intTypePromotion=1
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 143
            [banner_name] => KM - Normal
            [banner_picture] => 316_1568104393.jpg
            [banner_picture2] => 413_1568104393.jpg
            [banner_picture3] => 967_1568104393.jpg
            [banner_picture4] => 918_1568188289.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 6
            [banner_link] => https://alada.vn/uu-dai/nhom-khoa-hoc-toi-thanh-cong-sao-ban-lai-khong-the.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-11 14:51:45
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Ảnh hưởng của chế độ nước mặt ruộng đến năng suất lúa, mức tưới và lượng mưa hiệu quả - PGS.TS. Trần Viết Ổn

Chia sẻ: Huynh Thi Thuy | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

0
60
lượt xem
9
download

Ảnh hưởng của chế độ nước mặt ruộng đến năng suất lúa, mức tưới và lượng mưa hiệu quả - PGS.TS. Trần Viết Ổn

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ở Việt Nam, nghiên cứu quy trình công nghệ tưới tiết kiệm nước trên phạm vi mặt ruộng đã được rất nhiều người quan tâm, bằng phương pháp quan trắc mực nước ngầm trong ống tại ruộng. Nhằm giúp các bạn hiểu hơn về vấn đề này, mời các bạn cùng tham khảo nội dung bài viết "Ảnh hưởng của chế độ nước mặt ruộng đến năng suất lúa, mức tưới và lượng mưa hiệu quả" dưới đây.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ảnh hưởng của chế độ nước mặt ruộng đến năng suất lúa, mức tưới và lượng mưa hiệu quả - PGS.TS. Trần Viết Ổn

  1. ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ NƯỚC MẶT RUỘNG ĐẾN NĂNG SUẤT LÚA, MỨC TƯỚI VÀ LƯỢNG MƯA HIỆU QUẢ PGS. TS. Trần Viết Ổn(1) (1) Khoa Kỹ thuật tài nguyên nước, trường Đại học Thủy Lợi Tóm tắt Đề tài đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm trên quy mô 32 ô thí nghiệm có kích thước 1,5 x 1,5 m đặt tại Trung tâm Nghiên cứu Thủy nông Bắc bộ thuộc Viện Khoa học Thủy lợi tại Thường Tín. Thí nghiệm bố trí 10 công thức tưới theo chế độ tưới là nông/sâu thường xuyên; nông/sâu lộ liên tiếp và nông/sâu lộ phơi với thời gian phơi ruộng là 3, 6 hay 9 ngày. Mỗi công thức được nhắc lại 3 lần. Giống thí nghiệm được chọn là giống lúa Khang dân được thí nghiệm trong cả 5 vụ Xuân 2006, 2007 và 2008, Mùa 2006 và 2007. Mước trên các ô thí nghiệm được quan trắc ngày 2 lần. Khi ruộng cạn nước, căn cứ theo thời gian phơi ruộng, tiến hành tưới đến giá trị amax. và đo đạc lượng nước tưới trong mỗi ô thí nghiệm. Kết quả phân tích cho thấy: + Lượng mưa hiệu quả tăng dần theo số ngày phơi ruộng và độ sâu trữ nước trên mặt ruộng. Tuy nhiên lượng mưa hiệu quả phụ thuộc chặt chẽ vào công thức tưới và sự phân bố lượng mưa hơn là tổng lượng mưa vụ. Thời gian phơi ruộng càng dài, hệ số sử dụng nước mưa càng lớn. Độ sâu lớp nước tối đa càng lớn, hệ số sử dụng nước mưa càng tăng. + Mức tưới phụ thuộc vào 2 yếu tố của công thức tưới là thời gian phơi ruộng và độ sâu lớp nước mặt ruộng. Thời gian phơi ruộng tỷ lệ nghịch với mức tưới. Mức tưới của các công thức nông-lộ phơi và sâu lộ phơi đều chênh lệch nhau theo xu thế tăng tỷ lệ thuận với chiều sâu lớp nước mặt ruộng của công thức tưới. + Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt giữa thời gian phơi ruộng và năng suất thường không đáng kể khi thời gian phơi ruộng không vượt quá 3 ngày (vụ mùa) và 6 ngày (vụ Xuân). Như vậy, công thức tưới tốt nhất là tưới nông-lộ-phơi với thời gian phơi ruộng tương ứng là 3 ngày (vụ mùa) và 6 ngày (vụ xuân). Các từ khóa: Mưa hiệu quả, tưới tiết kiệm nước, năng suất lúa, mức tưới. Abstract Study were carried on 32 plots on Thuong Tin field in 5 crop season. Results had shown that: + Efficient rainfall amount increase basing on the number of the days of drying field and water field level. + The irrigation amount were defended on field water rezime and the time of drying field. + The alternative drying and wetting with the drying time were 3 and 6 days were the best in rice field water management. 1. Giới thiệu Trên toàn thế giới, hiện nay có khoảng 150 triệu ha đất trồng lúa, hàng năm cung cấp khoảng 550 triệu đến 600 triệu tấn gạo cho thế giới (Maclean, 2002). Theo dự báo, dến năm 2025, cần đến 700 triệu tấn gạo để thoã mãn nhu cầu lương thực của thế giới. Ngµnh n«ng nghiÖp s¶n xuÊt lóa g¹o lµ ngµnh cã tû lÖ tiªu thô n­íc lín nhÊt chiÕm h¬n 80% l­îng n­íc t­íi ë khu vùc ch©u ¸. V× vËy ®©y lµ khu vùc ®­îc c¸c nhµ khoa häc ­u tiªn nghiªn cøu t×m c¸c biÖn ph¸p t­íi thÝch hîp nh»m thay thÕ biÖn ph¸p t­íi truyÒn thèng ®Ó gi¶m l­îng n­íc t­íi cho lóa. Tuú theo khu vùc nghiªn cøu, c¸c gi¶i ph¸p gi¶m l­îng n­íc t­íi cã thÓ chia lµm 2 lo¹i: - Gi¶m l­îng n­íc t­íi trªn hÖ thèng dÉn, - Gi¶m l­îng n­íc t­íi t¹i mÆt ruéng. ViÖc gi¶m l­îng n­íc t­íi trªn hÖ thèng dÉn chñ yÕu ®­îc thùc hiÖn th«ng qua viÖc lµm gi¶m tæn thÊt do thÊm trªn kªnh. Tuy nhiªn c¸c biÖn ph¸p nµy th­êng chØ gi¶m ®­îc l­îng n­íc t­íi tõ 5% ®Õn 15%. C¸c biÖn ph¸p høa hÑn nhiÒu kÕt qu¶ lµ biÖn ph¸p gi¶m lù¬ng n­íc t­íi t¹i mÆt ruéng th«ng qua viÖc ®iÒu tiÕt líp n­íc mÆt ruéng nh»m n¨ng cao hiÖu qu¶ sö dông n­íc
  2. m­a, gi¶m c¸c thµnh phÇn hao n­íc nh­ thÊm vµ bèc h¬i mµ kh«ng ¶nh h­ëng ®Õn n¨ng suÊt lóa. BiÖn ph¸p t­íi n«ng lé ph¬i lµ biÖn ph¸p ®­îc chó ý nghiªn cøu ë nhiÒu n­íc nh­ NhËt, Trung Quèc, Philipin, Ên §é, T©y Ban Nha, Mü vv. KÕt qu¶ cho thÊy biÖn ph¸p t­íi n«ng lé ph¬i hîp lý cã thÓ gi¶m ®­îc l­îng n­íc t­íi tõ 20% ®Õn 45% so víi t­íi ngËp liªn tôc, n¨ng suÊt lóa kh«ng gi¶m, chØ sè s¶n phÈm lóa trªn mét ®¬n vÞ n­íc t­íi t¨ng tõ 1.18 kg/m3 ®Õn 1.5 kg/m3 so víi 0,65 ®Õn 0.96kg/m3 cña ph­¬ng ph¸p t­íi ngËp. Ở Việt Nam, nghiên cứu quy trình công nghệ tưới tiết kiệm nước trên phạm vi mặt ruộng đã được rất nhiều người quan tâm. Bằng phương pháp quan trắc mực nước ngầm trong ống tại ruộng, nhiều nông dân đã áp dụng phương pháp này trong tưới lúa theo phương pháp nông lộ phơi tại An Giang, Tiền Giang, Thừa thiên-Huế và một số địa điểm tại Bắc Ninh, Hà Tây cũ, Thanh Hoá vv. Kết quả đã tiết kiệm được từ 5 đến 8 đợt bơm tưới, năng suất lúa không giảm, chống được một số bệnh như khô vằn, đốm rỉ vv. Việc xác định chế độ nước mặt ruộng hợp lý làm cơ sở để xây dựng quy trình vận hành hệ thống thủy nông, cần thiết phải nghiên cứu sự ảnh hưởng của chế độ nước mặt ruộng đến năng suất, mức tưới và lượng mưa hiệu quả. 2. Cơ sở khoa học Về lý thuyết, việc tính toán chế độ tưới cho lúa dưới bất kỳ phương pháp nào cũng đều dựa trên cơ sở phương trình cân bằng nước viết cho một đơn vị diện tích, có dạng: Wj= Wj-1+ Pj – ETcJ - Sj + mj – Cj (1) Trong đó: Wj : Mực nước ruộng cuối thời đoạn thứ j Wj-1: Mực nước ruộng đầu thời đoạn thứ j Pj: Lượng mưa trong thời đoạn thứ j ETcj: Bốc hơi trong thời đoạn thứ j Sj: Lượng nước thấm trong thời đoạn thứ j mj: Lượng nước tưới trong thời đoạn thứ j Cj: Lượng nước tiêu trong thời đoạn thứ j Phương trình (2-1) cũng có thể trở thành: mj= Wj - Wj-1- Pj + ETcj + Sj + Cj (2) Giải phương trình (2) bằng cách xác định các thành phần như bốc hơi ETcj, thấm Sj, lượng mưa trong thời đoạn tính toán Pj, lượng nước tiêu Cj, có thể xác định được mức tưới cho các thời đoạn và cho cả vụ. Xét về lý thuyết, phân tích phương trình (2), cho thấy: Ở đây các thành phần Wj và Wj-1 phải thoã mãn điều kiện ràng buộc để đảm bảo công thức tưới tăng sản. Nghĩa là các giá trị này không được vượt ra ngoài giới hạn lớp nước mặt ruộng tối đa (amax) và tối thiểu (amin). Nếu lớp nước mặt ruộng vượt quá giá trị amax thì phải tiêu đi để cho Wj = amin. Đối với lượng mưa hiệu quả Phq (lượng mưa được trữ lại trong ruộng, tham gia vào thành phần hao nước của quá trình tưới). Lượng mưa hiệu quả Phq có thể được tính như sau: Phq = Ptkj - Cj. (3) L­îng m­a hiÖu qu¶ phô thuéc chÆt chÏ vµo l­îng m­a trËn vµ líp n­íc mÆt ruéng t¹i thêi ®iÓm cã m­a. Trong phương trình (3), lượng mưa rơi xuống đạt hiệu quả khi lượng nước tiêu DRj là nhỏ hoặc không có. Điều này có thể đạt được khi lượng mưa rơi xuống trong thời điểm tính toán được trữ lại tối đa trên ruộng lúa. Do vậy lượng mưa hiệu quả phụ thuộc vào khả năng trữ của ruộng lúa tại thời điểm có mưa và lượng mưa (Pj) không vượt quá khả năng trữ (amax - Wj-1) của ruộng lúa. Ở đây amax là lớp nước mặt ruộng tối đa là yếu tố không đổi (thường từ 50 mm -:- 100mm). Như vậy khả năng trữ của ruộng lúa phụ thuộc chặt chẽ vào lớp nước đầu thời đoạn tính toán Wj-1. Nếu trong ruộng lúa luôn luôn duy trì một lớp nước nhỏ, khả năng trữ
  3. của ruộng lúa sẽ tăng. Điều này phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ quản lý lớp nước mặt ruộng (hay công thức tưới tăng sản áp dụng). Nói cách khác lượng mưa hiệu quả của một khu tưới phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ tưới của hệ thống tưới. Đây là yếu tố phụ thuộc vào hệ thống tưới của lượng mưa hiệu quả. Nếu các hệ thống tưới có cùng một chế độ tưới, khả năng trữ của ruộng lúa sẽ như nhau. Đối với lượng nước thấm Sj: lượng nước thấm này phụ thuộc vào chế độ nước mặt ruộng. Thông thường đối với ruộng lúa, khi trên ruộng duy trì một lớp nước mặt ruộng thì lượng nước thấm sẽ xuất hiện. Lượng nước này sẽ bằn lượng nước thấm ổn định trong ruộng lúa. Như vậy để giảm thấm cần phải để lộ mặt ruộng (phơi ruộng). Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể phơi ruộng vì nếu duy trì sự phơi ruộng dài ngày sẽ gây nên sự giảm khả năng hút nước của lúa (cây rất nhạy cảm với sự thiếu nước) làm cho năng suất giảm. Mặt khác nếu để phơi ruộng dài ngày sẽ phát sinh các vết nứt làm tăng sự thẩm lậu thẳng đứng của ruộng. Do vậy Sj sẽ không những không giảm mà còn tăng lên. Đối với lượng bốc hơi ETcj: đây là thành phần nhạy cảm, nếu giảm lượng bốc hơi sẽ làm giảm năng suất, đặc biệt là đối với cây lúa. Do vậy không nên cố tìm cách làm giảm thành phần này. Như vậy về nguyên tắc, việc nghiên cứu quy trình tưới tiết kiệm nước là nghiên cứu các quy trình tưới nhằm để tăng khả năng trữ lượng nước mưa và giảm thấm thẳng đứng. Việc tăng khả năng trữ của lượng mưa có thể được thực hiện bằng việc thường xuyên duy trì một khoảng lưu không trữ của ruộng lúa tối đa, nghĩa là: amax – Wj-1 ở trạng thái cực đại khi có mưa. Điều này có thể thực hiện được khi chủ động quản lý lớp nước mặt ruộng có giá trị gần với giá trị amin. Về thấm trong đất lúa, có 2 quá trình thấm là quá trình thấm khi đất chưa bão hoà và quá trình thấm khi đất đã bão hoà nước. Quá trình thấm khi đất chưa bão hoà là trường hợp thấm trong thời kỳ ngâm ruộng sau khi đất được làm ải. Thời kỳ này tuỳ thuộc vào mức độ làm ải của đất. Nếu đất làm ải nhiều, lương nước thấm sẽ lớn và ngược lại. Khi đất đươc làm ải tốt, các chất trong đất sẽ chuyển hoá theo điều kiện có lợi cho cây trồng. Do vậy xu hướng càng làm đất ải càng tốt. Do vậy, quá trình này không nên tác động nhằm làm giảm lượng nước thấm để đảm bảo năng suất lúa cao. Quá trình thấm sau khi đất bão hoà nước còn gọi là quá trình thấm ổn định. Trong quá trình thấm này, lượng nước thấm tỷ lệ thuận với lớp nước được duy trì trên ruộng lúa Wj. Lớp nước này càng nhiều thì lượng nước thấm càng lớn và ngược lại. Lượng nnước thấm này sẽ không còn khi trên bề mặt ruộng lúa không có lớp nước mặt (W=0 mm). Xét về quan hệ giữa thấm ổn định và năng suất lúa. Nhìn chung loại hình thấm này không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của lúa. Do vậy loại hình thấm này không ảnh hưởng đến năng suất lúa. Ở đây, thấm ổn định đơn thuần là sự hao nước vô ích trong quá trình sinh trưởng và phát triển của lúa. Vì vậy để giảm mức tưới cần phải giảm lượng nước thấm này mà không làm ảnh hưởng đến năng suất. Như vậy, việc duy trì lớp nước mặt ruộng tối thiểu trên ruộng lúa sẽ làm tăng khả năng trữ của nước mưa (tăng lượng mưa hiệu quả) và giảm thấm thẳng đứng. Đây là căn cứ khoa học của việc nghiên cứu quy trình tưới tiết kiệm nước cho lúa. 3. Mô tả thí nghiệm Để nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ nước mặt ruộng đến năng suất, mức tưới và lượng mưa hiệu quả, đề tài đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm trên quy mô 32 ô thí nghiệm đặt tại Trung tâm Nghiên cứu Thủy nông Bắc bộ thuộc Viện Khoa học Thủy lợi tại Thường Tín. Các ô thí nghiệm có kích thước 1,5 x 1,5 m. Nghiên cứu được tiến hành với 4 công thức tưới là 30-50 mm, 0-50 mm, 50-100 mm và 0-100mm. Ở các công thức tưới 0-50 mm và 0-100 mm, bố trí thí nghiệm thời gian phơi ruộng theo 4 giai đoạn khác nhau gồm: - Tưới ngay sau khi ruộng cạn nước, - Ruộng cạn nước 3 ngày sau thì tưới, - Ruộng cạn nước 6 ngày sau thì tưới, - Ruộng cạn nước 9 ngày sau thì tưới.
  4. Mỗi công thức được nhắc lại 3 lần (2 công thức x 4 giai đoạn x 3 lần nhắc lại = 24 ô thí nghiệm). Trình tự thí nghiệm như sau:  Giống và thời vụ Giống thí nghiệm được chọn là giống lúa Khang dân được gieo cấy đại trà hiện nay ở vùng Đồng bằng Sông Hồng. Loại giống này được thí nghiệm trong cả 5 vụ Xuân 2006, Xuân 2007, Xuân 2008, Hè Thu 2006 và Hè Thu 2007. Thời vụ gieo cấy: - Vụ Xuân gieo cấy 10/3, thu hoạch 5/6. - Vụ Hè Thu gieo cấy 1/7, thu hoạch 5/10.  Tưới và theo dõi thí nghiệm tưới Ngay sau khi cấy, mực nước trên các ô thí nghiệm được quan trắc ngày 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều. Khi ruộng cạn nước, căn cứ theo thời gian phơi ruộng, tiến hành tưới đến giá trị amax. Đo đạc lượng nước tưới trong mỗi ô thí nghiệm. 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận 4.1 Ảnh hưởng của các công thức tưới đến lượng mưa hiệu quả Trong tưới, đường quá trình lớp nước mặt ruộng ảnh hưởng rất nhiều đến mức tưới do sự ảnh hưởng của nó đến các thành phần hao nước như thấm, bốc hơi. Đặc biệt, đường quá trình lớp nước mặt ruộng trong một vụ tưới sẽ quyết định lượng mưa hiệu quả của vụ đó. Để nghiên cứu ảnh hưởng của đường quá trình lớp nước mặt ruộng đến mức tưới, đề tài đã tiến hành bố trí 10 công thức thí nghiệm tưới khác nhau gồm: nông thường xuyên (30-50mm); sâu thường xuyên (50-100mm); nông-lộ liên tiếp (0-50mm); sâu-lộ liên tiếp (0-100mm); nông -lộ phơi (0-50mm); sâu-lộ-phơi (0-100mm) với các thời gian phơi ruộng là 3 ngày, 6 ngày và 9 ngày. Bảng 1. Thống kê lượng mưa hiệu quả của các công thức tưới qua các vụ: Xuân và Hè Thu 2006, Xuân và Hè Thu 2007 và Xuân 2008 tại Thường Tín Đ. vị: mm 2006 2007 2008 TT Công thức tưới Xuân Hè Thu Xuân Hè Thu Xuân 1 Nông thường xuyên (30-50) 250 411 268 438 100 2 Nông-lộ liên tiếp (0-50mm) 250 455 271 484 113 3 Nông-lộ-phơi(0-50, phơi 3 ngày) 250 469 267 470 125 4 Nông-lộ-phơi(0-50, phơi 6 ngày) 250 491 273 497 121 5 Nông-lộ-phơi(0-50, phơi 9 ngày) 250 531 273 489 125 6 Sâu T xuyên (50-100mm) 250 485 288 365 137 7 Sâu-lộ liên tiếp (0-100mm) 250 525 288 248 153 8 Sâu-lộ-phơi(0-100, phơi 3 ngày) 250 533 288 489 155 9 Sâu-lộ-phơi(0-100, phơi 6 ngày) 250 539 288 484 156 10 Sâu-lộ-phơi(0-100, phơi 9 ngày) 250/2 590/632 288/288 509/544 159/1 50 59
  5. 700 600 Lượng mưa hiệu quả (mm) 500 400 Năm 2006 Vụ Xuân Năm 2006 Vụ Hè Thu 300 200 100 0 ) m 0m 10 0- (5 ên uy Tx u Sâ Công thức tưới Hình 1. lượng mưa hiệu quả của các công thức tưới qua các vụ: Xuân và Hè Thu 2006 tại Thường Tín 600 Lượng mưa hiệu quả (mm) 500 400 Năm 2007 Vụ Xuân 300 Năm 2007 Vụ Hè Thu 200 100 0 ) mm 00 -1 50 n( yê xu T u Sâ Công thức tưới Hình 2. lượng mưa hiệu quả của các công thức tưới qua các vụ: Xuân và Hè Thu 2007 tại Thường Tín 180 160 Lượng mưa hiệu quả (mm) 140 120 100 Năm 2008 Vụ Xuân 80 60 40 20 0 ) m 0m 10 0- (5 ên uy Tx u Sâ Công thức tưới Hình 3. lượng mưa hiệu quả của các công thức tưới qua các vụ Xuân 2008 tại Thường Tín Lượng mưa hiệu quả là lượng mưa được trữ lại trong ruộng để cung cấp cho nhu cầu sử dụng nước của quá trình trồng lúa. Bằng phương pháp thí nghiệm, đo đạc ngoài thực địa, lượng mưa hiệu quả của 10 công thức tưới qua 5 vụ gồm: vụ Xuân và vụ Hè Thu 2006, vụ Xuận và vụ Hè Thu 2007 và vụ Xuân 2008 được xác định như ở bảng 1. Nhận xét: Bảng 1 và các hình 1, 2, 3 cho thấy về vụ Xuân, lượng mưa hiệu quả đạt tỷ lệ từ 62,8% đến 100%. Tuy nhiên lượng mưa hiệu quả phụ thuộc chặt chẽ vào công thức tưới và sự phân bố
  6. lượng mưa hơn là tổng lượng mưa vụ. Cụ thể lượng mưa cả vụ của vụ Xuân năm 2008 đạt 159 mm nhưng hệ số sử dụng nước mưa chỉ đạt từ 62,8% đến 100% tuỳ theo công thức tưới. Trong khi đó lượng mưa vụ Xuân 2006 đạt 250 mm, hệ số sử dụng nước mưa đạt 100%. Lượng mưa vụ Xuân 2007 đạt 288 mm, hệ số sử dụng nước mưa đạt từ 93% đến 100%. Xét sự ảnh hưởng của công thức tưới, hệ số sử dụng nước mưa có xu thế tăng dần theo công thức tưới từ nông thường xuyên đến nông lộ và nông lộ phơi. Thời gian phơi ruộng càng dài, hệ số sử dụng nước mưa càng lớn. Sự ảnh hưởng của độ sâu lớp nước tối đa trên ruộng lúa cũng tỷ lệ thuận với hệ số sử dụng nước mưa. Độ sâu lớp nước tối đa càng lớn, hệ số sử dụng nước mưa càng tăng. Hệ số sử dụng nước mưa tăng dần từ 65% đối với công thức tưới nông thường xuyên (30-50mm) đến 76,7% đối với công thức tưới Sâu thường xuyên (50-100mm). Thời gian phơi ruộng càng dài, hệ số sử dụng nước mưa càng lớn và ngược lại. Hệ số này đạt từ 71,9% đối với công thức nông-lộ liên tiếp (thời gian phơi ruộng bằng 0 ngày) đến 84% đối với nông -lộ phơi (với thời gian phơi ruộng là 9 ngày) và từ 83% đối với sâu lộ liên tiếp đến 93% đối với sâu lộ phơi (với thời gian phơi ruộng là 9 ngày). 4.2 Ảnh hưởng của công thức tưới đến mức tưới các vụ Mức tưới các vụ phụ thuộc vào các thành phần hao nước như thấm, bốc hơi và đặc biệt phụ thuộc chặt chẽ vào lượng mưa hiệu quả. Do vậy công thức tưới tác động mạnh đến mức tưới thông qua sự ảnh hưởng của nó đến lượng mưa hiệu quả và lượng nước thấm. Bảng 2: Thống kê mức tưới của các công thức tưới qua các vụ: Xuân và Hè Thu 2006, Xuân và Hè Thu 2007 và Xuân 2008 tại Thường Tín Đ. vị: m3 2006 2007 2008 TT Công thức tưới Xuân Hè Thu Xuân Hè Thu Xuân 1 Nông thường xuyên (30-50) 6380 5840 6780 6450 6080 2 Nông-lộ liên tiếp (0-50mm) 5500 5250 6870 6390 5710 3 Nông-lộ-phơi(0-50, phơi 3 ngày) 5450 3990 5480 4740 4980 4 Nông-lộ-phơi(0-50, phơi 6 ngày) 4330 3650 4640 3890 4810 5 Nông-lộ-phơi(0-50, phơi 9 ngày) 4380 3140 4500 3640 3860 6 Sâu T xuyên (50-100mm) 7150 5330 7880 7610 6860 7 Sâu-lộ liên tiếp (0-100mm) 7210 4690 7180 7090 6860 8 Sâu-lộ-phơi(0-100, phơi 3 ngày) 5330 4090 6120 6510 6240 9 Sâu-lộ-phơi(0-100, phơi 6 ngày) 5320 3050 4810 5660 5690 10 Sâu-lộ-phơi(0-100, phơi 9 ngày) 4950 2590 4350 4480 4560 8000 7000 6000 Mức tưới (m3) 5000 Năm 2006 Vụ Xuân 4000 Năm 2006 Vụ Hè Thu 3000 2000 1000 ) 0 mm 00 -1 50 n( yê xu uT Sâ Công thức tưới Hình 4: Diễn biến mức tưới của các công thức tưới qua các vụ: Xuân và Hè Thu 2006 tại Thường Tín
  7. 9000 8000 7000 6000 Mức tưới (m3) 5000 Năm 2007 Vụ Xuân 4000 Năm 2007 Vụ Hè Thu 3000 2000 1000 m) 0 0m -1 0 50 n( yê xu uT Sâ Công thức tưới Hình 5: Diễn biến mức tưới của các công thức tưới qua các vụ: Xuân và Hè Thu 2007 tại Thường Tín 8000 7000 6000 Mức tưới (m3) 5000 4000 Năm 2008 Vụ Xuân 3000 2000 1000 m) 0 0m -10 50 n( yê xu uT Sâ Công thức tưới Hình 6: Diễn biến mức tưới của các công thức tưới qua các vụ Xuân 2008 tại Thường Tín Nhận xét: Bảng 2 và các hình 4, 5, 6 trình bày kết quả thí nghiệm trong 5 vụ tại Thường Tín cho thấy, mức tưới phụ thuộc vào 2 yếu tố của công thức tưới là thời gian phơi ruộng và độ sâu lớp nước mặt ruộng. + Về thời gian phơi ruộng: Kết quả thí nghiệm cho thấy thời gian phơi ruộng tỷ lệ nghịch với mức tưới. Thời gian phơi ruộng càng dài, mức tưới càng giảm. Nguyên nhân có thể là do lượng tổn thất do thấm, bốc mặt thoáng giảm và làm tăng lượng mưa hiệu quả khi thời gian phơi ruộng tăng lên (bảng 3). + Về độ sâu lớp nước mặt ruộng: kết quả thí nghiệm cho thấy khi độ sâu lớp nước mặt ruộng tăng lên, mức tưới có xu hướng tăng lên. Kết quả thí nghiêm tại 5 vụ từ 2006-2008 cho thấy mức tưới của tưới sâu thường xuyên (50-100mm) cao hơn mức tưới của công thức nông thường xuyên (30-50mm) từ 10 đến xấp xỉ 18%. Tương ứng mức tưới nông -lộ-liên tiếp so với sâu -lộ liên tiếp chênh lệch nhau từ 4 đến 18%. Mức tưới của các công thức nông-lộ phơi và sâu lộ phơi đều chênh lệch nhau theo xu thế tăng tỷ lệ thuận với chiều sâu lớp nước mặt ruộng của công thức tưới. Bảng 3: Ảnh hưởng của công thức tưới đến mức tưới Đ. vị: % so với tưới NTX 2006 2007 2008 TT Công thức tưới Xuân Hè Thu Xuân Hè Thu Xuân 1 Nông thường xuyên (30-50) 100 100 100 100 100 2 Nông-lộ liên tiếp (0-50mm) 86,2 89,8 101 99 94,7 3 Nông-lộ-phơi(0-50, phơi 3 ngày) 85,4 68,3 80,8 73,4 84,4 4 Nông-lộ-phơi(0-50, phơi 6 ngày) 67,8 62,5 68,4 60,3 82,0 5 Nông-lộ-phơi(0-50, phơi 9 ngày) 68,6 53,7 66,3 56,4 68,6 6 Sâu T xuyên (50-100mm) 112 91,2 116,2 117,9 111 7 Sâu-lộ liên tiếp (0-100mm) 112,1 80,3 105,8 109,9 111 8 Sâu-lộ-phơi(0-100, phơi 3 ngày) 83,5 70 90,2 100,9 102,2
  8. 9 Sâu-lộ-phơi(0-100, phơi 6 ngày) 83,3 52,2 70,9 100,3 94,4 10 Sâu-lộ-phơi(0-100, phơi 9 ngày) 77,5 44,3 63,3 69,4 78,5 4.3 Ảnh hưởng của công thức tưới đến sự sinh trưởng và năng suất lúa Để xác định ảnh hưởng của các công thức tưới đến năng suất và sự sinh trưởng và phát triển của lúa, đề tài đã tiến hành theo dõi sự sinh trưởng và phát triển của lúa qua các ô thí nghiệm. Cuối vụ, lúa được thu hoạch và phơi sấy và cân riêng rẽ. Trong các thời kỳ, diễn biến sâu bệnh và dịch hại cũng được quan trắc, theo dõi. Kết quả cho thấy về năng suất lúa có sự khác biệt giữa các công thức tưới rõ rệt tùy theo vụ. Về vụ Xuân, Kết quả nghiên cứu trong 3 vụ Xuân 2006, 2007 và 2008 cho thấy sự khác biệt giữa thời gian phơi ruộng và năng suất thường không đáng kể. Sự khác biệt này dao động từ 0 đến 11%. Năng suất lúa cao nhất đạt được tại công thức tưới nông/sâu thường xuyên và nông/sâu-lộ liên tiếp qua cả 3 vụ. Quan trắc đất trên ruộng lúa, kết quả cho thấy mực nước ngầm trong ruộng lúa dao động từ 5 đến 10 cm. Ở công thức nông/sâu lộ phơi với thời gian phơi ruộng 9 ngày, đất đã bắt đầu hình thành các vết nứt với chiều rộng từ 1 đến 3 mm, năng suất lúa giảm tối đa 11%. Về vụ Hè Thu, kết quả nghiên cứu trong 2 vụ Hè Thu năm 2006 và 2007 cho thấy, sự khác biệt về năng suất giữa các công thức tưới là rất rõ rệt. Năng suất lúa giảm dần theo thứ tự từ 0% đến 28,2%. Cụ thể như sau: + Ở công thức tưới nông/sâu thường xuyên và nông/sâu lộ liên tiếp, năng suất bình quân đạt 66,3 tạ/ha/vụ. + Ở công thức tưới nông/sâu-lộ-phơi với thời gian phơi ruộng 3 ngày, năng suất giảm không đáng kể (từ 1,5% đến 1,8%) bình quân đạt 65,3 tạ/ha/vụ. Quan trắc trên ruộng lúa cho thấy sau thời kỳ phơi ruộng, mặt đất chưa hình thành vết nứt. Mực nước ngầm trong ống có độ sâu từ 7 đến 10 cm. + Ở công thức tưới nông/sâu lộ-phơi với thời gian phơi ruộng là 6 ngày, năng suất bình quân đạt 53,9 tạ/ha/vụ (giảm 18,7% so với tưới nông/sâu thường xuyên. Quan trắc đất trên ruộng lúa cho thấy sau thời kỳ phơi ruộng đất nứt nẻ với chiều rộng vết nứt từ 3 đến 5mm. Quan trắc mực nước ngầm trong ống có độ sâu từ 18 đến 23 cm so với mặt ruộng. Bảng 4: Ảnh hưởng của các công thức tưới đến năng suất lúa Vụ Đông Xuân Vụ Hè Thu TT Công thức tưới Đơn vị 2006 2007 2008 2006 2007 1 Nông/sâu thường Tạ/ha 70 68 73 67,6 66 xuyên(đối chứng) Tăng/giảm(%) 0 0 0 0 0 2 Nông/sâu-lộ liên Tạ/ha 69,2 68,5 70 68,2 66 tiếp Tăng/giảm(%) -1,2 0,2 - 1,0 1,7 0 3 Nông/sâu-lộ-phơi Tạ/ha 68,6 64,7 68,9 66,9 65.3 (phơi 3 ngày) Tăng/giảm(%) -2,0 7,7 -5,6 - 1,9 -1,5 4 Nông/sâu-lộ-phơi Tạ/ha 69,8 65,1 66,8 57,4 53,9 (phơi 6 ngày) Tăng/giảm(%) -0,2 -4,2 -8,9 - 14,6 -18,7 5 Nông/sâu-lộ-phơi Tạ/ha 66,2 60,4 65,3 49,3 47,6 (phơi 9 ngày) Tăng/giảm(%) - 5,5 -11,1 - 10,9 -26,7 -28,3
  9. Năng suất lúa vụ xuân Năng suất (tạ/ha) 80.0 70.0 60.0 Năm 2006 50.0 Năm 2007 40.0 30.0 Năm 2008 20.0 10.0 - Công thức tưới Hình 7: Năng suất lúa vụ Xuân Năng suất lúa vụ hè thu Năng suất (tạ/ha) 80 70 60 Năm 2006 50 40 Năm 2007 30 20 10 0 Công thức tưới Hình 8: Năng suất lúa vụ Hè Thu + Ở công thức tưới nông/sâu lộ phơi với thời giam phơi ruộng là 9 ngày, năng suất bình quân đạt 47,6 tại/ha/vụ (giảm 28,3% so với tưới nông/sâu thường xuyên.Quan trắc đất trên ruộng lúa cho thấy sau thời kỳ phơi ruộng đất nứt nẻ với chiều rộng vết nứt từ 4 đến 6mm. Mực nước ngầm trong ống dao động từ 22 đến 27 cm. 5. Kết luận 1) Lượng mưa hiệu quả tăng dần theo số ngày phơi ruộng và độ sâu trữ nước trên mặt ruộng. Tuy nhiên lượng mưa hiệu quả phụ thuộc chặt chẽ vào công thức tưới và sự phân bố lượng mưa hơn là tổng lượng mưa vụ. Thời gian phơi ruộng càng dài, hệ số sử dụng nước mưa càng lớn. Độ sâu lớp nước tối đa càng lớn, hệ số sử dụng nước mưa càng tăng. 2) Mức tưới phụ thuộc vào 2 yếu tố của công thức tưới là thời gian phơi ruộng và độ sâu lớp nước mặt ruộng. Thời gian phơi ruộng tỷ lệ nghịch với mức tưới. Nguyên nhân có thể là do lượng tổn thất do thấm giảm và làm tăng lượng mưa hiệu quả khi thời gian phơi ruộng tăng lên. Khi độ sâu lớp nước mặt ruộng tăng lên, mức tưới có xu hướng tăng lên. Mức tưới của các công thức nông-lộ phơi và sâu lộ phơi đều chênh lệch nhau theo xu thế tăng tỷ lệ thuận với chiều sâu lớp nước mặt ruộng của công thức tưới. 3) Về vụ Xuân kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt giữa thời gian phơi ruộng và năng suất thường không dáng kể. Năng suất lúa cao nhất đạt được tại công thức tưới nông/sâu thường xuyên và nông/sâu-lộ liên tiếp qua cả 3 vụ. Như vậy về vụ Xuân, công thức tưới Nông-lộ phơi với thời gian phơi ruộng 6 ngày cho kết quả tốt nhất. Tương ứng với công thức này, năng suất lúa không giảm, mức tưới giảm từ 18% đến 40%. 4) Về vụ Mùa, kết quả nghiên cứu trong 2 vụ Mùa năm 2006 và 2007 cho thấy, sự khác biệt về năng suất giữa các công thức tưới là rất rõ rệt. Ở công thức tưới nông/sâu-lộ-phơi với thời gian phơi ruộng 3 ngày, năng suất giảm không đáng kể (từ 1,5% đến 1,8%) bình quân đạt 65,3 tạ/ha/vụ. Ở công thức tưới nông/sâu lộ-phơi với thời gian phơi ruộng từ 6 đến 9 ngày, năng suất giảm mạnh (từ 18,7% đến 28,3%). Do vậy về vụ Mùa, công thức tưới Nông-lộ phơi với thời gian phơi ruộng 3 ngày cho kết quả tốt nhất. Tương ứng với công thức này, năng suất lúa không giảm, mức tưới giảm từ 27% đến 32%.
  10. 6. Tài liệu tham khảo TiÕng ViÖt 1. NguyÔn TuÊn Anh, ChÕ ®é t­íi cho lóa vïng §BSH, B¸o c¸o chuyªn ®Ò t¹i Héi nghÞ Khoa häc n¨m 1996. 2. Bïi Huy §¸p, C©y lóa vµ kü thuËt trång lóa, Nhµ XuÊt B¶n N«ng th«n, 1957. 3. NguyÔn Xu©n §«ng, Nghiªn cøu ¶nh h­ëng cña chÕ ®é t­íi n«ng lé ph¬i ®Õn møc t­íi vµ l­îng n­íc tiªu, LuËn ¸n TSKT, 2009. 4. TrÇn ViÕt æn vµ nnk, Nghiªn cøu quy tr×nh c«ng nghÖ t­íi tiÕt kiÖm n­íc cho lóa vµ cµ phª, B¸o c¸o tæng kÕt ®Ò tµi NCKH cÊp bé, 2008. 5. Lª §×nh ThØnh, KÕt qu¶ nghiªn cøu thùc nghiÖm hÖ sè c©y trång cña lóa xu©n, lóa mïa ë vïng §BSH; TuyÓn tËp c«ng tr×nh nghiªn cøu thñy n«ng-ViÖn Nghiªn cøu Khoa häc thñy lîi-1984. TiÕng Anh 1. Abumozhi, V.; E. Yamaji; and T. Tabuchi, Rice Crop growth and yield as influenced by changes in ponding water depth, water regime and fertigation level. Agricultural Water Management Vol. 37, 1998. 2. Batta R. K. On-farm water management in major irrigation comands of India. Paper presented at the workshop on “People Participation in irrigation system management to enhance agricultural production”, 1998. 3. Maclean, Water management in relation to crop production: case study on rice; Outlook on Agriculture 21, 2002. 4. T. P. Tuong, Guerra, L. C., and R. Barker, Producing more rice with less water from irrigated systems; SWIM Paper 5. Colombo: International Irrigation Management Institute, 1998.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản