intTypePromotion=1

Ảnh hưởng của các chỉ số tài chính đối với rủi ro cấp công ty: Nghiên cứu thực nghiệm tại liên doanh bia Huế

Chia sẻ: Bình Bình | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
8
lượt xem
0
download

Ảnh hưởng của các chỉ số tài chính đối với rủi ro cấp công ty: Nghiên cứu thực nghiệm tại liên doanh bia Huế

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu này làm sáng tỏ sự ảnh hưởng của chỉ số tài chính tới rủi ro cấp công ty, khiến cho quyết định của những nhà đầu tư trở thành những quyết định tối ưu. Nghiên cứu này cũng nhằm mục đích hướng đến một phương pháp luận nghiên cứu mới về rủi ro cấp công ty trên cơ sở đặc thù địa phương.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ảnh hưởng của các chỉ số tài chính đối với rủi ro cấp công ty: Nghiên cứu thực nghiệm tại liên doanh bia Huế

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 62A, 2010<br /> <br /> ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CHỈ SỐ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI RỦI RO<br /> CẤP CÔNG TY: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI LIÊN DOANH BIA HUẾ<br /> Thái Thanh Hà, Học viện Hành chính<br /> Mai Xuân Hùng, Công ty Liên doanh Bia Huế<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Nghiên cứu này được thực hiện tại Công ty Liên doanh Bia Huế - Đan Mạch nhằm<br /> lượng hoá mức độ ảnh hưởng của 5 chỉ số tài chính quan trọng đối với hệ số đo lường rủi ro<br /> cấp công ty (hệ số Bê-ta). Sử dụng các số liệu tài chính qua các tháng trong giai đoạn 20052009 để tính toán các chỉ số tài chính, lãi suất tính trên hối phiếu của VietComBank, và suất lợi<br /> nhuận của công ty bia đa quốc gia Calsberg, kết quả phân tích số liệu đa biến qua hồi quy<br /> logistic cho thấy các chỉ số tài chính như: Khả năng thanh toán nhanh; Suất lợi nhuận trên tài<br /> sản ROA; Suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE; Sức sinh lời cơ bản BEP; là có ảnh hưởng<br /> theo chiều nghịch đối với hệ số rủi ro cấp công ty Bê-ta. Ngược lại, đòn bẩy hoạt động về nợ<br /> vay là ảnh hưởng theo chiều thuận đối với hệ số rủi ro Bê-ta cấp công ty. Nghiên cứu này cũng<br /> đưa ra những đề xuất cho hướng nghiên cứu mới trong tương lai.<br /> <br /> 1. Mở đầu<br /> Mỗi quyết định kinh doanh trong công ty có liên quan chặt chẽ đến cấu trúc về<br /> vốn và các chỉ số tài chính của công ty đó [1], [6] do chỉ số tài chính của công ty đo<br /> lường những điểm mạnh cũng như chỉ ra những điểm yếu về mặt tài chính của mình cụ<br /> thể qua các mặt: (a) tính thanh khoản; (b) Hiệu suất sử dụng tài sản của công ty; (c) Đòn<br /> bẩy nợ hoạt động; (d) Lợi nhuận kinh doanh. Vì vậy, trong quá trình kinh doanh, các<br /> quyết định về cấu trúc vốn và chỉ số tài chính của bản thân công ty có ảnh hưởng đến<br /> nhiều mặt, và trên quan điểm của các cổ đông, những người chủ sở hữu công ty thì<br /> những quyết định này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến “rủi ro cấp công ty”. Theo Gapensky,<br /> rủi ro cấp công ty có nguồn gốc từ những sự kiện hoặc các quyết định có liên quan trực<br /> tiếp đến các hoạt động kinh doanh của chính công ty [6]. Những rủi ro thuộc loại này<br /> thường được các nhà phân tích tài chính gọi là loại rủi ro “không có tính chất hệ thống”,<br /> và có thể giảm thiểu nếu được các nhà đầu tư đa dạng hoá một cách khôn ngoan danh<br /> mục vốn đầu tư (portfolio) của mình [1], [2]. Tuy nhiên, việc đa dạng hoá danh mục vốn<br /> đầu tư sẽ có tính thực tế hơn nếu như những ảnh hưởng của chỉ số tài chính tới hệ số rủi<br /> ro cấp công ty được làm sáng tỏ trước khi đưa ra quyết định đầu tư vốn vào doanh<br /> nghiệp [4]. Ý nghĩa của nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro cấp công ty và các chỉ số<br /> tài chính là đáng kể như vậy, song đến nay chưa có nhiều nghiên cứu tại Việt Nam nói<br /> chung và ở miền Trung nói riêng. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có thể sử dụng đường<br /> 71<br /> <br /> thị trường chứng khoán SML để xác định hệ số rủi ro cấp công ty (hệ số Bê-ta) [6].<br /> Điều này lại trở thành một trở ngại nữa khiến cho việc lượng hoá các ảnh hưởng của chỉ<br /> số tài chính tới hệ số rủi ro cấp công ty lại càng gặp khó khăn khi mà thị trường chứng<br /> khoán của Việt Nam chỉ mới đi vào hoạt động trong những năm gần đây và đặc biệt là<br /> các công ty liên doanh còn chưa được niêm yết trên thị trường chứng khoán nước ta. Vì<br /> vậy, nghiên cứu này sẽ làm sáng tỏ sự ảnh hưởng của chỉ số tài chính tới rủi ro cấp công<br /> ty, khiến cho quyết định của những nhà đầu tư trở thành những quyết định tối ưu.<br /> Nghiên cứu này cũng nhằm mục đích hướng đến một phương pháp luận nghiên cứu mới<br /> về rủi ro cấp công ty trên cơ sở đặc thù địa phương.<br /> 2. Sơ lược về Công ty Liên doanh Bia Huế<br /> Đầu những năm 1990, Công ty Liên doanh Bia Huế, lúc bấy giờ là Nhà máy Bia<br /> Huế, được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế thành lập với hình thức sở hữu nhà nước, có<br /> công suất hàng năm là 2 triệu lít [2]. Đến đầu những năm 2000, chính sách mở cửa cho<br /> các nhà đầu tư nước ngoài đã dẫn đến việc xâm nhập của các hãng bia khác vào thị<br /> trường Việt Nam nơi được xem là có tiềm năng lớn. Vì vây, Liên doanh Bia Huế đã<br /> được thành lập giữa ba bên: Nhà máy Bia Huế, Hãng bia TUBORG (TIAS) và Quỹ<br /> công nghiệp hoá dành cho các nước kém phát triển (IFU – Đan Mạch) với cơ cấu sở<br /> hữu như sau: Nhà máy Bia Huế nắm giữ 50%, TUBORG nắm giữ 35% và IFU là 15%<br /> [9].<br /> Toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi thế giới vào năm 2003 đã buộc<br /> TIAS phải sáp nhập với Carlsberg, từ đó dẫn đến việc phía Việt Nam và phía Đan Mạch<br /> cùng nắm giữ số cổ phần ngang nhau 50-50 [8]. Cuối cùng, Công ty Bia Huế trở thành<br /> một công ty liên doanh, có chức năng sản xuất và phân phối các sản phẩm bia trên thị<br /> trường Việt Nam và xuất khẩu với giấy phép đầu tư số 835/GP do Bộ Kế hoạch và Đầu<br /> tư (MPI) cấp vào ngày 6/4/1994 và giấy phép này vẫn còn hiệu lực cho đến nay. Hiện<br /> tại, Công ty Liên doanh Bia Huế đã mở rộng sản xuất bằng việc xây dựng mới nhà máy<br /> bia tại khu công nghiệp Phú Bài nhằm đáp ứng các mục tiêu chiến lược kinh doanh của<br /> công ty. Hệ thống sổ sách kế toán và tài chính được áp dụng giống như của công ty mẹ<br /> Calsberg tại Đan Mạch và chịu sự kiểm toán độc lập hằng năm của Công ty Kiểm toán<br /> quốc tế KPMG có văn phòng đại diện tại Việt Nam [2], [8].<br /> 3. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến chỉ số tài chính và rủi ro cấp công ty<br /> Trong lĩnh vực nghiên cứu, việc phân tích các chỉ số tài chính của công ty<br /> thường được những nhà phân tích tài chính (hoặc các kiểm toán viên) sử dụng để đánh<br /> giá vị thế tài chính của doanh nghiệp dựa trên các chỉ số tài chính, mà các chỉ số này chỉ<br /> đơn thuần phản ánh tính thanh khoản, hiệu suất sử dụng tài sản, tỷ suất nợ và biên tế lợi<br /> nhuận của công ty [6]. Trên thực tế, các chỉ số tài chính còn có thể được sử dụng nhiều<br /> hơn thế, đặc biệt là công tác dự báo trong tình huống công ty gặp phải khó khăn về tài<br /> chính nếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu thích hợp [4], [5].<br /> 72<br /> <br /> Nổi bật nhất là Monti và Garcia (2010) đã thực hiện một nghiên cứu nhằm áp<br /> dụng phương pháp phân tích thống kê nhằm xác định mối quan hệ giữa các chỉ số tài<br /> chính công ty với tỷ suất lợi nhuận công ty. Trên cơ sở đó nhằm dự báo việc doanh<br /> nghiệp có gặp khó khăn về tài chính (financial distress) hay không [3]. Bằng việc thu<br /> thập số liệu cho một nhóm gồm 45 chỉ số tài chính của nhiều công ty khác nhau tại<br /> Achentina, các tác giả đã thành công trong việc sử dụng mô hình phân tích thành phần<br /> chủ chốt PCA (Principal Component Analysis), và đã xây dựng mô hình dự báo thành<br /> công được 85% cá thể trong tổng số mẫu điều tra gồm 90 công ty. Đáng lưu ý trong<br /> nghiên cứu của Monti và Garcia là nhóm 45 chỉ số tài chính được tính toán lại dựa trên<br /> cơ sở kết quả phân tích PCA trong mối liên quan với bản chất các hoạt động kinh doanh<br /> của công ty và mức độ rủi ro có liên quan tới đòn bẩy về nợ mà các công ty thuộc đối<br /> tượng điều tra có sử dụng.<br /> 4. Số liệu và phương pháp nghiên cứu<br /> Khác với nghiên cứu của Monti và Garcia, trong nghiên cứu này, chỉ có nhóm<br /> gồm 5 chỉ số tài chính tiêu biểu được xem là các biến số độc lập trong mô hình nghiên<br /> cứu. Lý do chọn 5 chỉ số tài chính cho nghiên cứu này là do tính đại diện của những chỉ<br /> số tài chính nói trên đối với vị thế tài chính của công ty như đã được đề cập bởi các nhà<br /> nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực tài chính công ty. Nội dung cơ bản của 5 chỉ số tài<br /> chính quan trọng này được trình bày tại bảng 1.<br /> Nguồn số liệu sử dụng để tính toán 5 chỉ số tài chính trong nghiên cứu được lấy<br /> trên bảng cân đối kế toán và bảng khai thu nhập mà Liên doanh Bia Huế thực hiện hàng<br /> tháng. Với khoảng thời gian 5 năm liên tiếp kể từ năm 2005-2009 và với số liệu kế toán<br /> được cập nhật hàng tháng, số liệu sử dụng trong nghiên cứu này có tính chất dài hạn<br /> (longitudinal) và phù hợp với việc đánh giá rủi ro trong một khoảng thời gian, thay vì<br /> đánh giá điểm mạnh và điểm yếu tài chính của công ty vào cuối năm kinh doanh như<br /> các nghiên cứu trước đây thường thực hiện. Các biến số trong mô hình là các chỉ số tài<br /> chính này là hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu trước đây. Các chỉ số tài chính nói<br /> trên được tính toán bằng Excel và sau đó được trích xuất sang SPSS để thực hiện việc<br /> phân tích hồi quy logistic regression.<br /> Bảng 1. Các chỉ số tài chính trong phân tích số liệu đa biến<br /> <br /> Tỷ suất thanh toán nhanh<br /> <br /> =<br /> <br /> (Tài sản ngắn hạn - thành phẩm tồn<br /> (1)<br /> kho) / Nợ ngắn hạn<br /> <br /> Đòn bẩy về nợ vay<br /> <br /> =<br /> <br /> Tổng số nợ vay bên ngoài / Tổng<br /> (2)<br /> tài sản của công ty<br /> <br /> Sức sinh lời cơ bản (BEP)<br /> <br /> =<br /> <br /> Lợi nhuận trước thuế / Tổng tài<br /> (3)<br /> sản<br /> <br /> Hiệu suất đầu tư tính trên tài sản (ROA)<br /> <br /> =<br /> <br /> Lợi nhuận ròng / Tổng tài sản<br /> <br /> 73<br /> <br /> (4)<br /> <br /> Hiệu suất đầu tư trên vốn chủ sở hữu<br /> (ROE)<br /> <br /> Lợi nhuận ròng / Tổng nguồn vốn<br /> (5)<br /> chủ sở hữu<br /> <br /> =<br /> <br /> Theo Gapensky, hệ số rủi ro cấp công ty được tính theo hệ số bê-ta  <br /> <br /> K i - Km<br /> (6)<br /> K m - K rf<br /> <br /> Trong đó:<br /> Ki<br /> <br /> = Suất lợi nhuận công ty<br /> <br /> Km<br /> <br /> = Suất lợi nhuận thị trường hoặc của phương án kinh doanh tiêu biểu<br /> <br /> Krf<br /> <br /> = Lãi suất phi rủi ro tính lãi suất hối phiếu<br /> = Hệ số rủi ro cấp công ty.<br /> <br /> Trong điều kiện ở các quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển, suất lợi<br /> nhuận thị trường Km có thể được lấy bằng tỷ lệ tăng giảm của chỉ số chứng khoán. Do<br /> Công ty Liên doanh Bia Huế chưa niêm yết cổ phiều trên thị trường chứng khoán nên<br /> trong nghiên cứu này Km được lấy bằng suất lợi nhuận của Công ty Bia quốc tế Calsberg,<br /> là một tập đoàn đa quốc gia tiêu biểu trên thế giới. Biến số Ki chính là biên tế lợi nhuận<br /> qua các tháng của Công ty Liên doanh Bia Huế. Cuối cùng, trong nghiên cứu này thì Krf<br /> chính là lãi suất phi rủi ro được lấy bằng lãi suất hối phiếu của Ngân hàng Ngoại thương<br /> Việt Nam (VietComBank).<br /> Để phân tích mức độ ảnh hưởng của các chỉ số tài chính đối với rủi ro cấp công<br /> ty, nghiên cứu này sử dụng kỹ thuật phân tích số liệu đa biến bằng hồi quy logistic. Do<br /> đó, số liệu về hệ số rủi ro bê ta cấp Công ty Bia Huế, sau khi được tính theo công thức<br /> (6) sẽ được phân làm hai loại: Hệ số rủi ro bê-ta cao (có giá trị >1) và hệ số rủi ro thấp<br /> (có giá trị bê-ta 1; và bê-ta<br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản