủ đối với các đơn vị cung ứng dịch vụ công.
7. Cải cách hành chính tại sở tài nguyên và môi trường tỉnh Vĩnh Phúc.
8. Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho cán bộ, công chức trong điều
kiện mới.
9. Xây dựng quy chế quản lý hồ sơ điện tử về cán bộ, công chức.
Một số vấn đề về cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ, công chức.
10.
Nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
11.
Cải cách hành chính ở huyện Bình Xuyên – Vĩnh Phúc.
12.
Phải biết nghe dân, hiểu dân và có trách nhiệm với dân.
13.
Kinh nghiệm cải cách công vụ ở một số nước đang phát triển.
14.
Văn phòng Chính phủ họp báo.
15.
Hội thảo cơ sở khoa học xây dựng tiêu chuẩn và cơ cấu chức danh cán
16.
bộ, công chức hành chính thành phố Hà Nội.
KỶ NIỆM 64 NĂM NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM (22/12/1944 –
22/12/2008) VÀ 62 NĂM NGÀY TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN (19/12/1946 – 19/12/2008)



XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
TRUNG TƯỚNG, T.S PHƯƠNG MINH HOÀ
Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Chính uỷ Quân chủng Phòng không – Không
quân



T ư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội nhân dân là tư tưởng chiến tranh
nhân dân Việt Nam và quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc được Đ ại h ội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng xác định là một trong những nội dung cơ bản
trong hệ thống quan điểm, tư tưởng của Người về cách mạng Việt Nam.
Kể từ ngày thành lập đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam đã mang nhi ều
tên gọi khác nhau, như: Việt Nam tuyên truy ền gi ải phóng quân (tháng 12/1944);
Việt Nam giải phóng quân (tháng 4/1945); Vệ quốc Đoàn (tháng 9/1945); Quân đội
Quốc gia Việt Nam (tháng 5/1946); Quân đội nhân dân Việt Nam (tháng 2/1951).
Mỗi tên gọi thể hiện nhiệm vụ chính trị của một giai đoạn lịch sử mà quân đội ta đã
phấn đấu để thực hiện. Là quân đội chủ lực, trưởng thành từ đội du kích các đ ịa
phương lớn mạnh trở thành giải phóng quân; do Trung ương Đảng trực tiếp lãnh
đạo và chỉ huy thống nhất; là quân đội chính quy của một nhà n ước, c ủa m ột qu ốc
gia độc lập có chủ quyền, bảo vệ vững chắc chính quyền, bảo vệ tính m ạng, tài
sản và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ nền độc lập th ống nh ất và b ản s ắc văn
hoá dân tộc. Đó là quân đội của nhân dân, vì nhân dân mà chi ến đ ấu. M ặc dù mang
những tên gọi khác nhau do tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong mỗi th ời kỳ phát
triển lịch sử, quân đội ta vẫn là quân đội nhân dân, thực hiện ch ức năng đ ội quân
chiến đấu, đội quân công tác và đội quân sản xuất. Nguyên tắc xây dựng quân đội
theo tư tưởng Hồ Chí Minh luôn được giữ vững, bởi vì:
Một là, “Quân sự phục tùng chính trị”(1), “quân sự mà không có chính trị nh ư
cây không có gốc, vô dụng, lại có hại”(2). Sự lãnh đạo c ủa Đ ảng C ộng s ản là nhân
tố quyết định bản chất cách mạng, sự trưởng thành và chiến th ắng của quân đ ội
nhân dân. Có sự lãnh đạo của Đảng, quân đội ta luôn luôn l ấy vi ệc xây d ựng v ề
chính trị làm cơ sở để nâng cao sức mạnh chiến đấu tổng hợp, thường xuyên tăng
cường hiệu lực công tác Đảng - công tác chính trị. Khi có chính quy ền nhà n ước, tr ở
thành một bộ phận của Nhà nước, quân đội ta tuân th ủ Hi ến pháp và pháp lu ật.
Thực tiễn lịch sử cho thấy, cơ chế quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng không
làm suy yếu sự lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đối v ới quân
đội; vì quân đội là một tổ chức quân sự, khác với các tổ chức khác trong bộ máy nhà
nước… Đảng trực tiếp lãnh đạo nhà nước đồng thời trực tiếp lãnh đạo quân đội.
Hai là, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, về nguyên tắc tổ ch ức Quân đ ội nhân dân
Việt Nam: “Phải có tổ chức vững chắc và nghiêm mật”(3), “nếu không có tổ chức
thì không phải là một đội quân cách mạng, không thể đánh thắng được kẻ thù, kết
cục sẽ rơi vào tình trạng vô chính phủ và tan rã”(4). Người chủ trương xây dựng lực
lượng vũ trang ba thứ quân, xác định đúng đắn mối quan hệ giữa bộ đội chủ lực, bộ
đội địa phương và dân quân tự vệ. Vận dụng sáng tạo nguyên t ắc t ập trung dân ch ủ
của Đảng vào xây dựng quân đội cách mạng, Người nêu rõ có tổ chức mạnh mới có
con người mạnh. Con người mạnh làm cho tổ chức mạnh, Đảng bộ trong quân đội
làm nòng cốt và hạt nhân lãnh đạo, vừa có hệ thống lãnh đạo, vừa có hệ th ống ch ỉ
huy, xác định rõ lãnh đạo là tập thể, chỉ huy là trách nhiệm cá nhân. Quân đội phải
có kỷ luật sắt “quân lệnh như sơn”, xây dựng quân đội phải đi đôi với th ực hi ện
dân chủ, phê bình, tự phê bình từ dưới lên, chống quan liêu, quân phiệt, độc đoán,
chống tự do vô kỷ luật.
Ba là, quân đội ta là quân đội của dân, do dân và vì dân. Vì v ậy, ph ải luôn
đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, có thái độ chính tr ị đúng đ ắn
trước những mối quan hệ chính trị cơ bản: với nhân dân, quân đ ội ta là ng ười ph ục
vụ trung thành, cùng nhân dân bảo vệ độc lập chủ quyền, chế độ xã hội, bảo v ệ
nhà nước, bảo vệ Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ tính mạng, tài sản và
quyền làm chủ của nhân dân; với đất nước, quân đội ta là công cụ để bảo vệ độc
lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ sự bình đẳng và đoàn k ết
giữa các dân tộc, gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc…; với b ầu b ạn, quân đ ội ta th ấm
nhuần tinh thần quốc tế vô sản, ủng hộ sự nghiệp đấu tranh cho độc lập dân tộc,
tiến bộ xã hội và hoà bình thế giới; với nội bộ, thực hiện toàn quân một ý chí, kỷ
luật nghiêm minh, dân chủ, bình đẳng về chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái
quát: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một Quân đội nhân dân do Đ ảng ta
xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(5).
Bốn là, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong xây dựng quân đội phải lấy vi ệc
bồi dưỡng xây dựng con người là chính. Bác Hồ nói: “Người trước súng sau”.
Chiến lược “trồng người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên một đội ngũ cán bộ
quân đội trung thành, có trí tuệ đáp ứng yêu cầu khắc nghiệt của đấu tranh và mọi
thử thách của cách mạng. Người nói: “Muôn việc thành công hay thất bại, đều do
cán bộ tốt hoặc kém”(6), “… cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(7). Đối với cán
bộ trong quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm,
Trung”. Người đặt “Trí” lên hàng đầu. Theo đó, cán bộ quân sự trước hết ph ải là
người có trí tuệ, không ngừng trau dồi trí thức, nâng cao trí tuệ mới hoàn thành
nhiệm vụ. Người cán bộ phải có giác ngộ chính trị h ơn quần chúng, vì v ậy ph ải có
trình độ hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học
kỹ thuật quân sự; nắm vững đường lối chính sách của Đảng mới tự giác ph ấn đ ấu
theo đường lối cách mạng mà Đảng đã vạch ra, có niềm tin thắng lợi, dựa vào căn
cứ khoa học, có lý luận để thuyết phục quần chúng, có khả năng tổng kết thực tiễn,
phát huy sức sáng tạo của quần chúng để góp ph ần c ụ th ể hoá, b ổ sung đ ường l ối,
chủ trương của Đảng.
Quân đội nhân dân Việt Nam đã đánh thắng quân đội nhà ngh ề hai đ ế qu ốc to,
trước hết là thắng bằng trí tuệ, bằng tài thao lược, k ế th ừa truy ền th ống đánh gi ặc
của tổ tiên, tiếp thu có chọn lọc nghệ thuật quân s ự của nhân lo ại, có ph ương pháp
xem xét đúng, hiểu rõ sức mạnh quân đội của các nước đế quốc, sáng tạo cách đánh
tài giỏi. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, quân đội cách mạng phải: “nghiên cứu
cách đánh giặc”(8) để “có một lối đánh tài giỏi thì trăm trận trăm thắng”. Nếu
“thiếu nghiên cứu tìm hiểu tình hình khả năng ta và địch một cách tỉ mỉ để định ra
mục đích và cách đánh hợp lý thì sẽ “mắc nhiều khuyết đi ểm”. Ng ười căn d ặn cán
bộ phải chịu khó học tập, không ngừng nâng cao trí tuệ, văn hoá để có phương
hướng đúng cho việc trau dồi đạo đức cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc
cán bộ học ở trường, ở sách vở và trong thực tiễn đấu tranh cách mạng đ ều r ất
quan trọng. Theo Người, học phải đi đôi với hành, lời nói phải đi đôi v ới vi ệc làm.
Người coi trọng quá trình xây dựng quân đội nhân dân phải là quá trình rèn luy ện lâu
dài chiến đấu với kẻ thù, trong đấu tranh chính trị, trong vận động quần chúng,
trong xây dựng nâng cao sức mạnh chiến đấu. Bản lĩnh chính trị, bản lĩnh chiến đấu
của mỗi quân nhân trong quân đội chẳng những là sự tích luỹ m ột hàm lượng trí tu ệ
mà còn là kết quả của sự đấu trí giữa ta và địch. Hơn n ửa th ế k ỷ xây d ựng và chi ến
đấu, quân đội ta đã bồi dưỡng được một đội ngũ cán bộ quân sự tuy ệt đ ối trung
thành với sự nghiệp cách mạng, giỏi thao lược, đánh th ắng mọi kẻ thù. Trong Quân
đội nhân dân Việt Nam, có nhiều cán bộ cao cấp trưởng thành từ giai c ấp công
nhân, nông dân, trí thức cách mạng đi lên. Đó là một thành công l ớn lao c ủa Đ ảng và
Bác Hồ.
Trải qua 64 năm, quân đội ta xây dựng và chiến đấu theo t ư t ưởng H ồ Chí
Minh, đã hoàn thành nhiệm vụ trong chiến tranh giải phóng dân tộc và b ảo v ệ v ững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những năm hoà bình, quân đội ta là một
lực lượng rất quan trọng bảo đảm sự ổn định chính trị và an toàn xã hội của nước
nhà. Ngày nay, trong bối cảnh mới, đất nước bước vào th ời kỳ công nghi ệp hoá,
hiện đại hoá, chúng ta đang đứng trước vận hội mới và những thách thức mới.
Đảng ta xác định xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã h ội chủ nghĩa là hai
nhiệm vụ chiến lược. Nhiệm vụ của quân đội ta rất nặng nề, phải bảo vệ được
hoà bình, góp phần tạo môi trường ổn định để tiến hành công nghi ệp hoá, hi ện đ ại
hoá, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, biên giới
hải đảo của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo v ệ Đ ảng và Nhà n ước,
bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ bản sắc văn hoá dân t ộc, l ợi ích qu ốc
gia, chống lại các thế lực thù địch với các thủ đoạn “di ễn bi ến hoà bình”, b ạo lo ạn
lật đổ và sẵn sàng đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm l ược ki ểu mới c ủa đ ịch.
Chức năng cơ bản của quân đội là bảo vệ vững ch ắc đ ộc lập dân t ộc và ch ủ nghĩa
xã hội, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ tính mạng tài sản, quy ền làm ch ủ c ủa nhân
dân và chức năng đội quân công tác, đội quân sản xuất có nh ững nội dung và yêu
cầu mới.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi quân đội phải được
xây dựng với chất lượng cao, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Nhi ệm v ụ
đó đặt ra yêu cầu đầu tư hơn nữa vào công tác huấn luy ện b ộ đ ội, đào t ạo đ ội ngũ
cán bộ có trình độ chỉ huy giỏi, sáng tạo cách đánh và tổng kết thực tiễn, nghiên cứu
khoa học quân sự, vận dụng sáng tạo vào quá trình xây dựng h ọc thuy ết quân s ự
Việt Nam trong thời đại mới, góp phần vào việc đổi mới phong cách lãnh đạo ch ỉ
huy Quân đội nhân dân. Cần thiết phải bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về
xây dựng Quân đội nhân dân, củng cố nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc;
tiếp tục thể chế hoá đường lối, quan điểm, Nghị quyết của Đảng về xây dựng quân
đội; ban hành hệ thống điều lệnh, điều lệ về các hoạt động của Quân đ ội nhân dân,
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quân đội, giải quyết tốt nhi ệm vụ xây
dựng Quân đội nhân dân trong nhà nước pháp quyền do Đảng lãnh đạo.
Những vấn đề trên đang đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ti ếp
tục học tập, tìm hiểu và nghiên cứu sâu sắc hơn n ữa t ư tưởng H ồ Chí Minh v ề xây
dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân, góp phần tăng
cường nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, làm cho quân đội ta mãi xứng đáng với danh hiệu cao quý: “Bộ đội Cụ Hồ”./.
__________________________________________________________
Ghi chú:
(1) Hồ Chí Minh toàn tập (2000), Tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr.507.
(2) Hồ Chí Minh toàn tập (1995), Tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr.555.
(3), (4) Hồ Chí Minh toàn tập (1995), Tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr.470.
(5) Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Tập 11, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr.350.
(6) Hồ Chí Minh toàn tập (1995), Tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr.240.
(7) Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr.269.
(8) Hồ Chí Minh toàn tập (1995), Tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr.318-319.
XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
CHỦ TRƯƠNG, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ TỔ CHỨC
HỢP LÝ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở NƯỚC TA

T.S VĂN TẤT THU
Thứ trưởng Bộ Nội vụ


H ội đồng nhân dân (HĐND) ở nước ta hình thành ngay sau khi Cách mạng
Tháng Tám năm 1945 thành công. Hơn 60 năm qua, với tính ch ất là c ơ quan
chính quyền địa phương, đại diện cho ý chí nguy ện vọng và quy ền làm ch ủ c ủa
nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa
phương và cơ quan nhà nước cấp trên, HĐND đã thực hiện tốt các nhiệm vụ nhân
dân uỷ thác, góp phần tích cực vào sự thành công của s ự nghi ệp cách m ạng xây
dựng và bảo vệ đất nước. Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động c ủa HĐND nói chung,
của HĐND huyện, quận, phường nói riêng, bên cạnh những ưu điểm là c ơ bản còn
bộc lộ những hạn chế, bất cập. Vì vậy, vấn đề tổ chức hợp lý chính quy ền đ ịa
phương các cấp, đặc biệt là việc tổ chức hay không tổ chức HĐND ở một số loại
đơn vị hành chính đã được Đảng và Nhà nước ta nhiều lần đề cập đến. Ngay t ừ
những năm 1990, khi nghiên cứu đổi mới hệ thống chính trị và ban hành Hi ến pháp
1992, vấn đề này đã được đặt ra. Song, thực tiễn cải cách tổ chức và hoạt động của
chính quyền địa phương diễn ra chậm, không đồng bộ, chưa thực sự tạo ra bước
đổi mới có tính đột phá để hoàn thiện và xây dựng chính quyền địa phương.
Tại Đại hội VII (tháng 6/1991), Đảng xác định tiếp tục cải cách bộ máy nhà
nước và đề ra nhiệm vụ về sửa đổi Hiến pháp, cải tiến tổ chức và hoạt động của
Chính phủ, chính quyền địa phương.
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương (BCHTW) lần thứ 8 khoá VII năm 1995
đã ra Nghị quyết tiếp tục hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà Xã h ội Ch ủ nghĩa Vi ệt
Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính, đề ra mục tiêu “xây dựng một
nền hành chính trong sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước
hiện đại hoá để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công vi ệc c ủa nhà n ước, thúc đ ẩy
xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống của nhân dân,
xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã h ội”. Đ ể đ ề cao trách nhi ệm
và phát huy hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quy ền các c ấp, Ngh ị quy ết
khẳng định cần phải “tăng cường sự lãnh đạo và điều hành tập trung th ống nh ất
của Trung ương, đồng thời phát huy trách nhiệm và tính chủ động, năng động của
địa phương… phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của mỗi cấp chính quy ền,
tập trung vào Trung ương quyền quyết định các vấn đề ở tầm vĩ mô”; “phân cấp
quản lý để phát huy tính chủ động và tinh th ần trách nhi ệm c ủa chính quy ền đ ịa
phương”(1). Đối với chính quyền địa phương cần phải “nâng cao chất lượng hoạt
động của HĐND và Uỷ ban nhân dân (UBND) các cấp. Đề cao trách nhi ệm và k ỷ
luật của HĐND, UBND trong việc chấp hành pháp luật và các quy ết đ ịnh c ủa Qu ốc
hội, Chính phủ và các cơ quan hành chính cấp trên. Tăng quy ền chủ động của
HĐND trong việc quyết định các vấn đề mang tính địa phương, quy ết đ ịnh ngân
sách trong phạm vi được phân cấp. Quy định nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND và
UBND từng cấp”. “Tổ chức bộ máy hành chính thành phố, thị xã phù h ợp với đ ặc
điểm quản lý đô thị mang tính tập trung thống nhất cao. Xác định h ợp lý ph ạm vi
ngoại thành, ngoại thị trên cơ sở quy hoạch đô th ị. Xác đ ịnh v ị trí và ch ức năng c ủa
chính quyền cấp huyện với thẩm quyền trách nhiệm rõ ràng”(2).
Đại hội VIII của Đảng một lần nữa khẳng định: “tiếp tục cải cách bộ máy
nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam”. Đối với chính quyền địa phương, Đại hội đề ra nhiệm vụ “kiện toàn bộ máy
chính quyền cấp huyện và cơ sở đủ sức quản lý, giải quy ết kịp th ời, đúng th ẩm
quyền những vấn đề cuộc sống đặt ra và nhân dân đòi hỏi”(3).
Hội nghị lần thứ 3 BCHTW khoá VIII (tháng 6/1997) ra Ngh ị quy ết “phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà Xã h ội Ch ủ
nghĩa Việt Nam trong sạch vững mạnh” đề ra nhiệm vụ: “tiếp tục phát huy t ốt h ơn
và nhiều hơn quyền làm chủ của nhân dân qua các hình thức dân chủ đại di ện và
dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ nhà n ước, nh ất là vi ệc
giám sát, kiểm tra của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan và cán b ộ công ch ức
nhà nước”(4). Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm ch ủ c ủa nhân
dân trong xây dựng và quản lý nhà nước “là vấn đề có ý nghĩa sống còn đ ối v ới xã
hội ta”(5), “để thực hiện phương hướng trên, điều quan trọng hàng đ ầu là nâng cao
chất lượng chế độ dân chủ đại diện, mở rộng và có cơ chế từng bước thực hiện
chế độ dân chủ trực tiếp một cách thiết thực, đúng hướng và có hiệu quả”(6).
Nghị quyết nhấn mạnh, cần phải “nâng cao chất lượng hoạt động c ủa các c ơ
quan dân cử (Quốc hội, HĐND) để các cơ quan này th ực sự là c ơ quan đ ại di ện c ủa
nhân dân và là cơ quan quyền lực của nhà nước trong việc xem xét và quyết đ ịnh
những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương”(7). “Phân định trách
nhiệm, thẩm quyền giữa các cấp chính quyền theo hướng phân cấp rõ hơn cho địa
phương, kết hợp chặt chẽ quản lý ngành và quản lý lãnh thổ, thực hi ện đúng
nguyên tắc tập trung dân chủ”(8). “Việc phân định trách nhiệm và thẩm quy ền của
các cấp chính quyền phải phù hợp với tính chất và yêu cầu của từng ngành và lĩnh
vực hoạt động, với chức năng, nhiệm vụ của từng cấp chính quy ền trên t ừng đ ịa
bàn, phù hợp với điều kiện, khả năng của các địa phương có quy mô, v ị trí khác
nhau. Giữa các cấp chính quyền địa phương cần cụ thể hoá việc phân cấp theo
hướng việc nào do cấp nào giải quyết sát với thực tế hơn thì giao nhi ệm v ụ, th ẩm
quyền cho cấp đó”(9). “Trên cơ sở xác định rõ chức năng và đổi mới sự phân cấp,
tiếp tục điều chỉnh hợp lý tổ chức của các Bộ, các c ơ quan thu ộc Chính ph ủ và b ộ
máy chính quyền địa phương”(10). “Kiện toàn và củng cố HĐND, UBND các cấp
để bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ và thẩm quyền đã được phân cấp; đồng thời
đề cao trách nhiệm tham gia cùng chính quyền cấp trên thực hi ện nhi ệm v ụ qu ản lý
nhà nước đối với tổ chức theo ngành dọc trên địa bàn lãnh th ổ”, “Xây dựng HĐND
các cấp có thực quyền để thực hiện đầy đủ vai trò là cơ quan đại di ện c ủa nhân
dân, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, thực hiện quy ền làm ch ủ c ủa nhân
dân ở từng cấp”. “Nghiên cứu phân biệt sự khác nhau giữa hoạt động của HĐND và
nhiệm vụ quản lý hành chính ở đô thị với hoạt động của HĐND và nhi ệm vụ qu ản
lý hành chính ở nông thôn, có thể tiến hành thí đi ểm ở một vài đ ịa ph ương đ ể th ấy
hết các vấn đề cần giải quyết”(11).
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTW khoá IX (tháng 2/2002) về đổi mới và
nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, th ị trấn đã xác đ ịnh:
“chính quyền phường không quản lý toàn diện các hoạt động s ản xuất, đ ời s ống
dân cư trên địa bàn như chính quyền xã, thị trấn, song có nhiệm vụ rất quan trọng
trong quản lý đô thị. Cần phân định rõ hơn thẩm quy ền, trách nhi ệm và t ạo đi ều
kiện để chính quyền phường thực hiện tốt nhiệm vụ, đặc biệt trong việc quản lý
thực hiện quy hoạch, quản lý đất đai, nhà ở, h ộ t ịch, v ệ sinh môi tr ường, tr ật t ự đô
thị”(12).
Báo cáo của Bộ Chính trị kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại
hội lần thứ IX (tháng1/2004) chỉ rõ: “HĐND các cấp ở nhiều nơi hoạt động còn
hình thức, nhiều đại biểu còn ít đóng góp vào công việc chung của hội đồng; một số
vấn đề về tổ chức của HĐND vẫn chưa được làm rõ và chưa có định hướng đổi
mới một cách căn bản, nhất là cấp huyện và mô hình tổ ch ức chính quy ền đô
thị”(13). Đồng thời, báo cáo của Bộ Chính trị cũng đề ra nhiệm vụ: “Đổi mới tổ
chức để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp; kiện toàn
HĐND và UBND ba cấp thông qua việc tổ ch ức t ốt cu ộc b ầu c ử đ ại bi ểu HĐND”.
Khẩn trương hoàn thành việc phân cấp, phân quyền giữa trung ương với địa
phương trên từng ngành, từng lĩnh vực một cách đồng bộ, bảo đảm hiệu lực quản
lý thống nhất xuyên suốt của Trung ương đối với địa phương và khuyến khích tinh
thần tự chịu trách nhiệm của từng địa phương, “thí điểm mô hình tổ chức chính quyền
đô thị và chính quyền nông thôn”(14).
Báo cáo chính trị của BCHTW tại Đại hội X của Đảng (tháng 4/2006) cùng
với việc nêu các thành tựu đạt được đã chỉ ra các khuyết điểm và yếu kém: “bộ máy
quản lý nhà nước các cấp, nhất là ở cơ sở còn yếu kém… mô hình t ổ chức chính
quyền địa phương, nhất là tổ chức HĐND còn nh ững điểm bất h ợp lý, c ải cách
hành chính chưa đạt yêu cầu”(15), “bộ máy chính quyền cơ sở nhiều nơi còn y ếu
kém”(16). Đồng thời báo cáo khẳng định, cần phải “Nâng cao chất lượng hoạt động
của HĐND và UBND, đảm bảo quyền tự chủ, tự ch ịu trách nhi ệm c ủa chính quy ền
địa phương trong phạm vi được phân cấp. Phát huy vai trò giám sát c ủa HĐND. T ổ
chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền
ở nông thôn, đô thị, hải đảo”(17), “điều chỉnh cơ cấu chính quyền địa phương cho
phù hợp với những thay đổi chức năng nhiệm vụ. Phân biệt rõ nh ững khác biệt gi ữa
chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị để tổ chức bộ máy phù hợp”(18).
Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Hội ngh ị l ần th ứ 5
BCHTW đã thông qua Nghị quyết về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hi ệu
lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, trong đó đề ra yêu cầu “xây dựng tổ
chức bộ máy hành chính tinh gọn, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, phân đ ịnh rõ
trách nhiệm giữa các cơ quan, giữa các cấp chính quy ền, giữa chính quy ền đô th ị và
chính quyền nông thôn, giữa tập thể và người đứng đầu cơ quan hành chính; hoạt
động có tính kỷ luật, kỷ cương và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước”(19). Đối với chính quyền địa phương, Nghị quyết chỉ ra “tính thống nhất và
thông suốt của hệ thống hành chính nhà nước được đảm bảo trên c ơ s ở xác đ ịnh rõ
vị trí trách nhiệm của chính quyền địa phương trong hệ thống các cơ quan nhà
nước”; đồng thời khẳng định nguyên tắc “chính quyền địa ph ương ở nước ta được
xây dựng, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc nhà nước đơn nh ất, quy ền l ực nhà
nước là thống nhất”, cần có cơ chế bảo đảm nguyên tắc “xây dựng chính quy ền
của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân”, “tổ chức hợp lý chính quyền đ ịa ph ương
phân biệt rõ những khác biệt giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô
thị”(20). Trên cơ sở các quan điểm, yêu cầu, nguyên tắc xây dựng chính quyền địa
phương ở nước ta theo tinh thần xây dựng nhà nước pháp quy ền c ủa dân, do dân, vì
dân, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội ch ủ nghĩa, mở cửa h ội
nhập kinh tế quốc tế, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTW khoá X cho phép th ực
hiện thí điểm “không tổ chức HĐND ở huyện, quận, phường”.
Đối với chính quyền nông thôn: “không tổ chức HĐND ở huyện; ở huyện có
UBND với tính chất là đại diện của cơ quan hành chính cấp tỉnh để gi ải quy ết các
nhiệm vụ về hành chính và các công việc liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của
người dân theo quy định của pháp luật. UBND huy ện t ập trung ch ỉ đ ạo, h ướng d ẫn
kiểm tra cấp dưới thực hiện chủ trương, chính sách, ngh ị quy ết, k ế ho ạch c ủa c ấp
trên. Cơ chế giám sát đối với tổ chức và hoạt động của UBND huyện được th ực
hiện thông qua hoạt động giám sát của đại biểu và đoàn đại bi ểu Qu ốc h ội, HĐND,
UBND cấp tỉnh, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, sự giám sát trực tiếp của nhân
dân. Kiện toàn cấp uỷ huyện để đáp ứng tốt yêu cầu lãnh đạo toàn diện và lãnh đạo
hoạt động của UBND huyện”(21).
Đối với chính quyền đô thị: “tổ chức chính quyền đô thị phải đảm bảo tính
thống nhất và liên thông trên địa bàn về quy hoạch đô th ị, k ết c ấu h ạ t ầng (nh ư
điện, đường, cấp thoát nước, xử lý rác thải, bảo vệ môi trường) và đời sống dân cư.
Xác định cấp đô thị có HĐND là: HĐND thành phố trực thuộc Trung ương, HĐND
thành phố thuộc tỉnh, HĐND thị xã; không tổ chức HĐND ở quận, ở phường. Tại
quận, phường có UBND là đại diện của cơ quan hành chính c ấp trên đ ặt t ại đ ịa bàn
để thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và phân cấp của chính
quyền cấp trên”(22). Khi không tổ chức HĐND ở huyện, quận, ph ường cần ph ải tổ
chức lại UBND theo hướng là cơ quan hành chính “để quản lý, th ực hiện các nhi ệm
vụ theo quy định của pháp luật và phân cấp của cơ quan cấp trên. UBND huy ện,
quận, phường bao gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các uỷ viên do UBND cấp trên
bổ nhiệm, miễn nhiệm trên cơ sở xem xét nhân sự do cấp u ỷ huy ện, qu ận, ph ường
giới thiệu và được cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ đồng ý”(23). Không t ổ ch ức
HĐND huyện, quận, phường “cần tăng cường HĐND tỉnh, thành ph ố trực thu ộc
Trung ương về số lượng, chất lượng đại biểu, về cơ sở vật chất, điều kiện làm
việc”(24). Như vậy, thực hiện không tổ chức HĐND huy ện, qu ận, ph ường ph ải
điều chỉnh nhiệm vụ, thẩm quyền và đổi mới mô hình tổ chức chính quyền địa
phương ở nước ta theo tinh thần cải cách hành chính.
Thực hiện chủ trương, quan điểm của Đảng nêu trong các nghị quyết nói trên,
Chính phủ đã ban hành chương trình, nghị quyết chỉ đạo thực hiện cụ thể như:
Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ
ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010,
đề ra nhiệm vụ: “xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền h ạn, trách nhi ệm c ủa
chính quyền địa phương, phân biệt chức năng, nhiệm vụ của chính quy ền đô th ị v ới
chính quyền nông thôn; tổ chức hợp lý HĐND và UBND từng cấp căn cứ vào quy
định của Hiến pháp”; Quyết định số 94/2006/QĐ-TTg ngày 27/4/2006 của Th ủ
tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2006-
2010, xác định nhiệm vụ “sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước
trong đó có việc thí điểm mô hình chính quy ền đô th ị theo h ướng không t ổ ch ức
HĐND ở một số đơn vị hành chính thuộc nội thị”; Nghị quy ết số 53/2007/NQ-CP
ngày 7/11/2007 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động th ực hi ện Ngh ị
quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTW khoá X về đẩy mạnh cải cách hành chính nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước đã đề ra nhiệm vụ xây dựng
Đề án “thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, ph ường”. Trên cơ sở
Đề án của Chính phủ, Quốc hội đã thảo luận và thông qua Ngh ị quy ết s ố
26/2008/QH12 ngày 15/11/2008 về thực hiện thí điểm không tổ ch ức HĐND huy ện,
quận, phường. Thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường là
vấn đề hệ trọng nhưng cần thiết phải làm trong tiến trình c ải cách hành chính. Sau
thời gian thực hiện thí điểm sẽ tiến hành tổng kết đánh giá đ ể có c ơ s ở s ửa đ ổi, b ổ
sung Hiến pháp, Luật Tổ chức HĐND và UBND và các luật chuyên ngành khác, t ạo
cơ sở pháp lý tổ chức hợp lý chính quyền đại phương, bảo đảm tính th ống nh ất,
thông suốt, hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây
dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế./.
____________________________________________________________

Ghi chú:
(1), (2) Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 BCHTW khoá VII, Hà Nội, 1995, Tr. 25, 34.
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội.
(4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11) Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 BCHTW khoá VIII, Nxb
CTQG, Hà Nội, 1997, Tr.41, 44, 51, 52, 53, 55.
(12) Văn ki ện H ội ngh ị l ần th ứ 5 BCHTW khoá IX, Nxb CTQG, Hà N ội, 2002,
Tr.172.
(13), (14) Văn kiện Hội nghị lần thứ 9 BCHTW khoá IX, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004,
Tr.98, 99.
(15), (16), (17), (18) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà
Nội, 2006, Tr.64, 175, 127, 254.
(19), (20), (21), (22), (23), (24) Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 BCHTW khoá IX, Nxb
CTQG, Hà Nội, 2007, Tr.159, 170, 171, 172.
VĨNH PHÚC CHỦ ĐỘNG KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN,
ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC PHI
Phó Bí thư Tỉnh uỷ - Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc



N ăm 2008, năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2006-2010, tỉnh Vĩnh Phúc th ực
hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện có nhi ều khó khăn,
đó là: sản xuất nông nghiệp gặp thời tiết xấu, diễn biến ph ức tạp và khó lường;
thiếu điện cho sản xuất và sinh hoạt trên diện rộng; lạm phát cao tác đ ộng x ấu đ ến
sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân; công tác bồi th ường, gi ải phóng m ặt
bằng ngày càng khó khăn; khủng hoảng tài chính thế giới tác động tiêu cực đến kinh
tế của đất nước, của tỉnh… Trước tình hình trên, các cấp ủy đảng, chính quyền tỉnh
Vĩnh Phúc đã tăng cường công tác lãnh đạo, ch ỉ đạo, đi ều hành, huy đ ộng h ệ th ống
chính trị, cùng nhân dân các dân tộc trong tỉnh tháo g ỡ khó khăn, phát tri ển s ản xu ất
kinh doanh, tập trung giải quyết những vấn đề trọng tâm, bức xúc, đ ảm bảo an sinh
xã hội. Do vậy năm 2008 các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh đều hoàn thành và
hoàn thành vượt mức đề ra.
Về phát triển kinh tế: Tăng trưởng kinh tế năm 2008 của tỉnh đạt gần 14,8%,
trong đó: khu vực công nghiệp trên 14,9%, dịch vụ gần 19%, nông nghiệp gần 7%.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công
nghiệp và dịch vụ, tỷ trọng nông nghiệp còn trên 18% trong GDP. Thu hút đ ầu t ư
trực tiếp vào tỉnh đạt kết quả khá, cả năm đã thu hút được 31 dự án FDI vốn đăng
ký 535,3 triệu USD, 93 dự án DDI vốn đăng ký g ần 6 nghìn t ỷ đ ồng. Thu ngân sách
trên địa bàn đạt kết quả cao nhất từ trước đến nay, dự kiến trên 9.228 t ỷ đ ồng (tăng
57,2% so năm trước).
Ngành công nghiệp tuy sản xuất có chững lại và giảm vào các tháng cu ối năm
nhưng giá trị sản xuất vẫn tăng trên 17,7% so năm 2007. Trong đó tăng cao nh ất v ẫn
là khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực ti ếp c ủa n ước ngoài (FDI). Ph ần l ớn các s ản
phẩm công nghiệp chủ yếu đều tăng so cùng kỳ. Sản xuất nông nghiệp năm 2008
tuy gặp khó khăn về thiên tai, nhưng giá trị sản xuất vẫn tăng gần 7% so với năm
trước. Các ngành dịch vụ hoạt động ổn định và duy trì được tốc độ tăng trưởng khá.
Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2008 ước đạt gần 352 triệu USD, tăng 28,4% so
cùng kỳ.
Về phát triển văn hóa xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng: kinh tế phát triển,
đời sống nhân dân tiếp tục được nâng lên. GDP bình quân đ ầu ng ười (theo giá th ực
tế) năm 2008 ước đạt 21,1 triệu đồng tăng 34,4% so với năm 2007 (tương đương
1.250 USD). Tỷ lệ hộ nghèo giảm 0,9% so với năm 2007. Chỉ số giá tiêu dùng đã
được kiềm chế và giảm dần vào những tháng cuối năm; an sinh xã hội đ ược b ảo
đảm, các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, th ể thao có nhi ều ti ến b ộ. Công tác thanh
tra, kiểm tra, phòng chống tham nhũng, phòng chống tệ nạn xã hội, thực hành ti ết
kiệm chống lãng phí; công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại t ố cáo đ ược tăng
cường đạt hiệu quả. Công tác cải cách hành chính tiếp tục được đẩy m ạnh, nh ất là
cải cách thủ tục hành chính gắn với việc thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên
thông”, đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp. Tình hình an
ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được bảo đảm và gi ữ vững, t ạo
môi trường ổn định cho phát triển kinh tế của tỉnh.
Đạt được những kết quả trên đây, năm 2008 tỉnh Vĩnh Phúc luôn nhận được
sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và giúp đỡ rất hiệu quả của Đảng, Nhà n ước và các
bộ ngành trung ương. Đồng thời các cấp ủy đảng, chính quy ền và nhân dân các dân
tộc trong tỉnh đã không ngừng phấn đấu, từng bước khắc ph ục khó khăn, quy ết tâm
thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2008 đã đề ra.
Tuy nhiên, năm 2008, kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc còn gặp khó khăn, h ạn
chế. Kinh tế tuy đạt tốc độ tăng trưởng cao, song ch ất l ượng tăng tr ưởng, kh ả năng
hấp thụ vốn còn nhiều hạn chế. Hệ thống kết cấu h ạ t ầng k ỹ thu ật đô th ị, khu
công nghiệp còn thiếu và chưa đồng bộ. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thu ỷ
sản chủ yếu là quy mô nhỏ, mức độ áp dụng kỹ thuật - công ngh ệ và trình độ cơ
giới hoá còn thấp. Một số lĩnh vực văn hóa - xã hội chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng
kinh tế. Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp, khu dân c ư ch ậm
được khắc phục. Các tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp và vẫn là vấn đề bức
xúc. Những khó khăn hạn chế trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về
khách quan, điểm xuất phát nền kinh tế thấp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn
nhiều bất cập. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đô thị hóa nhanh, nảy sinh nhiều vấn
đề xã hội bức xúc. Thời tiết, dịch bệnh diễn biến ph ức tạp, giá c ả tăng đã ảnh
hưởng tới sản xuất và đời sống. Suy giảm kinh tế thế giới tác động tiêu c ực đ ến
nước ta. Tỷ lệ lao động trong nông nghiệp, nông thôn còn cao, bình quân diện tích
canh tác đầu người thấp. Nhu cầu đầu tư lớn trong khi kh ả năng đáp ứng từ ngân
sách còn hạn chế. Về chủ quan, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của một số
cấp ủy, chính quyền và bộ phận cán bộ, công chức ch ưa đáp ứng yêu c ầu phát tri ển
của tỉnh.
Bước sang năm 2009, theo dự báo việc thực hiện các m ục tiêu phát tri ển kinh
tế - xã hội của tỉnh sẽ gặp khó khăn thách thức lớn hơn: cơn bão kh ủng hoảng tài
chính sẽ ảnh hưởng mạnh hơn đến nền kinh tế thế giới và trong nước, tác động
mạnh đến kết quả thu hút đầu tư, xuất khẩu và kết quả sản xuất kinh doanh c ủa
các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh; giá cả thị trường quốc tế, trong n ước còn
biến động; thiên tai, dịch bệnh tiếp tục diễn biến ph ức tạp, khó l ường... Năm 2009
tỉnh Vĩnh Phúc xác định là năm “Tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh sản xu ất, thúc đẩy
tăng trưởng, phát triển bền vững” với các mục tiêu ch ủ y ếu là: Tăng tr ưởng kinh t ế
trên 10%, trong đó công nghiệp 10,6 - 11%, dịch vụ 13 - 13,5% và nông nghi ệp 3%;
sản lượng lương thực có hạt đạt trên 34 vạn tấn; giá trị xuất kh ẩu trên 700 tri ệu
USD; vốn đầu tư phát triển toàn xã h ội 11 - 11,5 nghìn t ỷ đ ồng; thu hút đ ầu t ư FDI
khoảng 500 triệu USD; GDP bình quân đầu người tương đương 1.500 USD; tổng
thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 10 nghìn tỷ đồng.
Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2009, công tác lãnh
đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể tập trung vào
các trọng tâm sau:
(1) Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các ch ủ trương, gi ải
pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế, bảo đảm an sinh xã h ội và tăng tr ưởng
bền vững. Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao, bảo đảm phát tri ển b ền
vững, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế, nh ất là khu v ực kinh t ế
trong nước.
(2) Đẩy mạnh công tác quy hoạch, hoàn thành h ệ thống quy hoạch, g ồm: quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện, quy hoạch ngành, lĩnh
vực và các quy hoạch đô thị.
(3) Đẩy mạnh phát triển sản xuất công nghiệp; phát triển đa dạng và nâng cao
chất lượng các ngành dịch vụ; tiếp tục đầu tư cho sản xuất nông nghi ệp và phát
triển nông thôn, triển khai nhanh, hiệu quả các ch ương trình, đ ề án, d ự án nh ằm c ụ
thể hoá Nghị quyết của Đảng về phát triển nông nghiệp, nông thôn nâng cao đời
sống nông dân.
(4) Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, môi trường sản xuất kinh doanh, thu
hút mạnh các nguồn lực trong và ngoài nước, tập trung phát tri ển h ệ th ống k ết c ấu
hạ tầng thiết yếu. Thực hiện tốt công tác bồi th ường giải phóng m ặt b ằng, t ập
trung giải quyết đất dịch vụ, tái định cư và giải quyết việc làm cho nhân dân khu
vực bị mất đất cho phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị.
(5) Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật t ự, an toàn
xã hội. Tăng đầu tư cho an sinh xã hội; giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã h ội
bức xúc, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường.
(6) Tiếp tục cải cách hành chính; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ch ất
lượng giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ và nâng cao đời sống v ật ch ất tinh th ần
cho nhân dân, nhất là các xã nghèo. Tăng cường công tác phòng chống tham nhũng,
giải quyết tốt các đơn thư khiếu nại, tố cáo; nâng cao hiệu lực, hi ệu qu ả ho ạt đ ộng
của bộ máy nhà nước./.
HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỘT
NHÀ NƯỚC KIỂU MỚI
ĐẠI TÁ, T.S TRẦN NAM CHUÂN
Viện Chiến lược quân sự, Bộ Quốc phòng



M ột trong những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng một nhà
nước kiểu mới - nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Đây là tư
tưởng độc đáo, sáng tạo của Bác Hồ và của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách
mạng Việt Nam, đã được minh chứng và kiểm nghiệm trong lịch sử đấu tranh giành
chính quyền và xây dựng chính quyền nhà nước dân chủ nhân dân. Theo Chủ t ịch
Hồ Chí Minh, nhà nước kiểu mới - nhà nước pháp quy ền ph ải là nhà n ước c ủa dân,
do dân và vì dân; đó là tư tưởng, ý chí nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người yêu nước, th ương dân n ồng nàn tha
thiết. Người đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin bằng niềm tin mãnh liệt: “Bây giờ h ọc
thuyết nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nh ất là ch ủ nghĩa Lê-
nin” và con đường duy nhất mang lại độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào là con
đường cách mạng vô sản, dùng bạo lực cách mạng để giành chính quy ền v ề tay
nhân dân. Chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng như V.I.Lê-nin đã
chỉ rõ: “Cùng với việc tổ chức xây dựng Đảng cách mạng thì trong cuộc đấu tranh
này, trước hết phải có Đảng cách mệnh”(1), “Đảng có vững cách mệnh mới thành
công”(2). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng nền tảng tư tưởng cho đường lối
chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng. Trong đó tư tưởng của Người về
vấn đề chính quyền nhà nước hình thành khá sớm và rõ nét. Theo Chủ tịch Hồ Chí
Minh, trong xây dựng nhà nước kiểu mới, trước hết bắt nguồn từ đường lối cách
mạng của Đảng. Một mặt, Người khẳng định bản chất giai cấp công nhân c ủa nhà
nước, mặt khác Người cũng khẳng định sự thống nhất giữa bản ch ất giai c ấp công
nhân, tính chất nhân dân và dân tộc của nhà nước pháp quy ền vì nó là đ ại di ện cho
toàn thể nhân dân và toàn dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nhà nước pháp quy ền, nhà n ước
kiểu mới của dân, do dân và vì dân là một h ệ th ống quan đi ểm t ư t ưởng trên nhi ều
lĩnh vực và nhiều tổ chức trong bộ máy nhà nước, gắn li ền v ới hoạt đ ộng th ực ti ễn
không mệt mỏi của Người về xây dựng bộ máy nhà nước.
Năm tháng sẽ qua đi, song tư tưởng Hồ Chí Minh về xây d ựng m ột nhà n ước
kiểu mới và một đảng cầm quyền vẫn còn giữ nguyên giá trị, có ý nghĩa thực ti ễn
sâu sắc và lâu dài. Hiện nay, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, trước sự thoái
hoá, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trước âm mưu chống phá của kẻ
thù nhằm chia rẽ Đảng với dân, với Nhà nước hòng làm biến ch ất nhà nước, ti ến
tới thủ tiêu và xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ vai trò lãnh đạo c ủa Đ ảng
trên đất nước ta, chúng ta cần tiếp tục học tập, tìm hiểu thêm t ư tưởng c ủa Ch ủ
tịch Hồ Chí Minh về vấn đề nhà nước kiểu mới, nhất là việc vận dụng vào th ực
hiện các nghị quyết của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền, thực sự là nhà
nước của dân, do dân và vì dân.
Nhà nước ta được thành lập sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là nhà n ước
dân chủ nhân dân đầu tiên ở Việt Nam và ở Đông Nam Châu Á, dựa trên nền tảng
công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo. Bản Hiến pháp năm 1946 ở nước ta ra
đời là mốc son quan trọng đánh dấu quá trình bắt đầu xây d ựng m ột nhà n ước pháp
quyền. Đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “dân là
chủ, Chính phủ là đầy tớ”(3). Đây là một trong nh ững vấn đ ề h ết s ức căn b ản trong
xây dựng nhà nước kiểu mới, phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước và công dân của
nhà nước kiểu mới mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng xây dựng. Trong th ư
gửi Uỷ ban hành chính các bộ, huyện, làng xã ngày 17/10/1954, Ng ười vi ết: “C ơ
quan Chính phủ từ toàn quốc đến các làng là đầy tớ của dân, nghĩa là để gánh vác
việc chung chứ không phải đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của
thực dân Pháp và phát xít Nhật”(4).
“Dân là chủ thì Chính phủ là đầy tớ, nếu Chính phủ làm h ại dân thì dân có
quyền đuổi Chính phủ đi”(5). Mối quan hệ giữa nhà nước với công dân được thể
hiện cụ thể trong mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ. Nhà nước có nghĩa vụ với
công dân đồng thời có những quyền theo quy định của pháp luật để thực thi công
quyền mà nhân dân giao phó; ngược lại công dân vừa có quy ền, đ ồng th ời có nghĩa
vụ công dân đối với nhà nước. Người viết: “nhưng khi dân dùng đ ầy t ớ đ ể b ảo v ệ
cho mình thì phải giúp đỡ, nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình không có
nghĩa là chửi”(6). Trên tinh thần đó, Hiến pháp năm 1992 của Nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam có những quy định rất cụ thể về quyền hạn và trách nhiệm của
các cơ quan trong bộ máy nhà nước, đồng thời cũng dành toàn b ộ Ch ương V v ới 34
điều (từ Điều 49 đến Điều 82) quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Đối với cán bộ, đảng viên, nhân viên nhà nước, Người gọi đó là “công bộc”(7)
của dân, cách gọi ấy thật là dân dã mà sâu sắc. Trong buổi đ ầu thành l ập chính
quyền, khi thuyết phục cụ Huỳnh Thúc Kháng ra làm Bộ trưởng B ộ Nội vụ, Ch ủ
tịch Hồ Chí Minh đã tâm sự với cụ Huỳnh Thúc Kháng: “… Khi x ưa làm quan là
hưởng đỉnh chung, bây giờ chúng ta làm việc cho dân, cho nước gọi là công b ộc”(8).
Khi Quốc hội tín nhiệm bầu Người làm Ch ủ tịch nước - ng ười đứng đ ầu Chính
phủ, Người trả lời các nhà báo: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú
quý chút nào. Bây giờ gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào u ỷ thác thì tôi ph ải
gắng làm, cũng như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận”(9).
Người căm ghét thói cậy quyền, cậy thế, chia rẽ, kiêu ngạo, tham ô, lãng phí, quan
liêu, móc ngoặc, tham nhũng… vì nó “là kẻ thù của nhân dân, của dân tộc, của
Chính phủ. Nó là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm súng, nó nằm trong
tổ chức của ta, nó là giặc nội xâm để làm hỏng công việc của ta”(10).
Người dạy: “Cơm của chúng ta ăn, áo của chúng ta mặc, vật li ệu chúng ta
dùng đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta ph ải đ ền ơn
xứng đáng cho nhân dân. Chớ vác mặt làm quan cách mạng để dân ghét, dân khinh,
dân không ủng hộ”(11). Điều đó không những khẳng định: Hồ Chí Minh là nhà l ập
pháp mà còn chứng tỏ Người rất coi trọng xây dựng hệ thống pháp luật tạo hành
lang pháp lý cho mọi hoạt động của nhà nước ta trong sự nghi ệp kháng chi ến và
kiến quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất cương quy ết với những hành vi vi ph ạm
pháp luật và trừng trị nghiêm khắc những kẻ phạm tội, dù người đó ở cương vị nào.
Trong trả lời chất vấn của Quốc hội vào năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:
“Chính phủ hết sức làm gương, nếu làm gương không xong thì sẽ dùng pháp lu ật
mà trị những kẻ hối lộ, đã trừng trị, đang trừng trị và sẽ trừng trị cho kỳ hết”(12).
Hồ Chủ tịch đã bác đơn xin ân xá giảm án tử hình của nhi ều k ẻ ph ạm t ội đ ặc bi ệt
nghiêm trọng, dù đó là cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước; Người cho rằng:
“Không dùng xử phạt cũng là không đúng, song việc gì cũng dùng đ ến xử ph ạt cũng
không đúng”(13).
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, có luật pháp cũng chưa đủ, điều quan trọng là
pháp luật của nhà nước phải đi vào cuộc sống, phải trở thành hoạt động t ự giác c ủa
mỗi người trong xã hội, vì: công bố luật chưa phải đã là xong, ph ải tuyên truy ền,
giáo dục lâu dài.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc xây dựng, ban hành, th ực thi pháp
luật trong hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời Người không bao gi ờ xem
nhẹ các hình thức, biện pháp khác, nhất là trong vận động tổ chức quần chúng,
trong việc tuyên truyền giáo dục, việc nêu gương trước quần chúng của đội ngũ cán
bộ đảng viên, đặc biệt là việc giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân t ộc và đ ạo
đức cách mạng, bởi tác dụng lớn lao của nó đối với hoạt đ ộng qu ản lý c ủa nhà
nước và thực hiện quyền dân chủ của công dân. Cuộc đời của Ch ủ t ịch H ồ Chí
Minh là tấm gương mẫu mực về chấp hành pháp luật, về đạo đức, phong cách mà
chúng ta mãi mãi học tập, noi theo.
Về vấn đề đảng cầm quyền và lãnh đạo nhà nước kiểu mới, ngay t ừ năm
1925 trong tác phẩm “Đường Kách mệnh” khi đề cập đến mô hình nhà nước trong
tương lai và nhiệm vụ của nó, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đảng Cộng sản cầm
quyền, tổ chức ra Chính phủ công - nông - binh, phát đ ất cho dân cày, giao công
xưởng cho thợ thuyền… ra sức tổ chức kinh tế mới để thực hành thế giới đại
đồng”(14). Đến trước khi vĩnh biệt đồng bào, đồng chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn
căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán b ộ ph ải th ực s ự
thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần kiệm, liêm, chính, chí công vô t ư.
Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là ng ười
đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(15).
Như vậy, tư tưởng về Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo chính quy ền là tư
tưởng nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt đ ộng cách
mạng khi đất nước chưa giành được chính quyền cũng như khi có chính quy ền dân
chủ nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở các tổ chức đảng và đảng
viên: Đảng cầm quyền chứ không phải đảng trị, mọi cán bộ đảng viên của Đảng
phải biết tôn trọng nhà nước dân chủ nhân dân, gương mẫu chấp hành Hiến pháp và
pháp luật của nhà nước.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước đã được thể ch ế hoá trong Hi ến
pháp - Đạo luật cơ bản của Nhà nước ta. Điều 4, Hi ến pháp năm 1992 vi ết: “Đ ảng
Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Vi ệt Nam, đ ại bi ểu
trung thành cho quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao đ ộng và c ủa c ả dân
tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là lực l ượng lãnh đ ạo
nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp
và pháp luật”. Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng
4/2006) cũng đánh giá những thành tựu rất quan trọng đạt được trong đ ường l ối đ ổi
mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước
ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Qua 78 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam,
Đảng ta ngày càng tích luỹ thêm nhiều kinh nghiệm; nhận th ức ngày càng sáng tỏ
hơn, sâu sắc hơn về một đảng cầm quyền và con đường đi lên chủ nghĩa xã h ội ở
nước ta; giữ vững bản chất cách mạng và khoa h ọc, trung thành v ới giai c ấp và dân
tộc, kiên định trước mọi thách thức, vững vàng lãnh đạo sự nghiệp cách m ạng n ước
ta. Vận dụng sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng đã không ngừng
đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo và
sức chiến đấu của Đảng, phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước, tích
cực, chủ động sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn th ể nhân dân. Đ ảng không
làm thay các cơ quan nhà nước, bảo đảm hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và
pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Song điều quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự lãnh đạo của Đảng đối với
nhà nước và xã hội là ở chỗ: ngoài lợi ích của dân tộc và giai cấp, Đảng không có
lợi ích nào khác, là sự hy sinh phấn đấu của Đảng suốt hành trình 78 năm qua vì
mục tiêu độc lập dân tộc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân ch ủ văn minh
theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã l ựa ch ọn,
được nhân dân và toàn dân tộc thừa nhận. Trong công cuộc đổi m ới hiện nay, cùng
với tiến trình phát triển của cách mạng, nội dung, ph ương thức lãnh đ ạo c ủa Đ ảng
đối với nhà nước pháp quyền ngày càng phát triển, được cụ thể hoá trong nhi ều
Nghị quyết của Đảng, trong các hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước.
Đương nhiên, như Đảng ta khẳng định, để không ngừng nâng cao hi ệu l ực
lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong tình hình m ới, Đ ảng cũng không ng ừng
tự chỉnh đốn và đổi mới cho ngang tầm với yêu cầu lãnh đạo c ủa th ời kỳ m ới - th ời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong sự nghiệp xây dựng và b ảo v ệ T ổ
quốc như tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X c ủa Đ ảng đã
đề ra./.
____________________________________________________________

Ghi chú:
Từ (1) đến (14) Hồ Chí Minh toàn tập (1995), t ập 4, 5, 6, Nxb Chính tr ị Qu ốc
gia, Hà Nội, Tr.247, 346, Tr 201- 410, Tr.161, 162.
(15) Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969).
“TRUNG VỚI NƯỚC, HIẾU VỚI DÂN” -
MỘT SÁNG TẠO ĐỘC ĐÁO CỦA TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI
THƯỢNG TÁ. NGUYỄN VĂN TÙNG
Học viện Chính trị Quân sự



M ột trong những tư tưởng nhân văn đặc sắc trong di sản tư tưởng quân sự của
Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng về xây dựng bản chất giai cấp của quân
đội kiểu mới - quân đội nhân dân cách mạng của dân, do dân, vì dân luôn “trung v ới
nước, hiếu với dân”. Đây là nét độc đáo và sáng tạo trong xây dựng bản ch ất quân
đội kiểu mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh; là tư tưởng chỉ đạo, xuyên suốt toàn b ộ
quá trình xây dựng, bồi dưỡng bản chất, truyền thống quân đội của Người; là một
trong những yếu tố quan trọng, quyết định sự trưởng thành, sức mạnh chi ến đ ấu và
chiến thắng của quân đội ta ở mọi giai đoạn cách mạng.
Về lý luận, trước hết, đây là sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết
Mác - Lê-nin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN) và xây dựng lực lượng
vũ trang cách mạng, về tính giai cấp của quân đội và xây dựng bản chất giai c ấp
của quân đội. Đây là loại hình quân đội kiểu mới phù h ợp v ới đi ều ki ện Vi ệt Nam,
quân đội mang tính nhân dân cách mạng, quân đội XHCN mang bản ch ất giai c ấp
công nhân, quân đội của dân, do dân, vì dân, phục vụ lợi ích c ủa nhân dân lao đ ộng.
Quân đội đó hoàn toàn khác về chất so với quân đội c ủa các giai c ấp khác. N ếu xét
về bản chất giai cấp thì điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của ch ủ nghĩa
Mác - Lê-nin, phù hợp với đặc thù Việt Nam, m ột dân tộc ph ương Đông, đ ất không
rộng, người không đông, lạc hậu về kinh tế nhưng phải đối phó v ới k ẻ thù l ớn h ơn
gấp nhiều lần, luôn phải “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít đ ịch nhi ều”. Vì th ế, n ếu không
dựa vào dân, không phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân s ẽ không b ảo v ệ
được đất nước trước hoạ xâm lăng; lịch sử thất bại trong quá trình gi ữ nước c ủa
các triều đại phong kiến Việt Nam đã chứng minh điều này. Trên c ơ s ở ph ương
pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng, kế thừa đặc điểm truy ền thống
dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa nội dung mới vào quan niệm tính nhân dân
cách mạng, luôn đặt nhân dân lên trên hết. Người luôn coi sự thống nh ất giữa tính
nhân dân, tính cách mạng không chỉ là phương pháp luận mà chủ yếu là m ột n ội
dung chiến lược trong xây dựng quân đội kiểu mới, không ch ỉ là vấn đ ề quân s ự mà
còn quan hệ đến sự thành bại của cách mạng. Từ quan điểm đúng đắn trên, Ch ủ
tịch Hồ Chí Minh luôn đặt quan điểm nhân dân cách mạng là quan điểm mang tính
bao trùm xuyên suốt trong quá trình chỉ đạo bồi dưỡng, xây d ựng b ản ch ất giai c ấp
cho quân đội. Trong mọi thời điểm cách mạng, Người luôn căn dặn: “Quân đ ội ta là
quân đội của nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của nhân dân. Đánh giặc để tranh
lại độc lập thống nhất cho tổ quốc, để bảo vệ tự do hạnh phúc của nhân dân. Ngoài
lợi ích của nhân dân, quân đội ta không còn lợi ích nào khác”(1). Nh ư v ậy, b ản ch ất
giai cấp công nhân được hoà quyện nhuần nhuyễn trong tính nhân dân cách mạng,
thông qua mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội và được bi ểu hiện ở giá tr ị
nhân văn sâu sắc của quân đội kiểu mới. Đây là nét độc đáo, sáng t ạo trong v ận
dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kế thừa truyền thống dân tộc vào xây d ựng
bản chất giai cấp của quân đội kiểu mới, phản ánh tính nhân văn đặc sắc trong di
sản tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.
Thứ hai, trên cơ sở lý luận Mác - Lê-nin, kế thừa truyền thống dân tộc, xuất
phát từ vị trí vai trò của cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát tri ển
đến đỉnh cao tinh hoa văn hoá phương Đông vào xây dựng bản ch ất giai c ấp c ủa
quân đội và giáo dục rèn luyện đội ngũ cán bộ quân đội, c ụ th ể hoá quan đi ểm nhân
dân cách mạng bằng tư tưởng “trung với nước, hiếu với dân”.
Trong hệ thống triết học và văn hoá phương Đông thì tư tưởng Nho giáo có
ảnh hưởng sâu sắc nhất đến tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng th ời là c ơ s ở
trực tiếp để Người kế thừa, vận dụng trong xây dựng bản chất giai cấp của quân
đội cũng như xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân đội.
Kế thừa, tiếp thu những nét tinh tuý nhất của Nho giáo trong m ối quan h ệ
biện chứng giữa con người với gia đình và xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận
dụng một cách sáng tạo vào quá trình xây dựng quân đội, mà trước h ết là b ồi
dưỡng, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ quân đội trong điều kiện lịch sử m ới.
Triết lý “trung với vua, hiếu với cha mẹ” trong luân lý nho giáo th ời phong ki ến đã
được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển sáng tạo, nâng lên đ ến đ ỉnh cao thành “trung
với nước, hiếu với dân” trong phương châm chỉ đạo xây dựng quân đội nhân dân
cách mạng, xây dựng nhà trường quân sự và bồi dưỡng rèn luyện đội ngũ cán bộ
quân đội thời đại mới.
Như vậy, xét về nguồn gốc lý luận “trung với nước, hiếu v ới dân” là k ết qu ả
của sự kết thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo phương pháp luận mác-xít, nét tinh
tuý trong tư tưởng nho giáo vào đặc thù dân t ộc Việt Nam; là k ết tinh truy ền th ống
tốt đẹp hàng nghìn năm của dân tộc ta; là sự khái quát, cô đọng nh ất b ản ch ất cách
mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam, mà cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là s ự
tập trung và thể hiện sáng ngời tinh hoa ấy. “Trung với nước, hi ếu với dân” tr ở
thành niềm tự hào, nguồn gốc sức mạnh, động lực tinh thần tạo nên mọi chi ến
thắng, xây dựng nên bản chất, truyền thống quân đội.
Về thực tiễn, quá trình xây dựng quân đội cũng như xây dựng nhà trường quân
sự, bồi dưỡng rèn luyện đội ngũ cán bộ quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh th ường
xuyên quan tâm chăm lo giáo dục xây dựng bản chất nhân dân cách mạng, bồi
dưỡng, thấm nhuần sâu sắc tư tưởng “trung với nước, hiếu với dân” cho quân đ ội,
mà trước hết cho đội ngũ cán bộ quân đội, coi đó là n ội dung c ốt lõi nh ất trong
phẩm chất, nhân cách, đạo đức cách mạng của người cán bộ. Đây là cơ sở, nguồn
gốc sức mạnh, là một điều kiện có ý nghĩa quyết định làm nên m ọi chi ến th ắng c ủa
quân đội. Quan điểm nhân dân cách mạng và tư tưởng “trung với nước, hiếu với
dân” trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình lãnh đạo, ch ỉ đạo xây dựng
quân đội, nhà trường quân đội và bồi dưỡng rèn luy ện đội ngũ cán b ộ quân đ ội c ủa
Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong thực tiễn cách mạng, thấy rõ vị trí, vai trò quan trọng của cán bộ, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm việc chăm lo giáo dục, huấn luy ện, đào t ạo đ ội
ngũ cán bộ của lực lượng vũ trang. Trường đào tạo cán bộ đầu tiên của quân đội
được thành lập ngày 15/4/1945, mở ra bước ngoặt mới trong quá trình xây dựng, bồi
dưỡng bản chất giai cấp, quan điểm nhân dân cho quân đội và đ ội ngũ cán b ộ quân
đội.
Ngay sau khi mở trường bảy tháng, khi đến thăm và dự lễ bế giảng khoá 5
(tháng 11/1945), Người đã căn dặn: “Anh em phải làm sao cho dân yêu, dân m ến.
Phải nhớ rằng dân là chủ, dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là ở dân
hết. Phải làm sao cho dân mến, khi sắp tới thì dân mong, khi đi thì dân ti ếc, ch ớ vác
mặt làm quan cách mạng cho dân ghét, dân không ủng hộ”(2). Nh ờ quán tri ệt và
thấm nhuần sâu sắc lời dặn của Người trong quá trình th ực hiện nhi ệm vụ mà quân
đội nói chung, nhà trường quân sự nói riêng luôn nhận được sự ủng h ộ, giúp đ ỡ v ề
mọi mặt của nhân dân; đồng thời xây dựng tốt mối đoàn kết “quân dân cá nước”,
đặt nền móng ban đầu cho quá trình xây dựng truyền thống đoàn kết quân dân sau
này. Đây là một trong những yếu tố rất quan trọng, góp phần quyết định đảm bảo
cho quân đội luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Ngày 26/5/1946, khi đến dự
lễ khai giảng khoá 8 (Khoá 1, Võ bị Trần Quốc Tuấn) khoá dài hạn đầu tiên, Ch ủ
tịch Hồ Chí Minh đã tận tay trao tặng nhà trường lá cờ thêu sáu chữ vàng: “Trung
với nước, hiếu với dân”, đồng thời căn dặn cán bộ, học viên: “Trung với nước, hiếu
với dân là bổn phận thiêng liêng, một trách nhi ệm nặng n ề nh ưng cũng là m ột vinh
dự của người chiến sỹ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”(3).
Trao cờ và căn dặn “trung với nước, hiếu với dân”, Người muốn truyền tinh
hoa đó cho nhà trường và trao trách nhiệm nặng nề, chỉ rõ vinh dự cao quý cho cán
bộ, giáo viên và học viên là phải suốt đời vì dân mà h ọc t ập, chi ến đ ấu và công tác.
Trong thực tiễn, “trung với nước, hiếu với dân” đã trở thành mục tiêu lý t ưởng cao
quý, tình cảm, niềm tin cách mạng của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội. Quá
trình học tập, rèn luyện trong nhà trường các thế hệ h ọc viên luôn đ ược truy ền th ụ
và thấm nhuần tư tưởng cao quý ấy của Người; khi ra trường vận dụng, phổ biến
rộng rãi trong thực tiễn chiến đấu, công tác qua các th ời kỳ cách m ạng. Các cu ộc
kháng chiến đã tôi luyện bản lĩnh, chí khí “trung với nước, hiếu v ới dân” c ủa các
thế hệ cán bộ quân đội - lực lượng nòng cốt quyết định sự trưởng thành, s ức mạnh
chiến đấu và chiến thắng của quân đội. Chiến thắng oanh liệt của hai cuộc kháng
chiến chống Pháp, chống Mỹ là những bằng chứng lịch sử hùng h ồn chứng minh
cho sức mạnh vĩ đại của cả dân tộc, cho sự lớn mạnh, sức mạnh vô địch và kh ả
năng chiến thắng bất kỳ kẻ thù xâm lược nào của một quân đội nhân dân cách mạng
luôn “trung với nước, hiếu với dân”. Biết bao tấm gương của các anh hùng, liệt sĩ
đã anh dũng hy sinh, cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp cách mạng vì độc lập dân
tộc để các thế hệ Việt Nam noi theo. Đó chính là biểu hiện cao nh ất và chói sáng
nhất cho tinh thần “trung với nước, hiếu với dân”; đồng thời góp phần xây đắp và
tô thắm nên truyền thống “trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chi ến đ ấu hy sinh
vì độc lập tự do của Tổ quốc vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành,
khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” của Quân đội nhân dân
Việt Nam.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, quân đội ta có nhiệm vụ h ết sức nặng
nề nhằm thực hiện chức năng của mình trong điều kiện, hoàn cảnh mới. Bởi vậy,
hơn lúc nào hết, mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, cán bộ, giáo viên, h ọc viên
trong nhà trường quân đội phải luôn giữ vững và phát huy bản ch ất truy ền th ống
“trung với nước, hiếu với dân”; luôn xứng đáng là đội quân cách mạng, lực lượng
chính trị tin cậy, lực lượng vũ trang sắc bén có sức chiến đấu cao, sẵn sàng đánh bại
mọi âm mưu, thủ đoạn mới của kẻ thù, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm
vụ được giao; luôn thực sự là quân đội nhân dân cách mạng c ủa dân, do dân, vì dân,
xứng đáng với truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, “trung với nước, hiếu với dân”./.
____________________________________________________________

Ghi chú:
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, NXB Chính trị Quốc gia, H.1996, Tr.426.
(2) Lịch sử Trường Sỹ quan Lục quân 1, Nxb Quân đội nhân dân, H.2005, Tr.36.
(3) Sđd, Tr.45
CÁI CÁCH HÀNH CHÍNH

TĂNG CƯỜNG CƠ CHẾ TỰ CHỦ ĐỐI VỚI
CÁC ĐƠN VỊ CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG
PGS. TS. LÊ CHI MAI
Học viện Hành chính

1. Dịch vụ công và nét đặc thù trong cung ứng dịch vụ công.
Trong suốt thời kỳ dài, chúng ta áp dụng một cơ chế quản lý chung cho t ất c ả
các cơ quan, đơn vị thuộc nhà nước, từ các cơ quan hành chính đến các đơn vị sự
nghiệp trực thuộc các bộ ngành, địa phương. Cơ chế đó thích ứng trong th ời kỳ bao
cấp, khi toàn bộ hoạt động của các tổ chức này đều sử dụng kinh phí từ ngân sách
nhà nước (NSNN) và hoạt động theo cách thức “xin - cho”.
Cùng với sự phát tri ển c ủa kinh t ế th ị tr ường, nhu c ầu c ủa các t ổ ch ức và
công dân ngày càng tr ở nên đa d ạng, đ ặc bi ệt nhu c ầu v ề các d ịch v ụ ph ục v ụ
trực tiếp nhu cầu thi ết y ếu c ủa các t ổ ch ức và cá nhân phát tri ển phong phú và
lớn hơn nhiều. Trong nh ận th ức cũng nh ư trên th ực t ế, xu ất hi ện s ự tách bi ệt
giữa hoạt động quản lý nhà nước với ho ạt đ ộng cung ứng các d ịch v ụ ph ục v ụ
trực tiếp cho xã h ội (mà chúng ta g ọi là d ịch v ụ công). Theo nghĩa r ộng, d ịch v ụ
công là toàn bộ các hàng hóa, d ịch v ụ mà Chính ph ủ can thi ệp vào vi ệc cung c ấp
nhằm mục tiêu hiệu qu ả, công b ằng và ổn đ ịnh.
Ở Việt Nam, khái niệm dịch vụ công được hiểu phổ biến theo nghĩa h ẹp h ơn
- đó là các hàng hóa, dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu c ầu c ủa các t ổ ch ức và công dân
mà Chính phủ can thiệp vào việc cung ứng nhằm mục tiêu hiệu qu ả, công b ằng và
ổn định. Cụ thể hơn, dịch vụ công là những hoạt động phục vụ trực ti ếp các l ợi ích
chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ ch ức và công dân do nhà
nước chịu trách nhiệm bảo đảm cung ứng cho xã hội.
Điểm khác biệt cơ bản gi ữa ho ạt đ ộng qu ản lý nhà n ước v ới ho ạt đ ộng
cung ứng các dịch vụ công nói trên là m ức đ ộ tác đ ộng tr ực ti ếp c ủa các ho ạt
động này tới lợi ích c ủa các t ổ ch ức, cá nhân và m ức đ ộ s ử d ụng th ẩm quy ền nhà
nướ c trong các hoạt động đó. Qu ản lý nhà n ước là ch ức năng c ủa các c ơ quan
công quy ền, sử dụng quy ền l ực nhà n ước đ ể ti ến hành các ho ạt đ ộng, là vi ệc ban
hành, tổ chức và giám sát th ực thi các quy ết đ ịnh qu ản lý nhà n ước. Đ ầu ra c ủa
hoạt động quản lý nhà nước h ướng t ới các m ục tiêu chung c ủa Nhà n ước, thông
qua đó tác động gián ti ếp đ ến các t ổ ch ức và cá nhân, mà không tr ực ti ếp tác đ ộng
đến lợi ích của các tổ chức và cá nhân. Xét v ề m ặt tài chính, các ho ạt đ ộng qu ản
lý nhà nước dựa vào nguồn l ực NSNN và không t ạo ra đ ược các ngu ồn thu khác,
bởi vì các hoạt động này không th ể chia thành các kh ẩu ph ần cho m ỗi ng ười tiêu
dùng (không có tính c ạnh tranh) và không lo ại tr ừ ai.
Trong khi đó, hoạt động cung ứng dịch vụ công đáp ứng trực ti ếp các nhu c ầu
thiết yếu hàng ngày của các tổ chức và từng cá nhân. Trừ một số ít dịch vụ mang
tính chất hàng hóa công cộng thuần túy mà nhà nước tài trợ hoàn toàn từ NSNN, hầu
hết các dịch vụ này có khả năng tạo ra nguồn thu thông qua phí, hoặc giá c ả d ịch v ụ
tuỳ thuộc vào tính chất của mỗi loại dịch vụ. Những dịch vụ có thể thu tiền thông
qua phí hoặc giá cả dịch vụ là những dịch vụ không đòi h ỏi s ử d ụng quy ền l ực nhà
nước cũng như nguồn lực từ NSNN để triển khai và do đó các ch ủ th ể ngoài nhà
nước có thể tham gia vào việc cung ứng. Từ các đặc điểm trên cho thấy, có thể thực
hiện cơ chế quản lý đối với các đơn vị cung ứng dịch vụ công của Nhà nước theo
hướng tăng cường quyền tự chủ của các đơn vị đó để thu hút sự tham gia của xã hội
và mở rộng cung ứng dịch vụ công.
2. Một số kết quả đổi mới cơ chế quản lý đối với các đơn vị cung ứng dịch vụ
công
Thời gian qua, Chính phủ đã từng bước đổi mới cơ chế quản lý đối với các
đơn vị cung ứng dịch vụ công. Do hoạt động của các đơn v ị cung ứng dịch v ụ công
được chia thành ba loại tương ứng với ba loại dịch vụ công (dịch vụ hành chính
công, dịch vụ sự nghiệp công và dịch vụ công ích), nên cơ ch ế quản lý c ủa m ỗi lo ại
hình đơn vị cung ứng dịch vụ công có những đặc thù riêng. Các c ơ quan hành chính
nhà nước cung ứng dịch vụ hành chính được đổi mới cơ ch ế hoạt động theo h ướng
mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ kinh phí do NSNN c ấp.
Các đơn vị sự nghiệp công lập có cơ chế quản lý với mức độ tự chủ lớn hơn nếu tự
bảo đảm được một phần hay toàn bộ chi phí thường xuyên. Các c ơ sở cung ứng
dịch vụ công ích hoạt động theo Luật doanh nghiệp, với nguồn kinh phí được cấp
theo kế hoạch, đặt hàng hoặc đấu thầu từ NSNN.
Nhìn chung, cơ chế quản lý mới đối với các đơn vị cung ứng d ịch v ụ công đã
trao quyền tự chủ cho các đơn vị này trên các mặt sau:
Thứ nhất, đơn vị có quy ền tự ch ủ lớn h ơn trong vi ệc xác đ ịnh t ổ ch ức b ộ
máy và nhân sự phù h ợp với ch ức năng, nhi ệm v ụ đ ược giao. Đ ơn v ị xác đ ịnh rõ
chức năng, nhi ệm v ụ c ủa các phòng ban, b ộ ph ận tr ực thu ộc; b ố trí h ợp lý lao
động, phân công nhi ệm v ụ cho t ừng cán b ộ, công ch ức ho ặc ng ười lao đ ộng, trên
cơ sở đó xác định số biên ch ế h ợp lý, tinh gi ản nh ững lao đ ộng d ư th ừa ho ặc làm
việc không có hi ệu qu ả.
Thứ hai, đơn vị được chủ động hơn trong quản lý và tổ chức th ực hiện nhi ệm
vụ được giao. Các đơn vị sự nghiệp được quyền liên doanh liên k ết, h ợp đ ồng cung
cấp dịch vụ… nhờ đó góp phần đa dạng hoá các hoạt động cung ứng dịch vụ. Các
doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công ích, bên cạnh các hoạt động công ích theo kế
hoạch, đặt hàng hoặc đấu thầu của Nhà nước, có quy ền tổ chức hoạt đ ộng kinh
doanh thêm phù hợp với khả năng của doanh nghiệp và nhu cầu của thị trường.
Thứ ba, đơn vị được trao quyền lớn hơn trong quản lý tài chính, th ủ trưởng
đơn vị được quyết định các khoản thu và nhiệm vụ chi đối với ph ần kinh phí đ ược
giao tự chủ. Các đơn vị sự nghiệp, đơn vị công ích được quyền thu các khoản từ
liên doanh, liên kết, cung ứng dịch vụ ngoài nhiệm vụ được nhà nước giao hoặc đ ặt
hàng, nhờ đó đã khai thác được các nguồn thu để tăng khả năng cung ứng dịch vụ.
Trong phần kinh phí được giao tự chủ, thủ trưởng đơn vị được quyết định chi vào
các nội dung hoạt động theo thứ tự ưu tiên của đơn vị; được chuyển từ nội dung chi
này sang nội dung chi khác cần thiết hơn; được quyết định các định mức chi tiêu
trong khuôn khổ cho phép, trong đó các đơn vị sự nghiệp có thu và đơn v ị ho ạt đ ộng
công ích được quyết định mức chi theo cơ chế thị trường.
Thứ tư, với phần kinh phí dôi ra sau khi trang trải các chi phí hoạt đ ộng và
trích lập các quỹ theo quy định, các đơn vị này được sử dụng để tăng thêm thu nh ập
cho người lao động. Mức tăng thu nhập này không giới hạn đối với các đ ơn v ị t ự
bảo đảm toàn bộ kinh phí chi thường xuyên, còn đối với các đơn v ị không có ngu ồn
thu (được ngân sách bảo đảm toàn bộ chi phí) vẫn có th ể tăng thu nh ập t ừ kinh phí
tiết kiệm được với mức cho phép là gấp 2 lần quỹ lương của đơn vị. Đơn vị hoạt
động công ích thực hiện hạch toán thu chi, và đ ược t ự ch ủ s ử dụng l ợi nhu ận (n ếu
có) để trích lập các quỹ và tăng thu nhập cho người lao động theo Luật Doanh
nghiệp.
Thứ năm, việc chi trả thu nhập cho người lao động được thực hiện dựa vào
mức độ đóng góp của mỗi người. Để bảo đảm xác định đúng m ức s ự đóng góp c ủa
mỗi cá nhân, các đơn vị cung ứng dịch vụ công đã tổ chức đánh giá cán bộ, công
chức và người lao động một cách công khai, chặt chẽ hơn và bước đầu đ ổi mới
phương thức đánh giá dựa trên đóng góp thực tế của mỗi người.
Những đổi mới nói trên đã tạo ra một sức sống mới cho các đơn vị cung ứng
dịch vụ công, góp phần đa dạng hoá các hoạt động cung ứng dịch v ụ, mở rộng cung
ứng cả về số lượng, địa bàn, số cơ sở cung ứng và nâng cao chất lượng dịch vụ đáp
ứng nhu cầu ngày càng lớn của các tổ chức và cá nhân.
Tuy nhiên, việc đổi mới cơ chế quản lý đối với các đơn vị cung ứng dịch vụ
công mới đang ở giai đoạn ban đầu, phần nào phản ánh mức độ và năng lực quản lý
cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Có thể nêu lên 3 vấn đề cơ bản đang đặt ra hiện nay là:
-Sự tự chủ của đơn vị cung ứng d ịch v ụ công ch ủ y ếu m ới gi ới h ạn trong
phạm vi trách nhi ệm và quy ền h ạn c ủa đ ơn v ị do c ấp trên quy đ ịnh. Cho đ ến nay,
các cơ quan cấp trên v ẫn có xu h ướng chi ph ối ho ạt đ ộng c ủa các đ ơn v ị tr ực
tiếp cung ứng dịch vụ công. Các đ ơn v ị cung ứng d ịch v ụ công còn b ị ràng bu ộc
về nhiều mặt như tổ chức, nhân s ự, th ẩm quy ền qu ản lý và cung ứng d ịch v ụ
công, các quy đ ịnh v ề tài chính…
- Mức độ tự chủ của các đơn vị cung ứng dịch vụ công là khác nhau tuỳ thu ộc
vào nguồn thu của đơn vị. Điều này là vô lý, bởi vì:
+ Xét về nguyên tắc, khoản thu ngoài nguồn NSNN từ trên rót xuống (các lo ại
phí, lệ phí) thực chất cũng là khoản thu của NSNN, ch ỉ có đi ều kho ản thu này do
đơn vị trực tiếp thu và được phép giữ lại để chi tiêu.
+ Việc trao quyền tự chủ phụ thuộc vào việc đơn vị có khả năng tạo ra nguồn
thu ngoài NSNN từ trên “rót” xuống sẽ dẫn đến chỗ các đơn vị có lợi th ế về lo ại
hình dịch vụ công do đơn vị cung ứng, địa bàn cung ứng, năng lực sẵn có để cung
ứng dịch vụ sẽ có lợi hơn các đơn vị không có các ưu thế trên.
-Thiếu các tiêu chí đánh giá các kết quả đầu ra t ương ứng v ới m ức đ ộ t ự ch ủ
của đơn vị. Một khi trao cho đơn vị sự tự chủ lớn hơn nhưng không xác định các
đầu ra tương ứng phải đạt được sẽ dẫn đến chỗ một số đơn vị có thể lạm dụng
quyền tự chủ để mưu lợi ích cá nhân, cục bộ mà không quan tâm đến số lượng và
chất lượng dịch vụ cung ứng cho xã hội.
3. Các gi ải pháp tăng c ường quy ền t ự ch ủ đ ối v ới các đ ơn v ị cung
ứng dịch vụ công
Trước những đòi hỏi ngày càng cao của xã hội về dịch vụ công và những thay
đổi của môi trường kinh tế, việc tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý đối với các đơn vị
này là hết sức cần thiết. Sự đổi mới này ph ải tập trung vào nh ững n ội dung c ơ b ản
như sau:
Một là, tăng cường phân c ấp qu ản lý cho các đ ơn v ị cung ứng d ịch v ụ công.
Vấn đề này được tiến hành tuỳ thu ộc vào t ừng lo ại hình d ịch v ụ, tuy nhiên ph ải
trên nguyên t ắc chung là: cái gì c ấp d ưới (đ ơn v ị tr ực ti ếp cung ứng d ịch v ụ công)
có thể làm tốt hơn và nhanh h ơn đ ể đáp ứng nhu c ầu c ủa các t ổ ch ức và công dân
thì phân cấp cho đơn vị đó làm. Các đ ơn v ị cung ứng d ịch v ụ công là các t ổ ch ức
gần người dân nh ất và n ắm b ắt đ ược các yêu c ầu c ụ th ể c ủa dân. Vi ệc đ ược
phân cấp đầy đủ trong cung ứng d ịch v ụ công s ẽ t ạo quy ền t ự ch ủ cao h ơn trong
việc đáp ứng nhanh chóng và linh ho ạt các yêu c ầu; đ ồng th ời góp ph ần nâng cao
trách nhiệm của họ trước công dân cũng nh ư tr ước các c ơ quan c ấp trên v ề ch ất
lượ ng và số lượng dịch vụ.
Hai là, sự tự chủ phải bao gồm đồng bộ các yếu tố có quan hệ hữu cơ với
nhau trong quá trình hoạt động của đơn vị. Nếu quyền tự chủ không được giao đồng
bộ đối với các yếu tố nêu trên sẽ dẫn đến chỗ các quy ền này h ạn ch ế lẫn nhau và
không phát huy tác dụng. Chẳng hạn, việc giao quyền tự chủ về thực hiện nhiệm
vụ phải gắn với tự chủ về tổ chức, nhân sự, đồng thời các quyền tự chủ đó phải
tương ứng với mức độ tự chủ về tài chính của đơn vị. Đặc biệt, các đơn vị cung
ứng dịch vụ công phải thực hiện hạch toán thu chi và tính toán hiệu quả sử d ụng
nguồn lực, bất kể đơn vị đó có nguồn thu từ đâu. Quyền tự chủ về tài chính là cơ sở
vật chất để bảo đảm việc thực hiện trên thực tế các mặt tự chủ khác của đơn vị,
tạo điều kiện cho các đơn vị này chủ động cung cấp dịch vụ công m ột cách linh
hoạt theo nhu cầu của xã hội.
Ba là, mức độ tự chủ của các đơn vị cung ứng dịch vụ công chỉ nên khác nhau
căn cứ vào loại hình dịch vụ công được cung cấp mà không nên căn cứ vào nguồn
thu ngoài NSNN được giao từ trên.
Việc trao quyền tự chủ nên căn cứ vào loại hình dịch v ụ công do đ ơn v ị cung
ứng, chẳng hạn: các đơn vị cung ứng dịch vụ hành chính công sẽ có ít quy ền tự ch ủ
về tài chính hơn để tránh việc các đơn vị này sử dụng quyền lực nhà nước của mình
để thu tiền vì lợi ích đơn vị hoặc cá nhân. Các đ ơn v ị s ự nghi ệp và công ích có
quyền tự chủ cao hơn vì các dịch vụ này không gắn với việc sử dụng quyền lực nhà
nước; hơn nữa hầu hết các dịch vụ này không mang tính chất hàng hoá công cộng
thuần tuý nên có thể huy động nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia và do đó có
thể thu tiền của người sử dụng. Đương nhiên, tuỳ thuộc vào mức độ dịch vụ công
đó phục vụ các lợi ích thiết yếu như thế nào và s ố ng ười tham gia s ử d ụng d ịch v ụ
mà nhà nước có quy định mức phí hoặc giá cả dịch vụ phù hợp. Còn quy ền tự ch ủ
của các đơn vị cung ứng dịch vụ công này nên được quy định như nhau. Nghị định
43/ 2006/NĐ-CP quy định mức trần thu nhập đối với các đơn v ị s ự nghi ệp công l ập
để ngăn ngừa việc các đơn vị không có thu hoặc thu th ấp l ợi d ụng quy ền t ự ch ủ đ ể
tăng thu nhập lên quá mức(1). Song chúng tôi cho rằng, vi ệc trao quy ền t ự ch ủ nh ư
nhau cho các đơn vị này không dẫn đến chỗ các đơn vị lợi dụng đ ể tuỳ ti ện tăng thu
nhập, bởi lẽ chỉ đơn vị nào huy động được nhiều nguồn thu h ơn thì m ới th ực s ự có
khả năng chi trả thu nhập cao hơn cho người lao động. Trường h ợp đ ơn v ị l ợi d ụng
quyền tự chủ để tăng thu nhập vô căn cứ sẽ bị xử lý nghiêm kh ắc v ề m ặt tài chính
và trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị.
Bốn là, hình thành các tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động c ủa m ỗi đ ơn v ị,
trong đó lưu ý các tiêu chí về hoàn thành nhi ệm v ụ cung ứng d ịch v ụ cho xã h ội v ề
số lượng, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của người dân về dịch vụ đó. Khi các
đơn vị có quyền tự chủ khá cao, các tiêu chí đầu ra là căn c ứ đ ể c ấp trên xem xét v ề
năng lực hoạt động của đơn vị và đòi hỏi có các bi ện pháp c ải cách c ần thi ết. Vi ệc
xác định các tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động của các đơn vị cung ứng dịch vụ
công sẽ gắn quyền hạn với trách nhiệm của các đơn vị này và đòi h ỏi s ự gi ải trình
nghiêm túc của các đơn vị trước nhà nước và trước khách hàng của mình.
Năm là, đổi mới việc chi trả thu nhập cho người lao động trên c ơ s ở đánh giá
đúng đắn sự đóng góp của mỗi người. Mặc dù việc đánh giá người lao động trong
thời gian qua đã có tiến bộ nhất định, song về cơ bản v ẫn ch ưa có các căn c ứ khoa
học và chính xác để đo lường sự đóng góp đó. Vì vậy, tại hầu hết các đơn vị cung
ứng dịch vụ công, việc đánh giá vẫn mang nặng cảm tính và có ph ần cào b ằng.
Việc xây dựng các hệ thống đánh giá công việc dựa trên kết quả thực thi đang là
yêu cầu quan trọng đặt ra ở tất cả các cơ quan, đơn v ị. Tuy nhiên, quá trình này đòi
hỏi đơn vị phải xác định được các kết quả đầu ra, đổi mới quản lý dựa trên kết quả
thực thi và có phương pháp đo lường sự đóng góp của mỗi người vào kết quả của
bộ phận và của toàn đơn vị.
Đồng thời với việc tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý đối với các đơn vị cung
ứng dịch vụ công theo hướng tăng quyền tự chủ cho các đơn vị này, cần mở rộng
quá trình thu hút các thành phần kinh tế khác vào tham gia cung ứng dịch vụ công.
Điều đó sẽ góp phần thúc đẩy các đơn vị cung ứng dịch vụ công của Nhà nước phải
thực sự phát huy năng lực và sức cạnh tranh để bảo đảm cung ứng d ịch vụ công t ốt
hơn cho xã hội. Đối với những đơn vị cung ứng dịch vụ công không đáp ứng được
nhu cầu của xã hội về số lượng, chất lượng, hoạt động không hiệu qu ả so v ới khu
vực tư, thì không nhất thiết phải tiếp tục duy trì sự tồn t ại c ủa chúng mà có th ể đ ể
cho khu vực tư đảm nhận việc cung ứng dịch vụ này. Nhà nước có th ể tr ợ c ấp cho
các đối tượng hưởng thụ dịch vụ hoặc chi phối hoạt động của các cơ sở tư nhân
bằng các quy định cụ thể, nhằm duy trì việc cung ứng dịch v ụ công ổn đ ịnh và b ảo
đảm cho những người được nhà nước bảo trợ có kh ả năng tiếp cận tới các dịch v ụ
công này./.
____________________________________________________________

Ghi chú:

(1) Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế
và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập.
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI SỞ TÀI NGUYÊN
VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC
NGUYỄN VĂN LỘC
Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc



S ở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc là một trong nh ững S ở đi đ ầu trong
công tác cải cách hành chính (CCHC) của tỉnh. Tháng 12/2003, Đề án cải cách
thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế “một cửa” của Sở Tài nguyên và Môi trường
đã được Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh phê duyệt; đầu năm 2004, bộ phận tiếp
nhận hồ sơ và trả kết quả chính th ức đi vào ho ạt đ ộng. Trong quá trình th ực hi ện
cải cách th ủ tục hành chính và th ực hi ện c ơ ch ế “m ột c ửa”, S ở Tài nguyên và
Môi trường đạt được nhi ều ti ến b ộ, g ần 5 năm qua, không ng ừng đ ổi m ới, c ải
tiến lề lối làm việc nh ằm tạo đi ều ki ện thu ận l ợi cho các t ổ ch ức, công dân đ ến
giao dịch nhanh gọn, đúng pháp lu ật, ch ống các bi ểu hi ện tiêu c ực sách nhi ễu,
gây khó khăn phi ền hà.
Về cải cách thể chế: thực hiện Chỉ thị số 32/2006/CT-TTg của Th ủ t ướng
Chính phủ về một số biện pháp cần làm ngay để chấn chỉnh kỷ cương hành chính
giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp, Sở thường xuyên xem xét, rà
soát và kiên quyết bãi bỏ các thủ tục hành chính “con” tự đặt ra mà pháp lu ật không
cho phép, không quy định.
Thực hiện Kế hoạch số 2245/KH-UBND ngày 17/5/2006 của UBND tỉnh, Sở
Tài nguyên và Môi trường tích cực rà soát các văn bản quy ph ạm pháp lu ật và tham
mưu cho Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh bãi bỏ các văn b ản h ết hi ệu l ực, s ửa đ ổi, b ổ
sung những văn bản có nội dung không còn phù hợp quy định của pháp lu ật hoặc
những thủ tục bất hợp lý, phiền hà cho các tổ chức và công dân. Từ năm 2007, Sở
đã tham mưu giúp UBND tỉnh ban hành một số văn bản quản lý theo tinh th ần c ải
cách thủ tục hành chính như: Quyết định về quy định giao đ ất xây d ựng nhà ở, h ạn
mức diện tích ở của hộ gia đình; Quyết định về việc uỷ quy ền cho Giám đ ốc Sở
Tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên đ ịa bàn
tỉnh; Quyết định về việc quy hoạch xây dựng nghĩa trang, nghĩa địa; Quy ết đ ịnh v ề
việc ban hành quy định trách nhiệm quan hệ phối hợp giữa các cấp, các ngành và t ổ
chức, cá nhân trong việc khai thác quản lý nước trên địa bàn; Quyết định thực hiện
bồi thường, đơn giá bồi thường tái định cư khi nhà nước thu hồi đất…
Ngoài ra, Sở tích cực rà soát và kiến nghị sửa đổi, bổ sung nh ững quy đ ịnh
chưa phù hợp về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cấp gi ấy ch ứng nh ận
quyền sử dụng đất, thu hồi đất, về khung giá bồi thường đất, về lĩnh vực môi
trường và đo đạc bản đồ.
Bộ phận “một cửa” được bố trí cán bộ có trình độ chuyên môn vững vàng,
tinh thần trách nhiệm cao. Trong những năm qua, số lượng hồ s ơ qua bộ ph ận “m ột
cửa” rất lớn, chỉ tính từ đầu năm 2007 đến nay, bộ phận đã ti ếp nh ận g ần 2.000 h ồ
sơ. Các hồ sơ đều được hướng dẫn hoàn thiện và xử lý đúng quy trình, h ầu h ết
được trả đúng hạn và trước hạn.
Về cải cách tổ chức bộ máy: thực hiện Nghị định số 13/2008/NĐ-CP của
Chính phủ, Thông tư số 03/2008/TTLT-BTNMT-BNV ngày 15/7/2008 của liên B ộ:
Tài nguyên và Môi trường – Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền h ạn và
cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về tài nguyên và môi tr ường thu ộc UBND
các cấp, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 41/2008/QĐ-UBND ngày 5/9/2008
quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ ch ức của Sở Tài
nguyên và Môi trường. Theo đó, các phòng chuyên môn, các đơn vị sự nghiệp trực
thuộc Sở được kiện toàn, đi vào hoạt động có hiệu quả, tránh s ự ch ồng chéo v ề
nhiệm vụ và phân định rõ trách nhiệm của các đơn vị. Chi cục Quản lý đất đai và
Chi cục Bảo vệ môi trường là hai cơ quan được thành lập để giúp S ở tham m ưu v ề
quản lý nhà nước hai lĩnh vực phức tạp hiện nay.
Về công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công ch ức, viên
chức: Sở đã tiến hành sắp xếp, bố trí cán bộ phù hợp với trình đ ộ, năng l ực chuyên
môn được đào tạo. Định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức theo
quy định. Công tác bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo thực hi ện đúng nguyên t ắc, quy trình,
đảm bảo dân chủ; cán bộ được bổ nhiệm đều có năng lực chuyên môn, tư tưởng,
chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, sau bổ nhiệm đều hoàn thành t ốt
nhiệm vụ được giao. Việc thi tuyển, xét tuyển công chức, viên ch ức th ực hi ện đúng
quy trình, thông báo công khai cơ cấu công chức, viên ch ức cần tuyển trên các
phương tiện thông tin đại chúng. Sau khi được tuyển dụng, hầu hết công ch ức đáp
ứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ. Việc quản lý h ồ sơ, ki ểm tra văn b ằng,
chứng chỉ của cán bộ, công chức được thực hiện chặt chẽ, đúng quy định.
Sở đã chỉ đạo các phòng chuyên môn, đơn vị trực thuộc th ực hiện nghiêm quy
chế văn hoá công sở gắn với việc xét thi đua, khen th ưởng. Trong giờ làm vi ệc,
100% cán bộ, công chức đeo thẻ công chức, trang phục gọn gàng, l ịch s ự, th ực hi ện
nếp sống văn minh nơi công sở…
Về tài chính công: thực hiện Quyết định 192/2001/QĐ-TTg của Th ủ tướng
Chính phủ về việc thực hiện chế độ khoán chi hành chính, Sở đã thành l ập Ban ch ỉ
đạo phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm ch ống lãng phí và th ực hi ện Quy
chế dân chủ ở cơ quan. Vận động cán bộ, công chức th ực hành ti ết ki ệm, xây d ựng
lại định mức chi tiêu đối với chi phí: điện, nước, xăng dầu, văn phòng ph ẩm, h ội
nghị, tiếp khách… từ đó nâng thu nhập cho người lao động bình quân thêm
600.000đ/ người/tháng.
Về điều kiện làm việc: phòng giao dịch “một cửa” thuận tiện ngay tiền sảnh tầng
một với diện tích gần 50 m2, trang bị khá đầy đủ gồm: tủ đựng tài liệu; bàn ghế; máy vi
tính, quạt, điều hoà nhiệt độ, nước uống cho các tổ chức, cá nhân ngồi chờ làm thủ tục.
Các thủ tục hành chính thuộc 4/6 lĩnh vực được thông báo công khai tại vị trí thuận lợi
nhất để công dân, tổ chức có thể tra cứu, thực hiện và giám sát. Ngoài ra, Sở còn đăng
tải công khai trên bản tin Website của ngành nội quy làm việc, hòm thư góp ý, các số
điện thoại đường dây nóng để tạo tiện lợi cho việc giao dịch.
Gần 5 năm thực hiện chương trình tổng thể CCHC nói chung và thực hiện cơ chế
“một cửa” nói riêng, Sở Tài nguyên và Môi trường đã đạt được nhiều tiến bộ, cơ bản
đáp ứng yêu cầu đặt ra cũng như nguyện vọng của tổ chức, cá nhân đến giao dịch, góp
phần quan trọng trong việc thu hút đầu tư trên địa bàn, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã
hội. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện CCHC không phải lúc nào các mục tiêu đặt ra
cũng được giải quyết một cách thấu đáo, đạt hiệu quả cao. Thực hiện cơ chế “một
cửa” vẫn còn tình trạng khép kín, cắt đoạn của từng cơ quan, đơn vị, làm cho nhà đầu
tư, tổ chức, cá nhân còn phải đi qua nhiều cấp, nhiều ngành. Đây là vấn đề khó khắc
phục, do tư tưởng cục bộ còn khá nặng nề cho nên việc thực hiện cơ chế “một cửa liên
thông” còn không ít khó khăn, phức tạp.
Để công tác CCHC trong thời gian tới đạt kết quả cao hơn, ngành tài nguyên và
môi trường của tỉnh tập trung thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tiếp tục thực hiện Kế hoạch CCHC giai đoạn 2006-2010 và Nghị quyết số 04
của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ để đẩy mạnh quán triệt Nghị quyết của Đảng về CCHC,
coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, là một trong các yếu tố tạo môi trường thuận lợi thu hút
các nguồn lực cho đầu tư phát triển, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đẩy mạnh thực hiện Đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính, bảo đảm thủ tục
rõ ràng, đơn giản, thuận tiện.
- Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm những cán bộ, công chức trong ngành gây
phiền hà, sách nhiễu hoặc vi phạm pháp luật trong thi hành công vụ. Không ngừng cải
tiến lề lối làm việc, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức.
- Thường xuyên kiểm tra, rà soát những văn bản quy phạm pháp luật, văn bản nội
bộ liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của ngành để đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc bãi
bỏ cho phù hợp, góp phần tích cực vào việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính./.
NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC PHÁP LUẬT CHO
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG ĐIỀU KIỆN MỚI

TS. LÊ THIÊN HƯƠNG
Q. Trưởng khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Hành chính

I. Sự cần thiết đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công
chức.
Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà mọi thiết chế đều được hình thành và
vận hành trên cơ sở một hệ thống pháp luật giữ vị trí tối thượng trong đ ời s ống xã
hội. Theo đó, nhà nước có nhiệm vụ tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, quản lý xã hội
bằng pháp luật; hành vi của mọi công dân, tổ chức đều bị chi ph ối bởi pháp lu ật.
Đồng thời, công dân cũng đòi hỏi nhà nước phải thực hiện nh ững cơ ch ế, bi ện pháp
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Trước yêu cầu xây d ựng nhà n ước pháp quy ền XHCN, v ấn đ ề c ấp bách đ ặt
ra là phải đào tạo và phát tri ển đ ội ngũ cán b ộ, công ch ức có đ ầy đ ủ các tiêu
chuẩn về năng lực, ph ẩm chất, đ ặc bi ệt kh ả năng n ắm ch ắc và th ực thi pháp
luật. Thực tế, mục tiêu đào tạo, xây d ựng m ột đ ội ngũ cán b ộ, công ch ức trong
sạch, có năng l ực còn g ặp nhi ều khó khăn và ch ưa đ ạt yêu c ầu. Văn ki ện Đ ại h ội
Đảng toàn quốc lần th ứ IX đã nh ận đ ịnh: “Công tác t ổ ch ức cán b ộ ch ậm đ ổi
mới, chưa đáp ứng yêu c ầu tăng c ường s ự lãnh đ ạo c ủa Đ ảng và hi ệu l ực qu ản
lý, điều hành của Nhà n ước trong th ời kỳ m ới”.
Để khắc phục những tồn tại và đáp ứng yêu cầu của công cu ộc đ ổi m ới, v ấn
đề cấp bách là phải có chiến lược về con người, trong đó việc đào tạo, bồi d ưỡng
kiến thức quản lý nhà nước nói chung, kiến thức pháp luật nói riêng cho đội ngũ cán
bộ, công chức có ý nghĩa quan trọng, là động lực phát tri ển xã h ội. Theo đó, đ ội ngũ
cán bộ, công chức phải được nâng cao nhận thức về trách nhiệm tuân thủ pháp luật,
trách nhiệm công vụ đối với nhà nước và công dân; nâng cao trình độ chuyên môn,
năng lực quản lý để đáp ứng yêu cầu mới.
Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần th ứ X đã khẳng đ ịnh: "…
Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN. Cần xây dựng cơ chế vận hành của
Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, ph ối h ợp gi ữa các c ơ quan
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp… Tiếp t ục đ ổi mới
hoạt động của Quốc hội, của Chính phủ, của các cơ quan tư pháp; đẩy m ạnh c ải
cách hành chính và cải cách tư pháp; tăng cường hiệu l ực và hi ệu qu ả c ủa các ho ạt
động lập pháp, hành pháp, tư pháp; nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đ ồng
nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp…".
Như vậy, công cuộc xây d ựng nhà n ước pháp quy ền ở n ước ta hi ện nay
không thể tách rời sự nghi ệp c ải cách hành chính và c ải cách t ư pháp. H ệ th ống
cơ quan nhà nước từ trung ương đ ến đ ịa ph ương là nh ững b ộ ph ận c ấu thành
quan trọng trong b ộ máy nhà n ước đ ể th ực hi ện quy ền l ập pháp, hành pháp, t ư
pháp trong tổng thể quy ền lực nhà n ước th ống nh ất. Ho ạt đ ộng c ủa đ ội ngũ cán
bộ, công chức của các c ơ quan nhà n ước là c ầu n ối gi ữa trung ương và đ ịa
phươ ng nhằm chuy ển tải quy ền lực nhà n ước, quy ền l ực c ủa nhân dân đ ược qui
định trong Hiến pháp và pháp lu ật vào cu ộc s ống. Đ ặc bi ệt, đ ội ngũ cán b ộ, công
chức là những h ạt nhân quan tr ọng, th ể hi ện vai trò sáng t ạo trong quá trình c ụ
thể hoá quan điểm của Đ ảng và pháp lu ật c ủa Nhà n ước nh ằm thúc đ ẩy phát
triển kinh tế - xã h ội, b ảo đ ảm pháp ch ế và thi ết l ập tr ật t ự pháp lu ật trên các
lĩnh vực của đời sống xã h ội.
Vấn đề chuẩn hoá trình độ pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công ch ức là một
nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Pháp
luật là một trong những yếu tố quyết định trong việc xây dựng nền tảng đạo đức và
chuyên môn cho cán bộ, công chức. Bởi vì, pháp luật qui định những chuẩn mực đạo
đức, những việc cán bộ, công chức không được làm; mặt khác, pháp luật quy định
các điều kiện về chuyên môn nghiệp vụ, các tiêu chí để tuyển dụng công ch ức và
bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo… Thực tế chứng minh, nền tảng trên được xây d ựng v ới
những tiêu chí về giá trị công chức mang tính truy ền thống như: cần, ki ệm, liêm,
chính, chí công, vô tư. Do đó, cần thiết lập một hệ th ống pháp lu ật đ ể b ảo đ ảm các
chuẩn mực đạo đức, chuyên môn được thực hiện trong công vụ. Việc chuẩn hoá
trình độ pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức phải được xem là công tác quan
trọng, thường xuyên của Đảng và Nhà nước để góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý của cơ quan nhà nước, thực hiện cải cách hành chính và c ải cách t ư
pháp.
Trong những năm qua, Việt Nam đã có nhiều bước tiến mới quan trọng trong
quan hệ kinh tế với các nước và các tổ chức kinh tế quốc tế. Là thành viên chính
thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Việt Nam có nhi ều c ơ h ội đ ể phát
triển và khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những
cơ hội cũng có nhiều thách thức. Trong đó đặt ra các yêu cầu v ề xây d ựng, hoàn
thiện pháp luật, thể chế, chính sách và cải cách cơ cấu kinh tế; nâng cao sức cạnh
tranh của hàng hoá, doanh nghiệp và nền kinh tế hút đầu tư nước ngoài; giải ngân
vốn ODA… Không ít cán bộ, công chức thờ ơ, e ngại trước sự phát triển của ngành,
địa phương liên quan đến yếu tố nước ngoài hoặc nóng vội, chủ quan, không lường
trước những vướng mắc, xung đột pháp luật… Một số địa phương có đường biên
giới, cán bộ, công ch ức còn lúng túng trong ch ỉ đ ạo phát tri ển kinh t ế vùng biên,
trong quản lý các vấn đề liên quan xu ất, nh ập c ảnh, h ộ t ịch, t ư pháp… Đi ều này
phản ánh một th ực t ế là, bên c ạnh y ếu kém v ề tâm lý, ngo ại ng ữ, chuyên môn thì
trình độ pháp luật thấp đang là m ột rào c ản không nh ỏ đ ối v ới quá trình m ở c ửa
hợp tác, hội nh ập kinh t ế quốc t ế.
Để khắc phục hạn chế này phải nâng cao trình độ và phẩm ch ất c ủa đ ội ngũ
cán bộ, công chức; trong đó, đặc biệt quan tâm nâng cao ki ến th ức pháp lu ật v ề h ội
nhập kinh tế quốc tế.
II. Trình độ, ý thức pháp luật và việc nâng cao chất lượng đào t ạo, b ồi
dưỡng kiến thức pháp luật cho cán bộ, công chức
Thực tế trình độ pháp luật, ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ, công ch ức
hiện nay chưa ngang tầm yêu cầu công việc, dẫn đến xảy ra tình trạng khi ếu ki ện
kéo dài của người dân tại một số địa phương trong thời gian qua. Nguyên nhân của
tình trạng này là do công tác quy hoạch hạn ch ế, bị động, bố trí cán bộ ch ưa phù
hợp. Cán bộ, công chức chuyển sang vị trí công tác mới, nhưng chưa được chuẩn bị,
đào tạo bài bản về kiến thức pháp luật. Đội ngũ cán bộ, công ch ức không đ ược đào
tạo bài bản về kỹ năng áp dụng pháp luật trong những lĩnh vực qu ản lý t ương ứng
với vị trí công tác, dẫn đến lúng túng trong giải quyết công việc.
Để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho cán bộ,
công chức, trước hết, cần thống nhất đào tạo kiến thức pháp luật theo một qui trình
chung trong tổng thể các kiến thức, kỹ năng lãnh đạo cho cán bộ, công chức nhằm
khắc phục tình trạng phân tán như hiện nay. Việc đào tạo, b ồi d ưỡng cán bộ, công
chức cần theo một qui chuẩn rõ ràng, lôgic theo hệ thống tín chỉ và đưa về các cơ sở
đào tạo mang tính chất chuyên nghiệp.
Thứ hai, đề cao vai trò của đào tạo, bồi dưỡng kiến th ức pháp luật cho cán b ộ
lãnh đạo, không nên quá chú trọng kiến thức về lý luận chính trị mà xem nh ẹ kiến
thức pháp luật. Về nội dung, người học sẽ được trang bị những kiến th ức pháp lu ật
đại cương với một tỷ lệ nhất định, còn lại chủ yếu là kiến thức pháp luật trong lĩnh
vực họ đảm trách vai trò lãnh đạo, quản lý, điều hành.
Thứ ba, quan trọng hơn là phải làm cho đội ngũ cán bộ, công chức không ch ỉ
hiểu pháp luật mà cơ bản là họ phải biết áp dụng pháp luật trong thực thi công vụ.
Thứ tư, đánh giá đầy đủ, toàn diện về trình độ pháp luật và xác đ ịnh nhu c ầu
nâng cao trình độ pháp luật của cán bộ, công chức, có kế hoạch bồi dưỡng, nâng cao
kiến thức pháp luật cho từng nhóm đối tượng cụ th ể. Nâng cao ch ất l ượng và hi ệu
quả của công tác xây dựng qui hoạch, kế hoạch đào tạo, b ồi d ưỡng ki ến th ức pháp
luật cho cán bộ, công chức. Gắn qui hoạch đào tạo với sử d ụng. Công tác xây d ựng
qui hoạch, kế hoạch phải được thực hiện từ dưới lên, dựa trên cơ sở của những
điều kiện thực hiện và nhu cầu thực tế. Thường xuyên ki ểm tra ti ến đ ộ và kh ả
năng thực hiện kế hoạch và việc sử dụng nguồn kinh phí được cấp.
Thứ năm, nghiên cứu, xây dựng, bổ sung và hoàn thiện hệ th ống th ể ch ế quản
lý đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho cán bộ, công ch ức.
Theo đó, tiến hành rà soát, nghiên cứu bãi bỏ hoặc s ửa đổi, b ổ sung nh ững quy đ ịnh
không còn phù hợp, tiến tới xây dựng một thể chế hoàn chỉnh, quy định rõ ràng về
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức với việc phân công, phân cấp khoa
học, với hệ thống tổ chức đào tạo, bồi dưỡng hợp lý và một hệ thống cơ quan quản
lý thông suốt, thích hợp. Tiếp tục xây dựng và ban hành những văn b ản qui ph ạm
pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công ch ức, về ch ương trình, giáo trình,
chứng chỉ, giảng viên… phù hợp với giai đoạn hiện nay, trong đó đặc biệt chú trọng
đào tạo kiến thức pháp luật. Nghiên cứu xây dựng các định mức về quản lý và sử
dụng kinh phí đào tạo, phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay; đề xuất áp d ụng
những chế độ đãi ngộ hợp lý làm động cơ thúc đẩy cán bộ tích c ực h ọc t ập, không
ngừng nâng cao trình độ, năng lực nghiệp vụ./.
XÂY DỰNG QUY CHẾ QUẢN LÝ HỒ SƠ
ĐIỆN TỬ VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
TS. VŨ ĐĂNG MINH
Vụ Tổng hợp, Bộ Nội vụ



