HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
KHOA LƯU TRỮ VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ SỞ VẬT CHẤT ĐẾN CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Mã số: ĐTSV.2022.09
Chủ nhiệm đề tài: Chu Phương Anh
Lớp: 2005QTVA
Cán bộ hướng dẫn: Th.S Hà Diệu Linh
Hà Nội, 4/2023
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
KHOA LƯU TRỮ VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ SỞ VẬT CHẤT ĐẾN CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Mã số: ĐTSV.2022.09
Chủ nhiệm đề tài: Chu Phương Anh
Thành viên tham gia: Chu Phương Anh - 2005QTVA
Nguyễn Thu Hà - 2005QTVA
Đặng Thị Ánh Sáng - 2005QTVA
Hà Nội, 4/2023
LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi. Các nội dung
nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ
cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau
có ghi trong phần tài liệu tham khảo. Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào chúng tôi
xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình.
Hà Nội, tháng 4 năm 2023
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Chu Phương Anh
LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, Khoa Quản trị
văn phòng, các giảng viên và các bạn sinh viên của trường đã tạo điều kiện cho chúng tôi
có cơ hội được học tập, nghiên cứu cũng như đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện
cho chúng tôi để hoàn thành được đề tài này.
Đặc biệt chúng tôi xin gửi lòng biết ơn tới Ths. Hà Diệu Linh - cán bộ hướng dẫn
đề tài đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ chúng tôi hết mình trong quá trình chúng tôi thực hiện
nghiên cứu đề tài.
Hà Nội, tháng 4 năm 2023
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Chu Phương Anh
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNH BIỂU ............................................................................................. 1
DANH MỤC HÌNH ẢNH ............................................................................................... 2
DANH MỤC VIẾT TẮT ................................................................................................. 2
I. MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 3
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ................................................................................ 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu......................................................................... 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................... 6
5. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................... 7
6. Đóng góp mới của đề tài ......................................................................................... 8
7. Bố cục của đề tài ...................................................................................................... 8
II. NỘI DUNG .................................................................................................................. 9
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ SỞ VẬT CHẤT ĐẾN CHẤT
LƯỢNG HỌC TẬP ......................................................................................................... 9
1.1. Một số khái niệm cơ bản ..................................................................................... 9
1.1.1. Khái niệm cơ sở vật chất ............................................................................... 9
1.1.2. Khái niệm chất lượng .................................................................................... 9
1.1.3. Khái niệm chất lượng học tập ..................................................................... 10
1.1.4. Khái niệm sinh viên ..................................................................................... 11
1.1.5. Khái niệm Ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học tập của sinh
viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội ................................................................................. 12
1.2. Vai trò của cơ sở vật chất đối với việc dạy và học .......................................... 12
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng, quản lý cơ sở vật chất ................. 13
1.3.1. Yếu tố chủ quan ........................................................................................... 13
1.3.2. Yếu tố khách quan ....................................................................................... 14
1.4. Ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học tập .................................. 14
1.4.1. Ảnh hưởng trực tiếp .................................................................................... 14
1.4.2. Ảnh hưởng gián tiếp .................................................................................... 15
Tiểu kết chương 1 .......................................................................................................... 17
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ SỞ VẬT CHẤT ĐẾN CHẤT
LƯỢNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI ... 18
2.1. Khái quát chung về trường Đại học Nội vụ Hà Nội ........................................ 18
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển ................................................................ 18
2.1.2. Cơ cấu tổ chức, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của trường Đại
học Nội vụ Hà Nội ............................................................................................................ 20
2.2. Các tiêu chí nghiên cứu ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học
tập của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội ........................................................ 23
2.3. Tìm hiểu về thực trạng ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học tập
của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội .............................................................. 25
2.3.1. Theo tiêu chí 01, tìm hiểu về thực trạng phòng học và các thiết bị hỗ trợ
dạy học .............................................................................................................................. 26
2.3.2. Theo tiêu chí 02, tìm hiểu về thực trạng thư viện và thư viện điện tử ...... 29
2.3.3. Theo tiêu chí 03, tìm hiểu về thực trạng các khu vực chức năng của
trường ................................................................................................................................ 32
2.3.4. Theo tiêu chí 04, tìm hiểu về thực trạng các yếu tố cơ sở vật chất khác .. 34
2.3.5. Đánh giá chất lượng cơ sở vật chất của trường Đại học Nội vụ Hà Nội
trên quan điểm của Nhà trường và quan điểm của sinh viên ........................................ 38
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................................... 41
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO CƠ SỞ VẬT
CHẤT GIÚP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG
ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI ......................................................................................... 42
3.1. Phía nhà trường ................................................................................................. 42
3.1.1. Bố trí phòng học và các khu vực chức năng hợp lý ................................... 42
3.1.2. Đảm bảo chất lượng cho các thiết bị dạy học ............................................ 43
3.1.3. Bổ sung thêm các phòng học ...................................................................... 44
3.1.4. Đổi mới và hoàn thiện thư viện, thư viện điện tử ...................................... 44
3.1.5. Bảo trì, sửa chữa, thay đổi tải trọng của thang máy ................................. 45
3.1.6. Bảo đảm các khu vực chức năng khác của Trường hoạt động hiệu quả . 45
3.1.7. Tổ chức nghiên cứu, trao đổi thường xuyên về vấn đề đảm bảo và nâng
cao cơ sở vật chất cho nhà trường ................................................................................... 47
3.1.8. Đầu tư phù hợp, có trọng tâm cơ sở vật chất cho trường học ................... 47
3.1.8. Xây dựng Quy chế về việc Quy định quản lý, sử dụng tài sản cụ thể ....... 48
3.2. Phía giảng viên ................................................................................................... 48
3.2.1. Có trách nhiệm và ý thức bảo vệ tài sản của nhà trường .......................... 48
3.2.2. Sử dụng cơ sở vật chất tiết kiệm và có hiệu quả ........................................ 49
3.2.3. Nâng cao ý thức bảo vệ cơ sở vật chất của nhà trường cho sinh viên ...... 49
3.2.4. Tham gia nghiên cứu, trao đổi về đảm bảo và nâng cao cơ sở vật chất cho
Nhà trường ........................................................................................................................ 51
3.3. Phía sinh viên ...................................................................................................... 52
3.3.1. Nâng cao ý thức bảo vệ tài sản của nhà trường ........................................ 52
3.3.2. Biết sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất sẵn có một cách tiết kiệm ............... 53
3.3.3. Tham gia nghiên cứu, trao đổi về đảm bảo và nâng cao cơ sở vật chất cho
nhà trường ........................................................................................................................ 54
Tiểu kết chương 3 .......................................................................................................... 55
III. KẾT LUẬN.............................................................................................................. 56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................... 58
PHỤ LỤC ....................................................................................................................... 61
PHIẾU KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ SỞ VẬT CHẤT ĐẾN CHẤT
LƯỢNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI ... 61
BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHIẾU KHẢO SÁT BẰNG BẢNG HỎI ......... 64
DANH MỤC BẢNH BIỂU
STT Bảng, biểu Tên bảng, biểu
1 Bảng 2.3.1 Bảng đánh giá sự đồng tình của sinh viên với ý kiến
“Kiến trúc trong các phòng học thuận tiện cho việc học
tập”
2 Biểu đồ 1 Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý kiến
“Bố trí các khu nhà học hợp lý, dễ dàng di chuyển khi
thay đổi phòng học”
3 Biểu đồ 2 Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý kiến
“Các thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập (máy chiếu,
loa,...) hoạt động hiệu quả”
4 Biểu đồ 3 Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý kiến
“Thư viên đảm bảo không gian, chỗ ngồi, tài liệu”
5 Biểu đồ 4 Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý kiến
“Các khu vực hỗ trợ khác: sân thể dục, ký túc xá, căng
tin, nhà để xe,... đáp ứng nhu cầu sinh viên”
6 Biểu đồ 5 Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý
kiến “Phòng máy tính đáp ứng nhu cầu thực hành của
sinh viên”
7 Biểu đồ 6 Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý
kiến “Chất lượng thang máy tại các tòa nhà”
8 Biểu đồ 7 Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý
kiến “Hệ thống mạng Internet phủ sóng rộng, chất lượng
đường truyền cao”
1
DANH MỤC HÌNH ẢNH
STT Hình Tên hình
1 Hình 2.1.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
2 Hình 2.3 Sơ đồ Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
DANH MỤC VIẾT TẮT
STT Kí hiệu chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 Câu lạc bộ CLB
2 Công nghệ thông tin CNTT
3 Cơ sở vật chất CSVC
4 ĐHNVHN Đại học Nội vụ Hà Nội
5 Hanoi University of Home Affairs HUHA
6 Kết quả học tập KQHT
7 Nghiên cứu khoa học NCKH
8 Thiết bị dạy học TBDH
9 Trang thiết bị TTB
2
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay kinh tế Việt Nam đang tham gia hội nhập với nền kinh tế thế giới, một nền
kinh tế có sự cạnh tranh khốc liệt. Đây chính là cơ hội đưa nước ta từng bước đến với nền
kinh tế hiện đại đang phát triển, dễ dàng chạm tới nền khoa học tri thức của nhân loại để
nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Nhưng bên cạnh đó, nước ta vẫn tồn tại
không ít những khó khăn như: nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, đời sống người dân khó khăn
thiếu thốn, trình độ đào tạo vẫn còn kém... Để khắc phục những điều trên, Việt Nam cần có
một đội ngũ những con người hoạt động tích cực, năng động, sáng tạo.
Ngày nay, hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân loại, sự giàu mạnh hoặc đói nghèo của
một quốc gia phụ thuộc vào chất lượng của giáo dục đại học, mà chất lượng được phản ánh
thông qua kết quả học tập của sinh viên. Do vậy có thể nói giáo dục là quốc sách hàng đầu
của các quốc gia trong đó có Việt Nam.
Trong những năm gần đây, giáo dục đại học của nước ta đã quan tâm đến vấn đề cải
cách giáo dục đại học trên phương diện mở rộng quy mô giáo dục, đầu tư cơ sở vật chất và
trang thiết bị, đổi mới phương pháp dạy - học, đã và đang từng bước thực hiện kiểm định
chất lượng đào tạo tại các trường đại học nói chung và Trường đại học Nội vụ Hà Nội nói
riêng.
Cơ sở vật chất là một phần hết sức quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động học tập của
sinh viên. Nếu cơ sở vật chất tốt, phục vụ và đáp ứng được nhu cầu học tập của sinh viên
thì dẫn đến việc sinh viên có cơ hội để thực hiện tốt các hành vi học tập của mình. Để đảm
bảo chất lượng giáo dục, nhà trường phải đáp ứng yêu cầu cần thiết cho việc dạy đó là:
việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học khang trang, hiện đại, đồng thời
hàng năm có kế hoạch tu sửa và bảo vệ cơ sở vật chất sao cho phù hợp với nhu cầu dạy và
học hiện nay.
Với mong muốn đi sâu tìm hiểu vấn đề trên, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài
“Ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học tập của sinh viên Trường Đại học Nội
vụ Hà Nội.”
3
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong lĩnh vực nâng cao chất lượng đạo tạo tại các trường học thì cơ sở vật chất, trang
thiết bị cho việc dạy và học đóng một vai trò quan trọng nhất định vì vậy nó ảnh hưởng và
có tác động tới kết quả học tập của học sinh, sinh viên. Đã có một số tác giả với các công
trình nghiên cứu đã đề cập tới vấn đề này như sau:
- Công trình nghiên cứu trong nước:
+ Tác giả Võ Văn Việt, Đặng Thị Thu Phương, với nghiên cứu “Các nhân tố cơ bản
ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên” đã xác định 7 nhân tố có ảnh hưởng đến kết
quả học tập của sinh viên, đó là: năng lực trí tuệ, sở thích học tập, động cơ của ba mẹ, cơ
sở vật chất, học bổng, áp lực bạn bè cùng trang lứa, áp lực xã hội. Bảy nhân tố này ảnh
hưởng đến kết quả học tập với nhiều mức độ khác nhau. (22)
+ Tác giả Võ Thị Tâm, Hoàng Thị Xuân Hoa, với bài viết “Công tác học tập của sinh
viên chính quy trường đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh”, qua kết quả nghiên cứu
cho thấy bên cạnh phương pháp học tập thích hợp, tính kiên định, môi trường cạnh tranh,
ấn tượng trường học thì cơ sở vật chất nhà trường cũng ảnh hưởng đến kết quả học tập của
sinh viên nhưng không ở mức cao. (16)
+ Tác giả Ma Cam Tưởng Lan, với nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài
lòng của sinh viên đối với cơ sở vât chất trang thiết bị tại trường đại học Đà Lạt”. Kết quả
nghiên cứu cho thấy một trong những yếu tố chất lượng học tập ảnh hưởng đến sự hài lòng
của sinh viên đối với CSVC TTB tại trường Đại học Đà Lạt bởi cơ sở vật chất trang thiết
bị không ai khác ngoài người học sinh viên là những đối tượng được thụ hưởng nhưng
cũng là khách hàng trực tiếp sử dụng sản phẩm dịch vụ nhằm thực hiện các mục tiêu cá
nhân hóa. (11)
- Công trình nghiên cứu nước ngoài:
+ Tác giả Peter Barrett, Alberto Treves, Tigran Shmis, Diego Ambasz, and Maria
Ustinova, với bài nghiên cứu “The Impact of School Infrastructure on Learning: A
Synthesis of the Evidence, World Bank Group”. Những minh chứng xác thực cho thấy
4
những nhân tố về cơ sở vật chất ảnh hưởng tích cực đến chất lượng học tập của học sinh.
(23)
+ Tác giả Tigran Shmis, Maria Ustinova, and Dmitry Chugunov: “Learning
Environments and Learning Achievement in the Russian Federation: How School
Infrastructure and Climate Affect Student Success, World Bank Group” đã phân tích các
cơ sở hạ tầng và môi trường học tập của trường học có thể ảnh hưởng đến sự tiến bộ và
thành công của học sinh trong môn toán và khoa học. Nó cũng đi sâu vào thực hiện giảng
dạy, phân tích tác động của chúng đối với việc học tập và làm nổi bật mối quan hệ quan
trọng giữa môi trường học tập và phương pháp giảng dạy. (24)
+ Tác giả Jassen Teixeira, Jeremie Amoroso and James Gresham, với bài “Why
education infrastructure matters for learning; World Bank Blogs” cho thấy các tòa nhà,
phòng học, thư viện và các thiết bị dạy học là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến môi
trường học tập ở các trường học và đại học. Có chứng minh cho rằng cơ sở vật chất có chất
lượng cao mang đến chất lượng giảng dạy tốt hơn, cải thiện chất lượng học tập của học
sinh và giảm thiểu tỉ lệ bỏ học. (25)
+ CAF Development bank of Latin America, với bài viết “The importance of having a
good school infrastructure”. Thực tế cho rằng, những ngôi trường có điều kiện cơ sở tốt sẽ
tác động đến quyết tâm đạt được kết quả cao của học sinh. Có minh chứng cho thấy: sở hữu
không gian học tập đạt chất lượng cao sẽ ảnh hưởng đến trình độ của học sinh, và tạo khả
năng cho những học sinh ở vùng sâu vùng xa có thể đến trường. (26)
+ Tác giả Jasmeer Chhabra, với bài “Role of quality school infrastructure in improved
education outcomes Education World” cho thấy cơ sở vật chất của trường học được thiết
kế, sắp xếp có ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống trường học và sẽ giúp cải thiện kết quả
học tập đầu ra của học sinh. Sự cải thiện của cơ sở vật chất có chất lượng cao giúp nâng
cao sự tiếp thu kiến thức và nâng cao điểm số trung bình của trường học. (27)
+ Tác giả Geeta Váhney, “This is why school infrastructure is important for a child's
growth India Today” với kết quả như sau: Có những lúc cơ sở hạ tầng kém, học sinh có
thể thực hiện việc học một cách thiếu nghiêm túc. Mọi người có thể tranh luận rằng không
5
gian vật chất là thứ yếu và sự tập trung là điều quan trọng những theo các nhà nghiên cứu
và tâm lý học, cho rằng các yếu tố môi trường có thể làm tăng kết quả học tập và thúc đẩy
việc đi học. (28)
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhân tố cơ sở vật chất ảnh hưởng đến
chất lượng học tập, tuy nhiên qua khảo sát một cách chi tiết và cụ thể thì chưa có một đề
tài nào đề cập về nghiên cứu “Ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học tập của
sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội”. Bởi vậy, các nghiên cứu trên là cơ sở lý luận,
thực tiễn quan trọng giúp chúng tôi có thêm tư liệu để thực hiện đề tài nghiên cứu của
mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Từ việc khảo sát thực tế cơ sở vật chất của trường Đại học
Nội vụ Hà Nội và chất lượng học tập của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội, để làm
cơ sở đề xuất một số giải pháp đảm bảo cơ sở vật chất giúp nâng cao chất lượng học tập
cho sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về cơ sở vật chất và chất lượng học tập.
+ Khảo sát thực tế cơ sở vật chất của trường Đại học Nội vụ Hà Nội và chất lượng
học tập của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
+ Đề xuất một số giải pháp đảm bảo cơ sở vật chất giúp nâng cao chất lượng học tập
cho sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở vật chất của trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nội dung: Ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học tập của sinh viên trường
Đại học Nội vụ Hà Nội.
+ Thời gian: Khảo sát được tiến hành trong năm học 2022-2023.
6
+ Không gian: Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (cơ sở Hà Nội).
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm:
+ Trực tiếp quan sát các hoạt động liên quan tới việc xây dựng, sử dụng, phát triển và
quản lý cơ sở vật chất dạy và học tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội để tìm hiểu thực trạng,
nguyên nhân và đề xuất những giải pháp nhằm đảm bảo cơ sở vật chất giúp nâng cao chất
lượng dạy và học tại trường.
+ Sử dụng các câu hỏi trong phiếu kháo sát đối với các sinh viên trường Đại học Nội
vụ Hà Nội để làm cơ sở đánh giá nhu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ
cho việc học tập và nghiên cứu (câu hỏi đóng và câu hỏi mở)
- Phương pháp định tính:
+ Tổng quan lý thuyết và nghiên cứu trước để xây đựng các tiêu chí đánh giá CSVC
+ Tham khảo ý kiến của thầy cô để điều chỉnh các tiêu chí phù hợp
+ Các thành viên trong nhóm nghiên cứu đưa ra câu hỏi sơ bộ
+ Sử dụng phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên theo hình thức thuận tiện.
+ Tiến hành thu thập và xử lý số liệu: Các thành viên trong nhóm cùng thảo luận, xử
lý những thông tin đã thu thập được từ những tài liệu tìm được trước đó cùng với việc sử
dụng bảng hỏi đã gửi cho các bạn sinh viên để có được thông tin nhanh và đầy đủ nhất;
Phân loại và kết nối các dữ liệu, sử dụng các phần mềm excel,... để đưa ra kết quả phân tích
thống kê dữ liệu.
- Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được sử dụng để thống kê thành
phần và đặc tính đối tượng tham gia phỏng vấn: Năm học, khoa chuyên ngành và các đặc
tính cơ bản của mẫu điều tra khác.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, tổng hợp và phân tích đánh giá các tài
liệu và các nghiên cứu trước để kế thừa chọn lọc những thông tin cho đề tài.
7
6. Đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hóa lý luận về ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học tập của
sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội;
- Làm rõ vai trò, tầm quan trọng của nhân tố cơ sở vật chất ảnh hưởng đến chất lượng
học tập của sinh viên nói chung và sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội nói riêng;
- Cuối cùng, nhóm nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo cơ sở vật
chất giúp nâng cao chất lượng học tập cho sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong
thời gian tới.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục đề tài có kết cấu 3
chương:
Chương 1: Lý luận về ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học tập
Chương 2: Thực trạng ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học tập của sinh
viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo cơ sở vật chất giúp nâng cao
chất lượng học tập cho sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội
8
II. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ SỞ VẬT CHẤT ĐẾN
CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm cơ sở vật chất
Có thể khẳng định, chất lượng giáo dục quyết định sự phát triển bền vững của bất
cứ ngôi trường nào. Trong đó, bên cạnh chương trình đào tạo, lộ trình học tập và đội ngũ
giảng viên thì cơ sở vật chất (CSVC) cũng đóng vai trò quan trọng và là một trong những
yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục tại trường. Ở nghiên cứu này chúng
tôi đề cập đến một số khái niệm cơ sở vật chất trong phạm vi trường học.
Theo Thạc sĩ Trần Quốc Bảo: “Cơ sở vật chất dạy học: là một hệ thống gồm những
phòng học, phòng bộ môn, phòng chức năng, sân chơi, bãi tập, nhà vệ sinh, nhà xe... phục
vụ cho công tác giáo dục, đào tạo ở một cơ sở giáo dục nhất định”. [6]
Theo tác giả Hồ Sĩ Hà viết: “Cơ sở vật chất dạy học là hệ thống phương tiện vật
chất kỹ thuật được sử dụng cho việc giáo dục - đào tạo của nhà trường (bao gồm các đồ
vật, những của cải vật chất và khung cảnh xung quanh nhà trường, gồm: nhà cửa, sân
chơi, bãi tập, sách giáo khoa, thiết bị dạy học)”. [8]
Tóm lại, theo cách hiểu như trên ta có thể định nghĩa cơ sở vật chất như sau: “Cơ
sở vật chất được hiểu là toàn bộ hệ thống các phương tiện, kỹ thuật được sử dụng cho mục
đích giảng dạy, học tập và các hoạt động khác liên quan đến bồi dưỡng, đào tạo tại trường.
Cơ sở vật chất bao gồm trường lớp, không gian trường học đến các trang thiết bị phục vụ
trong quá trình học tập và giảng dạy”.
1.1.2. Khái niệm chất lượng
Ngày nay, hầu hết các trường học và người học đều quan tâm đến chất lượng. Nhưng
khi được hỏi về: Khái niệm chất lượng là gì? thì hầu hết mọi người đều khó giải thích một
cách chính xác, bởi đây là một khái niệm trìu tượng và khó định nghĩa. Các chuyên gia
kinh nghiệm lâu năm trong ngành cũng đưa ra những quan điểm khác nhau về chất lượng.
9
Theo Harvey và Green trong một nghiên cứu nhằm tổng kết những quan niệm chung
của các nhà giáo dục “Assessment & Evaluation in Higher Education” (tạm dịch: Đánh giá
và đánh giá trong Giáo dục Đại học”) thì chất lượng được định nghĩa như tập hợp các thuộc
tính khác nhau gồm: (1) Chất lượng là sự xuất sắc, (2) Chất lượng là sự hoàn hảo, (3) Chất
lượng là sự phù hợp với mục tiêu, (4) Chất lượng là sự đáng giá với đồng tiền, (5) Chất
lượng là sự chuyển đổi về chất. (29)
Theo Hội đồng Kiểm định Giáo dục Đại học - The Council for Higher Education
Accreditation (CHEA): “Chất lượng: Đề cập đến “sự phù hợp với mục đích” - đáp ứng
hoặc phù hợp với các tiêu chuẩn được chấp nhận chung theo quy định của cơ quan kiểm
định hoặc đảm bảo chất lượng.” [30]
Bởi vậy, với những lĩnh vực khác nhau, mục đích khác nhau thì quan điểm về chất
lượng cũng khác nhau. Đối với lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam, Căn cứ theo quy định tại
Khoản 1 Điều 2 Thông tư 61/2012/TT-BGDĐT Ban hành quy định điều kiện thành lập và
giải thể, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức kiểm định giáo dục do Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo ban hành thì “Chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu của cơ sở giáo dục
hoặc chương trình giáo dục, đáp ứng các yêu cầu của Luật giáo dục, Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật giáo dục, Luật giáo dục đại học, phù hợp với nhu cầu sử dụng nhân
lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước”. [4]
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu một cách ngắn gọn “Chất lượng là sự đáp
ứng cao hay thấp, phù hợp hay không phù hợp so với các tiêu chuẩn được đặt ra trước đó
theo quy định của chủ thể đặt ra tiêu chuẩn”.
1.1.3. Khái niệm chất lượng học tập
Chất lượng là một khái niệm có tính tương đối. Có nghĩa là khi đánh giá chất lượng
phải đối chiếu, so sánh với một thước đo nào đó thường được gọi là chuẩn. Theo cách hiểu
thông thường, chất lượng đào tạo là mức độ kiến thức, kỹ năng và thái độ mà học sinh đạt
được sau khi kết thúc một cấp học, bậc học nào đó so với các chuẩn đã được đề ra trong
mục tiêu giáo dục.
10
Theo tác giả Trần Khánh Đức (Viện nghiên cứu phát triển giáo dục) quan niệm:
“Chất lượng học tập được đánh giá qua mức độ đạt trước mục tiêu đào tạo đã đề ra đối
với một chương trình đào tạo và chất lượng học tập là kết quả của quá trình dạy học được
phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng
lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các
ngành nghề cụ thể”. [7]
Mục đích của giáo dục bậc đại học là hướng vào sinh viên. Chất lượng học tập vì
thế không chỉ phụ thuộc vào phía nhà trường và giảng viên mà phụ thuộc phần lớn vào
phương pháp học tập của sinh viên. Cho nên, điều này lại phụ thuộc vào quan niệm, nhận
thức của người học rằng họ biết gì về việc học của mình cũng như những chiến lược học
tập nào mà họ sẽ sử dụng.
Từ những quan niệm trên, chúng tôi đưa ra quan niệm chất lượng học tập của người
học như sau: “Chất lượng học tập của người học là tổng hợp các kiến thức, kỹ xảo, kỹ
năng và thái độ được hình thành và phát triển trong quá trình học tập rèn luyện ở nhà
trường, đáp ứng với mục tiêu yêu cầu đào tạo và nhiệm vụ chức trách sau khi ra trường”.
1.1.4. Khái niệm sinh viên
Theo Từ điển Giáo dục học: “Sinh viên là người học của cơ sở giáo dục Cao đẳng,
Đại học.” [9]
Trong từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê: “Sinh viên là những người học ở bậc Đại
học.” [14]
Theo chúng tôi sinh viên là những người trưởng thành về thể chất, xã hội và tâm lý,
đó là những người ở độ tuổi khoảng 18-25 và đang theo học tại các trường Cao đẳng, Đại
học.
Có thể nói, khái niệm sinh viên được hiểu ở các khía cạnh khác nhau nhưng đều có
những điểm chung về độ tuổi khoảng từ 18 đến 25; là những người trưởng thành về thể
chất, xã hội và tâm lý; có môi trường học tập tại các trường Đại học, Cao đẳng.
11
1.1.5. Khái niệm Ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học tập của sinh
viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Từ những khái niệm, quan niệm trên, chúng tôi quan niệm: “Ảnh hưởng của cơ sở
vật chất đến chất lượng học tập của sinh viên là những tác động tích cực hay tiêu cực của
cơ sở vật chất trường học lên sinh viên để sinh viên có điều kiện tiếp thu kiến thức đáp ứng
với mục tiêu yêu cầu đào tạo và công việc, nghành nghề sau khi ra trường”
Chúng tôi đưa ra quan niệm về ảnh hưởng của CSVC đến chất lượng học tập của
sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội như sau: “Ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất
lượng học tập của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội là những tác động tích cực hay
tiêu cực của cơ sở vật chất trường Đại học Nội vụ Hà Nội lên sinh viên trường Đại học
Nội vụ Hà Nội để họ có điều kiện tiếp thu kiến thức đáp ứng với mục tiêu yêu cầu đào tạo
và công việc, nghành nghề sau khi ra trường”.
1.2. Vai trò của cơ sở vật chất đối với việc dạy và học
Quá trình dạy và học là hoạt động có mối liên hệ chặc chẽ với nhau, chúng liên kết
với nhau qua nhiều thành tố cơ bản như: Mục tiêu - Nội dung - Phương pháp - Giảng viên
- Sinh viên - Cơ sở vật chất, trang thiết bị… Các yếu tố này góp phần phản ánh chất lượng
dạy học và học tập tại trường học. Cơ sở vật chất được coi là một yếu tố không thể thiếu
để phục vụ trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục.
Đối với việc dạy học: Cơ sở vật chất có vai trò hết sức quan trọng trong nhà trường,
chúng ta không thể dạy học mà không có các thiết bị hỗ trợ như tài liệu học tập, bảng viết,
máy chiếu, loa, micro, bóng điện, quạt điện,… Thiết bị dạy học (TBDH) là công cụ hiện
thực nội dung, mục tiêu dạy học. Giảng đường, phòng học là điều kiện tối thiểu để tổ chức
lớp học. Chúng ta không thể giáo dục kỹ năng tin học văn phòng mà không có phòng máy,
giáo dục Anh văn mà không có các thiết bị hỗ trợ nghe nói đọc viết, giáo dục thể chất mà
không có sân bãi và các dụng cụ thể dục thể thao. Chính vì vậy, CSVC, trang thiết bị kỹ
thuật là điều kiện cần thiết để truyền tải kiến thức, thực hiện các hoạt động nghiên cứu
khoa học, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao,… tại trường học.
12
Đối với việc học: CSVC, trang thiết bị (TTB) đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên
là điều kiện cần thiết của quá trình sư phạm vì nó là phương tiện để tác động tới việc sinh
viên có thích thú, hăng say học tập, tìm tòi, sáng tạo hay không. Một môi trường học tập
khang trang, hiện đại, sạch đẹp, có sân chơi, có đầy đủ thiết bị hữu ích để học tập, hoạt
động giúp cho sinh viên có động lực thúc đẩy tinh thần học tập cao hơn. Bởi vậy, cơ sở vật
chất đóng vai trò hỗ trợ tích cực trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tóm lại, cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường là yếu tố cần thiết để sinh viên học
tập thuận lợi, dễ dàng, hiểu nhanh, nhớ lâu hơn; để giảng viên giảm thiểu việc trình bày,
diễn đạt, mà dành thời gian để tổ chức cho sinh viên tiếp cận, tương tác, trải nghiệm, chủ
động tìm tòi, sáng tạo trong quá trình tiếp nhận tri thức và rèn luyện kỹ năng. Qua đó, các
sinh viên có thể dễ dàng và thuận lợi hơn trong việc tiếp thu bài giảng, hiểu sâu và nhớ lâu
hơn.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng, quản lý cơ sở vật chất
1.3.1. Yếu tố chủ quan
Chủ trương chiến lược phát triển của trường Đại học Nội Vụ Hà Nội (ĐHNVHN)
là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới công tác xây dựng, quản lý cơ sở vật chất. Mục
tiêu phát triển của trường Đại học Nội Vụ Hà Nội giai đoạn 2020 đến năm 2025 không chỉ
lớn mạnh về quy mô mà còn khẳng định chất lượng, uy tín, thương hiệu là một trong những
cơ sở hàng đầu trong đào tạo đa nghề, đa lĩnh vực trong nước, trong khu vực và quốc tế.
Do đó, nhu cầu về chất lượng cơ sở vật chất cũng đòi hỏi cần có kế hoạch xây dựng, bổ
sung, hoàn thiện và có chính sách quản lý phù hợp với mục tiêu chiến lược đã đặt ra.
Để thực hiện có hiệu quả chủ trương chiến lược đó thì đảm bảo nguồn tài chính thực
hiện các hoạt động cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng, quản lý
cơ sở vật chất nhà trường. Hiện nguồn thu của các cơ sở giáo dục đại học công lập bao
gồm: kinh phí của Nhà nước (chủ yếu phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học), kinh phí
các đề tài, dự án khoa học - công nghệ (từ các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp), kinh
phí tư vấn, chuyển giao khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, học phí và các loại phí (có
mức trần học phí và lộ trình tăng học phí theo quy định của Nhà nước), nguồn thu từ hoạt
13
động dịch vụ, tài trợ và xã hội khác. Chính vì vậy, việc sử dụng ngân sách của trường học
cần phải tuân thủ các quy định của nhà nước và của đơn vị mình. Cần phải lập kế hoạch
tính toán tài chính về nhu cầu sử dụng CSVC, TBDH đảm bảo đầy đủ, tránh lãng phí, dàn
trải ảnh hưởng đến nguồn tài chính phục vụ cho các hoạt động khác của đơn vị mình.
Có thể nói cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học là đối tượng đặc thù, là công cụ liên
quan và ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình giảng dạy, học tập, nghiên cứu. Quá trình sử
dụng, bảo trì, bảo quản và sửa chữa cơ sở vật chất cũng là một trong những yếu tố ảnh
hưởng đến việc xây dựng, quản lý cơ sở vật chất của nhà trường. Bởi vậy, trong quá trình
này phải có đội ngũ nhân lực có trình độ nhất định.
1.3.2. Yếu tố khách quan
Mỗi cơ sở giáo dục đều phải thực hiện theo đúng đường lối, chủ trương, chính sách
đầu tư và phát triển cơ sở vật chất giáo dục của Đảng, Nhà nước. Giáo dục & đào tạo là
một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống chính trị của mỗi nước, là biểu hiện trình độ
phát triển của quốc gia, nó liên quan đến nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Sự phối
hợp giữa Đảng, Nhà nước và các cơ sở giáo dục góp phần đi đúng định hướng, mục tiêu
đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cùng với khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo,
là “chìa khóa” quyết định tốc độ và chất lượng phát triển của nền kinh tế và đất nước.
Bên cạnh đó, số lượng sinh viên tăng cao nên nhu cầu trường học, phòng học theo
đó cũng tăng lên, nhu cầu về điều kiện học tập cũng tăng cao. Từ đó, tác động tới chủ
trương, kế hoạch về việc xây dựng, quản lý cơ sở vật chất trường học. Chú trọng việc làm
sao để tạo điều kiện tốt nhất cho người học phát triển trí tuệ, năng lực, thể chất và tinh thần.
1.4. Ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học tập
1.4.1. Ảnh hưởng trực tiếp
Khi nghiên cứu về kết quả học tập của sinh viên (KQHT), tác giả Đinh Thị Hóa và
cộng sự cho rằng KQHT là đánh giá tổng quát của chính sinh viên về kiến thức và kỹ năng
họ thu nhận được trong quá trình học tập các môn học cụ thể tại trường.
14
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến KQHT cũng thu hút được sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu. Đinh Thị Hóa và cộng sự tìm ra 8 nhân tố ảnh hưởng đến KQHT
của sinh viên, trong đó có cơ sở vật chất nhà trường. (10)
Cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục và ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập của sinh viên. Trong môi trường học tập, CSVC
bao gồm những yếu tố như phòng học, bàn ghế, thiết bị giảng dạy, sách vở và các tài liệu
học tập. Nếu cơ sở vật chất không được đầu tư đầy đủ, không đảm bảo chất lượng nó sẽ
khiến cho giảng viên không thể truyền đạt kiến thức một cách hiệu quả và sinh viên cũng
không thể tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất. Phòng học quá đông đúc, bàn ghế không
thoải mái, không phù hợp, thiết bị giảng dạy kém chất lượng hoặc thiếu hụt các tài liệu học
tập cần thiết cũng có thể làm giảm hiệu quả học tập của sinh viên.
Cơ sở vật chất cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý học tập của sinh viên. Khi sinh
viên được học tập trong môi trường thoải mái, sạch sẽ, an toàn và đầy đủ tiện nghi, họ sẽ
có động lực và tinh thần học tập cao hơn, từ đó KQHT cũng tốt hơn.
1.4.2. Ảnh hưởng gián tiếp
Ngoài ảnh hưởng trực tiếp, cơ sở vật chất còn có thể ảnh hưởng gián tiếp đến chất
lượng học tập của sinh viên.
Câu chuyện chất lượng đầu ra của sinh viên nhận được sự quan tâm của cả ba bên:
Gia đình, nhà trường và doanh nghiệp. Gia đình và bản thân sinh viên mong muốn học xong
ra trường cò việc làm phù hợp; Doanh nghiệp mong muốn có nhân lực chất lượng, đáp ứng
được yêu cầu làm việc; Trường đại học đào tạo sinh viên chất lượng, ra trường được các cơ
quan doanh nghiệp tiếp nhận để tạo uy tín, thương hiệu, tạo hiệu ứng đầu vào cho công tác
tuyển sinh. Vậy nên việc tu dưỡng, rèn luyện của sinh viên ngay từ khi còn ngồi trên ghế
nhà trường có vai trò rất quan trọng.[13]
Với tinh thần tìm tòi, sáng tạo, động lực học tập, nghiên cứu của sinh viên, để đáp
ứng được những mong muốn trên thì sinh viên chịu ảnh hưởng lớn từ yếu tố CSVC, TBDH
nhà trường. Họ cần có một môi trường học tập tốt nhất để tạo cơ hội tiếp cận với công nghệ
mới, định hướng nghề nghiệp đúng đắn để sinh viên phát huy được năng lực bản thân.
15
Nếu cơ sở vật chất không đảm bảo an toàn, không đủ tiện ích thì sinh viên và giảng
viên có thể lo lắng về sức khỏe, quyền lợi của mình và không tập trung được vào việc học
tập. Hơn nữa, cơ sở vật chất không đủ tiện nghi có thể dẫn đến việc học sinh không muốn
đến trường hoặc không muốn tham gia vào các hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp. Điều
này có thể ảnh hưởng đến khả năng học tập của sinh viên và ảnh hưởng đến sự phát triển
của họ trong tương lai.
16
Tiểu kết chương 1
Cơ sở vật chất là một yếu tố quan trọng trong giáo dục. Nó ảnh hưởng trực tiếp và
gián tiếp đến chất lượng học tập của sinh viên và giảng viên. Các cơ quan quản lý giáo dục
cần đầu tư đầy đủ và bảo trì cơ sở vật chất để đảm bảo môi trường học tập an toàn, tiện
nghi và đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên và cũng như việc giảng dạy của giảng viên.
Ngoài ra, các tổ chức xã hội và các doanh nghiệp cũng có thể đóng góp cho việc cải
thiện cơ sở vật chất trong các trường học. Việc đầu tư vào giáo dục là đầu tư vào tương lai
của đất nước và xã hội, và cơ sở vật chất là một phần quan trọng trong việc đảm bảo chất
lượng giáo dục.
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhân tố cơ sở vật chất ảnh hưởng đến
chất lượng học tập, tuy nhiên qua khảo sát một cách chi tiết và cụ thể thì chưa có một đề
tài nào đề cập về “Ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học tập của sinh viên
trường Đại học Nội vụ Hà Nội”. Bởi vậy, các nghiên cứu trên là cơ sở lý luận, thực tiễn
quan trọng giúp chúng tôi có thêm tư liệu để thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Tóm lại, trong chương 1 nhóm chúng tôi đã đưa ra lý luận về ảnh hưởng của cơ sở
vật chất đến chất lượng học tập của sinh viên. Nhóm nghiên cứu trên cơ sở kế thừa các
nghiên cứu đi trước đã khái quát và đưa ra một số khái niệm như: Khái niệm cơ sở vật chất,
khái niệm chất lượng, khái niệm chất lượng học tập, khái niệm sinh viên, khái niệm ảnh
hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học tập của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà
Nội, các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng, quản lý cơ sở vật chất và ảnh hưởng của cơ
sở vật chất đến chất lượng học tập của sinh viên.
17
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ SỞ VẬT CHẤT ĐẾN CHẤT
LƯỢNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
2.1. Khái quát chung về trường Đại học Nội vụ Hà Nội
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển (18)
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (tên viết tắt là HUHA - Hanoi University of Home
Affairs, nay là Học viện Hành chính Quốc gia) là cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc hệ
thống giáo dục quốc dân, trực thuộc Bộ Nội vụ, có chức năng: Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng
nguồn nhân lực có trình độ đại học, sau đại học và thấp hơn trong lĩnh vực công tác nội vụ
và các ngành nghề khác có liên quan; hợp tác quốc tế; nghiên cứu khoa học và triển khai
áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Sứ mệnh của nhà
trường là mở cơ hội học tập cho mọi người với chất lượng tốt, phục vụ nhu cầu học tập đa
dạng với nhiều hình thức đào tạo, đa ngành, đa cấp độ, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực
của ngành nội vụ và cho xã hội trong công cuộc xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế.
Tầm nhìn: Đến năm 2025 trở thành trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực có uy tín
trong nước, khu vực và quốc tế. Chính vì vậy trường luôn đòi hỏi sự chuyên nghiệp phía
ban giám hiệu cùng những giảng viên giữa mối quan hệ bên trong và bên ngoài nhà trường.
Việc phát triển văn hóa công sở tại trường Đại học Nội Vụ Hà Nội rất được chú trọng mang
tầm chiến lược lâu dài; là một phần không thể tách rời trong trách nhiệm công việc của ban
giám hiệu và cũng như là giảng viên nhà trường.
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tiền thân là trường trung học Văn thư - Lưu trữ được
thành lập ngày 18/12/1971 của Bộ trưởng Phủ Thủ tướng với chức năng ban đầu là đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác văn thư, lưu trữ cho các cơ quan Nhà nước và doanh
nghiệp. Trên hành trình phát triển, qua nhiều lần đổi tên đến năm 2011 trường được Thủ
tướng Chính phủ quyết định thành lập với tên gọi trường Đại học Nội vụ Hà Nội với chức
năng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ đại học, sau đại học trong lĩnh vực
công tác của ngành Nội vụ đáp ứng được nhu cầu của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại
hóa dất nước.
18
Qua quá trình phát triển, tổ chức bộ máy nhà trường không ngừng lớn mạnh, ngoài
trụ sở chính tại Hà Nội trường còn có 3 phân hiệu tại 3 miền: miền trung tại Quảng Nam,
miền nam tại thành phố Hồ Chí Minh và trung tâm tại thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng).
Trong những năm qua đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của nhà trường không ngừng
lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Trường hiện nay đào tạo 23 ngành trình độ đại học
và 4 ngành trình độ thạc sĩ đáp ứng nguồn nhân lực cho nền công vụ nói riêng và xã hội
nói chung. Với 50 năm hình thành và phát triển, trường đã đào tạo trên 50.000 học viên,
sinh viên, bồi dưỡng trên 100.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức cho các cơ quan, đơn
vị và bồi dưỡng khoảng 1000 học viên cho nước bạn Lào và Cam- pu-chia. Trường đã vinh
dự nhận được nhiều phần thưởng cao quý, huân chương Lao động hạng Ba (1996), huân
chương Lao động hạng Nhất (2006), huân chương Lao động hạng Nhất (2021) bằng khen
của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng nhiều bằng khen của các bộ,
ban ngành, đoàn thể trung ương.
Trường xây dựng chương trình đào tạo đáp ứng chuẩn chương trình đào tạo theo
quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hoạt động NCKH của trường luôn được
quan tâm bởi sinh viên các khóa với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
trình độ cao góp phần phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Trường đặc biệt chú
trọng tham gia mạng lưới quốc tế về giáo dục đại học, thiết lập hợp tác với các cơ quan,
trường đại học nước ngoài thông qua các dự án quốc tế về đào tạo, NCKH về cung cấp các
dịch vụ công. Vị thế quốc tế của nhà trường không ngừng phát triển, đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực cho nền công vụ và nhu cầu của xã hội.
Các hoạt tiêu biểu của sinh viên nhà trường được trải đều xuyên suốt trong năm,
mỗi hoạt động của sinh viên luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của Ban Giám hiệu nhà
trường, các cấp bộ Đoàn, sinh viên được thể hiện hết mình trong các hoạt động, bên cạnh
đó nhà trường còn tạo điều kiện để sinh viên kết hợp học đi đôi với hành, những trải nghiệm
kĩ năng khởi nghiệp và lập nghiệp. Sinh viên nhà trường còn có cơ hội tiếp xúc sớm với
các hoạt động trải nghiệm thực tiễn với các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp các hoạt động
của bộ, ban ngành.
19
Với sứ mệnh đào tạo đa ngành, đa trình độ theo định hướng ứng dụng đáp ứng được
những yêu cầu nguồn nhân lực ngành nội vụ, nền công vụ và xã hội trong công cuộc xây
dựng, bảo vệ đất nước và hội nhập quốc tế, trường Đại học Nội vụ Hà Nội luôn hướng tới
các giá trị cốt lõi, chất lượng và hiện đại. Có thể nói, qua nửa thế kỷ Trường Đại học Nội
vụ Hà Nội đã xây dựng và ngày càng trưởng thành.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của trường Đại
học Nội vụ Hà Nội
2.1.2.1. Cơ cấu tổ chức của Trường:
Hình 2.1.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Trường ĐHNVHN [2]
20
2.1.2.2. Vị trí, chức năng của Trường [3]
Căn cứ theo Quyết định số 468/QĐ-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 03 tháng
04 năm 2018 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của trường Đại
học Nội vụ Hà Nội:
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội là cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc hệ thống
giáo dục quốc dân, trực thuộc Bộ Nội vụ, có chức năng đào tạo trình độ đại học, sau đại
học; nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ; hợp tác quốc tế và dịch vụ công phục
vụ ngành Nội vụ, nền công vụ và yêu cầu của xã hội.
Trường chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý trực tiếp của Bộ Nội vụ; chịu sự quản
lý nhà nước về giáo dục đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Trường có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước
và ngân hàng theo quy định của pháp luật.
- Tên Trường bằng tiếng Việt: Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
- Tên tiếng Anh: Hanoi University of Home Affairs (viết tắt là HUHA).
- Trụ sở chính: Tại thành phố Hà Nội.
2.1.2.3. Nhiệm vụ và quyền hạn của Trường [3]
Căn cứ theo Điều 2 Quyết định số 468/QĐ-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 03
tháng 04 năm 2018 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của trường
Đại học Nội vụ Hà Nội thì nhà trường có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
1. Xây dựng, trình Bộ trưởng Bộ Nội vụ chiến lược phát triển Trường, kế hoạch
công tác dài hạn, trung hạn, hằng năm của Trường và tổ chức thực hiện sau khi được phê
duyệt.
2. Đào tạo nguồn nhân lực các ngành trình độ đại học, sau đại học theo quy định;
quản lý phôi và cấp các loại văn bằng, chứng chỉ theo quy định.
3. Phát triển chương trình đào tạo, bảo đảm sự liên thông giữa các chương trình và
trình độ đào tạo; tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch, biện pháp giáo dục và quản
lý người học.
21
4. Thực hiện việc đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo
dục của cơ quan có thẩm quyền; xây dựng và phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng của
Trường; tăng cường các điều kiện bảo đảm chất lượng và không ngừng nâng cao chất lượng
đào tạo của Trường.
5. Nghiên cứu khoa học và công nghệ; ứng dụng, phát triển và chuyển giao, chuyển
nhượng kết quả hoạt động khoa học và công nghệ; công bố kết quả hoạt động khoa học và
công nghệ; bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân
trong hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ của Trường.
6. Thực hiện tư vấn, dịch vụ về đào tạo, khoa học công nghệ, hợp tác công tư; cung
cấp các dịch vụ công phục vụ ngành Nội vụ, nền công vụ và yêu cầu của xã hội phù hợp
với năng lực của Trường theo quy định của pháp luật.
7. Thực hiện hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong việc
đào tạo và nghiên cứu khoa học theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ Nội vụ.
8. Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ, xây dựng nếp sống văn hóa và môi trường sư
phạm trong Trường; thực hiện cải cách hành chính theo chương trình, kế hoạch cải cách
hành chính của Bộ Nội vụ và phân công của Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Ban hành các quy định,
quy chế quản lý nội bộ phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.
9. Tuyển dụng, tiếp nhận, sử dụng, quản lý đội ngũ viên chức, người lao động của
Trường theo quy định của pháp luật và theo phân cấp quản lý của Bộ trưởng Bộ Nội vụ;
bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho công chức, viên chức và người lao động của Trường.
10. Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính, tài sản; quyết định thành lập các
đơn vị, tổ chức thuộc và trực thuộc theo cơ cấu tổ chức đã được Bộ Nội vụ phê duyệt; quyết
định các vấn đề về tổ chức cán bộ theo phân cấp của Bộ Nội vụ.
11. Quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính để thực hiện các nhiệm vụ được giao
theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ Nội vụ; được Nhà nước giao hoặc cho thuê
đất, cơ sở vật chất; được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật.
22
12. Tham gia xây dựng, góp ý thẩm định các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển của Bộ Nội vụ, của ngành Nội vụ theo
phân công của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
13. Quản lý và sử dụng cơ sở dữ liệu về đội ngũ công chức, viên chức, người lao
động, các hoạt động đào tạo, khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế của Trường; xây dựng
và phát triển hệ thống thông tin, thư viện và các trang thiết bị phục vụ đào tạo và nghiên
cứu khoa học đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo.
14. Xuất bản và phát hành tạp chí, bản tin, các ấn phẩm khoa học; tổ chức biên soạn
và phát hành các chương trình, giáo trình, tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, học tập và
nghiên cứu của Trường.
15. Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo và chịu sự kiểm tra, thanh tra của Bộ Nội
vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp theo quy
định của pháp luật.
16. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Nội vụ giao.
2.2. Các tiêu chí nghiên cứu ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học
tập của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Chất lượng học tập của sinh viên phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng đội ngũ
giảng viên, trình độ đầu vào của người học, chương trình đào tạo, tài liệu, ý thức, thái độ
học tập của sinh viên,... nhưng không thể không kể đến yếu tố cơ sở vật chất. Chúng tôi đã
quan sát, tìm hiểu và chọn lọc ra 04 tiêu chí đánh giá phù hợp để nghiên cứu ảnh hưởng của
cơ sở vật chất đến chất lượng học tập của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội nhằm
cải thiện môi trường cũng như chất lượng học tập của sinh viên, nhờ đó mà sinh viên có
điều kiện tốt nhất để nghiên cứu và tiếp thu nhiều điều bổ ích tại trường.
- Tiêu chí 01: Hệ thống phòng học và các thiết bị hỗ trợ dạy học
- Tiêu chí 02: Hệ thống thư viên và thư viện điện tử
- Tiêu chí 03: Các khu vực chức năng của trường
- Tiêu chí 04: Các yếu tố cơ sở vật chất khác
23
Cơ hội việc làm
Hệ thống phòng học và các thiết bị hỗ trợ dạy học
Kết quả học tập
Cơ sở vật chất
Chất lượng học tập
Hệ thống thư viên và thư viện điện tử
Kiến thức tích lũy
bị hỗ trợ dạy học Các khu vực chức năng khác của trường
Chất lượng đầu ra
Các yếu tố cơ sở vật chất khác
24
2.3. Tìm hiểu về thực trạng ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học
tập của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Hình 2.3. Sơ đồ Trường Đại học Nội vụ Hà Nội [19]
25
2.3.1. Theo tiêu chí 01, tìm hiểu về thực trạng phòng học và các thiết bị hỗ trợ dạy
học (3)
.. Trường ĐHNVHN được xây dựng với cấu trúc gồm 7 tòa giảng đường,
01 Trung tâm Thư viện, 01 Hội trường, 43 phòng học với 8 phòng máy. Với cấu
trúc này, phần lớn sinh viên cảm thấy dễ dàng di chuyển khi thay đổi phòng học.
Nhóm chúng tôi đã phát ra 300 phiếu khảo sát (bao gồm: 100 phiếu online, 200
phiếu trực tiếp) và thu về tổng 256 phiếu hợp lệ. Kết quả khảo sát sự đồng tình của
sinh viên với cấu trúc giảng đường được phản ánh trong sơ đồ dưới đây:
Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý kiến “Bố trí các khu
80
70 (27,3%)
70
57 (22,3%)
60
45 (17,6)
43 (16,8%)
50
41 (16%)
40
30
20
10
0
3. Phân vân
4. Đồng ý
1. Rất không đồng ý
2. Không đồng ý
5. Hoàn toàn đồng ý
nhà học hợp lý, dễ dàng di chuyển khi thay đổi phòng học”
Qua Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý kiến “Bố trí các khu nhà học
hợp lý, dễ dàng di chuyển khi thay đổi phòng học” ta thấy phần lớn sinh viên đồng tình với
sự bố trí các khu nhà học như hiện tại với kết quả là 27,3% sinh viên đồng ý, 17,6% hoàn
toàn đồng ý tương đương 115 sinh viên trong tổng số 265 sinh viên. Cũng có bộ phận lớn
sinh viên không đồng tình với cấu trúc các khu nhà học hiện tại, cụ thể là 16,8% sinh viên
không đồng ý và 16% sinh viên rất không đồng ý, tương đương 84 sinh viên. Còn lại là các
26
sinh viên giữ thái độ trung lập với 22,3% tương đương 57 sinh viên trong số 256 sinh viên.
Về cơ bản, các tòa giảng đường khá gần nhau, một số tòa thông với giúp sinh viên dễ dàng
di chuyển. Các tòa giảng đường cũng được bố trí và xây dựng phù hợp với diện tích và quy
mô của Trường nên khó có thể thay đổi, các bạn sinh viên hầu hết sẽ quen dần và thích nghi
với cấu trúc này.
Trường ĐHNVHN hiện nay cũng đang gặp phải nhiều khó khăn và thách thức trong
việc cung cấp môi trường học tập chất lượng cho sinh viên. Phòng học cũng là một chi tiết
không thể không kể đến trong phần này. Theo khảo sát của chúng tôi với 256 sinh viên của
Trường ĐHNVH về sự đồng tình với ý kiến “Kiến trúc trong các phòng học thuận tiện cho
việc học tập” và cho ra kết quả như sau:
Bảng 2.3.1: Bảng đánh giá sự đồng tình của sinh viên với ý kiến “Kiến trúc trong
các phòng học thuận tiện cho việc học tập”
Mức độ Rất Không Phân vân Đồng ý Hoàn toàn Tổng
không đồng ý đồng ý
đồng ý Đơn vị
45 63 50 55 43 Số phiếu 256
(phiếu)
17,6 24,6 19,5 21,5 16,8 100 Tỉ lệ
(%)
Qua Bảng đánh giá sự đồng tình của sinh viên với ý kiến “Kiến trúc trong các phòng
học thuận tiện cho việc học tập” vừa rồi cho ta kết quả với 45 phiếu rất không đồng ý, 63
phiếu không đồng ý, tổng là 108 phiếu; 50 phiếu của các sinh viên còn tỏ ra phân vân; còn
lại là 55 phiếu đồng ý và 43 phiếu hoàn toàn đồng ý, tổng là 98 phiếu. Như vậy, so sánh
giữa tổng số phiếu mang quan điểm đồng ý và không đồng ý có sự trên lệch là 10 phiếu.
Điều này cho chúng ta thấy rằng kiến trúc phòng học vẫn chưa thực sự được các sinh viên
đánh giá quá cao. Thực trạng một số phòng học chật hẹp, thiếu ánh sáng tự nhiên và không
27
đủ điều hòa không khí, quạt gió gây khó khăn cho sinh viên trong quá trình học tập. Ở tòa
giảng đường E được cải tạo từ kí túc xá cũ của trường nên tồn tại cột bê tông che chắn mất
tầm nhìn của sinh viên khi ngồi trong lớp, ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình tiếp thu kiến
thức của họ.
Tiếp theo là các thiết bị dạy học, TBDH là một bộ phận của cơ sở vật chất trường
học, bao gồm những đối tượng vật chất được thiết kế sư phạm mà giáo viên sử dụng để
điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh; đồng thời là nguồn tri thức, là phương tiện
giúp học sinh lĩnh hội tri thức, hình thành kĩ năng đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu dạy
học. [15]
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã đầu tư vào các thiết bị hỗ trợ dạy học để cải thiện
chất lượng giảng dạy và tạo ra môi trường học tập tốt hơn cho sinh viên. Các thiết bị này
bao gồm máy chiếu, máy tính, bảng và các thiết bị âm thanh như loa và mic để giúp giảng
viên truyền đạt kiến thức một cách dễ dàng và sinh động hơn.
Theo khảo sát của chúng tôi với 256 sinh viên của Trường ĐHNVH về sự đồng tình
với ý kiến “Các thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập (máy chiếu, loa,...) hoạt động hiệu
quả” và cho kết quả như sau:
Biểu đồ 2: Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý kiến “Các thiết bị
80
70
60 (23,4%)
53 (20,7%)
60
50 (19,5%)
47 (18,4%)
46 (18%)
50
40
30
20
10
0
3. Phân vân
4. Đồng ý
1. Rất không đồng ý
2. Không đồng ý
5. Hoàn toàn đồng ý
phục vụ giảng dạy và học tập (máy chiếu, loa,...) hoạt động hiệu quả”
28
Qua Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý kiến “Các thiết bị phục vụ
giảng dạy và học tập (máy chiếu, loa,...) hoạt động hiệu quả” ở trên ta thấy có 18,4% sinh
viên cho ý kiến hoàn toàn đồng ý và 19,5% sinh viên là đồng ý với ý kiến này. Tuy nhiên
vẫn còn 20,7% số sinh viên tương đương 53 sinh viên trong tổng số 265 sinh viên còn tỏ ra
phân vân. Bên cạnh đó, có đến 23,4% sinh viên có ý kiến không đồng ý và có 18% sinh
viên rất không đồng ý về cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học của Nhà trường. Kết quả này
cho ta thấy rõ rằng dù nhà trường rất cố gắng đầu tư trang thiết bị để phục vụ việc dạy và
học tại giảng đường, tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Các thiết bị hoạt động không
hiệu quả, một số máy chiếu mờ khiến sinh viên không thể nhìn thấy slide, loa và mic có
một số không bắt tín hiệu tốt,... Các thiết bị này rất quan trọng, góp phần làm nên một buổi
học thành công nhưng lại thường xuyên hỏng hóc. Chính vì vậy các thiết bị phục vụ giảng
dạy và học tập cần được quan tâm và bảo dưỡng, sửa chữa kịp thời, nhanh chóng. Việc đầu
tư vào các thiết bị hỗ trợ dạy học không chỉ giúp cải thiện chất lượng giảng dạy mà còn
giúp sinh viên tiếp cận kiến thức một cách hiệu quả hơn.
2.3.2. Theo tiêu chí 02, tìm hiểu về thực trạng thư viện và thư viện điện tử [20]
Trung tâm Thông tin - Thư viện là bộ phận quản trị nguồn lực học tập của Trường
ĐHNVHN ra đời từ năm 2012 với tổng diện tích sàn hiện nay là 2.286 m2 gồm các phòng
đọc cho sinh viên, cho cán bộ, phòng internet, kho sách báo, tạp chí, Website của thư viện
phục vụ nhu cầu của độc giả. Trung tâm Thông tin Thư viện là đơn vị chức năng thuộc
Trường ĐHNVHN có chức năng thu thập, bảo quản, quản lý, cung cấp, phổ biến thông tin,
tư liệu khoa học và hỗ trợ khai thác nguồn thông tin cho công chức, viên chức, người lao
động và người học phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học của Trường.
Tài liệu nội sinh Trung tâm Thông tin - Thư viện (tính đến năm 2018) được trang bị đa
dạng loại hình trong đó sách giáo trình tập bài giảng là 33.225 cuốn và tài liệu tham khảo
là 13.215 cuốn. Các dạng tài nguyên khác: Báo, tạp chí chuyên ngành 92 đầu mục; Sách
điện tử 2.051 file; 57 đề tài NCKH từ cấp Trường; 33 đề tài NCKH cấp Nhà nước và cấp
bộ. Luận văn, Luận án của cán bộ giảng viên trong Trường bảo vệ tại các cơ sở giáo dục
trong và ngoài nước nộp về thông qua sổ giao nhận luận án Tiến sĩ, thạc sĩ của tất cả các
ngành. Ngoài ra Trung tâm Thông tin thư viện luôn cập nhật, bổ sung tài liệu thông qua các
29
thông báo yêu cầu đề xuất của các khoa về việc đăng ký in ấn bổ sung giáo trình, tập bài
giảng hàng năm.
Cơ sở vật chất, thiết bị và hạ tầng hỗ trợ giảng dạy được trang bị đồng bộ phù hợp
với với xu thế hiện đại. Hệ thống phòng đọc và phòng thực hành được kết nối liên hoàn hỗ
trợ 145 chỗ ngồi rộng rãi, thoáng mát, hệ thống internet kết nối mở. Hàng năm Nhà trường
cũng tăng cường thêm các thiết bị và máy móc để phục vụ cho nhu cầu về đào tạo, NCKH
và phục vụ cộng đồng như hệ thống Camera IP, mua chỉ từ, giá sánh, mua tủ đựng đĩa CD
các công trình khoa học, 2 máy hút bụi vệ sinh để bảo quản tài liệu; máy lọc nước phục vụ
cán bộ và bạn đọc tại thư viện; mua thêm 15 bộ máy tính để phục vụ cán bộ và bạn đọc tra
cứu thông tin tại thư viện tư năm 2015 đến nay.
Trung tâm Thông tin - Thư viện đã sử dụng Thư viện điện tử - thư viện số để giúp
bạn đọc có thể tìm kiếm tài liệu, thông tin nhanh chóng, chính xác và tiện lợi; Không chỉ
vậy Trung tâm Thông tin - Thư viện áp dụng phần mềm ứng dụng xử lý sách điện tử, phần
mềm hệ điều hành mạng máy chủ nhân linux, phần mềm xử lý nhận dạng ký tự quang học
ABBYY, phần mềm quản trị bộ sưu tập số Dspace, Nguồn học liệu mở tất cả khách truy
cập đều có thể xem toàn văn trên địa chỉ website của thư viện. Ngoài ra hệ thống thư viện
điện tử được liên kết với các thư viện điện tử của một số Trường Đại học.
Phòng đọc và phòng máy tính trước đây chỉ sử dụng kết nối internet dây nay đã được
kết nối internet không dây. Hệ thống máy chiếu, loa míc, điều hòa 93 được lắp đặt đầy đủ
đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu khai thác sử dụng của cán bộ, giảng viên, sinh viên. Phần
mềm thư viện số: Từ khi triển khai năm 2014 trên phần mềm Dspace phiên bản 3.3 chạy
trên hệ điều hành Windows XP, sau đó nâng cấp lên phiên bản 4.2 chạy trên hệ điều hành
Xubuntu 12.04 LTS. Đến nay đạt 348.815 lượt truy cập, trung bình 116.271 lượt truy cập
mỗi năm. Cơ sở dữ liệu thư mục sách tại Trung tâm Thông tin Thư viện luôn được cập nhật,
đảm bảo trang web của Trung tâm hoạt động thông suốt, cập nhật thường xuyên các tài liệu
và phần mềm. Xử lý các tài liệu tiếp nhận từ tài trợ và các tổ chức, cá nhân tặng và đưa vào
phục vụ hiệu quả.
30
Với sự đầu tư CSVC của Trung tâm Thông tin - Thư viện, chúng tôi đã khảo sát 256
sinh viên của Trường ĐHNVH về sự đồng tình với ý kiến “Thư viên đảm bảo không gian,
chỗ ngồi, tài liệu” và cho kết quả như sau:
Biểu đồ 3: Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý kiến “Thư viên đảm
80
70
62 (24,2%)
56 (21,9%)
60
49 (19,1)
bảo không gian, chỗ ngồi, tài liệu”
45 (17,6)
44 (17,2%)
50
40
30
20
10
0
3. Phân vân
4. Đồng ý
1. Rất không đồng ý
2. Không đồng ý
5. Hoàn toàn đồng ý
Theo kết quả khảo sát qua Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý kiến
“Thư viên đảm bảo không gian, chỗ ngồi, tài liệu” đối với thư viện của Trường, đa số sinh
viên tham gia khảo sát có 24,2% cho ý kiến đồng ý, 19,1% sinh viên cho ý kiến hoàn toàn
đồng ý, tổng là 43,3%. Số sinh viên tỏ ra phân vân là 21,9% tương đương với 56 sinh viên
trên tổng số 256 sinh viên. Còn lại là 17,6% sinh viên rất không đồng ý và 17,2% sinh viên
không đồng ý, tổng là 34,8%. Thư viện là nơi sinh viên có thể học tập bằng việc tìm tài
liệu, tự học,...để cải thiện nâng cao chất lượng học tập của chính bản thân. Từ kết quả trên
cho thấy, đa số sinh viên đều đánh giá cao về CSVC và chất lượng của thư viện, về nguồn
học liệu, cơ sở vật chất trong thư viện, cơ sở dữ liệu trực tuyến trong Nhà Trường đã đáp
ứng tốt cho nhu cầu tra cứu, học tập và NCKH của độc giả. Thư viện cũng đảm bảo được
không gian, chỗ ngồi cho độc giả. Tuy nhiên, với không gian thư viện cần rộng rãi và yên
tĩnh để việc học có hiệu quả hơn bởi hiện nay số lượng sinh viên có nhu cầu học tập trong
31
thư viện tương đối cao nên không gian học trong thư viện luôn bị chặt cứng ảnh hưởng đến
sự tập trung của người học.
2.3.3. Theo tiêu chí 03, tìm hiểu về thực trạng các khu vực chức năng của trường
Cơ sở vật chất tại các khu vực chức năng của Trường như sân thể dục, kí túc xá, hội
trường, nhà gửi xe, căng tin,... cũng là những vấn đề được khá nhiều sinh viên quan tâm
bởi người sử dụng chính là sinh viên và các khu vực chức năng này cũng ảnh hưởng khá
nhiều đến chất lượng học tập sinh viên. Chúng tôi đã khảo sát sự đồng tình của 256 sinh
viên với ý kiến “Các khu vực hỗ trợ khác: sân thể dục, ký túc xá, căng tin, nhà để xe,... đáp
ứng nhu cầu sinh viên” và thu được kết quả như sau:
Biểu đồ 4: Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý kiến “Các khu vực hỗ
80
70
56 (21,9%)
56 (21,9%)
60
trợ khác: sân thể dục, ký túc xá, căng tin, nhà để xe,... đáp ứng nhu cầu sinh viên”
52 (20,3%)
50 (19,5%)
50
42 (16,4)
40
30
20
10
0
3. Phân vân
4. Đồng ý
1. Rất không đồng ý
2. Không đồng ý
5. Hoàn toàn đồng ý
Từ Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý kiến “Các khu vực hỗ trợ khác:
sân thể dục, ký túc xá, căng tin, nhà để xe,... đáp ứng nhu cầu sinh viên” cho kết quả là
21,9% sinh viên đồng ý, tương đương 56 phiếu, 21,9% sinh viên tỏ ra phân vân, tương
đương 56 phiếu, 20,3% sinh viên không đồng ý, tương đương 52 phiếu, 19,5% sinh viên
rất không đồng ý, tương đương 50 phiếu và còn lại là 16,4% sinh viên hoàn toàn đồng ý,
tương đương 42 phiếu. Tổng số sinh viên mang quan điểm đồng ý là 38,3%, tương đương
32
98 phiếu. Tổng số sinh viên mang quan điểm không đồng ý là 39,8%, tương đương 102
phiếu. So sánh hai quan điểm này thì không quá chênh lệch, tuy nhiên nó cũng phản ánh
phần nào sự hài lòng của sinh viên đối với các khu vực chức năng của Trường. Sinh viên
luôn là một trong những nhóm đối tượng có nhu cầu cao về các khu vực hỗ trợ. Để giúp
đáp ứng nhu cầu của sinh viên, trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã triển khai nhiều khu vực
hỗ trợ như sân thể dục, ký túc xá, căng tin, nhà để xe,... Đối với sinh viên, các khu vực hỗ
trợ như sân thể dục, ký túc xá, căng tin và nhà để xe là rất quan trọng. Đây là những nơi
giúp sinh viên có thể tập luyện, nghỉ ngơi và giữ an toàn cho phương tiện di chuyển của
mình. Nhà trường rất quan tâm đến khu ký túc xá bởi đây là nơi sinh viên có thể yên tâm
nghỉ ngơi sau những giờ học căng thẳng. Ký túc xá của trường được trang bị đầy đủ giường
tầng, quạt, điện, nước sinh hoạt, trong khu ký túc cũng có 02 phòng học, 01 căng tin đảm
bảo cho sinh viên có một môi trường sống và học tập tốt nhất. Với nhu cầu đi lại ngày càng
tăng của sinh viên, vấn đề về chỗ đỗ xe trở nên cấp thiết. Nhà để xe của Trường được trang
bị đầy đủ các tiện nghi như chỗ đỗ xe, bảo vệ 24/7, thẻ từ gửi xe... để đảm bảo giữ an toàn
cho phương tiện của sinh viên. Ngoài ra, việc có nhà để xe cũng giúp cho sinh viên có thể
tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại. Sinh viên không cần phải tìm kiếm chỗ đỗ xe và lo lắng
về việc bị phạt khi để xe sai quy định của thành phố. Điều này giúp cho sinh viên có thể tập
trung vào học tập và rèn luyện bản thân hơn. Khu vực căng tin cũng được trang bị các chỗ
ngồi để sinh viên có thể ngồi giải lao, nạp năng lượng cho những giờ học căng thẳng. Từ
những nhận xét trên, có thể thấy rằng sự đồng tình của sinh viên với ý kiến “Các khu vực
hỗ trợ khác: sân thể dục, ký túc xá, căng tin, nhà để xe,... đáp ứng nhu cầu sinh viên” là rất
cao, tuy nhiên nhu cầu của sinh viên đối với các khu vực hỗ trợ này rất cao cho nên Nhà
trường vẫn cần phải quan tâm và đầu tư hơn để cải thiện một số vấn đề bất cập. Hiện nay,
có thể thấy nhà trường vẫn chưa có khu vực dành riêng cho các bộ môn thể chất. Điển hình
như cờ vua học ở sân bóng chuyền, đá cầu cũng ở sân bóng chuyền, tập bài thể dục cũng ở
sân bóng chuyền hoặc sân ABCD. Số lượng các lớp học cùng lúc quá đông điều này khiến
cho giao thông trong trường có phần khó khăn, cũng như là việc học tập của sinh viên cũng
không thuận tiện. Các hoạt động tập văn nghệ của sinh viên diễn ra tại sân ABCD rất ảnh
hưởng đến các lớp học khi nhạc bật to và cửa các lớp học không cách âm. Nhu cầu gửi xe
tăng cao, nhà để xe hiện đã không đủ sức chứa, phải để chen lấn lên sảnh nhà H và có lúc
33
xếp đến tận sân thể dục khiến ảnh hưởng tới giờ học thể chất cũng như mỹ quan của trường.
Dù nhà trường đã có những khu vực chức năng riêng nhưng việc đáp ứng nhu cầu này cần
được quan tâm và đầu tư hơn nữa để đảm bảo cho sinh viên có một môi trường học tập và
cuộc sống tốt nhất.
2.3.4. Theo tiêu chí 04, tìm hiểu về thực trạng các yếu tố cơ sở vật chất khác
Đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT), trong đó ưu tiên tăng cường hệ
thống máy tính đồng bộ dữ liệu quản lý đào tạo, website của Trường trong hệ thống internet
đáp ứng yêu cầu học tập, nghiên cứu của cán bộ giảng viên, sinh viên. Trên cơ sở kế hoạch
hàng năm và chiến lược phát triển của Trường, nhà Trường thường xuyên bố trí nguồn kinh
phí đầu tư cung cấp cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống mạng LAN, máy chủ, các phòng thực
hành máy tính, hệ thống thang máy, các phòng LAB, các phần mềm phục vụ quản lý và
được lên kế hoạch bảo trì, sửa chữa kịp thời. Nhờ vậy, hệ thống CNTT và cơ sở hạ tầng
CNTT được thường xuyên đầu tư cung cấp đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu của
công chức, viên chức và sinh viên Nhà trường.
Hệ thống CNTT hiện nay của Trường gồm:
- Phòng Máy chủ: Có 06 máy chủ, tủ rack, Switch, Router, firewall, ổ cứng, máy
chủ, lưu điện thông minh, hệ thống điều hòa không khí, thiết bị phòng cháy chữa cháy.
- Phòng máy thực hành, Máy LAB: Có 08 phòng thực hành máy tính với 308 máy
vi tính cho sinh viên chuyên ngành và đào tạo tin học đại cương và có 01 phòng LAB từ
nguồn dự án Tăng cường cơ sở vật chất.
- Hệ thống mạng: Trang bị cho tất cả các tòa nhà hành chính, giảng đường, ký túc
xá được kết nối bằng sợi dây cáp quang thông qua các thiết bị Core Switch và Access
Switch. Đường truyền Internet: 07 đường truyền internet với tốc độ từ 30Mbps - 50 Mbps
- Hệ thống bảo mật - Sử dụng firewall cứng và phần mềm diệt vi rút cho toàn bộ các
máy tính ở Trường.
- Quyền truy cập: Tài khoản riêng với phần mềm Quản lý đào tạo cho các sinh viên,
cán bộ giảng viên, cán bộ quản lý.
34
- Các phần mềm quản lý: Website HUHA, Website Phân hiệu HUHA, Website Cơ
sở HUHA tại Thành phố Hồ Chí Minh, Website Viện nghiên cứu và phát triển, Hệ thống
thông tin thư viện, Phần mềm Quản lý đào tạo, Phần mềm Quản lý nhân sự, Phần mềm
Quản lý lương và thống kê thu nhập cá nhân, Phần mềm Kế toán MISA. [20]
Theo khảo sát của chúng tôi với 256 sinh viên của Trường ĐHNVH về sự đồng tình
với ý kiến “Phòng máy tính đáp ứng nhu cầu thực hành của sinh viên” và cho ra kết quả
như sau:
Biểu đồ 5: Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý kiến “Phòng máy tính
80
70
61 (23,8%)
60
52 (20,3%)
52 (20,3%)
47 (18,4%)
44 (17,2%)
50
40
30
20
10
0
3. Phân vân
4. Đồng ý
1. Rất không đồng ý
2. Không đồng ý
5. Hoàn toàn đồng ý
đáp ứng nhu cầu thực hành của sinh viên”
Qua Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý kiến “Phòng máy tính đáp ứng
nhu cầu thực hành của sinh viên” chúng tôi có cơ sở dữ liệu theo dõi đánh giá thông qua
các kết quả khảo sát ý kiến sinh viên về mức độ đáp ứng học tập của các phòng máy, đa số
sinh viên tham gia khảo sát có 23,8% cho ý kiến đồng ý và 17,2% cho ý kiến hoàn toàn
đồng ý với ý kiến trên (tương đương 105 sinh viên trong tổng số 265 sinh viên). Tuy nhiên
có tới 20,3% sinh viên tỏ ra phân vân. Còn lại là 20,3% sinh viên không đồng ý và 18,4%
là hoàn toàn không đồng ý về phòng máy tính thực hành (tương đương 99 sinh viên trong
tổng số 265 sinh viên). Đa phần sinh viên cho rằng phòng máy tính đã đáp ứng được nhu 35
cầu thực hành của họ, tuy nhiên không gian phòng máy còn hẹp và chật trội, ít ánh sáng tự
nhiên làm cho sinh viên cảm thấy bí bách. Phòng máy có nhiều máy tính bị hư hỏng, lỗi
thời cần được sửa chữa và nâng cấp kịp thời để đáp ứng được nhu cầu thực hành, đảm bảo
giờ học của sinh viên.
Cùng với đó, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát và thu được kết quả khảo sát của 256
sinh viên của Trường về sự đồng tình với ý kiến “Chất lượng thang máy tại các tòa nhà” và
cho kết quả như sau:
Biểu đồ 6: Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý kiến “Chất lượng
80
63 (24,6%)
70
57 (22,3%)
60
49 (19,1%)
45 (17,6%)
50
42 (16,4%)
40
30
20
10
0
3. Phân vân
4. Đồng ý
1. Rất không đồng ý
2. Không đồng ý
5. Hoàn toàn đồng ý
thang máy tại các tòa nhà tốt”
Qua Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý kiến “Chất lượng thang máy
tại các tòa nhà tốt” ta thấy đa số sinh viên tỏ ra không đồng tình với chất lượng thang máy
tại các tòa giảng đường với 19,1% sinh viên rất không đồng ý và 22,3% sinh viên không
đồng ý, tổng là 41,4% tương đương 106 sinh viên trong tổng số 256 sinh viên tham gia
khảo sát. 24,6% sinh viên giữ thái độ trung lập. Còn lại là 17,6% sinh viên đồng ý và 16,4%
sinh viên hoàn toàn đồng ý, tổng là 34% tương đương với 87 sinh viên đồng tình với với
chất lượng thang máy. Số liệu vừa rồi đã cho ta thấy với 04 chiếc thang máy tại các tòa đã
cơ bản đáp ứng được nhu cầu di chuyển của sinh viên, tuy nhiên, đa phần sinh viên đánh
36
giá không tốt về chất lượng thang máy tại các tòa. Do số lượng sinh viên trong trường khá
là đông, trong khi các tòa giảng đường lại nhiều tầng nên việc đi cầu thang bộ của sinh viên
là khá vất vả đối với những hôm phải học trên tầng cao. Dù đã có bố trí các khu vực thang
máy tại các tòa A, B, C, E tuy nhiên điều đó chưa thể đáp ứng hết nhu cầu di chuyển của
sinh viên. Mặt khác, ở tại một số tòa giảng đường khác vẫn chưa có hệ thống thang máy
làm cho quá trình di chuyển của sinh viên đến phòng học khá vất vả, bên cạnh đó còn có
các sinh viên với điều kiện sức khỏe không đảm bảo khá lo lắng về việc di chuyển khó
khăn. Trong cuộc khảo sát của chúng tôi, nhiều sinh viên phản ánh về chất lượng thang
máy như: “mong muốn nhà trường quan tâm hơn về chất lượng thang máy, nhất là thang
máy nhà C”, thang máy di chuyển quá chậm, bị lỗi, bị kẹt làm cho sinh viên cảm thấy khá
hoang mang, lo sợ. Vì vậy, nhà trường cần đưa ra giải pháp thích hợp, hiệu quả nhất để tiết
kiệm thời gian, sức lực cho sinh viên, từ đó nâng cao hiệu quả học tập.
Tiếp theo là hệ thống mạng Internet của Trường. Chúng tôi cũng đã tiến hành khảo
sát về sự đồng tình của của sinh viên với ý kiến “Hệ thống mạng Internet phủ sóng rộng,
chất lượng đường truyền cao” và cho ra kết quả như sau:
Biểu đồ 7: Biểu đồ thể hiện sự đồng tình của sinh viên với ý kiến “Hệ thống mạng
80
66 (25,8%)
70
61 (23,8%)
60
46 (18%)
43 (15,6%)
50
40 (15,6%)
40
30
20
10
0
3. Phân vân
4. Đồng ý
1. Rất không đồng ý
2. Không đồng ý
5. Hoàn toàn đồng ý
Internet phủ sóng rộng, chất lượng đường truyền cao”
37
Theo kết quả khảo sát, đa số sinh viên tham gia khảo sát thì chỉ có 15,6% tương
đương với 40 sinh viên cho ý kiến đồng ý với “Hệ thống mạng Internet phủ sóng rộng, chất
lượng đường truyền cao” của Trường và có 15,6% cho ý kiến hoàn toàn đồng ý tương
đương với 43 sinh viên. Đối với hệ thống mạng của nhà Trường có đến 23,8% tỏ thái độ
không đồng ý tương đương với 61 sinh viên và 25,8% là rất không đồng ý tương đương với
66 sinh viên trên tổng số 265 sinh viên tham gia khảo sát. Tuy nhiên, vẫn có 18% sinh viên
tương đương với 46 sinh viên phân vân với chất lượng mạng cũng như đường truyền của
nhà Trường. Trong cuộc khảo sát của chúng tôi, nhiều sinh viên nêu ý kiến muốn được Nhà
trường cung cấp mạng Wifi ở nhiều khu vực học tập hơn thay vì chỉ có ở khu vực thư viện
để có thể phục vụ nhu cầu tra cứu thông tin trong quá trình học tập của sinh viên. Như vậy
trong thời gian tới, Nhà trường cần phải tiếp tục cải tiến các vấn đề liên quan đến Hệ thống
mạng công nghệ thông tin, hệ thống cơ sở hạ tầng như máy tính cho công chức, viên chức,
người lao động và sinh viên để đảm bảo xây dựng một môi trường học tập và làm việc tốt
nhất phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học của Nhà trường.
2.3.5. Đánh giá chất lượng cơ sở vật chất của trường Đại học Nội vụ Hà Nội
trên quan điểm của Nhà trường và quan điểm của sinh viên
2.3.5.1. Chất lượng cơ sở vật chất trên quan điểm Nhà trường
Theo quan điểm của Nhà trường, chất lượng cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng để
đảm bảo chất lượng giáo dục. Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã đầu tư nhiều vào cơ sở vật
chất và phát triển các dịch vụ phục vụ sinh viên như ký túc xá, thư viện, phòng học, khu
vực ăn uống, sân thể dục thể thao,... để đáp ứng nhu cầu học tập và sinh hoạt của sinh viên.
Trong Báo cáo tổng hợp tình hình về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác
giảng dạy của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội năm 2017, Nhà trường dánh giá tình hình
thực trạng cơ sở vật chất như sau: “Cơ sở vật chất hiện nay của Nhà trường nhìn chung
khang trang, sạch đẹp, cách bố trí phòng học hợp lý, Nhà trường luôn quan tâm chú trọng
đến công tác đầu tư mua sắm trang thiết bị đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy,
học tập phục vụ công tác đào tạo của Nhà trường. Số lượng trang thiết bị được từng bước
đầu tư với xu hướng đồng bộ và hiện đại, đáp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng.” [17]
38
Nhà trường luôn đặt chất lượng dịch vụ lên hàng đầu và thường xuyên tổ chức kiểm
tra, đánh giá để bảo dưỡng, sửa chữa, cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên,
việc đánh giá chất lượng dịch vụ không chỉ do Nhà trường mà cần sự đóng góp của sinh
viên để đưa ra các ý kiến đóng góp và cải tiến chất lượng dịch vụ.
Trong Báo cáo Tự đánh giá cơ sở giáo dục theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ
sở giáo dục đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường ĐHNVHN đánh giá tiêu chí cơ
sở vật chất của mình như sau:
Cơ sở vật chất, hạ tầng đầu giai đoạn: năm học 2013-2014 đến cuối giai đoạn: năm
học 2018-2019 tăng đáng kể: Tổng diện tích đất tăng 22,8%; tổng diện tích phòng học tăng
64,8%; tổng diện tích thư viện tăng 12,8%; tổng diện tích ký túc xá tăng 181,9%; số chỗ ký
túc xá có thể phục vụ sinh viên tăng 190,9%.
Về trang thiết bị phục vụ người học: Số lượng máy tính để bàn, máy tính xách tay,
máy chiếu, máy điều hòa nhiệt độ trong giai đoạn được mua sắm, đầu tư mới tăng đáng kể:
máy tính để bàn năm học 2013-2014 là 604 bộ, năm 2017-2018 là 771 bộ (tăng 27,6%);
máy tính xách tay năm học 2013-2014 là 27 chiếc, năm học 2018-2019 là 75 chiếc (tăng
177,7 %); máy chiếu năm học 2013-2014 là 48 bộ, năm học 2018-2019 là 88 bộ (tăng tăng
83,3%); máy điều hòa không khí giảng đường năm học 2013-2014 là 110 bộ; năm học
2018-2019 là 126 bộ (tăng 14,5%). Hệ thống phòng học, phòng thực hành, phòng làm việc
và các thiết bị của hệ thống này đã cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu
khoa học và phục vụ cộng đồng.
Theo kết quả khảo sát, lấy ý kiến đo lường sự hài lòng của sinh viên đối với
cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng của Trường năm học 2017-2018, đa số sinh viên tham gia khảo sát (trên 65,9%) cho ý kiến hài 82 lòng với các vấn đề về cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng của Trường. Tuy nhiên vẫn còn 17,1% số sinh viên còn tỏ ra phân vân và 17% số sinh viên có ý kiến chưa hài lòng về cơ sở vật chất của Nhà trường. Vì vậy trong thời gian tới, Nhà trường cần phải tiếp tục cải tiến các vấn đề liên quan đến cơ sở vật chất học sinh sinh viên để đảm bảo xây dựng một môi trường học tập tốt nhất cho học sinh sinh viên. [20]
39
2.4.2. Chất lượng cơ sở vật chất trên quan điểm của sinh viên
Đối với sinh viên, chất lượng cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng để đảm bảo một
môi trường học tập và sinh hoạt tốt nhất. Sinh viên luôn mong muốn được học tập trong
các phòng học đầy đủ trang thiết bị, có không gian thoáng mát, yên tĩnh. Đồng thời, sinh
viên cũng cần có các dịch vụ phục vụ khác như ký túc xá, thư viện, khu vực ăn uống, sân
thể dục thể thao,... để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.
Sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội là những người trực tiếp sử dụng cơ sở vật
chất của trường Đại học Nội vụ Hà Nội. Vì vậy, quan điểm của họ về chất lượng cơ sở vật
chất là rất quan trọng. Bởi CSVC là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới việc đảm
bảo chất lượng đào tạo và trải nghiệm học tập của sinh viên. Theo nhiều sinh viên, cơ sở
vật chất của trường là tốt và cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của họ.
Tuy nhiên, theo khảo sát của chúng tôi với 256 sinh viên trường ĐHNVHN thì có
một bộ phận lớn sinh viên cho rằng chất lượng dịch vụ tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội
còn chưa đáp ứng được yêu cầu của họ. Một số ý kiến được chúng tôi ghi nhận đó là các
phòng học với không gian kín, chật hẹp mà số lượng sinh viên trong lớp khá đông nên họ
cảm thấy nóng bức, khó tập trung học tập. Thêm vào đó là nhiều thiết bị hỏng hóc như quạt,
máy chiếu, loa, mic, điều hòa... ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng giờ học. Trong quá trình
di chuyển sinh viên cũng gặp nhiều khó khăn khi nhà xe quá chật, thang máy hoạt động
kém, thường xuyên hỏng. Nhà vệ sinh của trường cũng được các bạn sinh viên đánh giá
không cao khi các thiết bị vệ sinh nơi đây đang bị xuống cấp và chưa được trang bị đầy đủ
các thiết bị vệ sinh. Các hoạt động diễn ra tại sân ABCD trong quá trình các lớp còn đang
trong giờ học mà không có cửa cách âm khiến cho sinh viên không thể tập trung học tập.
Ngoài ra, chất lượng cơ sở vật chất phục vụ khác như ký túc xá, ăn uống cũng còn nhiều
hạn chế. Việc đánh giá chất lượng dịch vụ cơ sở vật chất còn cần phải được quan tâm và
thực hiện thường xuyên hơn để cải tiến, nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ cho sinh viên.
40
Tiểu kết chương 2
Trong chương 2, chúng tôi đã trình bày về thực trạng ảnh hưởng của cơ sở vật chất
đến chất lượng học tập của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội: Lịch sử hình thành và
phát triển, cơ cấu tổ chức, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Trường Đại học
Nội vụ Hà Nội; đưa 04 tiêu chí đánh giá và phân tích về ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến
chất lượng học tập của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
Lịch sử hình thành và phát triển, cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ của Trường Đại học
Nội vụ Hà Nội là cơ sở nhằm khai thác các đặc trưng về truyền thống, văn hóa vốn có của
trường, đây là một phần không thể thiếu có tác động ít nhiều đến thực trạng ảnh hưởng của
cơ sở vật chất đến chất lượng học tập của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
Xây dựng các tiêu chí đánh giá để nghiên cứu về ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến
chất lượng học tập của sinh viên trường đại học Nội vụ Hà Nội là một trong những phần
quan trọng nhất của đề tài. Chúng tôi đưa ra 04 tiêu chí như sau: Tiêu chí 01: Hệ thống
phòng học và các thiết bị hỗ trợ dạy; Tiêu chí 02: Hệ thống thư viện và thư viện điện tử;
Tiêu chí 03: Các khu vực chức năng của trường; Tiêu chí 04: Các yếu tố cơ sở vật chất
khác là các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng học tập của sinh viên Đại học Nội vụ Hà
Nội.
Việc đánh giá chất lượng cơ sở vật chất tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội là rất cần
thiết để đảm bảo chất lượng giáo dục và đáp ứng nhu cầu của sinh viên. Quan điểm của
Nhà trường và sinh viên về chất lượng cơ sở vật chất có những điểm trùng hợp và khác
biệt. Tuy nhiên, cả hai đều đặt chất lượng dịch vụ lên hàng đầu và mong muốn cải tiến và
nâng cao chất lượng cơ sở vật chất phục vụ sinh viên. Việc đánh giá chất lượng cơ sở vật
chất cần phải được thực hiện thường xuyên và đầy đủ để đưa ra các ý kiến đóng góp, cải
tiến và đảm bảo chất lượng dịch vụ cơ sở vật chất Nhà trường.
Tóm lại, những nội dung phân tích, đánh giá ở toàn chương 2 là tiền đề quan trọng
để chúng tôi cùng nghiên cứu, làm cơ sở đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo cơ sở vật
chất giúp nâng cao chất lượng học tập cho sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong
chương 3.
41
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO CƠ SỞ
VẬT CHẤT GIÚP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Đối với các cơ sở đào tạo nói chung và Trường Đại học Nội vụ Hà Nội nói riêng thì
chất lượng đào tạo luôn quyết định sự tồn tại và phát triển của nhà trường. Một nhà trường
mà cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu, không theo kịp sự phát triển của xã hội thì sẽ không
thể có được chất lượng đào tạo tốt nhất. Do đó, việc tăng cường cơ sở vật chất, trang bị các
phương tiện giảng dạy và học tập hiện đại trong trường học sẽ góp phần đào tạo nên đội
ngũ lao động có chất lượng, đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong xu thế hội
nhập hiện nay. Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó cùng với nguyện vọng của sinh viên trong
trường thì việc tăng cường cơ sở vật chất là nhiệm vụ trọng tâm nhằm đảm bảo chất lượng
đào tạo. Cụ thể Trường Đại học Nội vụ Hà Nội cần:
3.1. Phía nhà trường
3.1.1. Bố trí phòng học và các khu vực chức năng hợp lý
Phòng học phải được trang bị đầy đủ về CSVC bởi phòng học là một thành phần
quan trọng nhất của trường học, đây là nơi diễn ra hoạt động học tập hàng ngày của sinh
viên. Cách bố trí không gian phòng học ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng học tập của
sinh viên nói chung và sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội nói riêng. Sự tập trung cùng
với hiệu quả học tập bị chi phối bởi tính khoa học và thẩm mỹ trong việc bố trí phòng học.
Vị trí phòng học, giảng đường, bàn ghế,... phục vụ cho học tập phải đảm bảo các yếu tố về
ánh sáng, âm thanh, màu sắc, khoảng cách,... Bàn ghế phải phù hợp với sinh viên bậc học
Đại học. Thiết kế phòng học có ánh sáng kết hợp hài hòa giữa ánh sáng tự nhiên và ánh
sáng đèn điện. Cụ thể nhà trường có thể: Bố trí phòng học khoa học hơn, các phòng học
cho sinh viên ở cùng tòa, các phòng làm việc cho giảng viên ở cùng tòa để tránh mất thời
gian di chuyển. Hệ thống bàn ghế học tập nên được thay mới toàn bộ với màu sắc giúp tâm
trạng tập trung hơn, kết cấu phù hợp hơn với độ tuổi sử dụng là 18-24 tuổi. Đầu tư lắp đặt
hệ thống chiếu sáng mới, đảm bảo ánh sáng ở mức phù hợp. Thiết kế các loại phòng học
khác nhau như phòng học nhóm, phòng học kiểu hội trường thu nhỏ, phòng học tự do...
42
Bố trí các khu vực chức năng của trường là một trong những yếu tố quan trọng giúp
cho một trường học hoạt động hiệu quả và đáp ứng được nhu cầu của học sinh. Bố trí hợp
lý, khoa học sẽ giúp các khu vực chức năng của trường phát huy tối đa hiệu quả sử dụng.
Các khu vực nên có sự tách biệt và logic với nhau để đảm bảo chất lượng không gian học
tập tốt nhất cho sinh viên. Ví dụ như thư viện và các phòng học cần không gian yên tĩnh có
thể bố trí gần nhau và cách xa khu vực hoạt động chung. Bố trí khu vực thể dục cần được
xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo đủ không gian, an toàn và tiện lợi cho sinh viên,... Ngoài ra
Nhà trường cần có kế hoạch xây dựng các khu vực chức năng mới như phòng đa năng để
các CLB có thể luyện tập cho các chương trình, hoạt động mà không làm ảnh hưởng tới các
lớp học.
3.1.2. Đảm bảo chất lượng cho các thiết bị dạy học
Nhà trường cần đảm bảo chất lượng cho các TBDH bằng việc xây dựng Danh mục
TBDH tối thiểu theo quy trình nghiêm túc, chặt chẽ, bao gồm: Rà soát danh mục thiết bị
cũ, đánh giá thực trạng chất lượng TBDH; nghiên cứu chương trình daỵ học, từ đó đưa ra
yêu cầu với TBDH tối thiểu. Chất lượng TBDH phải được xem xét dựa trên mức độ phù
hợp với nhu cầu, mức độ phù hợp với mục đích, mức độ phù hợp với giá cả. Danh mục phải
đề cao ứng dụng công nghệ thông tin, tiếp cận công nghệ mới, tiếp cận các phương pháp
giáo dục mới nhằm tạo sức hấp dẫn cho sinh viên và động lực đổi mới cho giảng viên. Từ
đó nâng cao chất lượng dạy và học.
Loa và mic rất hay bị rè, giọng nói phát ra không rõ ràng và rất khó nghe vậy nên
nhà trường cần xem xét lại hệ thống loa, mic để loại bỏ và thay mới. Thay vì sử dụng mic
cầm tay nhà trường cũng có thể cung cấp thêm mic đeo tai để giảng viên và sinh viên dễ
dàng sử dụng hơn khi thuyết trình. Trường ĐHNVHN đã trang bị đầy đủ hệ thống máy
chiếu trong các phòng học tuy nhiên cũng cần đầu tư cải thiện máy chiếu sao cho rõ nét
hơn để sinh viên nhìn rõ màn hình, tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất vì hầu hết các môn
học đều dạy bằng máy chiếu. Nhà trường có thể đầu tư làm màn hình chiếu to hơn, thu bảng
viết nhỏ lại.
43
3.1.3. Bổ sung thêm các phòng học
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đang dần khẳng định vị thế trên hành trình thực hiện
mục tiêu, sứ mệnh của mình thông qua đánh giá chất lượng, số lượng tuyển sinh đầu vào
và chất lượng, số lượng sinh viên đạt chuẩn đầu ra tại các ngành học. Tuy nhiên, vấn đề về
cơ sở vật chất, thiếu phòng học cũng cần được khắc phục dần để nhà trường đến gần hơn
với mục tiêu, kế hoạch đã đề ra. Nhà trường có thể khắc phục trước mắt tình trạng này bằng
cách thiết kế lịch học kết hợp 02 hình thức là học trực tiếp tại trường và học trực tuyến. Để
khắc phục lâu dài, nhà trường cần xây dựng các đề án và liên hệ với các bên liên quan để
phối hợp mở rộng, xây dựng thêm các phòng học và tu sửa khuôn viên nhà trường trở nên
khang trang, hiện đại hơn để phù hợp với nhu cầu hiện nay.
3.1.4. Đổi mới và hoàn thiện thư viện, thư viện điện tử
Nhà trường cũng cần đổi mới và hoàn thiện thư viện, thư viện số để nhằm đảm bảo
cho việc tìm kiếm, khai thác và sử dụng tài liệu tại thư viện một cách dễ dàng, nhanh chóng,
thuận tiện hơn, phù hợp với thời đại công nghệ 4.0.
Một số yêu cầu bước đầu cho việc đổi mới và tăng cường cung cấp các dịch vụ thư
viện trong môi trường số như sau: Cần thay đổi phương thức vận hành thư viện theo hướng
quản trị tri thức, triển khai dịch vụ số cung cấp khả năng truy cập cho cá nhân, tổ chức và
các hệ thống thông tin số có thể tích hợp và khai thác thông tin. Triển khai và đẩy mạnh các
dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu, cần coi thư viện là một mắt xích trong quy trình nghiên cứu và
có tác động trong chuỗi giá trị nghiên cứu. Tăng cường triển khai ứng dụng di động. Hỗ trợ
mạnh mẽ và tích cực triển khai truy cập mở (Open Access). Đẩy mạnh triển khai mượn liên
thư viện (dạng in và dạng số). Ngoài ra, phương thức vận hành thư viện thay đổi theo xu
hướng công nghệ cũng như nhu cầu của người sử dụng, do đó thư viện cũng cần nghiên
cứu xu hướng của xã hội, đổi mới và triển khai các dịch vụ thư viện trên nền tảng mạng xã
hội. Triển khai dịch vụ thư viện trên môi trường số có sự thay đổi nhanh chóng là công việc
không dễ dàng, tuy nhiên việc thay đổi là bắt buộc nếu thư viện muốn đáp ứng các yêu cầu
và xác định vị trí, vai trò của mình. Thư viện của trường cũng cần được mở rộng để tạo
không gian thoải mái cho sinh viên khi mà nhu cầu học tập trong thư viện của sinh viên
tăng tương đối cao, vì thế nhà trường cần trang bị thêm các phòng thư viện, bàn ghế tạo 44
điều kiện tốt nhất cho sinh viên ngồi học. Khi có không gian học tập tốt thì chất lượng học
tập của sinh viên mới tốt được. Thư viện trường cũng cần thường xuyên cập nhật những tài
liệu mới để sinh viên có thể tiếp cận, học hỏi tri thức một cách tốt nhất. [12]
Trường ĐHNVHN nên đầu tư thêm trang thiết bị trong thư viện như máy tính, hệ
thống bàn đọc có vách ngăn, một số dụng cụ học tập như bút, giấy, bảng (có thể cấp miễn
phí hoặc trả phí theo nhu cầu sử dụng từng loại). Bên cạnh đó, nếu có thể mở rộng diện tích
thì thư viện có thể xây dựng thêm phòng đọc nhóm, phòng thuyết trình nhóm,... Như vậy
thì các đối tượng sử dụng thư viện được phân định rõ ràng theo nhu cầu sử dụng, tránh được
sự bất tiện, ồn ào khi sử dụng thư viện chung.
3.1.5. Bảo trì, sửa chữa, thay đổi tải trọng của thang máy
Một trong những vấn đề về cơ sở vật chất nhà trường mà sinh viên rất quan tâm đó
là chất lượng thang máy tại các khu nhà. Số lượng thang máy cần thiết và chất lượng thang
sẽ đảm bảo việc di chuyển của sinh viên, giảng viên, khách tham quan an toàn và hiệu quả.
Chất lượng thang máy kém hiệu quả đã ảnh hưởng với việc di chuyển và tâm lý của người
dùng. Thêm vào đó là số lượng sinh viên ngày càng đông, trong khi các tòa giảng đường
lại nhiều tầng nên việc đi cầu thang bộ của sinh viên là khá vất vả đối với những hôm phải
học trên tầng cao (đặc biệt là các bạn sinh viên có điều kiện sức khỏe không tốt).
Dù đã có bố trí các khu vực thang máy tại các tòa A, B, C, E tuy nhiên điều đó chưa
thể đáp ứng hết nhu cầu di chuyển của sinh viên. Mặt khác, ở tại một số tòa giảng đường
khác vẫn chưa có hệ thống thang máy làm cho quá trình di chuyển của sinh viên đến phòng
học khá vất vả. Chính vì vậy, nhà trường cần có kế hoạch cụ thể cho việc bảo trì, sửa chữa
và đổi mới định kỳ để tránh những trường hợp không may xảy ra khi sinh viên, giảng
viên,… sử dụng thang máy. Nhà trường nên nâng trọng tải thang máy lên lớn hơn để đáp
ứng được nhu cầu di chuyển liên tục của sinh viên, lắp đặt thêm hệ thống thang máy tại các
tòa học cao tầng chưa có thang máy.
3.1.6. Bảo đảm các khu vực chức năng khác của Trường hoạt động hiệu quả
Sinh viên là những người sử dụng trực tiếp các khu vực chức năng của trường vậy
nên họ luôn muốn các khu vực chức năng được đảm bảo, tiện lợi cho sự phát triển và nhu
45
cầu sử dụng của họ. Các khu vực chức năng khác của Trường ĐHNVHN cần được đảm
bảo bao gồm: kí túc xá, nhà để xe, sân thể dục,...
Đối với khu vực kí túc xá của trường nên được đầu tư, trang bị CSVC đầy đủ hơn
cho nhu cầu sinh hoạt của sinh viên như: bình nóng lạnh, bàn ghế học tập, giường tầng có
rèm che, đèn điện với độ sáng đảm bảo... Nhà trường cũng có thể thay đổi cấu trúc phòng
kí túc xá, bố trí số người trong một phòng ít hơn (tối đa 6 người) để hiệu quả sử dụng của
sinh viên cao hơn. Thay vì học riêng tại phòng học tập trung, Nhà trường cũng nên bố trí
giường tầng kèm bàn ghế học tập, tủ cá nhân tại phòng ở của các sinh viên để họ chủ động
hơn trong việc học.
Đối với khu vực nhà để xe, tình trạng quá tải đang diễn ra phổ biến vì số sinh viên
sử dụng phương tiện đến trường ngày càng tăng, từ đó tình trạng để xe không có lề lối, chen
lấn lên các khu vực có mái che, mất cắp đồ cá nhân tại nhà gửi xe ngày càng cao. Để khắc
phục tình trạng này, Nhà trường cần mở rộng diện tích nhà xe, xây dựng thêm hệ thống mái
che và lắp đặt hệ thống camera tại khu vực này để sinh viên gửi xe không còn phải lo lắng
về việc hết chỗ để xe, để xe dưới trời nắng, mưa, và việc mất cắp mũ bảo hiểm hay đồ cá
nhân treo ở xe. Từ đó mà văn hóa nhà để xe cũng tốt đẹp lên, việc quản lí của nhà trường
cũng được đảm bảo hơn.
Đối với khu vực sân thể dục, số lượng sinh viên trong cả trường học mỗi buổi quá
đông, không có đủ chỗ cho sinh viên tập trung và thực hành các bài tập thể dục. Vấn đề này
cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng mỗi giờ học. Nhà trường cần xem xét, sắp
xếp lại lịch học tập để đảm bảo số lớp học trong một buổi không ảnh hưởng đến chất lượng
giờ học.
Các khu vực đa chức năng của trường hiện đang được thực hiện tại sân A, B, C, D
điều này ảnh hưởng không nhỏ tới các lớp học vì tiếng ồn quá lớn. Nhà trường nên có biện
pháp quản lí chặt chẽ vấn đề này, có thể lắp hệ thống cửa cách âm tại các phòng học hoặc
xây dựng phòng đa năng để tránh làm ảnh hưởng tới các hoạt động học tập và hoạt động
chung của trường.
46
3.1.7. Tổ chức nghiên cứu, trao đổi thường xuyên về vấn đề đảm bảo và nâng cao
cơ sở vật chất cho nhà trường
Tổ chức nghiên cứu, trao đổi thường xuyên về vấn đề đảm bảo và nâng cao cơ sở
vật chất cho nhà trường nhằm thực hiện Quy chế dân chủ trong nhà trường theo quy định
của Bộ GD&ĐT. Đây là những dịp nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo và tinh thần
trách nhiệm của sinh viên trong quá trình học tập và hoạt động tại trường; hơn nữa đây còn
là dịp để sinh viên bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, cũng như đóng góp những vướng mắc, kiến
nghị, ý tưởng, sáng kiến cho sự phát triển chung của trường. Tất cả các ý kiến sẽ được Nhà
trường cùng các đơn vị, cán bộ, giảng viên trực tiếp lắng nghe và có câu trả lời chi tiết, thỏa
đáng, từ đó kịp thời đưa ra giải pháp khắc phục những tồn động, phát huy những điểm
mạnh, hướng đến môi trường học tập tốt nhất cho sinh viên.
3.1.8. Đầu tư phù hợp, có trọng tâm cơ sở vật chất cho trường học
Nhà trường cần nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho mục
đích đào tạo và nghiên cứu bằng cách tăng cường các chính sách đảm bảo cơ sở vật chất,
trang thiết bị nhằm đáp ứng các yêu cầu của giảng dạy và học tập. Có hệ thống phòng làm
việc, phòng học và các phòng chức năng với các trang thiết bị phù hợp để hỗ trợ các hoạt
động đào tạo và nghiên cứu.
Đảng ta xác định phát triển giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) là quốc sách hàng đầu,
đầu tư cho GD&ĐT là đầu tư cho phát triển. Chính vì vậy, nhà trường cần phải đặc biệt
quan tâm đầu tư về mọi mặt, nhất là đầu tư cơ sở vật chất trường, phòng học đáp ứng yêu
cầu đổi mới và vì sự phát triển bền vững của giáo dục. Bên cạnh nguồn lực từ ngân sách
Nhà nước, cần không ngừng khuyến khích, huy động các nguồn lực, nguồn vốn trong cộng
đồng dân cư, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và nhà đầu tư dưới nhiều hình
thức như góp vốn xây dựng, hiến đất xây dựng, đầu tư xây dựng trực tiếp, cho vay vốn đầu
tư xây dựng... Đầu tư phải có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải; sử dụng các nguồn đầu
tư CSVC, mua sắm trang thiết bị phù hợp với chương trình đào tạo, tránh lãng phí và bất
cập trong quá trình sử dụng. [21]
47
3.1.8. Xây dựng Quy chế về việc Quy định quản lý, sử dụng tài sản cụ thể
Bên cạnh các quy định của Nhà nước, Nhà trường cần xây dựng Quy chế về việc
Quy định quản lý, sử dụng tài sản trường Đại học Nội vụ Hà Nội một cách cụ thể hơn và
đưa ra các chế tài đối với những hành vi cố ý hoặc vô ý làm hư hỏng, gây thiệt hại đối với
tài sản của nhà trường. Điều này nhằm đảm bảo tính nghiêm minh, kỷ luật về bảo vệ tài sản
và sử dụng đúng mục đích để phát huy được công dụng của trang thiết bị, phương tiện phục
vụ cho dạy và học được hiệu quả nhất. Có tác dụng phòng ngừa, giáo dục, đảm bảo việc
tuân thủ các quy định được tuân thủ một cách chặt chẽ nhất. Từ đó, hình thành nên ý thức
cộng đồng của cán bộ, giảng viên, sinh viên,… trong việc bảo vệ tài sản chung của đất
nước, xã hội nói chung và bảo vệ tài sản chung của nhà trường nói riêng.
Ngoài ra, để bảo vệ tài sản, nhà trường cần thực hiện một số biện pháp như: lắp đặt
camera an ninh, cài đặt phần mềm chống virus cho máy tính, đào tạo ý thức bảo vệ tài sản
cho giảng viên và sinh viên,...
3.2. Phía giảng viên
3.2.1. Có trách nhiệm và ý thức bảo vệ tài sản của nhà trường
Nhà trường là một tổ chức lớn, có nhiều tài sản quý giá như tài liệu, học liệu, máy
tính, thiết bị giảng dạy, phòng học,... Để đảm bảo hoạt động của Nhà trường diễn ra thuận
lợi, việc bảo vệ tài sản của nhà trường là rất cần thiết. Đối với giảng viên là những người
sử dụng trực tiếp các tài sản này trong quá trình giảng dạy nên cũng cần có trách nhiệm và
ý thức bảo vệ tài sản của Nhà trường.
Trong quá trình giảng dạy, giảng viên thường sử dụng nhiều tài sản của nhà trường
như máy tính, máy chiếu, giáo trình,... Việc sử dụng tài sản của nhà trường phải tuân thủ
đúng quy định và không được sử dụng sai mục đích. Giảng viên cần có ý thức trách nhiệm
chung về môi trường giảng dạy; có trách nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu quả các trang thiết
bị trong phòng học; không tự ý di chuyển các trang thiết bị, tài sản trong phòng học đi nơi
khác khi chưa có sự đồng ý của người quản lý,…
48
Ngoài ra, giảng viên cần chịu trách nhiệm khi tài sản của Nhà trường bị mất hoặc hư
hỏng do lỗi của mình. Việc này không chỉ giúp giảng viên có ý thức bảo vệ tài sản của Nhà
trường mà còn giúp giảng viên tránh khỏi những rủi ro phát sinh trong quá trình giảng dạy.
Bên cạnh đó, CSVC, TBDH ngày càng trở nên hiện đại hóa, áp dụng công nghệ
thông tin trong giảng dạy, do đó giảng viên cũng phải trau dồi các kỹ năng nghiệp vụ dạy
học phù hợp để sử dụng một cách hiệu quả nhất các TBDH, tránh các thao tác không đúng
gây ảnh hưởng tới chất lượng thiết bị. Trong công cuộc khai thác sử dụng và bảo quản
CSVC thì cán bộ, giảng viên, người lao động cũng là nhân tố góp phần không nhỏ để gìn
giữ, bảo vệ tài sản chung của Nhà trường.
3.2.2. Sử dụng cơ sở vật chất tiết kiệm và có hiệu quả
Sử dụng cơ sở vật chất tiết kiệm và có hiệu quả là một trong những yếu tố quan trọng
trong việc tối ưu hóa quá trình giảng dạy. Sử dụng CSVC tiết kiệm và hiệu quả là việc áp
dụng các biện pháp quản lý CSVC và kỹ thuật nhằm giảm tổn thất, giảm mức tiêu thụ năng
lượng của phương tiện, thiết bị mà vẫn bảo đảm nhu cầu, mục tiêu đặt ra đối với quá trình
giảng dạy.
Việc sử dụng CSVC tiết kiệm và có hiệu quả có vai trò quan trọng trong việc kéo
dài tuổi thọ và chất lượng của vật chất. Trong quá trình giảng dạy, giảng viên cần thực hiện
đúng tính năng của thiết bị, chỉ mở khi dùng đến và tắt đi khi không cần thiết. Phối hợp với
các bộ phận, tổ chuyên môn, giảng viên và sinh viên trong việc thực hiện các phương pháp
và phương tiện chung trong việc bảo quản, sử dụng CSVC.
Giảng viên có thể sử dụng kết hợp các công cụ dạy học truyền thống đơn giản như
bảng đen và bút phấn với các phương tiện giảng dạy hiện đại khác như máy chiếu và máy
tính để ứng dụng linh hoạt vào giờ dạy của mình. Việc chuẩn bị tài liệu trước khi giảng dạy
cũng giúp giáo viên tối ưu hóa thời gian và sử dụng cơ sở vật chất một cách hiệu quả, tiết
kiệm.
3.2.3. Nâng cao ý thức bảo vệ cơ sở vật chất của nhà trường cho sinh viên
Trong Báo cáo “Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc; xây dựng, phát
triển văn hóa sau 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước; các định hướng, giải pháp
49
chủ yếu nhằm phát triển văn hóa, con người Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội
XIII của Đảng” của Ban Chấp hành Trung ương nhấn mạnh: “Xây dựng mỗi trường học
phải thực sự là một trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện con người về lý tưởng, phẩm
chất, nhân cách, lối sống; giáo dục truyền thống văn hóa”.[5] Trong đó, Giảng viên có vị
trí chủ đạo, có vai trò định hướng vô cùng quan trọng đối với sự tiếp nhận của sinh viên.
Giảng viên là người dẫn dắt, nêu gương trong công tác sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất
nhà trường thông qua các nghiệp vụ sư phạm của mình. Là người tiên phong đấu tranh,
chống nhận thức, hành vi phản giáo dục, sai lệch so với chuẩn mực đạo đức.
Giảng viên là một trong những người có ảnh hưởng lớn đến ý thức bảo vệ CSVC
của nhà trường cho sinh viên. Họ có thể truyền tải thông điệp về tầm quan trọng của việc
bảo vệ cơ sở vật chất đến sinh viên thông qua các hoạt động giảng dạy (như lồng ghép vào
bài giảng và các buổi thảo luận). Họ có thể giải thích cho sinh viên về những thiệt hại mà
việc phá hoại cơ sở vật chất có thể gây ra cho cả sinh viên và nhà trường. Họ cũng có thể
tổ chức các hoạt động ngoại khóa để giáo dục sinh viên về bảo vệ cơ sở vật chất của nhà
trường. Những hoạt động này có thể bao gồm các buổi tham quan, các trò chơi và các cuộc
thi liên quan đến việc bảo vệ cơ sở vật chất.
Giảng viên cũng có thể góp phần vào việc tạo ra môi trường học tập và làm việc an
toàn, tiện nghi và thoải mái cho sinh viên. Bằng cách giám sát sinh viên và yêu cầu sinh
viên tuân thủ các quy định về bảo vệ cơ sở vật chất của nhà trường như: không phá hoại đồ
đạc, không viết lên tường và không mang đồ đạc của trường ra ngoài... Những biện pháp
này phần nào có thể giúp đảm bảo an toàn cho sinh viên và bảo vệ cơ sở vật chất của nhà
trường.
Một trong những thách thức trong việc nâng cao ý thức bảo vệ cơ sở vật chất của
nhà trường cho sinh viên là sự thiếu nhận thức và ý thức của sinh viên về tầm quan trọng
của việc bảo vệ cơ sở vật chất. Nhiều sinh viên coi việc phá hoại đồ đạc của trường là hành
động vô hại và không ảnh hưởng đến ai. Chính vì vậy, việc giáo dục sinh viên về bảo vệ cơ
sở vật chất cũng đòi hỏi sự nỗ lực và thời gian của giảng viên. Giảng viên cần phải tìm kiếm
các phương pháp giảng dạy và hoạt động ngoại khóa phù hợp để giáo dục sinh viên về tầm
quan trọng của việc bảo vệ cơ sở vật chất.
50
Mặc dù có nhiều thách thức, nhưng với sự nỗ lực của giảng viên và sinh viên, việc
nâng cao ý thức bảo vệ cơ sở vật chất của nhà trường trong tương lai sẽ đem lại nhiều lợi
ích cho cả sinh viên và nhà trường nên hoạt động hỗ trợ giáo dục của giảng viên cần diễn
ra thường xuyên.
3.2.4. Tham gia nghiên cứu, trao đổi về đảm bảo và nâng cao cơ sở vật chất cho
Nhà trường
Giảng viên là những người có trách nhiệm cao đối với việc giảng dạy và nghiên cứu
tại các trường đại học. Tham gia nghiên cứu là một trong những nhiệm vụ quan trọng của
giảng viên, giúp họ cập nhật kiến thức mới nhất và nâng cao chất lượng giảng dạy. Việc
tham gia nghiên cứu cũng giúp giảng viên tạo ra những sản phẩm nghiên cứu có giá trị cho
cộng đồng khoa học và xã hội. Điều này cũng đóng góp tích cực vào sự phát triển của nhà
trường.
Việc tham gia và tham gia có hiệu quả các đợt tập huấn, hội thảo, báo cáo khoa học,
các lớp bồi dưỡng cán bộ là rất cần thiết ở người giảng viên, góp phần nâng cao năng lực
của bản thân và góp phần phát triển mục tiêu chung của nhà trường. Trong đó có tham gia
nghiên cứu trao đổi về đảm bảo và nâng cao CSVC cho nhà trường.
Giảng viên có vai trò quan trọng trong việc đóng góp vào việc nâng cao cơ sở vật
chất cho nhà trường. Trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu, cơ sở vật chất là yếu tố quan
trọng để đảm bảo chất lượng công việc của giảng viên. Việc trao đổi về đảm bảo và nâng
cao cơ sở vật chất cho nhà trường là một trong những hoạt động thiết thực của giảng viên.
Thông qua việc trao đổi, giảng viên có thể đưa ra những đề xuất, góp ý để cải thiện cơ sở
vật chất của nhà trường, từ đó giúp nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu, chất
lượng học tập của sinh viên. Ngoài ra, giảng viên cũng có thể tham gia các hoạt động tình
nguyện, góp phần xây dựng và duy trì các cơ sở vật chất của nhà trường. Điều này cũng
giúp tăng cường sự gắn kết và trách nhiệm của giảng viên đối với nhà trường.
Đảm bảo cơ sở vật chất dạy học cho giảng viên là một trong những điều cần thiết để
họ hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Bên cạnh đó Nhà trường cũng phải đảm bảo cho
51
giảng viên các điều kiện về an ninh, an toàn lao động và chế độ phúc lợi để giảng viên có
thể làm việc trong môi trường thuận lợi và đảm bảo sức khỏe.
3.3. Phía sinh viên
3.3.1. Nâng cao ý thức bảo vệ tài sản của nhà trường
Tài sản của nhà trường là tài sản chung của cả hệ thống giáo dục. Tài sản của nhà
trường không chỉ là tài sản vật chất mà còn là tài sản văn hoá, tri thức và kinh nghiệm.
Những tài sản này đóng góp quan trọng vào việc đào tạo sinh viên và nâng cao chất lượng
giáo dục. Sinh viên Trường ĐHNVHN là những người sử dụng trực tiếp các tài sản của
Trường ĐHNVHN trong quá trình học tập cho nên việc bảo vệ cơ sở vật chất của trường
cũng chính là trách nhiệm của tất cả các sinh viên. Tuy nhiên, không phải sinh viên nào
cũng có ý thức bảo vệ tài sản chung. Nhiều trường hợp sinh viên sử dụng tài sản của nhà
trường không đúng mục đích, gây mất mát, thiệt hại cho hoạt động giáo dục của nhà trường.
Vì vậy, việc nâng cao ý thức bảo vệ tài sản của nhà trường đối với sinh viên là cần thiết để
duy trì hoạt động của hệ thống giáo dục.
Các hành vi gây hại đến cơ sở vật chất của trường bao gồm việc viết bậy lên bàn
ghế, tường, cửa, phá hoại tài sản, làm vỡ kính cửa sổ, hút thuốc lá trong khuôn viên trường,
làm lộ tài liệu nội bộ... Những hành vi này không chỉ gây thiệt hại về mặt tài sản mà còn
ảnh hưởng đến hình ảnh của nhà trường và tinh thần trách nhiệm của sinh viên đối với cơ
sở giáo dục và xã hội. Việc sinh viên không bảo vệ tài sản chung của Trường cũng chính là
đang không tôn trọng bản thân và nhà trường.
Để nâng cao ý thức bảo vệ tài sản chung, sinh viên cần phải hiểu rõ về tầm quan
trọng của việc này và nhận thức được hậu quả của những hành vi gây hại đến tài sản của
trường. Sinh viên cần sử dụng tài sản của nhà trường đúng mục đích, không được sử dụng
phục vụ mục đích cá nhân hoặc cho đối tượng khác mượn, sử dụng. Ngoài ra, sinh viên cần
chịu trách nhiệm khi tài sản của nhà trường bị mất hoặc hư hỏng do lỗi của mình. Bản thân
mỗi sinh viên cần nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của CSVC trong công tác giáo dục.
Từ đó, nâng cao ý thức trách nhiệm trong bảo quản và sử dụng CSVC của nhà trường; nâng
cao kỹ năng, kỹ thuật sử dụng CSVC bằng việc luôn tuyên truyền cho mọi người thấy được
52
CSVC-TBDH là những yếu tố không thể thiếu trong dạy học và đảm bảo chất lượng học
tập của sinh viên. Ngoài ra, sinh viên cũng nên tham gia các lớp tập huấn, các buổi sinh
hoạt chuyên đề về sử dụng và bảo quan CSVC để có thêm hiểu biết về CSVC trường học.
Bảo vệ tài sản của Nhà trường cũng chính là bảo vệ quyền lợi được học tập trong
môi trường an toàn, lành mạnh và đầy đủ của bản thân, cho nên nếu mỗi sinh viên đều có
ý thức về việc bảo vệ cơ sở vật chất và thực hiện đầy đủ các quy định của trường, thì tài
sản, cơ sở vật chất của nhà trường sẽ được bảo quản tốt nhất, kéo dài thời gian sử dụng,
chất lượng học tập cũng được tăng lên khi các CSVC đáp ứng nhu cầu sử dụng và từ đó
hình ảnh của trường sẽ được nâng cao, tạo được sự tín nhiệm từ phía cộng đồng.
3.3.2. Biết sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất sẵn có một cách tiết kiệm
Đối với sinh viên, việc sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất là một trong những kỹ năng
quan trọng để đạt được sự thành công trong học tập và cuộc sống. Điều này bao gồm việc
sử dụng các thiết bị điện tử, sách vở, phòng học, thư viện và các nguồn tài nguyên khác
một cách thông minh và tiết kiệm. Để sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, sinh viên cần phải
có kế hoạch, tổ chức và quản lý thời gian của mình một cách chặt chẽ. Họ cũng cần phải
biết cách tìm kiếm và sử dụng các nguồn tài nguyên miễn phí hoặc giá rẻ để tiết kiệm chi
phí mà vẫn đảm bảo được chất lượng học tập của mình.
Phòng học và thư viện là hai nguồn tài nguyên quan trọng cho sinh viên. Để sử dụng
hiệu quả các nguồn tài nguyên này, sinh viên cần phải biết cách tìm kiếm thông tin và sắp
xếp thời gian học tập của mình một cách hợp lý. Ngoài ra, sinh viên cũng cần phải có kế
hoạch để sử dụng phòng học và thư viện một cách tiết kiệm. Chẳng hạn, họ có thể sử dụng
phòng học khi không có ai sử dụng hoặc tìm kiếm các nguồn học liệu dồi dào từ thư viện
nhà trường mà không cần mua.
Thiết bị điện tử như máy tính, điện thoại và máy tính bảng là những công cụ hỗ trợ
học tập hiệu quả cho sinh viên thời nay. Tuy nhiên, việc sử dụng thiết bị này một cách
không hiệu quả có thể gây lãng phí thời gian và tiền bạc. Để sử dụng thiết bị điện tử một
cách tiết kiệm và hiệu quả, sinh viên cần phải biết cách sắp xếp và quản lý các tài liệu, ứng
dụng và dữ liệu của mình một cách hợp lý. Họ cũng cần phải biết cách tìm kiếm và sử dụng
53
các ứng dụng uy tín, miễn phí hoặc giá rẻ để tiết kiệm chi phí và cải thiện bản thân, nâng
cao chất lượng học tập.
3.3.3. Tham gia nghiên cứu, trao đổi về đảm bảo và nâng cao cơ sở vật chất cho
nhà trường
Đảm bảo cơ sở vật chất cho nhà trường là một trong những yếu tố quan trọng để
đảm bảo chất lượng giáo dục. Sinh viên có thể tham gia vào các dự án nghiên cứu về đảm
bảo cơ sở vật chất này. Việc nghiên cứu về cơ sở vật chất giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các
tiêu chuẩn và quy định liên quan đến CSVC của Trường. Bên cạnh đó, những dự án nghiên
cứu này cũng giúp nhà trường có được những giải pháp tối ưu nhất để đảm bảo cơ sở vật
chất. Điều này giúp cho sinh viên, giảng viên và nhân viên trong nhà trường có một môi
trường học tập và làm việc tốt hơn.
Trao đổi với các sinh viên khác hoặc giảng viên là một cách tuyệt vời để mở rộng
kiến thức và kinh nghiệm của mình. Khi tham gia trao đổi, sinh viên có thể học hỏi được
những kinh nghiệm mới, giải đáp những thắc mắc và cùng nhau xây dựng mối quan hệ
chuyên môn. Ngoài ra, trao đổi còn giúp sinh viên có thêm cơ hội để tham gia các dự án
nghiên cứu và phát triển kỹ năng của mình. Qua đó, sinh viên có thể trở thành những chuyên
gia trong ngành của mình và đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước.
Sinh viên cũng nên Tham gia các hoạt động ngoại khóa, các buổi báo cáo khoa học
để rèn luyện kỹ năng thực hành và khả năng phát huy vai trò của CSVC. Nhà trường cũng
cần đưa ra các chính sách và quy định để đảm bảo an toàn cho sinh viên trong quá trình
nghiên cứu. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên có thể tham gia vào các
dự án nghiên cứu và trao đổi. Chỉ khi có sự đồng hành và hỗ trợ của nhà trường, sinh viên
mới có thể phát triển tối đa khả năng của mình và đóng góp tích cực cho sự phát triển của
đất nước.
54
Tiểu kết chương 3
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, chúng tôi đã đề xuất nhóm giải
pháp từ ba phía: phía Nhà trường, phía giảng viên và phía sinh viên nhằm đảm bảo cơ sở
vật chất giúp nâng cao chất lượng học tập cho sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
Trong các giải pháp đã nêu cho ta thấy: nhóm giải pháp từ phía Nhà trường có ý
nghĩa quan trọng, là cơ sở để nhóm giải pháp từ hai phía còn lại có thể thực hiện. Bên cạnh
đó ý thức bảo vệ tài sản của nhà trường đối với giảng viên và sinh viên cũng rất quan trọng.
Việc bảo vệ tài sản của nhà trường không chỉ là trách nhiệm của nhà trường mà còn là trách
nhiệm của giảng viên và sinh viên. Việc thực hiện các biện pháp bảo vệ tài sản của nhà
trường giúp tăng cường ý thức bảo vệ tài sản của giảng viên và sinh viên, đồng thời giúp
giảm thiểu rủi ro mất mát tài sản cho nhà trường. Từ đó nâng cao được chất lượng giảng
dạy và chất lượng học tập của giảng viên và sinh viên.
Chúng ta cần nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của việc bảo vệ tài sản của nhà
trường và thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình để đảm bảo hoạt động của nhà trường
diễn ra thuận lợi và hiệu quả.
55
III. KẾT LUẬN
Cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng học tập của sinh viên.
Cơ sở vật chất bao gồm các phòng học, thư viện, các thiết bị giáo dục và các khu vực chức
năng khác. Sinh viên cần một môi trường học tập thuận tiện, an toàn và hiện đại để có thể
tập trung vào việc học tập. Một môi trường học tập tốt sẽ giúp sinh viên cải thiện năng lực
học tập của mình và đạt được kết quả tốt hơn trong học tập.
Trên cơ sở nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của cơ sở vật chất đối với chất lượng
học tập cùng ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học tập của sinh viên Trường
Đại học Nội vụ Hà Nội và những kết quả phân tích trên, nhóm tác giả đã đưa ra những kết
quả quan trọng về mối quan hệ giữa hai yếu tố này và đề xuất một số giải pháp nhằm đảm
bảo cơ sở vật chất giúp nâng cao chất lượng học tập cho sinh viên Trường Đại học Nội vụ
Hà Nội thời gian tới. Chúng tôi hy vọng rằng các giải pháp đưa ra trong đề tài sẽ được áp
dụng và giúp nâng cao chất lượng giáo dục và học tập tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
Sự cạnh tranh về CSVC đang trở thành một xu thế tất yếu của các trường đại học
hiện nay và một ngôi trường có CSVC tiên tiến, hiện đại cũng là một trong những tiêu chí
lựa chọn hàng đầu của các bạn học sinh cũng như các bậc phụ huynh để gửi gắm tương lai.
Chính vì thế, cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường phải đảm bảo tính cập nhật, thực tế, phù
hợp với nhu cầu đào tạo và hấp dẫn, thu hút người học. Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất kỹ
thuật của nhà trường hiện đại hơn, phải đầu tư theo yêu cầu đào tạo của chuyên môn, theo
tôn chỉ, mục đích hướng tới của nhà trường một cách khoa học, tránh sự đầu tư chủ quan
theo cảm tính, theo thói quen hoặc theo áp lực của giá cả đầu tư, ảnh hưởng đến tính khoa
học của công trình. Huy động và thu hút các nguồn lực ngoài học phí để đầu tư cơ sở vật
chất. Đồng thời, tăng cường mối quan hệ với các trường cao đẳng, đại học, các tổ chức,
doanh nghiệp trong nước và nước ngoài để có cơ hội học hỏi kinh nghiệm, thu hút thêm
nguồn tài trợ, đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đào tạo. Hiện nay, công nghệ
thông tin có vai trò quan trọng tác động làm thay đổi nội dung, phương pháp dạy và học,
chính vì vậy, các trường cần đầu tư hơn về trang thiết bị, phương tiện dạy học hiện đại, lắp
wifi đủ mạnh cho giáo viên và sinh viên tham gia kết nối và học tập trên internet một cách
dễ dàng hơn.
56
Mong rằng các trường đại học sẽ đầu tư mạnh vào cơ sở vật chất để đảm bảo chất
lượng học tập của sinh viên ngày càng được nâng cao, hướng tới đảm bảo sự phát triển tốt
hơn cho thế hệ tương lai của đất nước.
57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tham khảo trong nước:
1. Bộ trưởng Bộ Nội vụ (2018), Quyết định số 468/QĐ-BNV Quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của trường Đại học Nội vụ Hà Nội
2. Phòng Tổ chức cán bộ (2020), Sơ đồ cơ cấu tổ chức trường Đại học Nội vụ Hà
Nội
3. Bộ Nội Vụ Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội (2016), Thông báo công khai thông
tin cơ sở vật chất của cơ sở giáo dục đại học
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Thông tư số 61/2012/TT-BGDĐT
5. Ban Chấp hành Trung ương (2021), Báo cáo “Kế thừa, phát huy truyền thống văn
hóa dân tộc; xây dựng, phát triển văn hóa sau 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới
đất nước; các định hướng, giải pháp chủ yếu nhằm phát triển văn hóa, con người
Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng”
6. Trần Quốc Bảo (2010), Giáo trình quản lý trường phổ thông, Nxb thành phố Hồ
Chí Minh
7. Trần Khánh Đức (2004), Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo
ISO và TQM
8. Hồ Sĩ Hà (1985), Những bài giảng về quản lí trường học, Nxb Giáo dục
9. Bùi Hiền (2001), Từ điển Giáo dục học, Nxb Từ điển Bách khoa, tr.71.
10. Đinh Thị Hóa, Hoàng Thị Ngọc Điệp, Lê Thị Kim Tuyến (2018), Phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến KQHT của sinh viên khoa kinh tế trường Đại học Đồng Nai,
Tạp chí Khoa học - Đại học Đồng Nai
11. Ma Cam Tưởng Lan (2013), Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên
đối với cơ sở vât chất trang thiết bị tại trường đại học Đà Lạt
12. Kiều Thúy Nga, Lê Đức Thắng (2019), Tiếp tục đổi mới cách thức tổ chức quản
lý và hoạt động thư viện, chủ động tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
13. Minh Ngọc (2020), Tạp chí Công nghiệp và tiêu dùng
58
14. Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng Việt. Nxb Đà Nẵng, tr.860
15. Nguyễn Lê Hà Phương (2022), Khái niệm về thiết bị dạy học
16. Võ Thị Tâm, Hoàng Thị Xuân Hoa (2010), Công tác học tập của sinh viên chính
quy trường đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
17. Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (2017), Báo cáo Tổng hợp tình hình về cơ sở vật
chất, trang thiết bị phục vụ công tác giảng dạy
18. Trường Đại học Nội vụ Hà Nội https://huha.edu.vn
19. Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, Sơ đồ Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (Địa chỉ ngõ 36
đường Xuân La - phường Xuân La – quận Tây Hồ - TP Hà Nội; 8-10-2020
https://baohiemxahoi.gov.vn:4545/File_Server_BHXH/documents/So%20do%20phong%
20THI%20CHU%E1%BA%A8N.pdf?fbclid=IwAR26K2_hcn7HYp-RC-
E6qK2ZispZpoWxXZfW97vReLW63JzGz3pGnWRN-8k
20. Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (2014-2018), Báo cáo tự đánh giá cơ sở giáo dục
theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đại học
21. Phong Sắc (2021), Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất trường, lớp vì sự phát triển
bền vững
22. Võ Văn Việt, Đặng Thị Thu Phương (2017), Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến
kết quả học tập của sinh viên
Tài liệu tham khảo nước ngoài:
23. Barrett, P., Treves, A., Shmis, T., & Ambasz, D. (2019). The impact of school
infrastructure on learning: A synthesis of the evidence.
24. Shmis, T., Ustinova, M., & Chugunov, D. (2019). Learning environments and learning
achievement in the Russian Federation: How school infrastructure and climate affect
student success. World Bank Publications.
25. Teixeira, J., Amoroso, J., & Gresham, J. (2017). Why education infrastructure matters
for learning?. World Bank Blogs.
59
26. CNF Development bank of Latin America; The importance of having a good school
infrastructure, 04.10.2016
27. Jasmeer Chhabra; Role of quality school infrastructure in improved education outcomes
Education World; 2018
28. Geeta Váhney; This is why school infrastructure is important for a child's growth India
Today; June 10, 2017
29. Harvey, L. and Green, D. (1993). Defining quality. Assessment and Evaluation in
Higher Education 18 (1), 9-34.)
30. CHEA (2001). Glossary of key terms in quality assurance and accreditation.
International Quality Review
60
PHỤ LỤC
PHIẾU KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ SỞ VẬT CHẤT ĐẾN CHẤT LƯỢNG
HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Để phục vụ nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến chất lượng học
tập của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội”, chúng tôi mong các bạn đóng góp ý
kiến bằng cách trả lời các câu hỏi trong phiếu khảo sát dưới đây. Chúng tôi xin đảm bảo
các thông tin cá nhân trong Phiếu khảo sát hoàn toàn được bảo mật. Mọi thông tin bạn cung
cấp chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu.
Hãy cho chúng tôi biết mức độ hài lòng của các bạn bằng cách chọn ô thích hợp cho
các tiêu chí từ 1 đến 5.
1: Rất không đồng ý
2: Không đồng ý
3: Phân vân
4: Đồng ý
5: Hoàn toàn đồng ý
Câu 1. Các phòng học đảm bảo yêu cầu về chỗ ngồi, ánh sáng, âm thanh
1: Rất không đồng ý
2: Không đồng ý
3: Phân vân
4: Đồng ý
5: Hoàn toàn đồng ý
Câu 2. Bố trí các khu nhà học hợp lý, dễ dàng di chuyên khi thay đổi phòng
1: Rất không đồng ý
2: Không đồng ý
3: Phân vân
61
4: Đồng ý
5: Hoàn toàn đồng ý
Câu 3. Kiến trúc trong các phòng học thuận tiện cho việc học tập
1: Rất không đồng ý
2: Không đồng ý
3: Phân vân
4: Đồng ý
5: Hoàn toàn đồng ý
Câu 4. Chất lượng thang máy tại các tòa nhà
1: Rất không đồng ý
2: Không đồng ý
3: Phân vân
4: Đồng ý
5: Hoàn toàn đồng ý
Câu 5. Các thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập (máy chiếu, loa,...) hoạt động
hiệu quả
1: Rất không đồng ý
2: Không đồng ý
3: Phân vân
4: Đồng ý
5: Hoàn toàn đồng ý
Câu 6. Thư viện đảm bảo không gian, chỗ ngồi, tài liệu
1: Rất không đồng ý
2: Không đồng ý
62
3: Phân vân
4: Đồng ý
5: Hoàn toàn đồng ý
Câu 7. Phòng máy tính đáp ứng nhu cầu thực hành của sinh viên
1: Rất không đồng ý
2: Không đồng ý
3: Phân vân
4: Đồng ý
5: Hoàn toàn đồng ý
Câu 8. Hệ thống mạng Internet phủ sóng rộng, chất lượng truyền cao
1: Rất không đồng ý
2: Không đồng ý
3: Phân vân
4: Đồng ý
5: Hoàn toàn đồng ý
Câu 9. Các khu vực hỗ trợ khác: sân thể dục, ký túc xá, căng tin, nhà để xe, ...
đáp ứng nhu cầu sinh viên
1: Rất không đồng ý
2: Không đồng ý
3: Phân vân
4: Đồng ý
5: Hoàn toàn đồng ý
Câu 10. Bạn có giải pháp gì muốn đóng góp cho chúng tôi nhằm đảm bảo cơ sở vật
chất giúp nâng cao chất lượng học tập cho sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội?
63
BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHIẾU KHẢO SÁT BẰNG BẢNG HỎI
Đáp án Kết quả Tỉ lệ (%)
1. Các phòng học đảm bảo yêu cầu về chỗ ngồi, ánh sáng, âm thanh
1. Rất không đồng ý 42 16,4%
2. Không đồng ý 59 23%
3. Phân vân 52 20,3%
4. Đồng ý 58 22,7%
5. Hoàn toàn đồng ý 45 17,6%
Tổng 256 100%
2. Bố trí các khu nhà học hợp lý, dễ dàng di chuyên khi thay đổi phòng học
1. Rất không đồng ý 41 16%
2. Không đồng ý 43 16,8%
3. Phân vân 57 22,3%
4. Đồng ý 70 27,3%
5. Hoàn toàn đồng ý 45 17,6%
Tổng 256 100%
3. Kiến trúc trong các phòng học thuận tiện cho việc học tập
1. Rất không đồng ý 45 17,6%
2. Không đồng ý 63 24,6%
3. Phân vân 50 19,5%
4. Đồng ý 55 21,5%
5. Hoàn toàn đồng ý 43 16,8%
Tổng 256 100%
64
4. Chất lượng thang máy tại các tòa nhà
1. Rất không đồng ý 49 19,1%
2. Không đồng ý 57 22,3%
3. Phân vân 63 24,6%
4. Đồng ý 45 17,6%
5. Hoàn toàn đồng ý 42 16,4%
Tổng 256 100%
5. Các thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập (máy chiếu, loa,...) hoạt động hiệu quả
1. Rất không đồng ý 46 18%
2. Không đồng ý 60 23,4%
3. Phân vân 53 20,7%
4. Đồng ý 50 19,5%
5. Hoàn toàn đồng ý 47 18,4%
Tổng 256 100%
6. Thư viện đảm bảo không gian, chỗ ngồi, tài liệu
1. Rất không đồng ý 45 17,6%
2. Không đồng ý 44 17,2%
3. Phân vân 56 21,9%
4. Đồng ý 62 24,2%
5. Hoàn toàn đồng ý 49 19,1%
Tổng 256 100%
7. Phòng máy tính đáp ứng nhu cầu thực hành của sinh viên
1. Rất không đồng ý 47 18,4%
65
52 20,3% 2. Không đồng ý
52 20,3% 3. Phân vân
61 23,8% 4. Đồng ý
44 17,2% 5. Hoàn toàn đồng ý
256 100% Tổng
8. Hệ thống mạng Internet phủ sóng rộng, chất lượng truyền cao
66 25,8% 1. Rất không đồng ý
61 23,8% 2. Không đồng ý
46 18% 3. Phân vân
40 15,6% 4. Đồng ý
43 16,8% 5. Hoàn toàn đồng ý
256 100% Tổng
9. Các khu vực hỗ trợ khác: sân thể dục, ký túc xá, căng tin, nhà để xe,... đáp ứng
nhu cầu sinh viên
50 19,5% 1. Rất không đồng ý
52 20,3% 2. Không đồng ý
56 21,9% 3. Phân vân
56 21,9% 4. Đồng ý
42 16,4% 5. Hoàn toàn đồng ý
256 100% Tổng
10. Bạn có giải pháp gì muốn đóng góp cho chúng tôi nhằm đảm bảo cơ sở vật chất
giúp nâng cao chất lượng học tập cho sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội?
66

