
Ai giám sát thị trường chứng khoán?
Liên tiếp thời gian qua, hàng loạt các vụ bê bối trên thị trường chứng khoán
được hiển hiện. Doanh nghiệp lãi nhiều năm bỗng một ngày đứng bên bờ
vực phá sản, hay những vụ “đi đêm” thâu tóm, mua bán sáp nhập doanh
nghiệp, khiến nhà đầu tư đặt câu hỏi, cơ quan giám sát ở đâu. Để đến khi sự
vụ vỡ lở, nhà đầu tư chỉ còn nhìn sự kiện đã rồi. Ví như những sai phạm tại
SMES, SBS diễn ra từ năm 2010, nhưng đến năm 2012 mới được điều tra.
Hay như việc không minh bạch và công bố thông tin không đầy đủ đẩy nhà
đầu tư vào mớ bòng bong của sở hữu chéo, mua bán cổ phiếu không xin
phép chấp nhận phạt để rồi lại tiếp tục tái phạm.
Câu chuyện về bất cân xứng thông tin được các nhà đầu tư đặt ra. Nhiều
người cho rằng, trách nhiệm lớn thuộc về doanh nghiệp.
Tuy nhiên, chuyên gia chứng khoán Phạm Kinh Luân lại có một cái nhìn
khác. Ông cho rằng, hiện nay vấn đề minh bạch thông tin của doanh nghiệp
đã được nâng lên khá nhiều. Các thông tin hầu như được công bố đúng thời
hạn các cơ quan quản lý quy định. Tuy nhiên không thể đòi hỏi một sự cân
xứng thông tin, khi nhiều doanh nghiệp rơi vào vòng luẩn quẩn của những
chuẩn mực kế toán… Vấn đề là nhà đầu tư nắm bắt và xử lý thông tin như
thế nào độc lập, hay có xâu chuỗi…
Nhìn lại thị trường thời gian qua, dù hệ thống pháp luật chứng khoán không
quá thiếu thốn, nhưng thực trạng tái phạm và vi phạm cho thấy, công tác
giám sát còn nhiều bất cập, chế tài chưa đủ tính răn đe. Mức xử phạt vi
phạm 500 triệu đồng vẫn được xem là quá thấp. Biện pháp bổ sung như thu

hồi thu nhập bất chính lại đang vấp phải những vướng mắc vì chưa có hướng
dẫn cụ thể về công thức tính mức thu nhập bất chính từ hành vi vi phạm.
Việc phát hiện các hiện tượng vi phạm vì thế chỉ là điều kiện cần trong đảm
bảo an toàn cho thị trường. Một khi các chế tài xử lý vi phạm không hiệu
quả sẽ vô hiệu hóa chức năng của hoạt động giám sát.
PGS.TS. Tô Ngọc Hưng cho rằng, trách nhiệm quản lý và giám sát thị
trường không thể “đổ lỗi” cho riêng Ủy ban chứng khoán. “Thị trường có
mối liên thông chặt chẽ với các thị trường thuộc sự quản lý chuyên ngành
của các tổ chức giám sát thuộc mạng an toàn tài chính. Sự liên thông trên kết
hợp với những bất cập trong hoạt động giám sát của các tổ chức giám sát đã
và đang đặt thị trường Việt Nam ở vị thế mở với rủi ro hệ thống”, PGS.TS.
Tô Ngọc Hưng phân tích.
Nhìn sang các cơ quan giám sát còn lại của thị trường là Cục Quản lý, Giám
sát bảo hiểm, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG)... cũng
còn nhiều “khiếm khuyết” trong việc giám sát an toàn vĩ mô bài bản và giám
sát các đối tượng thuộc phạm vi giám sát của mình có ảnh hưởng đến thị
trường chứng khoán. Nhiều trường hợp, các cơ quan trong mạng an toàn tài
chính lại đưa ra những nhận định trái ngược nhau về thị trường.
Trên thực tế, nhiệm vụ phối hợp trong hoạt động giám sát nhằm đảm bảo an
toàn tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng thuộc trách
nhiệm của UBGSTCQG. Nhưng vai trò UBGSTCQG trong phối hợp hoạt
động giữa các cơ quan giám sát còn mờ nhạt vì được tổ chức dưới góc độ là
một cơ quan tư vấn, không có chức năng xây dựng chính sách và không có
thực quyền giám sát cũng như xử lý vi phạm. Điều này dẫn đến hệ quả
không ngăn chặn được các tập đoàn tài chính lợi dụng kẽ hở pháp luật và lỗ

hổng trong quy định giám sát để lách luật né tránh việc bị giám sát hoạt
động; không xử lý được các yêu cầu về giám sát các sản phẩm tài chính mới
theo xu hướng tích hợp; giám sát trùng lắp nhưng lại bỏ trong nhiều lĩnh vực
gây lãng phí nguồn lực.
Việc các thông tin kiểm soát luôn được giữ bí mật và sử dụng cho mục đích
riêng của từng cơ quan làm hạn chế khả năng giám sát của toàn hệ thống.
Riêng góc độ giám sát tập đoàn tài chính, hệ thống thanh tra giám sát các
công ty chứng khoán và bảo hiểm bị tách rời khỏi hoạt động thanh tra giám
sát ngân hàng của NHNN mà báo cáo với Bộ Tài chính dẫn đến việc khó
kiểm soát rủi ro…
Để vượt qua những rào cản này vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật và các
tiêu chí giám sát thị trường cần được UBCKNN thực thi trong ngắn hạn.
Tuy nhiên nhìn về dài hạn, PGS.TS. Tô Ngọc Hưng cho rằng, cần xây dựng
Luật thanh tra, giám sát tài chính phân định rõ đối tượng chịu sự giám sát và
phạm vi quyền hạn của cơ quan thanh tra giám sát, cơ chế phố hợp thông tin
tránh hiện tượng đùn đẩy tránh nhiệm cho nhau.
Phân tích cụ thể rõ ràng vai trò trách nhiệm của từng cơ quan giám sát
chuyên ngành. Từng bước hoàn thiện UBGSTCQG, trong đó trao quyền cho
cơ quan này xây dựng dự thảo luật cũng như các quy định về quy chế hoạt
động giám sát và xử lý vi phạm trên cả 3 lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm và
ngân hàng. Đồng thời xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, cảnh báo từ xa, phát
hiện rủi ro trên thị trường tài chính và chia sẻ với cơ quan giám sát chuyên
ngành cùng thanh tra giám sát hoạt động thị trường. Tiến tới xây dựng mô
hình hợp nhất các cơ quan giám sát tập trung dưới sự điều hành của
UBGSTCQG…