H ồ sơ điện tử về cán bộ, công chức, viên chức là tập hợp những thông tin cơ
bản nhất trong hồ sơ cá nhân của cán bộ, công ch ức, viên ch ức đ ược truy
nhập, sắp xếp, lưu trữ và quản lý bằng hệ quản trị cơ sở dữ liệu (sau đây gọi chung
là hồ sơ điện tử). Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Quy ch ế qu ản lý h ồ s ơ cán b ộ,
công chức ban hành kèm theo Quyết định số 14/QĐ-BNV ngày 6 /11/2006 của Bộ
trưởng Bộ Nội vụ thì "Hồ sơ cán bộ, công chức là tài liệu pháp lý ph ản ánh các
thông tin cơ bản nhất về cán bộ, công chức bao gồm: nguồn gốc xuất thân, quá trình
công tác, hoàn cảnh kinh tế, phẩm chất, trình độ, năng lực, các mối quan hệ gia đình
và xã hội của cán bộ, công chức". Do vậy, dù hồ sơ cán bộ, công chức được quản lý
bằng phương pháp truyền thống hay hiện đại trên cơ sở ứng dụng công ngh ệ thông
tin thì những thông tin cá nhân và về đội ngũ cán bộ, công chức cũng cần phải được
quản lý một cách thống nhất theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quy ền,
bảo đảm đúng nguyên tắc quản lý tài liệu mật. Bài vi ết này bàn v ề v ấn đ ề xây
dựng quy chế quản lý hồ sơ điện tử về cán bộ, công chức.
1. Quan điểm, nguyên tắc xây dựng quy chế qu ản lý h ồ sơ đi ện t ử v ề
cán bộ, công chức
Quy chế quản lý, khai thác hồ sơ điện tử về cán bộ, công chức nên bám sát
Quy chế quản lý hồ sơ cán bộ, công chức theo phương pháp truyền thống đã được
Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành kèm theo Quyết định số 14/QĐ-BNV ngày
6/11/2006 cả về cấu trúc và nội dung, chỉ thay đổi, bổ sung những nội dung, quy
định cho phù hợp với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý h ồ s ơ cán
bộ, công chức. Đồng thời, bảo đảm các nguyên tắc cơ bản sau:
- Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tuyển dụng có trách nhiệm xây dựng và
quản lý hồ sơ điện tử của mình. Cán bộ, công chức do cấp nào tr ực ti ếp qu ản lý thì
cấp đó tổ chức truy nhập thông tin vào hồ sơ điện tử.
- Những thông tin phát sinh có liên quan trong th ời gian công tác của cán b ộ,
công chức từ khi được tuyển dụng đến khi rời khỏi cơ quan, tổ chức, đơn vị của
nhà nước phải được truy nhập đầy đủ, kịp thời, chính xác vào hồ sơ điện tử.
- Hồ sơ điện tử có giá trị pháp lý tương đương với hồ sơ cán bộ, công chức,
viên chức được quản lý bằng giấy theo phương pháp truyền th ống. Do v ậy, ph ải
thường xuyên kiểm tra và có biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn h ồ sơ đi ện tử v ề
cán bộ, công chức, viên chức.
- Hồ sơ điện tử được quản lý, sử dụng và bảo quản theo ch ế đ ộ tài li ệu m ật
do nhà nước quy định. Chỉ những người được cơ quan, tổ ch ức, đơn v ị có th ẩm
quyền quản lý cung cấp quyền truy nhập hoặc uỷ quy ền truy nh ập m ới đ ược phép
sử dụng, khai thác hồ sơ điện tử.
- Bảo đảm các chuẩn công nghệ và tính tương thích trong toàn bộ h ệ thống
thông tin quản lý hồ sơ điện tử. Trong đó, việc phân quyền truy nhập, sử dụng và
khai thác hệ thống thông tin quản lý hồ sơ điện tử về cán b ộ, công ch ức ph ải đ ược
quản lý nghiêm ngặt theo chế độ quản lý tài liệu mật.
2. Phương pháp quản lý hồ sơ điện tử
Để quản lý hồ sơ điện tử về cán bộ, công chức cần quy định các nội dung
sau:
Thứ nhất, xác định mô hình tổ chức hồ sơ điện tử trên cơ sở phân cấp thẩm
quyền quản lý cán bộ, công chức. Theo đó, hồ sơ điện tử v ề cán bộ, công ch ức c ần
được tổ chức theo mô hình 3 cấp như sau: cấp một là cấp cơ sở có trách nhiệm tổ
chức truy nhập, quản lý và khai thác hồ sơ điện tử; cấp hai là cấp qu ản lý và t ổ
chức triển khai hệ thống thông tin quản lý hồ sơ điện tử có trách nhiệm tổng hợp và
lưu giữ hồ sơ điện tử của các đơn vị cấp một (Vụ Tổ chức cán bộ và Sở Nội vụ) và
cấp ba là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về cán bộ, công ch ức có
trách nhiệm quản lý và lưu giữ toàn bộ hồ sơ điện tử của các đơn vị c ấp hai đ ể
tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ và phục vụ yêu cầu quản lý đội ngũ cán bộ,
công chức, viên chức (Bộ Nội vụ).
Thứ hai, thông tin về cán bộ, công chức, viên chức trong hồ sơ điện tử được
tổ chức và sắp xếp thành các nhóm như: nhóm sơ lược lý l ịch, nhóm quá trình công
tác, nhóm quá trình đào tạo, nhóm quan hệ gia đình và diễn biến ti ền l ương. Mỗi
nhóm có cấu trúc riêng để tạo điều kiện cho công nghệ bảo mật cũng như bảo đảm
phân quyền truy nhập cho các đối tượng quản lý khác nhau. Đồng th ời, nh ững thông
tin đó lại được phân thành từng khối: những người hiện đang làm việc, dự bị, cán
bộ nghỉ hưu, thôi việc, từ trần để thuận tiện cho việc truy xuất và tìm ki ếm đáp
ứng nhu cầu sử dụng thông tin khác nhau.
Thứ ba, xây dựng các chuẩn thông tin bảo đảm tuân theo các tiêu chuẩn, quy
chuẩn kỹ thuật thống nhất, bảo đảm tính tương thích trong toàn h ệ th ống thông tin
quản lý hồ sơ điện tử. Việc này có ý nghĩa quy ết đ ịnh đ ến ch ất l ượng và hi ệu qu ả
của toàn bộ hệ thống thông tin về hồ sơ điện tử. Theo quan đi ểm c ủa chúng tôi,
công việc này thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của Bộ Nội vụ.
Thứ tư, xác định nguồn tin được truy nhập vào hồ sơ điện tử. Theo quy định
của Quy chế quản lý hồ sơ cán bộ, công chức, nguồn tin để truy nh ập vào h ồ s ơ
điện tử bao gồm: toàn bộ hồ sơ lý lịch cán bộ, công chức, viên ch ức t ừ khi m ới
được tuyển dụng và những thông tin bổ sung phát sinh trong quá trình h ọc t ập, công
tác, nguồn tài liệu do cơ quan tổ chức cán bộ sưu tầm, thu thập và nh ững vấn đ ề
liên quan đến cán bộ,công chức.
Thứ năm, quy định chế độ cập nhật, bổ sung hồ sơ điện tử. Đây là công việc có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc duy trì và phát triển hệ thống thông tin quản lý
hồ sơ điện tử. Do vậy, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban
nhân dân (UBND) cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức cập nhật những thông tin biến
động về đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức do đơn vị mình quản lý vào hệ thống
thông tin quản lý hồ sơ điện tử. Để bảo đảm dữ liệu thông tin về cán bộ, công chức
luôn được "tươi", cần thiết phải quy định về thời gian truy nhập thông tin đối với cán
bộ, công chức mới được tuyển dụng vào cơ quan nhà nước (Ví dụ: Trong thời gian 45
ngày, kể từ ngày có quyết định tuyển dụng lần đầu, cơ quan có thẩm quyền quản lý
cán bộ, công chức có trách nhiệm hướng dẫn cán bộ, công chức kê khai lý lịch, hoàn
chỉnh các thành phần hồ sơ gốc theo quy định để truy nhập vào hồ sơ điện tử). Đối với
cán bộ, công chức đang làm việc cũng cần quy định việc kê khai, bổ sung những thông
tin phát sinh trong kỳ để cập nhật những biến động vào hồ sơ điện tử.
Thứ sáu, để bảo đảm thông tin hai chiều giữa cơ quan trực ti ếp c ập nh ật
thông tin với cơ quan quản lý và theo dõi thông tin theo phân c ấp th ẩm quy ền qu ản
lý cán bộ, công chức, cần thiết phải xây dựng cơ chế truyền nhận h ồ sơ điện tử.
Theo nguyên tắc này hồ sơ điện tử có thể được tổ chức cập nhật như sau:
+ Định kỳ mỗi tháng một lần các đơn vị cấp một gửi và đồng bộ nh ững thông
tin phát sinh của cấp mình lên máy chủ của đơn vị cấp hai để theo dõi và quản lý.
+ Định kỳ ba tháng một lần các đơn vị cấp hai gửi dữ liệu phát sinh hoặc biến
động trong hồ sơ điện tử của cấp mình lên máy ch ủ của đ ơn v ị c ấp ba đ ể đ ồng b ộ
vào hệ thống thông tin quản lý hồ sơ điện tử của toàn quốc.
Lịch truyền dữ liệu từ đơn vị cấp một lên cấp hai hoặc từ c ấp hai lên c ấp ba
sẽ được quy định cụ thể trên cơ sở thống nhất với các bộ, cơ quan ngang bộ, c ơ
quan thuộc Chính phủ và UBND cấp tỉnh.
Thứ bảy, khi cán bộ, công chức, viên chức được điều động đến cơ quan, tổ
chức, đơn vị khác hoặc được bổ nhiệm chức vụ thì phải chuy ển giao toàn b ộ h ồ s ơ
điện tử của người đó cho cơ quan, tổ chức, đơn vị mới quản lý theo thẩm quy ền.
Việc chuyển giao hồ sơ điện tử được gửi trực tiếp qua h ệ th ống mạng thông tin
quản lý hồ sơ điện tử mà không thực hiện bằng ph ương ti ện và các thi ết b ị truy ền
tin khác. Đối với những cán bộ, công chức nghỉ hưu, thôi việc thì h ồ sơ đi ện t ử c ủa
họ vẫn lưu để theo dõi, nhưng được tách ra thành cơ sở dữ liệu riêng.
Thứ tám, hồ sơ điện tử phải được lưu trữ lâu dài để phục vụ công tác nghiên
cứu và thực hiện chính sách cán bộ. Người được phân công trực ti ếp qu ản lý h ồ s ơ
điện tử phải định kỳ kiểm tra tính toàn vẹn của hệ thống, thực hiện các thao tác bảo
đảm an ninh, an toàn hệ thống.
Thứ chín, việc sử dụng và khai thác hồ sơ điện tử thực chất là tìm kiếm thông
tin về từng cán bộ, công chức hoặc tổ hợp các tiêu chí thông tin, chi ết xu ất các
thông tin, lập các bảng biểu thống kê, báo cáo và in các kết quả xử lý ra màn hình
hoặc ra giấy in. Do vậy, để bảo đảm việc khai thác và s ử dụng thông tin có hi ệu
quả và đúng mục đích cần quy định cụ thể các quyền truy nhập như: quyền quản trị
hệ thống, quyền cập nhật, sửa chữa, xử lý, sao chép, loại bỏ một ph ần hoặc toàn
bộ cơ sở dữ liệu,... Mặt khác cần tăng cường biện pháp bảo đảm an toàn thông tin
trên môi trường mạng như: Lưu trữ dự phòng, bản sao cần lưu ở nhi ều n ơi cách xa
nhau về địa lý; sử dụng mật mã để bảo đảm an toàn và bảo mật dữ liệu trong lưu
trữ và giao dịch theo quy định của nhà nước về mật mã; quản lý chặt ch ẽ vi ệc di
chuyển các trang thiết bị công nghệ thông tin lưu trữ hồ sơ đi ện tử. Ổ đĩa c ứng l ưu
giữ hồ sơ điện tử nếu bị hỏng cần phải được h ủy tại ch ỗ, không đ ưa đi b ảo hành
hoặc sửa chữa; giám sát chặt chẽ các khâu tạo lập, xử lý và hủy bỏ h ồ sơ về cán
bộ, công chức, viên chức. Đồng thời, xây dựng phần mềm quản lý cán bộ, công
chức phải theo dõi và lưu vết được thời gian, nội dung và người khai thác h ồ s ơ
điện tử để bảo mật dữ liệu. Ngoài ra, tuỳ theo quy mô của dữ li ệu c ần áp d ụng
công nghệ xác thực, cơ chế quản lý quyền truy cập và cơ chế ghi biên b ản hoạt
động của hệ thống để quản lý và kiểm tra việc truy cập m ạng đang qu ản lý h ồ s ơ
điện tử nhằm ngăn chặn và phát hiện sớm việc truy cập trái phép vào m ạng máy
tính hay thiết bị lưu trữ hồ sơ điện tử; kiểm soát ch ặt ch ẽ việc cài đặt các ph ần
mềm mới lên máy chủ và máy trạm đang quản lý hồ sơ điện tử; theo dõi th ường
xuyên tình trạng lây nhiễm vi-rút máy tính.
Mười là, bảo đảm điều kiện về an toàn đối với hồ sơ điện tử: cán b ộ k ỹ
thuật về an toàn thông tin phải được tuyển chọn, đào tạo, huấn luy ện, th ường
xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ phù hợp với nhiệm vụ được giao và đ ược tạo đi ều
kiện làm việc phù hợp; ưu tiên sử dụng lực lượng kỹ thuật về an toàn thông tin
hiện có của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trường hợp cần thiết, có th ể sử dụng dịch vụ
của các tổ chức bảo đảm an toàn thông tin đủ năng lực được nhà nước công nh ận;
hạ tầng kỹ thuật phải định kỳ kiểm tra, đánh giá hoặc kiểm định để bảo đảm các
tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn.
Mười một là, quy định rõ trách nhiệm giải quyết và khắc phục sự cố an toàn
thông tin. Cụ thể: trường hợp có sự cố nghiêm trọng vượt quá kh ả năng kh ắc ph ục
của bộ phận chuyên trách quản lý hồ sơ điện tử, ph ải báo cáo ngay cho c ơ quan
quản lý cán bộ, công chức biết để kịp thời xử lý; tạo điều ki ện thuận l ợi cho t ổ
chức chuyên môn tham gia khắc phục sự cố và thực hiện theo đúng các quy đ ịnh
quản lý hồ sơ điện tử; cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời những thông tin sự cố
cần thiết cho cơ quan cấp trên quản lý trực tiếp.
3. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc triển khai công tác
quản lý hồ sơ điện tử
Để triển khai đồng bộ và hiệu quả hệ thống thông tin quản lý cán bộ, công
chức trong cả nước, cần thiết phải quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức
liên quan. Cụ thể như sau:
a. Bộ Nội vụ với tư cách là cơ quan giúp Chính phủ quản lý thống nhất v ề
đội ngũ cán bộ, công chức:
- Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và biên ch ế của các đ ơn v ị
chuyên trách quản lý hồ sơ điện tử về cán bộ, công chức, viên chức.
- Xây dựng, ban hành các quy định về quản lý hồ sơ đi ện t ử đ ể th ực hi ện
thống nhất trong cả nước.
- Thiết kế, cài đặt và hướng dẫn các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thu ộc
Chính phủ, UBND cấp tỉnh sử dụng thống nhất phần mềm quản lý cán b ộ, công
chức.
b. Cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức:
- Chuẩn bị điều kiện, cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết và b ố trí cán b ộ, công
chức có đủ năng lực làm công tác quản lý hồ sơ điện tử.
- Quyết định việc phân quyền và hủy bỏ quyền truy nhập, sử dụng và khai
thác hồ sơ điện tử cho các tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý.
- Xây dựng dự toán kinh phí hàng năm bảo đảm cho việc xây dựng, quản lý và
khai thác hồ sơ điện tử.
- Xây dựng nội quy quy định chế độ quản lý, sử dụng và khai thác hồ sơ điện tử.
- Xây dựng chế độ, chính sách ưu đãi đối với những người trực ti ếp làm công
tác quản lý hồ sơ điện tử cũng như chế tài xử lý đối với tổ ch ức, cá nhân vi ph ạm
những quy định về quản lý hồ sơ điện tử.
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho những người trực ti ếp làm công
tác xây dựng và quản lý hồ sơ điện tử.
c. Cơ quan trực tiếp quản lý hồ sơ điện tử:
- Tổ chức việc cập nhật và khai thác hồ sơ điện tử thuộc thẩm quyền quản lý
bảo đảm đầy đủ, kịp thời và chính xác. Kiến nghị và đề xuất với cơ quan có th ẩm
quyền sửa đổi, bổ sung những quy định liên quan đến chế độ cập nhật, quản lý và
khai thác hồ sơ điện tử.
- Điều chỉnh, bổ sung, khôi phục thông tin trong hồ s ơ đi ện t ử khi b ị th ất l ạc
hoặc hư hỏng. Thông báo những dữ kiện thông tin do cán b ộ, công ch ức t ự khai
không thống nhất với hồ sơ.
- Áp dụng các biện pháp bảo đảm an toàn và bảo mật hồ s ơ điện t ử thu ộc
thẩm quyền quản lý; thường xuyên theo dõi, kiểm tra và thông báo kịp th ời với c ơ
quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên ch ức những
vấn đề phát sinh liên quan đến hồ sơ điện tử.
d. Người được phân công trực tiếp làm công tác xây dựng, quản lý h ồ sơ đi ện
tử về cán bộ, công chức:
- Thực hiện việc truy nhập, quản lý và khai thác hồ s ơ đi ện t ử theo đúng
quyền đăng nhập; chịu trách nhiệm về tính chính xác và độ tin cậy của các tiêu chí
thông tin trong hồ sơ điện tử. Xử lý và cung cấp thông tin v ề cán bộ, công ch ức,
viên chức nhanh chóng, chính xác phục vụ yêu cầu quản lý; đề xuất các biện pháp
bảo đảm sử dụng và khai thác có hiệu quả hồ sơ điện tử.
- Thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn và bảo mật hồ sơ đi ện t ử; nghiên
cứu, đề xuất các biện pháp quản lý, kỹ thuật cần thi ết đ ể b ảo đảm và đáp ứng các
tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn, an ninh mạng thông tin qu ản lý h ồ s ơ
điện tử. Nghiên cứu, phát hiện và báo cáo với cấp có th ẩm quy ền xem xét, x ử lý các
vấn đề phát sinh trong công tác quản lý h ồ sơ điện tử; tình tr ạng trang thi ết b ị ph ục
vụ công tác quản lý hồ sơ điện tử.
- Thường xuyên học tập, trao đổi kinh nghiệm để nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ.
Một số kiến nghị và đề xuất
Kết quả tổng điều tra, khảo sát cán bộ, công chức hành chính và c ấp xã đ ược
thực hiện trong thời gian vừa qua là thành quả và công sức rất lớn của Bộ Nội vụ
và cán bộ, công chức ngành Tổ chức nhà nước. Cơ sở dữ liệu thông tin thu đ ược t ừ
kết quả tổng điều tra là nền tảng quan trọng, làm tiền đề cho việc quản lý hồ s ơ
điện tử về cán bộ, công chức. Do vậy, những thông tin này cần được tiếp tục cập
nhật và nâng lên để đưa vào sử dụng, khai thác có hiệu quả. Xuất phát t ừ nh ững
trăn trở trên đây, xin kiến nghị và đề xuất với các cơ quan có thẩm quy ền m ột s ố
nội dung sau:
- Cần xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và biên chế của các đơn vị
chuyên trách quản lý hồ sơ điện tử về cán bộ, công chức trong cả nước.
- Xây dựng, ban hành quy định về lưu trữ hồ sơ điện t ử c ủa cán bộ, công
chức đối với các cơ quan, tổ chức.
- Xây dựng và đề xuất ban hành các văn bản quy phạm pháp lu ật v ề m ật mã
trong an toàn và bảo mật thông tin.
- Xây dựng và đề xuất ban hành các tiêu chuẩn và quy chu ẩn kỹ thu ật v ề m ật
mã trong an toàn và bảo mật thông tin.
- Tổ chức kiểm định, đánh giá và cấp chứng nhận các sản phẩm mật mã được
sử dụng trong hoạt động của cơ quan, tổ chức.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch điện tử giữa các cơ quan, t ổ ch ức và
giữa cơ quan, tổ chức với cá nhân cán bộ, công chức.
- Xây dựng nội dung, chương trình, kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng nghiệp
vụ công tác quản lý hồ sơ điện tử; có chế độ chính sách đãi ngộ nhằm thu hút
những người có kiến thức về công nghệ thông tin để từng bước nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác này.
Việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào lĩnh vực qu ản lý h ồ s ơ cán
bộ, công chức với quy mô toàn quốc là một công việc khó khăn, ph ức t ạp. Song, v ới
sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo các cấp và sự quyết tâm của đội ngũ cán
bộ, công chức ngành Tổ chức nhà nước, hy vọng rằng hệ thống thông tin quản lý
hồ sơ điện tử về cán bộ, công chức sớm được xây dựng và đưa vào v ận hành th ống
nhất trong cả nước, đáp ứng sự mong đợi của các bộ, ngành và địa phương./.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÁN BỘ VÀ TIÊU CHUẨN
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
THS. LA ĐÌNH MÃO
Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên - Huế


Q uan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đ ảng và
Nhà nước về cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ, công ch ức là v ấn đ ề v ừa có ý nghĩa
lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn không chỉ trong quá kh ứ, hi ện t ại mà còn c ả trong
tương lai. Vì thế, việc nghiên cứu về vấn đề này là cần thi ết, nh ất là trong giai
đoạn hiện nay khi chúng ta đang chuẩn bị triển khai thực hiện Luật Cán b ộ, công
chức đã được Quốc hội khoá XII kỳ họp th ứ 4 thông qua và có hi ệu l ực thi hành t ừ
ngày 1/1/2010. Bài viết này góp phần làm sáng tỏ thêm những quan điểm, tư tưởng
nêu trên về cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ trong giai đoạn mới của nền công vụ.
1. Mác và Ăngghen là những người đặt nền móng cho sự phát tri ển lý lu ận và
thực tiễn về công tác cán bộ của giai cấp vô sản. Từ kinh nghiệm lịch sử của xã hội
loài người và từ chính quá trình truyền bá lý luận khoa h ọc vào phong trào công
nhân, C.Mác đã khẳng định: "Muốn thực hiện tư tưởng thì c ần có nh ững con ng ười
sử dụng lực lượng thực tiễn"(1). Trong điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng
đang ở thời kỳ Đảng chưa nắm chính quyền, C.Mác và Ph. Ăngghen chưa bàn nhi ều
về vấn đề cán bộ. Nhưng hai ông rất quan tâm đến vi ệc xây dựng m ột đ ội ngũ
những nhà tuyên truyền, cổ động, truyền bá tư tưởng cộng sản; lãnh đạo, tổ chức
các phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản, trên cơ sở đó, kết h ợp v ới phong trào
công nhân để lập ra chính đảng của giai cấp công nhân.
V.I Lê-nin, người kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác, đã đặc biệt
coi trọng việc tuyển chọn, xây dựng một đội ngũ những nhà cách mạng chuyên
nghiệp cho phong trào vô sản. Đó là những cán bộ nòng cốt đầu tiên c ủa Đ ảng cộng
sản (Bônsêvích) Nga, những người giúp Đảng "đảo ngược nước Nga lên". Khi
Đảng chưa có chính quyền, vấn đề cán bộ đã rất được coi trọng, khi có chính
quyền, vấn đề cán bộ càng quan trọng và cấp bách hơn. Hàng loạt vấn đề được đ ặt
ra khi đảng giành được chính quyền, hàng loạt vấn đề của đời sống xã hội đòi h ỏi
đảng phải lãnh đạo, quản lý. Vì vậy Đảng phải gấp rút lựa chọn, đào tạo, bồi
dưỡng một đội ngũ cán bộ theo một tiêu chuẩn nhất định đáp ứng được yêu cầu của
thời kỳ mới. Thực tiễn cấp bách đó đòi hỏi Đảng C ộng s ản Nga và V.I Lê-nin ph ải
tập trung giải quyết. Những vấn đề quan trọng về cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ đã
được Lê-nin bàn nhiều ở giai đoạn đảng giành được chính quyền và tập trung ở thời
kỳ sau khi chính quyền được thiết lập trong cả nước, khi nước Nga bước vào thời
kỳ ổn định, xây dựng chế độ xã hội mới.
2. Trong sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt coi trọng
cán bộ và công tác cán bộ, Người cho rằng "Cán bộ là cái gốc c ủa m ọi công
việc"(2), "Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán b ộ tốt hay kém"(3). N ếu
có cán bộ tốt, cán bộ ngang tầm thì việc xây dựng đường lối sẽ đúng đ ắn và là đi ều
kiện tiên quyết để đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi. Không có đội ngũ cán
bộ tốt thì dù có đường lối chính sách đúng cũng khó có th ể bi ến thành hi ện th ực
được. Muốn biến đường lối thành hiện thực, cần phải có con người sử dụng lực
lượng thực tiễn - đó là đội ngũ cán bộ cách mạng và cùng v ới qu ần chúng cách
mạng, bằng sự mẫn cảm của mình để đưa cách mạng đến thành công. Ch ủ t ịch H ồ
Chí Minh chỉ rõ: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng và Chính ph ủ
giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng th ời đem tình hình c ủa dân chúng
báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng"(5). V ị trí cán
bộ, công chức là "cầu nối" giữa Đảng, Chính ph ủ với quần chúng, nh ưng không
phải là "vật mang", là "dây dẫn", là chuyển t ải c ơ h ọc mà chính là con ng ười có đ ủ
tư chất, tài năng và đạo đức để làm việc đó. Bởi lẽ để có thể đem chính sách của
Đảng và Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đòi hỏi người cán
bộ, công chức phải có một trình độ, trí tuệ nhất định. Nếu không, trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ, người cán bộ, công chức sẽ làm sai lệch tinh thần, nội dung
của đường lối, chính sách và khi đó thì th ật là nguy hi ểm. Ngoài tiêu chu ẩn v ề trình
độ hiểu biết nhất định, người cán bộ còn cần phải có tiêu chuẩn khác là ph ẩm ch ất
và bản lĩnh chính trị. Việc truyền đạt, giải thích và triển khai th ực hiện chính sách
của Đảng và Nhà nước là một việc khó khăn; nhưng khó khăn và ph ức t ạp h ơn
nhiều là nắm chắc được tình hình, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân,
cũng như phản ánh được đúng thực chất của tình hình để làm căn c ứ cho vi ệc tham
mưu, hoạch định chính sách. Công việc này đòi hỏi người cán bộ, công chức ph ải
đạt tiêu chuẩn ở mức cao hơn để có thể tổng kết thực tiễn, khái quát, nâng lên thành
lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cán bộ ở vị trí có tính ch ất quy ết đ ịnh. Chính
sách đúng đắn có thể không thu được kết quả nếu cán b ộ làm sai, cán b ộ y ếu kém.
Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa h ơn, sâu h ơn, ch ỉ ra c ội r ễ c ủa v ấn
đề một cách vừa cụ thể, vừa có tính chất tổng quát. Người nói:" Khi đã có chính
sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là n ơi cách t ổ ch ức
công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba đi ểm ấy s ơ sài, thì chính
sách đúng mấy cũng vô ích"(5). Muốn tổ chức công việc tốt, phải có người cán bộ
đạt tiêu chuẩn vừa có tài, vừa có đức. Mặt khác cũng ph ải bi ết bố trí ng ười nào làm
việc gì là thích hợp, nếu không rất có thể hỏng việc mà không hoàn toàn do năng lực
cán bộ yếu kém.
Tiêu chuẩn cán bộ là một yếu tố cơ bản quyết định chất lượng đội ngũ cán
bộ cách mạng của chúng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định tiêu chuẩn của cán
bộ cần phải có hai mặt là đức và tài. Trước hết người cán bộ phải có đức, đó là đạo
đức mới, đạo đức cách mạng. Người nói: "sức có mạnh mới gánh và đi được xa.
Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được
nhiệm vụ cách mạng vẻ vang". Vì vậy người cách mạng phải có đạo đức cách
mạng. Không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đ ạo đ ược nhân dân. Ch ủ
tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu người cán bộ phải có tài. Người nói: "Ngày nay,
Đảng yêu cầu cán bộ và đảng viên chẳng nh ững thạo v ề chính tr ị mà còn ph ải gi ỏi
về chuyên môn; không thể lãnh đạo chung chung. L ại phải bi ết đoàn k ết v ới nh ững
người ngoài Đảng, phải biết dựa vào quần chúng, phát huy sức sáng tạo của quần
chúng lao động, phải tạo mọi điều kiện cho nhân dân lao động đ ể có th ể n ắm đ ược
những hiểu biết khoa học kỹ thuật; ra sức đào tạo thật nhiều cán bộ kỹ thuật, cán
bộ quản lý cần thiết cho sản xuất phát triển, ch ỉ có nh ư th ế chúng ta m ới xây d ựng
thắng lợi chủ nghĩa xã hội"(6).
3. Nhận thức rõ tầm quan trọng của cán bộ và công tác cán b ộ đ ối v ới s ự
nghiệp đấu tranh xây dựng và phát triển đất nước nên Đảng và Nhà nước luôn coi
trọng việc xây dựng, kiện toàn, phát triển đội ngũ cán bộ, công ch ức. Theo t ừng giai
đoạn cách mạng, các Nghị quyết của Đảng và các văn bản pháp lu ật c ủa Nhà n ước
đều có những nội dung về cán bộ, công chức và công tác cán b ộ, công ch ức. T ừ sau
khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, trong tất cả các văn ki ện H ội ngh ị Trung
ương và văn kiện Đại hội Đảng, không có văn kiện nào không bàn đ ến v ấn đ ề cán
bộ và công tác cán bộ. Nghiên cứu văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà n ước ta
về cán bộ và công tác cán bộ trong bối cảnh đổi mới, hội nh ập quốc t ế cho th ấy, có
hai nhóm vấn đề lớn cần quan tâm. Đó là quan điểm về cải cách, hoàn thi ện ch ế đ ộ
công chức, công vụ và tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức.
- Thứ nhất, cải cách, hoàn thiện chế độ công chức, công vụ là một trong
những nội dung của cải cách hành chính. Để thực hiện t ốt ch ủ trương c ải cách,
hoàn thiện chế độ công vụ cần quán triệt sâu sắc, đầy đủ các quan điểm cơ bản sau
đây:
a. Cải cách, hoàn thiện chế độ công chức, công vụ gắn với đổi mới tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước, hệ thống chính trị. Đổi mới tổ chức, hoạt đ ộng
của bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị là vấn đề xuyên suốt quá trình th ực hi ện
công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta từ Đại hội lần thứ VI của Đảng cho đến
nay. Trong các văn kiện của Đảng như: Nghị quyết Trung ương 8 (khoá VII), Nghị
quyết Trung ương 3 (khoá VIII), Nghị quyết Đại hội IX, Đại hội X, vấn đề đổi mới
tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị được đề cập đến
với những sắc thái, nội dung khác nhau nhưng trọng tâm vẫn là h ướng t ới nâng cao
hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước. Muốn vậy, không thể không
cải cách, hoàn thiện chế độ công chức, công vụ. Bởi vì, cán bộ, công chức là nguồn nhân
lực của bộ máy nhà nước, là “gốc của công việc”, là những người thực thi nhiệm vụ.
Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII) về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực và coi đó là yếu tố quyết định đến chất lượng
tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước.
b. Cải cách, hoàn thiện chế độ công chức, công vụ phải hướng tới việc đáp
ứng yêu cầu của cải cách kinh tế và hội nhập kinh tế quốc t ế. Đây không ch ỉ là yêu
cầu mà còn là quan điểm có tính định hướng cho việc cải cách, hoàn thiện ch ế độ
công chức, công vụ. Quá trình thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công ch ức là quá
trình cụ thể hoá các chức năng nhà nước trên phương diện đối nội và đối ngo ại.
Trên phương diện đối nội, Nhà nước có những nhiệm vụ khác nhau nh ư: bảo đ ảm
trật tự an toàn xã hội, tự do dân chủ của nhân dân, giải quyết các vấn đề xã hội…
trong đó, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, đã được th ể hiện rõ
trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã h ội 10 năm 2000 - 2010. Trên ph ương di ện
đối ngoại, chúng ta chủ trương: “Ra sức tăng cường quan h ệ với các n ước láng
giềng và các nước trong tổ chức ASEAN… Tăng cường hoạt động ở Liên hợp
quốc, tổ chức các nước sử dụng tiếng Pháp, các tổ ch ức tài chính - ti ền t ệ qu ốc
tế”(7) và “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế sâu hơn, đầy đ ủ h ơn v ới khu v ực và
thế giới”(8). Do vậy cải cách, hoàn thiện chế độ công ch ức, công vụ ph ải h ướng
tới việc đáp ứng yêu cầu của cải cách kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Thực
hiện cải cách, hoàn thiện chế độ công vụ theo quan điểm trên nhằm củng cố, xây
dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức vừa hồng, vừa chuyên. Nh ất là đội
ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan kinh tế, đối ngoại của Đảng và
Nhà nước.
c. Cải cách, hoàn thiện chế độ công chức, công vụ theo hướng điều chỉnh
chuyên biệt giữa cán bộ, công chức thực thi công vụ trong các cơ quan quản lý nhà
nước với viên chức làm việc trong các tổ chức sự nghiệp công. Quan đi ểm này đ ặt
ra trên cơ sở những nguyên lý căn bản của tổ ch ức và qu ản lý ngu ồn nhân l ực công
là tách nhân lực quản lý với nhân lực phục vụ trong các tổ chức cung ứng dịch vụ
công để từ đó có chế độ, chính sách phù hợp với từng nhóm đối tượng. Hoạt động
thực thi công vụ của cán bộ, công chức trong các cơ quan quản lý nhà n ước g ắn v ới
quyền lực nhà nước; tuỳ theo tính chất, thẩm quy ền, nhiệm vụ của các c ơ quan nhà
nước theo đó mức độ, tính chất, quyền lực của cán bộ, công ch ức th ực thi công v ụ
biểu hiện nhiều hay ít. Còn hoạt động của viên chức làm việc trong các đơn vị s ự
nghiệp, đơn vị kinh tế của Nhà nước không mang tính quy ền l ực nhà n ước. Vì v ậy
sẽ là bất hợp lý, không tương thích nếu không s ử dụng ph ương pháp đi ều ch ỉnh
chuyên biệt với các nhóm đối tượng khác nhau như đã nêu trên. Quan đi ểm này cũng
đòi hỏi chúng ta có nhận thức mới về vai trò, chức năng của Nhà nước trong quản lý
và cung ứng dịch vụ công phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước ta.
d. Cải cách, hoàn thiện chế độ công chức, công vụ nhằm bảo đảm ngày một
tốt hơn đời sống của cán bộ, công chức. Chiến lược cán bộ th ời kỳ đ ẩy m ạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định: “Đổi mới và xây dựng h ệ th ống
chính sách cán bộ (nhất là chính sách tiền lương, nhà ở) một cách nhất quán, công
bằng, có lý có tình, thống nhất trong cả nước và giữa các loại cán bộ, th ực s ự
khuyến khích những cán bộ có tài, trân trọng những cán bộ có công, phù h ợp v ới
điều kiện cụ thể của đất nước”(9). Lao động của các đối tượng khác trong xã hội
luôn tạo ra những sản phẩm vật chất, tinh thần cụ thể; giá trị lao động của họ được
đánh giá trên cơ sở sản phẩm do họ làm ra, theo quy luật giá trị, quy luật cung cầu
của cơ chế thị trường. Trong khi đó lao động của cán bộ, công ch ức ch ưa được tính
toán cụ thể bằng những sản phẩm do họ tạo ra cho xã h ội. Vì v ậy, c ần ph ải có s ự
đánh giá của Nhà nước thông qua chế độ tiền lương, tiền thưởng đối với công chức
xứng đáng. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, khi tiền lương của công chức không b ảo đảm
được mức sống bình thường thì tất yếu dẫn đến tình trạng là ngoài vi ệc th ực hi ện
công vụ người công chức phải “tìm kiếm” việc làm để có thu nhập thêm cho mình
bằng mọi cách, có thể hợp pháp, thậm chí là bất hợp pháp. Đó là một trong nh ững
nguyên nhân dẫn đến tình trạng tham nhũng, cửa quyền, hách d ịch, vòi vĩnh đ ối v ới
dân, cơ quan, tổ chức.
Thứ hai, về tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức. Từ Nghị quyết
225/NQ-BCT của Bộ Chính trị ban hành năm 1973 về cán bộ đã đ ề ra tiêu chu ẩn
chung cho mọi cán bộ trong cách mạng XHCN. Đại hội đại biểu toàn quốc c ủa
Đảng lần thứ IV cũng nêu "tiêu chuẩn cơ bản của mọi cán bộ là luôn luôn ph ải có
đủ hai mặt phẩm chất và năng lực tương ứng với đòi hỏi của nhiệm vụ chính trị
trong mỗi giai đoạn cách mạng". Nghị quyết 32/NQ-BCT của Bộ Chính trị (khóa IV)
chủ trương "ra sức nâng cao phẩm chất và năng lực của cán bộ". Đến Đại hội lần
thứ V của Đảng lại nhấn mạnh "trong tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo ch ủ ch ốt c ủa
Đảng, của Nhà nước các cấp, các ngành, các đơn vị chúng ta c ần chú ý đ ầy đ ủ tiêu
chuẩn chính trị, tiêu chuẩn chuyên môn và khả năng lãnh đạo nhưng phải lấy hiệu
quả công việc làm thước đo cuối cùng của tiêu chuẩn". Đại h ội l ần th ứ VI c ủa
Đảng đã đề ra đường lối đổi mới, xác định rõ yêu cầu tiêu chuẩn người cán bộ ph ải
là người có phẩm chất chính trị đã qua thử thách, luôn luôn đứng vững trên lập
trường của giai cấp công nhân, thông suốt và chấp hành nghiêm ch ỉnh đ ường l ối,
chính sách của Đảng và Nhà nước, ham học h ỏi, năng động, sáng t ạo, có ki ến th ức
về quản lý kinh tế, xã hội, có tính tổ chức và kỷ luật cao. Đó là những cán b ộ có
đạo đức cách mạng, có ý thức tập thể, dân chủ, đi đôi với tính quyết đoán, có ý thức
trách nhiệm, có tác phong sâu sát thực tế, gần gũi quần chúng, quan tâm đ ến con
người, gương mẫu trong lối sống, đoàn kết và động viên được nhiệt tình lao động
của cán bộ và nhân dân. Tuy vậy những tiêu chuẩn đó mới ch ỉ được nêu lên dưới
dạng tổng quát chung, chưa nêu rõ tiêu chuẩn cụ thể của cán b ộ, công ch ức làm
việc trong các cơ quan hành chính nhà nước. Ngh ị quy ết Trung ương 6 (khóa VI) đã
chỉ rõ "cần cụ thể hóa tiêu chuẩn cán bộ cho từng chức danh lãnh đạo và qu ản lý
"không thể dừng ở tiêu chuẩn phẩm chất và năng lực chung chung. Thực hiện chủ
trương đó Hội nghị Trung ương 3 (khóa VIII) đã ra Nghị quyết v ề "Chi ến l ược cán
bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đ ất n ước" trong đó c ụ th ể hóa
một bước tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ mới. Đó là: có tinh th ần yêu nước sâu s ắc,
tận tuỵ phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và ch ủ nghĩa xã h ội,
phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp lu ật c ủa
Nhà nước; cần kiệm liêm chính, chí công vô t ư. Không tham nhũng và kiên quy ết
đấu tranh ch ống tham nhũng. Có ý th ức t ổ ch ức k ỷ lu ật. Trung th ực, không c ơ
hội, gắn bó mật thi ết v ới nhân dân, đ ược nhân dân tín nhi ệm; có trình đ ộ hi ểu
biết về lý luận chính tr ị, quan đi ểm, đ ường l ối c ủa Đ ảng, chính sách và pháp lu ật
của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, năng l ực, s ức kho ẻ đ ể làm vi ệc
hiệu quả, đáp ứng yêu c ầu nhi ệm v ụ đ ược giao. Các tiêu chu ẩn này là c ơ s ở đ ể
mỗi cấp, mỗi ngành c ụ th ể hoá tiêu chu ẩn cán b ộ, công ch ức c ủa ngành mình phù
hợp với yêu cầu về chuyên môn, ph ẩm ch ất chính tr ị và đ ạo đ ức ngh ề nghi ệp./.
____________________________________________________________

Ghi chú:
(1) C.Mác và Ph.Ănghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 2, trang
181.
(2), (3) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000, tập 5, trang 269,
240.
(4), (5) Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tập 5, trang 269,
520.
(6) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, trang 313.
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, trang
121.
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, trang 204.
(9) Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính
trị Quốc gia, trang 75.
THỰC TIỄN – KINH NGHIỆM

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TIẾP DÂN,
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
NGUYỄN VĂN QUÝ
Vụ Thư từ - Tiếp dân, Văn phòng Trung ương Đảng



Đ ại hội lần thứ VI của Đảng đã tổng k ết bài h ọc kinh nghi ệm s ố m ột c ủa
cách mạng Việt Nam là: trong toàn b ộ ho ạt đ ộng c ủa mình Đ ảng quán tri ệt
tư tưở ng lấy dân làm gốc, xây d ựng và phát huy quy ền làm ch ủ c ủa nhân dân lao
động. Phê phán t ệ quan liêu, m ệnh l ệnh xa r ời qu ần chúng, đi ng ược l ại l ợi ích
của nhân dân… Đại h ội Đ ảng toàn qu ốc l ần th ứ VIII kh ẳng đ ịnh: “chính nh ững ý
kiến, nguyện vọng và sáng ki ến c ủa nhân dân là ngu ồn g ốc hình thành đ ường l ối
đổi mới của Đảng…”.
Tư tưởng, quan điểm lấy dân làm gốc, xây dựng nhà nước pháp quy ền xã h ội
chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân đã được thể chế hoá trong các văn b ản pháp lu ật
của nhà nước và ngày càng hoàn thiện hơn. Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và được c ụ th ể hoá trong
Luật Khiếu nại, tố cáo và các văn bản pháp luật khác, tạo cơ sở pháp lý cho công
dân và cơ quan nhà nước thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Tổ chức tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, ki ến ngh ị c ủa
công dân là một trong những biện pháp quan trọng góp ph ần b ảo đ ảm th ực hi ện
quyền làm chủ của nhân dân; thể hiện bản chất của nhà nước ta là nhà nước của
dân, do dân và vì dân; đồng thời là một kênh thông tin quan tr ọng góp ph ần giúp cho
công tác lãnh đạo, chỉ đạo sát với tình hình thực tế. Ngày 21/10/1983, Ban Bí th ư
Trung ương Đảng đã ban hành Quyết định số 27-QĐ/TW về việc giải quyết đơn
thư khiếu tố, kiến nghị của cán bộ, đảng viên và nhân dân, quy định: mọi đơn, thư
của cán bộ, đảng viên và nhân dân gửi đến các cấp u ỷ đ ảng, các c ơ quan nhà n ước,
các đoàn thể để góp ý kiến vào công việc chung hoặc đề ngh ị xem xét việc riêng
đều phải được xem xét, giải quyết chu đáo, kịp thời. Đảng và Nhà nước ta đã có
nhiều chủ trương và biện pháp chỉ đạo xử lý khiếu nại, tố cáo của công dân. Các
cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong công tác tiếp dân, giải quy ết kiến nghị,
khiếu nại, tố cáo của công dân, triển khai thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở.
Từ khi Luật Khiếu nại, tố cáo được ban hành, công tác gi ải quy ết khi ếu n ại, t ố cáo
của công dân đã có bước chuyển biến đáng kể. Các cấp uỷ đảng, chính quy ền đã
quan tâm hơn đến công tác này, góp phần phát huy dân ch ủ, gi ữ v ững k ỷ c ương
pháp luật, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm gi ữ vững ổn đ ịnh tình hình
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã h ội, tạo môi trường thu ận l ợi đ ể phát tri ển kinh
tế.
Trong thời gian gần đây, tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân có những diễn
biến không bình thường, số lượng đơn thư vượt cấp, số vụ việc khiếu kiện đông
người, vượt cấp lên tỉnh, lên trung ương có chiều hướng gia tăng, tính chất phức tạp.
Từ năm 2001 đến hết năm 2007, Văn phòng Trung ương Đảng đã nhận 126.810 đơn,
thư; Trụ sở tiếp dân của Trung ương Đảng và Nhà nước đã tiếp 107.203 lượt người,
tiếp 2.578 lượt đoàn từ 5 người trở lên. Nội dung khiếu nại chủ yếu liên quan đến
việc thu hồi đất, đền bù giải phóng mặt bằng, thực hiện chính sách - xã hội. Trong số
những người khiếu nại, có người khiếu nại đúng, mong muốn được pháp luật giải
quyết, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; song cũng có một số người mặc dù
đã được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, khiếu kiện theo đúng quy
định của pháp luật nhưng vì thiếu hiểu biết hoặc do một số phần tử quá khích hoặc
các thế lực thù địch xúi giục, dụ dỗ mua chuộc nên tiếp tục khiếu kiện kéo dài, vượt
cấp, nhất là vào dịp Đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, bầu cử Hội đồng nhân dân các
cấp.
Một số nguyên nhân khiếu nại kéo dài, vượt cấp:
- Một số văn bản pháp luật còn bất cập. Ví dụ, trong một s ố tr ường h ợp, giá
đền bù khi thu hồi đất chưa sát với th ực tế nên m ặc dù các c ơ quan có th ẩm quy ền
đã giải quyết đúng nhưng người dân vẫn khiếu nại. Theo quy định của Lu ật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005, các khiếu nại về
đất đai, sau khi có quyết định giải quyết lần hai của cơ quan có th ẩm quy ền, ng ười
khiếu nại có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại toà án. Nhưng căn cứ vào Luật
Đất đai năm 2003 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 2006
thì người khiếu nại không có quyền khởi kiện ra toà án và ng ười dân có tâm lý
không muốn khởi kiện ra toà án do phải nộp án phí và ng ại mang ti ếng nên ti ếp t ục
khiếu nại kéo dài, vượt cấp.
- Một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa quan tâm đúng mức, chưa
thường xuyên, sâu sát, có nơi còn xem nhẹ công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại,
tố cáo nên các vụ việc khiếu kiện không được giải quyết kịp thời, dứt điểm ngay từ
khi mới phát sinh, để tích tụ lâu ngày trở thành khiếu kiện đông người, th ậm chí tr ở
thành điểm nóng. Một số phần tử cơ hội lợi dụng việc khiếu nại tố cáo để gây mất
ổn định tình hình an ninh trật tự.
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo là công việc tương đối khó khăn, ph ức t ạp,
trong khi đó trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một số cán b ộ ch ưa đáp ứng đ ược
yêu cầu nhiệm vụ; kinh phí cho hoạt động này còn h ạn ch ế; ch ế đ ộ, chính sách đ ối
với cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ này còn bất cập,... là một trong nh ững
nguyên nhân làm cho hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa cao.
Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác tiếp dân giải quyết khiếu nại, tố
cáo:
- Các cấp uỷ đảng, chính quyền thường xuyên quan tâm chỉ đạo th ực hi ện
Thông báo số 130-TB/TW ngày 1/1/2008 của Bộ Chính trị về tình hình, k ết qu ả gi ải
quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2006 đến nay và giải pháp trong thời gian tới; cụ th ể
hoá thành chương trình hành động và tổ chức th ực hiện có hiệu qu ả, t ạo s ự chuy ển
biến tích cực. Thường xuyên kiểm tra công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chỉ th ị
số 09-CT/TW ngày 6/3/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về một số vấn đề
cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại, t ố cáo hiện nay; Ch ỉ th ị s ố
36/CT-TTg ngày 27/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh và tăng
cường trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước trong công tác
giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- Khẩn trương sửa đổi, hoàn thiện các văn bản pháp luật, khắc phục những
bất cập, chưa đồng bộ. Sớm quy định khung giá đền bù khi thu h ồi đ ất m ột cách
hợp lý; xây dựng Luật Khiếu nại và giải quyết khiếu nại, Luật Tố cáo và giải
quyết tố cáo, trong đó quy định chế tài khen thưởng, kỷ luật đủ mạnh, đồng th ời
bảo đảm cụ thể, rõ ràng, dễ áp dụng nhằm khuyến khích, động viên cá nhân, t ổ
chức tích cực giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý nghiêm minh nh ững tr ường h ợp
vi phạm, hạn chế tình trạng nhũng nhiễu dân, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.
- Thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo mô hình "m ột c ửa liên thông”
giữa cấp xã với cấp huyện trên phạm vi cả nước, tạo điều ki ện thu ận l ợi cho nhân
dân trong việc giao dịch với chính quyền. Sớm hoàn thi ện h ệ th ống ti ếp dân h ợp lý,
thống nhất từ trung ương đến địa phương. Gắn công tác tiếp dân v ới gi ải quy ết
khiếu nại, tố cáo và thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, qua đó ng ười dân th ấy
được chính quyền thực sự là của dân, do dân và vì dân, góp phần c ủng c ố ni ềm tin
của nhân dân với Đảng và Nhà nước.
- Tổ chức nhiều hơn các cuộc đối thoại trực tiếp giữa nh ững người đứng đ ầu
cơ quan hành chính cấp tỉnh, cấp huyện với công dân, phát huy sức m ạnh c ủa c ả h ệ
thống chính trị. Các cấp ủy đảng, chính quy ền quan tâm đúng m ức t ới công tác gi ải
quyết khiếu nại, tố cáo, không để tồn đọng đơn, thư khiếu nại của nhân dân, xem
đây là một trong những nội dung quan trọng trong chương trình công tác của cơ
quan, đơn vị. Kiên quyết không để xảy ra khiếu kiện kéo dài, không để xảy ra đi ểm
nóng về an ninh trật tự. Trường hợp giải quyết nhiều lần chưa dứt điểm được thì
tổ chức đối thoại trực tiếp giữa nguyên đơn và bị đơn; tăng cường công tác hoà gi ải
ở cơ sở; không xem nhẹ những mâu thuẫn nhỏ mới phát sinh từ cơ sở.
- Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến các chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước đến từng người dân theo hình thức lồng ghép với các
chương trình khác, phù hợp với từng thời điểm, từng đối tượng, nội dung phong
phú, thiết thực để thu hút được nhiều người tham gia nhằm nâng cao nhận thức, ý
thức trách nhiệm về công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đ ầu t ư xây
dựng tủ sách pháp luật đến từng xã, phường, thị trấn, cung cấp đ ủ các văn b ản quy
phạm pháp luật, sách tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ đối với chính quyền cơ sở.
- Quan tâm hơn nữa đến chế độ đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác ti ếp dân,
giải quyết khiếu nại tố cáo ở các cấp. Tăng cường tổ chức bồi dưỡng kiến thức,
tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác tiếp dân, giải quy ết khi ếu n ại t ố cáo ở
trung ương cũng như ở các địa phương, tổ chức trao đổi kinh nghiệm công tác tiếp
dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo vùng, miền nhằm nâng cao h ơn n ữa hi ệu qu ả
của công tác này./.
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở HUYỆN
BÌNH XUYÊN - VĨNH PHÚC
NGUYỄN QUỐC HÙNG
Chủ tịch UBND huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc




H uyện Bình Xuyên nằm ở phía nam tỉnh Vĩnh Phúc tiếp giáp với thành ph ố
Vĩnh Yên, huyện Yên Lạc, thị xã Phúc Yên và huyện Tam D ương. Huy ện
được tái lập tháng 9/1998 với đặc điểm là một huyện thuần nông, cơ cấu kinh tế:
nông nghiệp chiếm 75%, dịch vụ 7% và tiểu thủ công nghiệp 18% GDP; số thu ngân
sách nhà nước trên địa bàn mới đạt 5 tỷ đồng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ
huyện và sự lãnh đạo chỉ đạo của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh và các s ở, ngành,
đoàn thể, nhân dân các dân tộc trong huyện đoàn kết một lòng, n ỗ lực ph ấn đ ấu đ ạt
được nhiều thành tích đáng khích lệ. Kinh tế của huyện tăng trưởng nhanh, tốc độ
tăng bình quân 5 năm (2003-2008) đạt 31,2%/năm. Cơ cấu kinh t ế chuy ển d ịch theo
hướng tích cực; các khu công nghiệp của huyện phát tri ển m ạnh. Huy ện có 180
doanh nghiệp trong và ngoài nước đang hoạt động có hiệu quả. Tổng diện tích đất
dành cho phát triển công nghiệp và đô thị của huyện hơn 4.000 ha chi ếm 33% t ổng
diện tích tự nhiên. Huyện không còn hộ đói, số hộ nghèo giảm còn 9%. Cơ s ở h ạ
tầng kỹ thuật được đầu tư đúng hướng và có hiệu quả. Đến nay, 100% s ố h ộ đ ược
dùng điện lưới, các xã, thị trấn xây được trụ sở làm việc, trạm y t ế, tr ường h ọc cao
tầng; 13/13 xã, thị trấn có điểm bưu điện văn hoá xã; trên đ ịa bàn có 4 tr ường trung
học phổ thông. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Huyện đã th ực
hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng tạo điều kiện thuận lợi thu hút đ ầu t ư, đ ồng
thời quan tâm công tác quy hoạch phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Cùng với phát triển về kinh tế, lĩnh vực văn hoá cũng được Đảng bộ và nhân
dân trong huyện quan tâm đúng mức, tạo sự phát triển hài hoà. Sự nghiệp giáo dục
có những bước phát triển khá, chất lượng dạy và học ngày càng được nâng lên. S ố
giáo viên, học sinh giỏi các cấp đều tăng ở từng năm h ọc. Hi ện t ại, huy ện có 12
trường đạt chuẩn quốc gia; 100% số xã, thị trấn đạt tiêu chuẩn ph ổ cập giáo dục
tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Hàng năm, có t ừ 15-
20% số học sinh thi đỗ vào các trường cao đẳng, đại học. Các ch ương trình mục
tiêu y tế quốc gia; công tác y tế dự phòng; y tế cộng đồng… được quan tâm đúng
mức; chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân được nâng cao. Công tác dân số - kế
hoạch hoá gia đình được các cấp, ngành quan tâm, đã h ạ t ỷ l ệ tăng dân s ố t ừ 1,39%
(năm 1998) xuống còn 1,3% (năm 2007). Đến nay, toàn huyện có 85% số gia đình
đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, 70% số làng đạt tiêu chu ẩn làng văn hoá, 100% đ ơn
vị đạt tiêu chuẩn đơn vị văn hoá. Các lễ hội truyền thống, phong trào văn hoá văn
nghệ, thể dục, thể thao được khơi dậy và phát huy, góp phần nâng cao đời sống tinh
thần của nhân dân. Các lĩnh vực chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được
giữ vững.
Để đạt được những kết quả trên, công tác cải cách hành chính đóng vai trò hết
sức quan trọng, là động lực cho đổi mới và phát triển kinh t ế, xã h ội c ủa huy ện.
Sớm xác định được tầm quan trọng đó, trong những năm qua, lãnh đ ạo Đ ảng, chính
quyền từ huyện đến cơ sở luôn quan tâm đặc biệt đến vi ệc đ ẩy m ạnh công tác c ải
cách hành chính, chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực trọng đi ểm, nh ạy c ảm nh ư
quản lý đất đai, giải phóng mặt bằng để thu hút đầu t ư, xây d ựng các khu, c ụm
công nghiệp và phát triển đô thị, đăng ký kinh doanh và đặc biệt là lĩnh v ực chính
sách xã hội nhằm bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn. Công tác c ải cách th ủ t ục
hành chính theo cơ chế “một cửa” được quan tâm thoả đáng, đầu tư và triển khai
thực hiện ngay tại trụ sở UBND huyện và trụ sở của 13/13 xã, th ị tr ấn có tác d ụng
tốt khi giải quyết công việc đối với tổ chức và công dân. Các th ủ tục hành chính
được giảm bớt và thông thoáng hơn, hạn chế phiền hà cho t ổ ch ức và công dân đ ến
thực hiện giao dịch.
Phát huy kết quả đã đạt được, thời gian tới, huyện Bình Xuyên tiếp tục đẩy
mạnh hơn nữa công tác cải cách hành chính trên các lĩnh vực sau:
Một là, tăng c ườ ng s ự lãnh đ ạo c ủa Đ ảng, qu ản lý c ủa nhà n ước v ề c ải
cách hành chính; thông tin, tuyên truy ền sâu r ộng trong nhân dân và các t ổ ch ức
kinh tế - xã h ội v ề c ải cách hành chính. Tăng c ường công tác ki ểm tra, giám sát
về cải cách hành chính, đào t ạo nâng cao trình đ ộ cán b ộ, công ch ức làm vi ệc ở
bộ ph ận “một c ửa”.
Hai là, công khai quy trình, hồ sơ, thủ tục, thời gian giải quyết, mức thu phí và
lệ phí để công dân và các tổ chức biết khi đến giải quyết công việc. Có biện pháp
xử lý đối với những đơn vị, cá nhân không hoàn thành nhi ệm v ụ ho ặc gây phi ền hà
cho nhân dân và các tổ chức, doanh nghiệp.
Ba là, hỗ trợ các xã, thị trấn xây dựng nhà làm việc, trang thi ết b ị theo h ướng
hiện đại, thuận tiện. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thi ết b ị hi ện đ ại
phục vụ nhiệm vụ cải cách hành chính để đáp ứng yêu cầu th ực ti ễn. Đào t ạo, đào
tạo lại, tuyển dụng đội ngũ cán bộ thực sự đủ năng lực đáp ứng yêu cầu của nhi ệm
vụ trong thời gian tới./.
BẠN ĐỌC VIẾT

PHẢI BIẾT NGHE DÂN, HIỂU DÂN VÀ CÓ
TRÁCH NHIỆM VỚI DÂN
NGUYỄN KHẮC BỘ


L ại nói về cải cách hành chính, nhiều người cho rằng, đó là công việc rất lớn.
Công việc lớn bao giờ cũng có trọng tâm, trọng điểm. Có dịp ti ếp xúc với cán
bộ, công chức, viên chức một số cơ quan hành chính các cấp, tôi th ấy c ần c ải cách
trước hết ở mấy điểm mà người dân hay phàn nàn nh ất, động chạm đ ến ng ười dân
nhiều nhất, đó là: chấp hành thời gian, kiến thức và năng lực, thái đ ộ ứng x ử, s ự
linh hoạt trong giải quyết công việc… của cán bộ, công chức, viên chức ở một số
cơ quan công quyền.
Vừa qua, một số cơ quan hành chính đã làm việc cả ngày th ứ bảy để tăng th ời
gian tiếp xúc, giải quyết công việc, giảm phiền hà cho dân. Điều này được người
dân hoan nghênh. Tuy nhiên, khi có việc cần đến công s ở làm vi ệc v ới cán b ộ, công
chức, viên chức thường thấy không ít nơi cán bộ, công ch ức, viên ch ức đi muộn, v ề
sớm, chấp hành không nghiêm giờ giấc làm việc. Nhiều nơi quy định giờ làm việc
là từ 7 hay 8 giờ sáng, nhưng 8 hoặc 9 giờ vẫn chưa tiếp đón, làm việc với khách
hàng; hoặc cán bộ, công chức, viên chức đã đến nhiệm sở nhưng còn rồng rắn đi
uống cà-phê hoặc uống trà trong phòng làm việc để khách từ xa đến phải chờ đợi.
Rồi buổi trưa, buổi chiều khi còn tới 15 phút nữa mới hết giờ làm vi ệc theo quy
định, nhưng khách đến đã thấy cửa đóng then cài, đành bấm bụng chờ “đến chiều
quay lại” hay “sáng mai đến tiếp” theo lời khuyên của nhân viên thường trực.
Người đến làm việc, giao dịch còn bất bình trước thái độ khiếm nhã, th ậm chí
hách dịch của một số cán bộ, công chức, viên chức. Ta có th ể g ặp nh ững c ử ch ỉ, l ời
nói đó ở phòng khám bệnh, trong phòng nộp thuế, trạm cảnh sát giao thông, n ơi làm
thủ tục xuất cảnh… Từ thái độ cửa quyền đã nảy sinh bệnh hách d ịch. Ở nhi ều tr ụ
sở cơ quan công an có lời khuyến cáo: mọi cán bộ, chiến sĩ hãy biết cười với dân!
Thật là một việc làm thiết thực và không phải là chuy ện nhỏ. Đó là l ễ ti ết tác
phong, là văn hoá của người công an nhân dân, là mối quan hệ g ắn bó gi ữa nhân dân
với lực lượng công an. Tại sao lâu nay người dân cứ nghe nói khám b ệnh, làm s ổ
hồng sổ đỏ, làm sổ hộ khẩu… lại toát mồ hôi hột. Lại còn chuy ện máy móc, c ứng
nhắc của một số cán bộ, công chức, viên chức. Một chút sai sót nhỏ trong tờ khai,
thiếu một chứng chỉ trong hồ sơ, sự thiếu thống nhất trong các chứng chỉ… có khi
chỉ sửa đổi tại chỗ một chút, nhưng người thừa hành vẫn khăng khăng yêu c ầu ph ải
quay về làm lại hồ sơ, rồi hẹn hàng tuần sau mới gặp lại được.
Làm sao để người dân bớt khổ vì những thủ tục hành chính phiền hà? Làm sao
để người dân đến cơ quan công quyền không còn nỗi ám ảnh ph ải xin x ỏ? Làm sao
để mọi cán bộ, công chức, viên chức, nhất là những người làm nhiệm vụ ở các bộ
phận tiếp dân luôn luôn niềm nở, có thái độ đúng mức, tiếp dân tận tình, chu đáo?
Những câu hỏi ấy chỉ có thể trả lời rằng: người cán bộ, công ch ức, viên ch ức ph ải
thật sự “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” như Bác Hồ đã dạy. Cụ thể là, phải
lắng nghe, hiểu dân và có trách nhiệm cao với dân. Trong các đ ợt sinh ho ạt chính tr ị
tư tưởng; các đợt kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ cần thảo luận, kiểm
điểm sâu sắc về thái độ ứng xử, trách nhiệm của cán bộ, công ch ức, viên chức đối
với nhân dân. Biểu dương kịp thời những cán bộ, công chức, viên ch ức mẫn cán,
trách nhiệm cao trong công việc, đồng thời xử lý nghiêm và kiên quy ết đưa ra kh ỏi
bộ máy những cán bộ, công chức, viên chức thoái hoá, biến chất, không làm tròn
bổn phận của mình, năng lực yếu kém. Có như vậy cải cách thủ tục hành chính mới
đem lại hiệu quả thiết thực, giảm phiền hà cho dân, góp phần làm cho bộ máy nhà
nước trong sạch, vững mạnh; thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân./.
NHÌN RA THẾ GIỚI

KINH NGHIỆM CẢI CÁCH CÔNG VỤ Ở
MỘT SỐ NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
THS. TRẦN VĂN NGỢI
Phó Viện trưởng, Viện KHTCNN, Bộ Nội vụ

Trên thế giới, công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước đã trở thành một xu
thế không thể đảo ngược. Thực tế của công cuộc cải cách đã chỉ ra rằng để thúc đẩy
sự phát triển kinh tế cũng như cải cách nền hành chính, vấn đề tạo ra một đội ngũ
công chức phù hợp, đáp ứng yêu cầu của hoạt động quản lý bộ máy nhà nước có ý
nghĩa rất quan trọng. Hiện nay, đa số các quốc gia đều đứng trước những khó khăn
như nhau về đội ngũ công chức và những đòi hỏi phải cải cách. Vấn đề đặt ra là nhu
cầu tất yếu đòi hỏi phải cải cách hệ thống công vụ và công chức nhằm đổi mới không
chỉ chính hệ thống công vụ, công chức, mà quan trọng hơn là hệ thống này phải đáp
ứng được đòi hỏi của sự đổi mới về kinh tế của các quốc gia đó. Chính phủ của nhiều
quốc gia đang phát triển đã không đủ năng lực để quản lý và cung cấp tài chính một
cách hữu hiệu cho hệ thống công vụ. Hệ thống công vụ nói chung quá lớn, quá tốn
kém và hoạt động kém hiệu qủa; đội ngũ công chức nói chung thiếu hoặc có quá ít
động lực để thúc đẩy hoạt động có hiệu quả hơn. Hệ thống công vụ hoạt động trên
một quy mô lớn và có nhiều cơ quan cùng liên quan đến một vấn đề; nhiều cán bộ
không làm tròn trách nhiệm được giao hoặc rất chậm trễ với công việc; chi phí cho
tiền lương công chức cao so với thu nhập của Chính phủ và so với GDP.
Nghiên cứu nền công vụ của các nước đã được sự hỗ trợ tài chính của Ngân hàng
thế giới, các chuyên gia tư vấn cải cách hệ thống công vụ đã rút ra 4 vấn đề cần quan
tâm:
1. Chi phí tiền lương quá lớn. Mặc dù không có phương pháp luận để đo lường,
cũng như không thể tiếp cận theo những tiêu chuẩn cụ thể, nhưng có thể sử dụng một
vài chỉ số so sánh để có thể thấy được điều đó. Ví dụ, so sánh tổng ngân sách, tổng chi
phí thường xuyên của Chính phủ với chi phí tiền lương.
2. Dư thừa một số lớn công chức. Điều này không thể xem xét đơn thuần trên
quan điểm so sánh số lượng công chức với số dân. Điều đáng quan tâm là có quá nhiều
người không có việc làm hoặc việc làm không cụ thể, không có mục tiêu. Nhưng để
đưa ra một khái niệm đúng về dư thừa, cần nghiên cứu đầy đủ vai trò của nhà nước
trong nền kinh tế. Sự dư thừa về số lượng và thiếu về chất lượng là điều đáng quan
tâm.
3. Sự “xói mòn” về tiền lương của công chức. Trong nhiều nước, mức lương
thực tế của công chức đã bị “xói mòn”. Tiền công trả quá thấp và đối với những công
chức bậc thấp mức lương nhận được không cao hơn mức nghèo khổ. Để giảm sự
thiếu hụt và tiền lương quá thấp, nhiều loại hình thu nhập ngoài lương đã xuất hiện và
chiếm một vị trí quan trọng trong thu nhập của công chức. Mức trả lương thấp nhưng
chi phí cho việc trả lương trong tổng chi phí là rất cao. Những hạn chế của vấn đề
tiền lương trong điều kiện có sự lựa chọn thị trường việc làm đã làm cho không ít công
chức chuyển sang khu vực tư nhân có mức thu nhập cao hơn.
4. Sự dồn ép của tiền lương, tức là mức độ chênh lệch của tiền lương giữa cấp
thấp nhất và cấp cao nhất không lớn và đây là một khó khăn để chính phủ các nước thu
hút và duy trì đội ngũ công chức có chất lượng. Tuy nhiên, sự chênh lệch không lớn
giữa bậc lương cao nhất và thấp nhất còn phụ thuộc vào ý muốn của đội ngũ lãnh đạo.
Nhiều chính phủ muốn duy trì sự chênh lệch không quá cao của hệ thống tiền lương
để tranh thủ sự ủng hộ của các nhóm công chức có thu nhập thấp (chiếm đa số).
Một trong những quan tâm của các quốc gia là giải quyết áp lực lớn về tiền
lương khu vực công và cải cách công vụ, bởi nó liên quan tới: chất lượng, hiệu lực và
hiệu quả của hệ thống công vụ còn thấp; hệ thống hạ tầng xuống cấp; chi phí chuyển
giao lớn và chậm trễ khi phối hợp hoạt động với chính phủ và hiện tượng tham nhũng
tương đối phổ biến trong đội ngũ công chức. Mục tiêu của các cuộc cải cách hành
chính là nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, nhưng để đạt được
mục tiêu này đòi hỏi sự cố gắng trong khoảng th ời gian t ương đ ối dài và là v ấn đ ề
rất phức tạp.
Nghiên cứu cải cách nền công vụ của các quốc gia đã được Ngân hàng th ế
giới trợ giúp tài chính đưa ra một kết luận rất bổ ích là nhiều dự án đã được th ực
hiện theo nguyên tắc “Thử và thất bại”. Điều quan trọng là thông qua các dự án này,
mỗi quốc gia học được cái gì nên làm và cái gì không nên làm. Để giảm áp l ực v ề
tài chính, đa số các quốc gia đều tập trung vào giải quy ết mối quan h ệ gi ữa ti ền
lương và việc làm trong bộ máy thông qua các chương trình cải cách công vụ. Có
nhiều cách giải quyết khác nhau đã được tiến hành (với mức độ thành công khác
nhau ở từng quốc gia và từng thời điểm).
1. Trước hết, phải “làm sạch” bảng lương trong hệ th ống công v ụ. Đa s ố các
quốc gia đều thực hiện việc này vì ít liên quan đến các vấn đề chính trị và rất d ễ
nhận thức. Ở một số quốc gia đã tồn tại trong khá nhiều năm cái gọi là danh sách
“ma”, nghĩa là chỉ để nhận lương hoặc có tên trong nhiều cơ quan để nh ận 2 ho ặc 3
lần lương. Để có thể làm sạch bảng lương, các quốc gia đều được khuy ến ngh ị
phải tiến hành tổng điều tra số lượng cán bộ thực tế trong hệ th ống công vụ. Sự
giúp đỡ của các chuyên gia tư vấn về phương pháp điều tra, cách th ức x ử lý đã đem
lại thành công bước đầu, song việc điều tra này đòi h ỏi có sự chuẩn b ị chu đáo, đ ầy
đủ các biện pháp nhằm hạn chế những tác động tiêu c ực. Đây cũng là v ấn đ ề n ằm
trong phạm vi chống tham nhũng và trong sạch bộ máy của chính phủ nhiều nước.
Các hoạt động làm trong sạch được thực hiện thận trọng và có s ự tr ợ giúp đ ắc l ực
của các chuyên gia điện tính và tin học. Thông qua tổng điều tra công chức, có th ể
tìm ra và giảm đáng kể số người “ma”.
2. Tăng cường hiệu lực của chế độ nghỉ hưu. Thực hiện triệt để việc ngh ỉ
hưu đối với những người đến tuổi hưu trí được coi là một trong nh ững vấn đ ề quan
trọng của các chương trình cải cách. Những công ch ức đến tuổi ngh ỉ h ưu ph ải th ực
hiện đúng chế độ đã quy định. Điều này dễ được chấp nhận ở những nước có đội
ngũ công chức lớn tuổi chiếm tỷ lệ không cao.
3. Hạn chế việc tuyển công chức mới. Biện pháp này đ ược áp dụng đ ể gi ảm
số lượng công chức của chính phủ. Nhưng so với hai biện pháp trên, biện pháp này
chịu tác động chính trị nhiều hơn; trước hết là sự phản đối của những người có khả
năng trở thành công chức trong số sinh viên tốt nghiệp các trường đại học. Chính phủ
nhiều nước thành lập các ủy ban để xem xét những vị trí còn khuyết trong các cơ quan
nhà nước và quyết định cần bổ sung hoặc có thể thuyên chuyển từ chỗ khác sang.
4. Điều chỉnh, hạn chế việc tăng lương và chuyển lên ngạch cao hơn theo thâm
niên trong nền công vụ. Nhiều quốc gia đã thực hiện kiểm soát, hạn chế việc tăng
lương và chuyển ngạch có chất lượng, không hoàn toàn theo thâm niên công tác. Đây là
một biện pháp để giảm áp lực tài chính trong hệ thống công vụ.
5. Thực hiện chế độ nghỉ hưu sớm và các chương trình tự nguyện thôi việc. Các
nước đã, đang tiến hành chương trình nhằm giảm áp lực về tài chính và dư thừa công
chức, nhưng trong điều kiện chính trị có nhiều thay đổi, vấn đề giảm biên chế theo
nguyên tắc cưỡng bức tỏ ra ít hiệu quả và gây ra sự chống đối có tính chất chính trị
trong xã hội. Chính phủ các nước kiến nghị biện pháp nghỉ hưu sớm và tự nguyện rời
nền công vụ. Nghỉ hưu sớm (tự nguyện) được xem như là một biện pháp ít căng thẳng
về chính trị. Những công chức đến tuổi nghỉ hưu, nhưng cơ quan không có nhu cầu
hoặc đã có người khác năng lực hơn có thể thay thế và làm được nhiều việc hơn, được
khuyến khích nhận một khoản tiền nhất định và nghỉ hưu sớm. Tuy nhiên, biện pháp
này cũng chỉ đem lại những kết quả rất hạn chế và nhiều trường hợp lại giảm hiệu
suất của nền công vụ do những người có kinh nghiệm trong bộ máy sẽ ra đi, trong khi
những người mà chính phủ muốn họ nghỉ hưu sớm lại không nghỉ vì chính bản thân họ
không có cơ hội để kiếm lợi thế hơn ở bên ngoài thị trường.
6. Kiềm chế quỹ lương. Đây là một biện pháp không thật sự được công chức
ủng hộ. Chính phủ của nhiều nước đã áp dụng các hình thức thích hợp như: giữ quỹ
lương ở mức hiện tại; tăng lương thấp hơn tỷ lệ lạm phát; tăng lương thấp hơn mức
chi tiêu thường xuyên của chính phủ.
7. Cắt giảm số lượng công chức. Đây là biện pháp khó khăn, thường gây ra sự
phản đối vì liên quan đến việc làm. Để làm được việc này, đa số các chính phủ rất
thận trọng khi áp dụng và tìm nhiều biện pháp để giảm áp lực chính trị và xã hội. Một
số biện pháp được áp dụng là:
- Thực hiện một chiến dịch truyền thông đại chúng để mọi tầng lớp xã hội hiểu
được hiệu quả, lợi ích của việc cắt giảm biên chế trong nền công vụ và trong bộ máy
nhà nước.
- Thực hiện chế độ kiểm tra năng lực của đội ngũ công chức theo hệ thống các
tiêu chí cụ thể. Những người đạt các tiêu chuẩn đề ra được coi là những người có đủ
điều kiện để tiếp tục làm việc trong nền công vụ. Những người không đạt yêu cầu,
nếu có đủ thời gian công tác, có thể thực hiện chế độ nghỉ hưu theo nhiều hình thức.
Những người không đạt tiêu chuẩn, chưa đủ thời gian công tác sẽ thực hiện theo chế
độ nghỉ hưu tự nguyện như nêu ở trên. Một số tiêu chí rất đặc biệt cũng đã được xây
dựng để kiểm tra việc tuyển chọn người mới.
- Xây dựng ngân hàng dữ liệu công chức. Đối với những người thi đậu kỳ thi
tuyển công chức nhưng vẫn thuộc danh sách dư thừa, có thể thực hiện việc chuyển
sang các cơ quan khác trong trường hợp cần thiết.
- Thực hiện chế độ trả một lần cho những người không đủ tiêu chuẩn để họ ra
khỏi bộ máy. Phương thức trả cũng rất khác nhau. Có nước tính theo thời gian công tác
để xác định mức trả tiền, có nước trả trọn gói một khoản tiền nhất định.
- Đánh giá lại chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước để thực hiện giảm
biên chế trên quy mô quốc gia. Có thể áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để tiến hành
đánh giá lại chức năng, nhiệm vụ. Thông thường có thể dùng: thanh tra công vụ; nghiên
cứu lại cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động; phân tích ngân sách và phân tích các
tỷ suất có liên quan đến việc bố trí công chức.
- Đào tạo, xây dựng lại và thực hiện các chương trình phát triển nguồn nhân lực
thông qua các hình thức tín dụng ưu đãi cho công chức trong nền công vụ. Các chương
trình đào tạo trước đây công chức không quan tâm, nay họ cần biết để có thể gia nhập
vào thị trường. Một số chương trình hoạt động mang tính chất xã hội đã được tạo ra
để khuyến khích công chức tham gia. Chương trình ưu đãi tín dụng để thành lập các
doanh nghiệp nhỏ cho các công chức bị giảm biên chế cũng được chú ý, mặc dù mức
độ hiệu quả của các chương trình này không cao./.
__________________________________________________________
Ghi chú:
Nguồn: tóm lược từ “Báo cáo về cải cách công vụ của Ngân hàng thế giới”.
HỘI THẢO CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN VÀ CƠ CẤU
CHỨC DANH CÁN BỘ, CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI




N gày 28/11/2008, tại Hà Nội, Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ N ội v ụ
phối hợp với Sở Nội vụ thành phố Hà Nội tổ chức h ội thảo v ề “C ơ sở khoa
học xây dựng tiêu chuẩn và cơ cấu chức danh cán bộ, công chức hành chính Thành
phố Hà Nội”.
Các ý kiến tham luận tại hội thảo tập trung làm rõ nh ững vấn đ ề liên quan
đến việc xây dựng tiêu chuẩn và cơ cấu cán bộ, công ch ức, nh ững y ếu t ố tác đ ộng,
ảnh hưởng đến cơ cấu công chức và phương pháp xây dựng cơ cấu công chức trong
các cơ quan hành chính nhà nước; tiêu chuẩn và cơ cấu chức danh công chức trong
mối quan hệ với tiền lương, với công tác quản lý biên chế, công tác đào tạo, bồi
dưỡng công chức... Kết quả hội thảo cung cấp luận cứ khoa học để thành phố Hà
Nội xây dựng tiêu chuẩn và cơ cấu chức danh cán bộ, công ch ức hành chính c ủa
thành phố sau khi được mở rộng nhằm từng bước đưa công tác quản lý công chức
đi vào nền nếp, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô./.


T.K
TIN HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC NHÀ NƯỚC
VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ HỌP BÁO


V ừa qua Văn phòng Chính ph ủ t ổ ch ức h ọp báo th ường kỳ tháng 11/2008. B ộ
trưở ng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính ph ủ Nguy ễn Xuân Phúc ch ủ trì, đã
cung cấp cho báo chí c ả n ước thông tin v ề: tình hình kinh t ế - xã h ội tháng 11 và
11 tháng năm 2008; v ề đi ều hành chính sách ti ền t ệ, tín d ụng và t ỷ giá tháng
11/2008; về đẩy mạnh xu ất kh ẩu, gi ảm nh ập siêu năm 2009; tình hình th ực hi ện
chính sách ổn định kinh t ế vĩ mô 11 tháng năm 2008 và nh ững gi ải pháp ch ủ y ếu;
tình hình th ực hiện đ ề án kiên c ố hoá tr ường h ọc, l ớp h ọc và nhà công v ụ giáo
viên đến ngày 15/11/2008, giai đo ạn 2008-2012. Đ ặc bi ệt, B ộ tr ưởng, Ch ủ nhi ệm
Văn phòng Chính ph ủ đã thông báo 5 gi ải pháp c ấp bách đ ược Chính ph ủ thông
qua nhằm ngăn chặn suy gi ảm kinh t ế và đình tr ệ s ản xu ất kinh doanh, thúc đ ẩy
tăng trưởng kinh t ế sau đây:
- Thúc đẩy sản xuất kinh doanh và đẩy mạnh xuất khẩu.
- Các giải pháp, chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng.
- Chính sách tiền tệ và chính sách tài chính.
- Bảo đảm an sinh xã hội và đẩy mạnh chương trình giảm nghèo.
- Tăng cường công tác thông tin tuyên truy ền, bảo đ ảm cung c ấp k ịp th ời,
chính xác các thông tin chính thức từ các cơ quan nhà nước, phục vụ tốt cho vi ệc
bảo đảm ổn định chính trị và trật tự xã hội./.

P.H.T
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản