Ý nghĩa việc nghiên vấn đề bản sắc văn hoá làng xã trong xây dựng nông thôn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Chia sẻ: Nguyen Tuan Anh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:9

0
440
lượt xem
219
download

Ý nghĩa việc nghiên vấn đề bản sắc văn hoá làng xã trong xây dựng nông thôn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nông thôn Việt Nam trước yêu cầu mới: Khái niệm “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn…Trong tâm thức người Việt, đó là một môi trường kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền, không gian sinh tồn, không gian xã hội và cảnh quan văn hoá xây đắp nên nền tảng tinh thần, tạo thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của người Việt. Làng - xã là một cộng đồng địa vực, cộng đồng cư trú có ranh giới lãnh thổ tự nhiên và hành chính xác định....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ý nghĩa việc nghiên vấn đề bản sắc văn hoá làng xã trong xây dựng nông thôn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

  1. Ý nghĩa việc nghiên vấn đề bản sắc văn hoá làng xã trong xây dựng nông thôn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh Học viên cao học K XVIII, Đại Học Sư Phạm Huế. Địa chỉ Gmail: Nguyenbeanh@gmail.com 1. Nông thôn Việt Nam trước yêu cầu mới: Khái niệm “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn…Trong tâm thức người Việt, đó là một môi trường kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền, không gian sinh tồn, không gian xã hội và cảnh quan văn hoá xây đắp nên nền tảng tinh thần, tạo thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của người Việt. Làng - xã là một cộng đồng địa vực, cộng đồng cư trú có ranh giới lãnh thổ tự nhiên và hành chính xác định. Làng là một đơn vị tự cấp, tự túc về kinh tế có ruộng, có nghề, có chợ…tạo thành một không gian khép kín thống nhất. Làng - xã là một cộng đồng tương đối độc lập về phong tục tập quán, văn hoá, là một đơn vị tự trị về chính trị. Trong lịch sử, làng - xã là đơn vị hành chính cơ sở. Tuy nhiên làng - xã cũng có những biến đổi ít nhiều qua các thời kỳ, nhưng nhìn chung cho đến trước năm 1945, qua các biến động, làng vẫn giữ được những cấu trúc truyền thống cơ bản. Nông thôn được xác định là tổng hợp của các làng, nói cách khác, Làng Việt là đơn vị cơ bản của nông thôn Việt Nam. Làng - xã đã từng đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển đất nước, là nơi lưu giữ những giá trị văn hoá, nuôi dưỡng nguyên khí của dân tộc trước các nguy cơ đồng hoá, nô dịch. Những giá trị nói trên của làng luôn luôn cần thiết cho phát triển đất nước, cần và sẽ được tiếp tục trong mô hình nông thôn mới. Nhưng tính khép kín, tính tự cung tự cấp của mô hình làng truyền thống rõ ràng không đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước hiện nay. Có thể nói, kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, chủ trương,
  2. chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước ta đã có những thay đổi căn bản. Những nội dung trong chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn như: xem nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, chú trọng các chương trình lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, phát triển kinh tế trang trại, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở… đã bắt đầu tạo ra những yếu tố mới trong phát triển nông nghiệp, nông thôn. Bên cạnh đó, Nhà nước đã phối hợp với các tổ chức quốc tế, các tổ chức xã hội trong nước để xoá đói giảm nghèo, cải thiện môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội ở nông thôn. Các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước ta đã và đang đưa nền kinh tế nông nghiệp nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá - tập trung - quan liêu - bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở những nét chính sau: - Bước đầu thực hiện quy luật sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn nước ta. Người nông dân đã có quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuật (máy móc, điện, đường, trường, trạm, hệ thống thuỷ nông…) đã có bước phát triển đáng kể. - Lương thực tăng bình quân hàng năm 5% bảo đảm được an ninh lương thực quốc gia, có dự trữ, liên tục xuất khẩu với khối lượng lớn. Kinh tế nông thôn có sự chuyển dịch đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp và phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn. - Trình độ sản xuất nông nghiệp có nhiều tiến bộ, nhiều loại sản phẩm đã được xây dựng thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung. Trình độ thâm canh được nâng cao, chất lượng nông sản được cải thiện đáng kể. - Tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản tăng liên tục ở mức cao, kể cả trong điều kiện không thuận lợi của ngoại cảnh (thời tiết, thị trường...). Kim ngạch xuất khẩu nông sản có xu hướng tăng đều qua các năm, bình quân chiếm tới 25 - 30% tổng kim ngạch xuất khẩu. - Cơ cấu kinh tế nông thôn có chuyển biến tích cực. Các ngành sản
  3. xuất phi nông nghiệp ở nông thôn đã được mở rộng tuy chưa nhiều, trong đó có một số ngành nghề mới. Kết cấu hạ tầng nông thôn ở nhiều vùng đã được cải thiện. - Tỷ lệ hộ đói nghèo ở nông thôn giảm mạnh (từ 30% năm 1992 xuống 7% năm 2004, theo tiêu chí cũ). Đời sống của người dân nông thôn đã được cải thiện, bộ mặt nông thôn không ít nơi đã có dáng dấp hiện đại. - Văn hoá, giáo dục, y tế có sự phát triển mới. Dân chủ hoá nông thôn, chương trình an sinh xã hội, phát triển giới đang được tích cực thực hiện. Những thành tựu đạt được trong phát triển nông nghiệp, nông thôn thời kỳ đổi mới là rất to lớn, tuy nhiên, nông nghiệp và nông thôn nước ta vẫn tiềm ẩn những mâu thuẫn, thách thức và bộc lộ những hạn chế không nhỏ. Nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, nông dân đang chiếm gần 74% dân số và chiếm đến 60,7% lao động xã hội. Thu nhập của nông dân chỉ bằng 1/3 so với dân cư khu vực thành thị. Nhiều chính sách của Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn chưa thực sự hiệu quả, thiếu bền vững, ở nhiều mặt có thể nói là chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, chưa đưa sản xuất nông nghiệp ở nông thôn thành sản xuất hàng hoá thực sự. Một trong những nguyên nhân cơ bản là các chính sách chưa thấu đáo các vấn đề như: tầm nhìn (mục tiêu); mô hình phát triển và các nguồn lực; xác định lợi ích thực tế của các bên liên quan trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, nên có phần thiên về thúc đẩy phát triển ngành, mà chưa xem trọng đúng mức vai trò, lợi ích của chủ thể chính, động lực chính phát triển nông nghiệp là nông dân. Phần lớn các chính sách hầu như chưa quan tâm thỏa đáng trong việc xử lý tổng thể, hợp lý mối quan hệ giữa các vùng, các lĩnh vực trong ngành, giữa nông thôn và thành thị, chưa đặt ra và giải quyết triệt để mối quan hệ giữa các yếu tố chính của mô hình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy, dẫn đến tình trạng
  4. thiếu cụ thể, thiếu khoa học trong quy trình hoạch định chính sách và triển khai chính sách; có nhiều chính sách nhưng hiệu quả kinh tế, hiệu ứng xã hội của các chính sách không tương xứng với nguồn lực đầu tư, hoặc thiếu bền vững. Góp phần khắc phục một cách cơ bản tình trạng trên, đưa Nghị quyết của Đảng về nông thôn đi vào cuộc sống, một trong những việc cần làm trong giai đoạn này là xây dựng mô hình nông thôn mới đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập nền kinh tế thế giới. Đây là chính sách về một mô hình phát triển cả nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí. Như vậy, những thử nghiệm này tuy rất quan trọng và có ý nghĩa, nhưng vẫn chưa xác định được đầy đủ những tiêu chí, cấu trúc, khả năng áp dụng của mô hình nông thôn mới. Vấn đề đang được đặt ra và cần phải tiếp tục nghiên cứu. 2. Hình dung ban đầu về những tiêu chí của mô hình nông thôn mới: Sự hình dung chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại, song vẫn giữ được những nét đặc trưng, tính cách Việt Nam trong cuộc sống văn hoá tinh thần. Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; tiến bộ hơn so với mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước. Như vậy, có thể quan niệm: mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây
  5. dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt. Theo chúng tôi, có thể xác định một số tiêu chí của mô hình nông thôn mới như sau: Một là, đơn vị cơ bản của mô hình nông thôn mới là làng - xã. Làng - xã thực sự là một cộng đồng, trong đó quản lý của Nhà nước không can thiệp sâu vào đời sống nông thôn trên tinh thần tôn trọng tính tự quản của người dân thông qua hương ước, lệ làng (không trái với pháp luật của Nhà nước). Quản lý của Nhà nước và tự quản của nông dân được kết hợp hài hoà; các giá trị truyền thống được phát huy tối đa, tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tích cực, bảo đảm trạng thái cân bằng trong đời sống kinh tế- xã hội ở nông thôn, giữ vững an ninh trật tự xã hội,…nhằm hình thành môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn. Hai là, đáp ứng yêu cầu thị trường hoá, đô thị hoá, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuẩn bị những điều kiện vật chất và tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống và trở nên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ đã gắn bó lâu đời. Trước hết, cần tạo cho người dân có điều kiện để chuyển đổi lối sống và canh tác tự cung tự cấp, thuần nông (cổ truyền) sang sản xuất hàng hoá, dịch vụ, du lịch, để họ “ly nông bất ly hương”. Ba là, có khả năng khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực, đạt tăng trưởng kinh tế cao và bền vững; môi trường sinh thái được giữ gìn; tiềm năng du lịch được khai thác; làng nghề truyền thống, làng nghề tiểu thủ công nghiệp được khôi phục; ứng dụng công nghệ cao về quản lý, về sinh học...; cơ cấu kinh tế nông thôn phát triển hài hoà, hội nhập địa phương, vùng, cả nước và quốc tế. Bốn là, dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất. Các chủ thể nông thôn (lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông dân, các tổ chức phi chính phủ, nhà nước, tư nhân…) có khả năng, điều kiện và trình độ để tham gia tích cực vào các quá trình ra quyết định về chính sách phát triển nông thôn; thông tin minh bạch, thông suốt và hiệu quả
  6. giữa các tác nhân có liên quan; phân phối công bằng. Người nông dân thực sự “được tự do và quyết định trên luống cày và thửa ruộng của mình”, lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh làm giàu cho mình, cho quê hương theo đúng chủ trương đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Năm là, nông dân, nông thôn có văn hoá phát triển, dân trí được nâng lên, sức lao động được giải phóng, nhiệt tình cách mạng được phát huy. Đó chính là sức mạnh nội sinh của làng xã trong công cuộc xây dựng nông thôn mới. Người nông dân có cuộc sống ổn định, giàu có, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và tay nghề cao, lối sống văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được những giá trị văn hoá, bản sắc truyền thống “tắt lửa tối đèn” có nhau, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tham gia tích cực mọi phong trào chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại…nhằm vừa tự hoàn thiện bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, vừa góp phần xây dựng quê hương văn minh giàu đẹp. 3. Những nhân tố chính của mô hình nông thôn mới: Từ những tiêu chí trên đây, bước đâu có thể nêu một số nhân tố chính của mô hình nông thôn mới. Về kinh tế, nông thôn có nền sản xuất hàng hoá mở, hướng đến thị trường và giao lưu, hội nhập. Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông thôn phải hiện đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán. - Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hoá giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị. - Hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các hợp tác xã theo mô hình kinh doanh đa ngành. Hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất kinh
  7. doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn. - Sản xuất hàng hoá có chất lượng cao, mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương. Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế biến bảo quản, chế biến nông sản sau thu hoạch. Về chính trị, phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật, gắn lệ làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, tôn trọng kỷ cương phép nước, phát huy tính tự chủ của làng xã. Phát huy tối đa Quy chế Dân chủ ở cơ sở, tôn trọng hoạt động của các hội, đoàn thể, các tỏ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào xây dựng nông thôn mới. Về văn hoá xã hội, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, giúp nhau xoá đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng. Về con người, xây dựng hình mẫu người nông dân sản xuất hàng hoá khá giả, giàu có; kết tinh các tư cách: công dân, thể nhân, dân của làng, người con của các dòng họ, gia đình. Về môi trường, xây dựng, củng cố, bảo vệ môi trường, du lịch sinh thái. Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững. Các nội dung trên trong cấu trúc mô hình nông thôn mới có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần. Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách. Trên tinh thần đó, các chính sách kinh tế - xã hội sẽ tạo hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng mô hình nông thôn mới.
  8. 4. Kết luận: Cần phải nhìn nhận một cách hết sức thiết thực và cụ thể rằng: làng xã, nông thôn dù có đổi mới đến đâu cũng không thể trở thành đô thị được . Nhà cửa nông thôn có thể rất đẹp, đời sống nông thôn có thể gần ngang bằng thành thị nhưng đời sống ở nông thôn là gắn với ruộng đồng, chuồng trại chăn nuôi; khác hẳn với đời sống thành thị. Vì vậy hiện đại hoá, công nghiệp hoá nông thôn không phải là “xi măng hoá” tất cả. Nói ví dụ như: dù cải thiện đến đâu vẫn phải giữ lại những phong tục tập quán, những di tích của làng xã, nhà thờ họ, những ngôi nhà cổ hàng trăm năm, những nơi mang tính truyền thống như cây đa, giếng nước đầu làng, đền chùa... vì những cái đó là đặc điểm riêng của nông thôn Việt Nam ; không thể bỗng dưng xoá bỏ đi mà thay vào đó là công viên hay toa xe điện ngầm được. Xây dựng mới nhưng vẫn phải đậm đà bản sắc dân tộc . Nếu cứ làm ào ào, không có biện pháp bảo tồn, giữ gìn truyền thống văn hoá, cảnh quan làng xã thì chúng ta có nguy cơ phá vỡ nền tảng văn hoá truyền thống quý gía này. Rất đáng mừng là nông thôn Việt Nam trong 10 năm qua đã có nhiều thay đổi tích cực: người nông dân không những chỉ đủ ăn mà còn có sản phẩm để xuất khẩu , đời sống người nông dân vì thế mà được nâng cao, số hộ đói nghèo giảm dần, tỉ lệ suy dinh dưỡng ở mức thấp... Chúng ta tin rằng bức tranh nông thôn Việt Nam sẽ ngày càng được cải thiện. phát triển ngang bằng với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, đồng thời văn hoá làng xã truyền thống vẫn tiếp tục được bảo tồn và phát huy Văn hoá làng, kiến trúc làng là những biểu hiện sâu đậm của nền văn minh ăn ở trong cộng đồng, của nền kiến trúc Việt. Làng rèn đúc, gạn chắt, duy trì và phát triển chậm chạp và bền vững, những trụ cột, những truyền thống và giá trị vật chất lẫn tinh thần của người Việt qua mọi biến hoá của lịch sử đều thể hiện ở văn hóa làng. Vì vậy, bảo tồn và phát triển làng và văn hóa làng Việt và ý nghĩa đối với việc xây dựng
  9. nông thông Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là vấn đề Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm và đang từng bước triển khai. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đào Duy Anh (1938), Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb KHXH Hà Nội. 2. Phạm Văn Đồng (1994), Văn hoá và đổi mới, Nxb CTQG, Hà Nội. 3. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội. 4. Nguyễn Minh Hoà (1995), Bảo tồn và phát triển văn hoá truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá-đô thị hoá ở thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Thông tin lý luận, số 10. 5. Đinh Gia Khánh (1993), Đại cương về tiến trình văn hoá Việt Nam, Nvb Văn học, Hà Nội. 6. Phan Ngọc (1994), Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận mới, Nxb VHTT, Hà Nội. 7. Trần Ngọc Thêm (1997), Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb Tp.HCM, HCM. 8. Ngô Đức Thịnh (1963), Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội. 9. Trần Quốc Vượng (1996), Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản