Zona (Kỳ 3)

Chia sẻ: Barbie Barbie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
43
lượt xem
4
download

Zona (Kỳ 3)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Zona mắt Những BN bị zona của nhánh I thần kinh sinh ba điển hình có các triệu chứng đau nửa bên mặt, và các tổn thương ở trán, vùng quanh nhãn cầu và mũi. Nếu không trị liệu kháng virút, khoảng chừng 50% những BN này sẽ có các biến chứng về mắt (như bệnh lý giác mạc, viêm thượng củng mạc, viêm mống mắt hoặc viêm giác mạc nhu mô), một số trong các biến chứng này có tiềm năng gây mù (Cobo M, et al. 1987). Liệu pháp kháng virút đường uống làm giảm các biến...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Zona (Kỳ 3)

  1. Zona (Kỳ 3) Zona mắt Những BN bị zona của nhánh I thần kinh sinh ba điển hình có các triệu chứng đau nửa bên mặt, và các tổn thương ở trán, vùng quanh nhãn cầu và mũi. Nếu không trị liệu kháng virút, khoảng chừng 50% những BN này sẽ có các biến chứng về mắt (như bệnh lý giác mạc, viêm thượng củng mạc, viêm mống mắt hoặc viêm giác mạc nhu mô), một số trong các biến chứng này có tiềm năng gây mù (Cobo M, et al. 1987). Liệu pháp kháng virút đường uống làm giảm các biến chứng mắt muộn từ khoảng 50% xuống còn từ 20 – 30%. Những BN bị zona mắt nên được một bác sĩ nhãn khoa có kinh nghiệm về xử trí các bệnh lý giác mạc thăm khám và đánh giá (Liesegang TJ. 1999). Zona ở những BN có huyết thanh HIV dương tính Bệnh zona ở những BN HIV (+) cũng tương tự như bệnh zona ở những người có chức năng miễn dịch đầy đủ, dù rằng vài điểm khác biệt như tái phát thường xuyên và các tổn thương không điển hình đã được mô tả kỹ lưỡng (Glesby
  2. MJ, et al. 1995). Acyclovir đường uống có hiệu quả trong điều trị zona ở BN nhiễm HIV (Ganann JW, et al. 1998). Valacyclovir và famciclovir chưa được đánh giá một cách có hệ thống, mặc dù kinh nghiệm truyền khẩu ám chỉ chúng có hiệu lực. Vì nguy cơ tái phát ở những BN này, bệnh do virút Varicella Zoster nên được điều trị cho đến khi các tổn thương lành lặn hẳn. Vài trường hợp bệnh hiếm gặp do các virút Varicella Zoster kháng acyclovir gây ra đã được báo cáo ở những BN AIDS giai đoạn muộn, buộc phải điều trị với các thuốc thay thế khác (như foscarnet) (Safrin S, et al. 1991). Sau khi điều chỉnh theo tuổi, tỷ lệ của đau dây thần kinh sau zona ở những BN HIV (+) không khác biệt đáng kể so với tỷ lệ ở khối dân số có chức năng miễn dịch đầy đủ (Glesby MJ, et al. 1995; Gnann JW, 1998). Corticosteroid Có hai nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn, có đối chứng lượng giá vai trò của corticosteroid trong kết hợp với acyclovir. Trong cả hai nghiên cứu (Harrison RA, et al. 1999: Wood MJ, et al. 1994), những BN dùng corticosteroid có sự tăng vừa phải nhưng có ý nghĩa thống kê tiến độ lành da và giảm nhẹ được cơn đau cấp tính. Liệu pháp kết hợp mang lại một chất lượng cuộc sống được cải thiện, thể hiện qua việc giảm sử dụng thuốc giảm đau, thời gian có giấc ngủ không đứt quãng dài hơn và thời gian trở lại sinh hoạt thường lệ sớm hơn. Tuy nhiên không có nghiên cứu nào chứng minh được bất kỳ tác dụng nào của corticosteroid trên tỷ lệ mắc bệnh hoặc thời gian kéo dài của đau dây thần kinh sau zona. Liệu pháp
  3. corticosteroid không nên sử dụng ở những BN có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi độc tính do corticosteroid (ví dụ những BN tiểu đường hoặc viêm dạ dày). Liệu pháp kết hợp valacyclovir hoặc famciclovir với cortico-steroid được cho là có hiệu quả tương đương, nhưng chưa được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng. Không có khuyến nghị sử dụng corticosteroid trong zona mà không có liệu pháp kháng virút song hành. Điều trị triệu chứng BN nên giữ các tổn thương da được sạch và khô nhằm giảm nguy cơ bội nhiễm vi khuẩn. Đắp một miếng băng vô khuẩn, không bít hơi, không dính, lên khoanh cảm giác da (dermatome) bị tổn thương sẽ bảo vệ các tổn thương khỏi tiếp xúc với y phục. Đau thần kinh có thể rất nặng và có thể bị đánh giá thấp. Thuốc chẹn giao cảm có thể làm dịu tạm thời nhanh chóng cơn đau nặng (Wu CL, Marsh A. 2000). Đối với cơn đau dai dẳng, các opioid (thuốc giảm đau trung ương dạng thuốc phiện) tác dụng dài, giải phóng có kiểm soát (uống hoặc dán lên da) được ưa chuộng hơn. Vài mô hình dùng để giải thích cơ chế bệnh sinh của đau thần kinh hậu zona ám chỉ rằng việc sớm giảm nhẹ cơn đau cấp tính có thể ngăn chặn sự khởi động cơ chế trung ương của đau kinh diễn, bằng cách đó giảm nguy cơ đau thần kinh hậu zona (Gnann JW, Whitley RJ. 1991). Đau thần kinh hậu zona
  4. Việc điều trị đau thần kinh hậu zona phức tạp, đòi hỏi một tiếp cận nhiều mặt. Chọn lựa điều trị chứng đau hậu zona Thuốc Liều khởi Bàn luận Những đầu tác dụng ngoại ý có thể có Opioids Oxycodone Liều toàn bộ Gây ngủ, (các dẫn xuất của 5mg uống mỗi 6 80mg mỗi ngày buồn nôn, choáng thuốc phiện) giờ* (hoặc cao hơn) cho váng, bón, quen những BN có cơn thuốc, lạm dụng đau dữ dội. Có khả thuốc năng cần đến Chống Nortryptylin Liều toàn bộ Gây ngủ, trầm cảm ba vòng hoặc desipramin lên đến 75 – 150mg lú lẫn, các tác 10 – 25mg uống mỗi ngày, dụng kháng lúc đi ngủ* amitriptyline cũng Cholinergic (khô có hiệu quả nhưng miệng, mờ mắt, có thể kém dung
  5. nạp ở người già; ít bón, bí tiểu) có kinh nghiệm với các chất ức chế tái thu hồi serotonin chọn lọc Gabapentin 300mg Tăng liều Buồn ngủ, uống mỗi ngày dần khi cần trong choáng váng, thất khoảng thời gian 4 điều, rung giật tuần lễ, đến một (nhãn cầu) liều toàn bộ hàng ngày là 3600mg (chia làm 3 lần) Capsaicin Thoa tại chỗ Chỉ thoa lên Kích thích 3 – 4 lần mỗi ngày vùng da nguyên da tại chỗ và cảm (dạng kem vẹn, đã lành; bắt giác rát bỏng làm 0,025 – 0,075) đầu với chế phẩm hạn chế việc sử nồng độ thấp, nếu dụng ở nhiều BN dung nạp được tăng dần đến chế phẩm
  6. có nồng độ cao; có thể cần nhiều ngày đến nhiều tuần lễ để đạt đến kết quả tối đa; có thể mua không cần đơn thuốc Lidocain Dán lên Chỉ nên dán Kích thích (băng dán 5%) vùng bị đau; có thể lên vùng da đã lành da tại chỗ; độc dùng cùng lúc 3 nguyên vẹn; có thể tính toàn thân do băng dán trong cắt băng dán cho việc hấp thu qua một thời gian tối hợp với kích cỡ da của lidocain đa là 12g vùng da, giảm đau nhưng rất hiếm nhanh gặp
Đồng bộ tài khoản