intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Ảnh hưởng của đặc điểm hội đồng quản trị đến mức độ công bố thông tin của các công ty niêm yết: Bằng chứng thực nghiệm từ Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

Chia sẻ: ViSatori ViSatori | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

0
7
lượt xem
0
download

Ảnh hưởng của đặc điểm hội đồng quản trị đến mức độ công bố thông tin của các công ty niêm yết: Bằng chứng thực nghiệm từ Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của nghiên cứu này là đo lường ảnh hưởng của đặc điểm hội đồng quản trị (HĐQT) đến mức độ công bố thông tin của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE). Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của 207 công ty niêm yết trên HOSE trong năm 2015.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ảnh hưởng của đặc điểm hội đồng quản trị đến mức độ công bố thông tin của các công ty niêm yết: Bằng chứng thực nghiệm từ Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

<br /> <br /> QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP <br /> <br /> Ảnh hưởng của đặc điểm hội đồng quản trị<br /> đến mức độ công bố thông tin của các công ty<br /> niêm yết: Bằng chứng thực nghiệm từ Sở Giao<br /> dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh<br /> Trương Đông Lộc<br /> Nguyễn Xuân Thuận<br /> <br /> Ngày nhận: 30/01/2018 <br /> <br /> Ngày nhận bản sửa: 16/04/2018 <br /> <br /> Ngày duyệt đăng: 23/04/2018<br /> <br /> Mục tiêu của nghiên cứu này là đo lường ảnh hưởng của đặc điểm<br /> hội đồng quản trị (HĐQT) đến mức độ công bố thông tin của các<br /> công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí<br /> Minh (HOSE). Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập<br /> từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của 207 công ty niêm<br /> yết trên HOSE trong năm 2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ<br /> công bố thông tin bình quân của các công ty là 73,1 điểm. Ngoài ra,<br /> kết quả phân tích hồi quy cho thấy số lượng thành viên của HĐQT và<br /> tỷ lệ nữ trong HĐQT có mối tương quan thuận với mức độ công bố<br /> thông tin của các công ty. Ngược lại, việc kiêm nhiệm chức danh chủ<br /> tịch HĐQT và tổng giám đốc làm giảm mức độ công bố thông tin của<br /> các công ty. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra rằng quy mô công<br /> ty và tỷ suất lợi nhuận có mối tương quan thuận với mức độ công bố<br /> thông tin của các công ty, trong khi đó các công ty được kiểm toán<br /> bởi một trong bốn công ty kiểm toán lớn nhất có mức độ công bố<br /> thông tin cao hơn so với các công ty còn lại.<br /> Từ khóa: Đặc điểm hội đồng quản trị, công bố thông tin, công ty<br /> niêm yết, HOSE.<br /> <br /> 1. Giới thiệu<br /> <br /> của thị trường chứng khoán (TTCK) ở mỗi quốc<br /> gia. Thông tin phản ánh đầy đủ, chính xác và<br /> kịp thời sẽ giúp cho các nhà đầu tư đưa ra các<br /> quyết định hợp lý, qua đó giúp cho thị trường<br /> <br /> Minh bạch trong công bố thông tin (CBTT) có<br /> vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển<br /> <br /> © Học viện Ngân hàng<br /> ISSN 1859 - 011X<br /> <br /> 31<br /> <br /> Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng<br /> Số 194- Tháng 7. 2018<br /> <br /> QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP <br /> <br /> phát triển một cách ổn định. Ngược lại, nếu<br /> thông tin được công bố một cách sai lệch hoặc<br /> không đầy đủ, thì nó sẽ tạo ra những bất ổn<br /> cho thị trường, làm giảm lòng tin của các nhà<br /> đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài.<br /> Đối với các công ty niêm yết, CBTT không chỉ<br /> là nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo pháp<br /> luật mà còn là quyền lợi của công ty trong việc<br /> nâng cao uy tín và hình ảnh của mình trên thị<br /> trường. Karim (1996) cho rằng mức độ CBTT<br /> càng cao càng hạn chế tình trạng thông tin bất<br /> đối xứng giữa các nhà đầu tư và công ty, qua<br /> đó làm tăng giá trị và thanh khoản của cổ phiếu<br /> trên thị trường. Ở một khía cạnh khác, Albitar<br /> (2015) cho rằng việc CBTT không tốt có thể<br /> làm gia tăng chi phí vốn, dẫn đến việc phân bổ<br /> các nguồn lực không hiệu quả.<br /> Ở Việt Nam, thực tế cho thấy nhiều công ty<br /> niêm yết hiện nay chưa quan tâm đúng mức và<br /> thể hiện đầy đủ trách nhiệm của mình đối với<br /> các nhà đầu tư trong việc công bố thông tin.<br /> Vì vậy, câu hỏi đặt ra ở đây là vì sao các công<br /> ty niêm yết chưa quan tâm đúng mức đến việc<br /> CBTT? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến mức<br /> độ CBTT của các công ty? Các nghiên cứu<br /> thực nghiệm trên thế giới đã chỉ ra rằng mức độ<br /> CBTT của các công ty phụ thuộc chủ yếu vào<br /> hai nhóm nhân tố chính, đó là đặc điểm công ty<br /> và quản trị công ty (Cheung và cộng sự, 2007;<br /> Nandi và Ghosh, 2013; Fathi, 2013). Ở Việt<br /> Nam, cho đến nay đã có một vài nghiên cứu<br /> liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc<br /> CBTT của các công ty niêm yết (Phạm Ngọc<br /> Toàn và Thị Thu Hoài, 2015; Nguyễn Thị Thu<br /> Hảo, 2015; Trương Đông Lộc và Nguyễn Thị<br /> Kim Anh, 2017). Các nghiên cứu này chủ yếu<br /> đo lường ảnh hưởng của đặc điểm công ty và<br /> một số nhân tố khác mà chưa đi sâu vào nghiên<br /> cứu đặc điểm HĐQT (một nội dung quan trọng<br /> trong quản trị công ty) đến việc CBTT của các<br /> công ty. Mục tiêu của nghiên cứu này là bổ<br /> sung các bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng<br /> của đặc điểm HĐQT đến mức độ CBTT của các<br /> công ty niêm yết trên HOSE. Đây là khoảng<br /> trống trong các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt<br /> Nam. Phần còn lại của bài viết này được cấu<br /> trúc như sau: Mục 2 trình bày tóm tắt cơ sở lý<br /> thuyết và lược khảo các tài liệu có liên quan<br /> <br /> 32 Số 194- Tháng 7. 2018<br /> <br /> làm cơ sở để phát triển các giả thuyết nghiên<br /> cứu; Mục 3 mô tả số liệu được sử dụng và<br /> phương pháp nghiên cứu; Mục 4 tóm tắt các kết<br /> quả nghiên cứu; và cuối cùng, kết luận của bài<br /> viết được trình bày ở Mục 5.<br /> 2. Cơ sở lý thuyết, tổng quan các nghiên cứu<br /> thực nghiệm và các giả thuyết nghiên cứu<br /> 2.1. Cơ sở lý thuyết<br /> Lý thuyết Đại diện (Agency Theory): Lý thuyết<br /> Đại diện do Jensen và Meckling (1976) đề xuất<br /> được xem như là lý thuyết nền tảng liên quan<br /> đến mức độ CBTT của các công ty niêm yết. Lý<br /> thuyết này cho rằng quan hệ giữa các cổ đông<br /> (người ủy quyền) và người quản lý công ty<br /> (người được ủy quyền) được hiểu như là quan<br /> hệ đại diện hay quan hệ ủy thác. Mối quan hệ<br /> này được xem như là mối quan hệ hợp đồng<br /> mà theo đó các cổ đông bổ nhiệm, chỉ định<br /> người khác để thực hiện việc quản lý cho họ,<br /> trong đó bao gồm cả việc trao quyền định đoạt<br /> tài sản của công ty. Ở một khía cạnh khác, Lý<br /> thuyết Đại diện chỉ ra rằng sự tách biệt giữa<br /> quyền sở hữu và quyền kiểm soát công ty sẽ<br /> dẫn đến những xung đột về lợi ích khi xảy ra<br /> vấn đề bất cân xứng thông tin giữa cổ đông và<br /> người quản lý công ty do cả hai bên đều có lợi<br /> ích khác nhau. Đối với nhà quản lý họ quan<br /> tâm nhiều đến lợi ích của họ sẽ có được (lương,<br /> thưởng…), nhưng đối với các cổ đông thì họ<br /> lại quan tâm nhiều hơn đến giá trị của công ty.<br /> Chính vì sự mâu thuẫn này đã làm phát sinh chi<br /> phí đại diện, tức là chi phí để duy trì mối quan<br /> hệ đại diện hiệu quả để nhà quản lý hoạt động<br /> vì lợi ích của cổ đông nhiều hơn.<br /> Lý thuyết tín hiệu (Signalling Theory): Nếu<br /> lý thuyết Đại diện chỉ ra mối quan hệ giữa cổ<br /> đông và người quản lý công ty trong điều kiện<br /> bất cân xứng về thông tin thì Lý thuyết Tín hiệu<br /> (Ross, 1977) chỉ ra cách thức để giải quyết sự<br /> bất cân xứng về thông tin, đó là cơ chế phát<br /> tín hiệu. Theo Lý thuyết Tín hiệu, CBTT được<br /> xem như là một phương tiện hữu hiệu để đưa<br /> tín hiệu đến với các nhà đầu tư. Vì vậy, CBTT<br /> là một công cụ mà các công ty có thể sử dụng<br /> để tạo ra sự khác biệt về hiệu quả hoạt động của<br /> <br /> Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng<br /> <br /> <br /> <br /> công ty này so với công ty khác.<br /> 2.2. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm<br /> và các giả thuyết nghiên cứu<br /> - Quy mô hội đồng quản trị và mức độ CBTT:<br /> Quy mô HĐQT được đo lường dựa trên số<br /> lượng thành viên trong HĐQT. Theo Lý thuyết<br /> Đại diện, xung đột về lợi ích sẽ xảy ra khi có<br /> hiện tượng bất cân xứng thông tin giữa cổ đông<br /> và các nhà quản lý của công ty. Điều này có thể<br /> ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các công ty.<br /> Công ty có nhiều thành viên trong HĐQT sẽ có<br /> lợi hơn trong việc giám sát hoạt động của công<br /> ty do sự đa dạng về kiến thức và kinh nghiệm<br /> của các thành viên. Vì vậy, số lượng thành viên<br /> HĐQT của công ty càng nhiều có thể giúp ngăn<br /> chặn tốt hơn các hành vi làm tổn hại đến lợi ích<br /> của các cổ đông, giảm chi phí đại diện và tạo<br /> ra áp lực cho việc CBTT đầy đủ và kịp thời.<br /> Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng đã tìm<br /> thấy mối tương quan thuận giữa số lượng thành<br /> viên HĐQT và mức độ CBTT của các công ty<br /> (Adam và cộng sự, 2005; Cheng và Courteney,<br /> 2006). Vì vậy, giả thuyết sau được đề nghị:<br /> H1: Số lượng thành viên của HĐQT càng nhiều<br /> thì mức độ CBTT của công ty càng cao.<br /> - Sự kiêm nhiệm và mức độ CBTT: Sự kiêm<br /> nhiệm ở đây được hiểu là một người vừa giữ<br /> vai trò chủ tịch HĐQT vừa giữ vai trò giám đốc<br /> điều hành công ty. Jensen và Meckling (1976)<br /> lập luận rằng các công ty cần thiết lập cơ cấu<br /> quản lý công ty hiệu quả thông qua việc tách<br /> bạch các quyết định quản lý và quyết định kiểm<br /> tra giám sát để giảm chi phí đại diện. Nếu cả<br /> hai chức vụ chủ tịch HĐQT và giám đốc công<br /> ty là cùng một người thì khi đó khó tách bạch<br /> được quyền kiểm soát và điều hành. Chủ tịch<br /> HĐQT sẽ có cơ hội để tối đa lợi ích cá nhân<br /> hơn là lợi ích của các cổ đông. Vì vậy, các công<br /> ty có chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc có mức<br /> độ CBTT kém hơn các công ty không có đặc<br /> điểm này. Về mặt thực nghiệm, Li và cộng sự<br /> (2008) chỉ ra rằng kiêm nhiệm sẽ làm giảm chất<br /> lượng và số lượng thông tin được công bố trên<br /> thị trường. Ngoài ra, Ho và Wong (2001), Gul<br /> và Leung (2004), Donnelly và Mulcahy (2008)<br /> cũng đã tìm thấy mối tương quan nghịch giữa<br /> <br /> Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng<br /> <br /> QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP<br /> <br /> kiêm nhiệm và CBTT. Tuy nhiên, Haniffa và<br /> Cooke (2002) lại không tìm thấy mối tương<br /> quan giữa kiêm nhiệm và mức độ CBTT của<br /> các công ty. Dựa trên cơ sở lý thuyết và các<br /> bằng chứng thực nghiệm được trình bày ở trên,<br /> giả thuyết tiếp theo được đề xuất như sau:<br /> H2: Kiêm nhiệm làm giảm mức độ công bố<br /> thông tin của công ty.<br /> - Tỷ lệ sở hữu của HĐQT và mức độ CBTT:<br /> Tỷ lệ sở hữu của HĐQT được đo lường bằng tỷ<br /> lệ phần trăm (%) số cổ phần mà các thành viên<br /> HĐQT của công ty nắm giữ. Theo lý thuyết<br /> Đại diện, sự tách rời giữa chủ sở hữu và người<br /> quản lý công ty sẽ dẫn đến các xung đột về lợi<br /> ích (Jensen và Meckling, 1976). Mức độ xung<br /> đột lợi ích này sẽ giảm khi những người quản<br /> lý nắm giữ các cổ phiếu của công ty. Vì vậy,<br /> những công ty có các thành viên HĐQT nắm<br /> giữ một tỷ lệ cổ phiếu lớn thường không CBTT<br /> một cách đầy đủ, bởi vì các cổ đông lớn thường<br /> là thành viên của HĐQT nên họ có thể tiếp cận<br /> toàn bộ các thông tin sẵn có trong công ty. Nói<br /> một cách khác, các công ty có tỷ lệ sở hữu càng<br /> tập trung thì mức độ CBTT càng kém và ngược<br /> lại. Một số nghiên cứu gần đây đã tìm thấy<br /> bằng chứng về mối tương quan nghịch giữa tỷ<br /> lệ sở hữu của HĐQT và mức độ CBTT của công<br /> ty (Hossain và cộng sự, 1994; (Chau và Gray,<br /> 2002; Barako và cộng sự, 2006; Xiao và Yuan,<br /> 2007; Lim và cộng sự, 2007; Turrent và Ariza,<br /> 2012; Sartawi và cộng sự, 2014). Tuy nhiên,<br /> Naser và cộng sự (2002), Eng và Mak (2003),<br /> Gul và Leung (2004) lại chỉ ra rằng không có<br /> mối tương quan giữa tỷ lệ sở hữu của HĐQT và<br /> mức độ CBTT. Trên cơ sở lập luận như vậy, giả<br /> thuyết thứ 3 được đề nghị như sau:<br /> H3: Tỷ lệ sở hữu của HĐQT càng cao thì mức<br /> độ CBTT của công ty càng thấp.<br /> - Tỷ lệ nữ trong HĐQT và mức độ CBTT: Tỷ lệ<br /> nữ trong HĐQT được đo lường bằng tỷ lệ phần<br /> trăm số thành viên nữ trong HĐQT. Về mặt<br /> tâm sinh lý liên quan đến giới tính, nữ thường<br /> có tính cẩn trọng, ngại rủi ro hơn nam giới<br /> trong quản trị, điều hành nói chung. Vì vậy,<br /> nếu có nhiều thành viên nữ trong HĐQT thì<br /> việc CBTT của công ty sẽ tốt hơn. Srinidhi và<br /> cộng sự (2011) chỉ ra rằng tỷ lệ nữ trong HĐQT<br /> càng cao thì chất lượng các báo cáo được công<br /> <br /> Số 194- Tháng 7. 2018<br /> <br /> 33<br /> <br /> QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP <br /> <br /> bố càng tốt. Tương tự, Liao và cộng sự (2014),<br /> Adam và Ferreria (2009) cũng tìm thấy các<br /> bằng chứng để đi đến kết luận rằng tỷ lệ nữ<br /> trong HĐQT có mối tương quan thuận với mức<br /> độ CBTT của công ty. Vì vậy, giả thuyết tiếp<br /> theo được đề xuất như sau:<br /> H4: Tỷ lệ nữ trong HĐQT càng cao thì mức<br /> độ CBTT của công ty càng cao.<br /> 3. Số liệu sử dụng và phương pháp nghiên<br /> cứu<br /> 3.1. Số liệu sử dụng<br /> Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này được<br /> thu thập từ báo cáo tài chính (BCTC) và báo<br /> cáo thường niên của các công ty niêm yết trên<br /> HOSE năm 2015. Do các công ty thuộc ngành<br /> tài chính có một số đặc thù riêng về hoạt động<br /> kinh doanh cũng như BCTC so với các ngành<br /> khác nên trong nghiên cứu này chỉ có 207 công<br /> ty phi tài chính được chọn để tiến hành thu thập<br /> số liệu.<br /> 3.2. Phương pháp xây dựng chỉ số đo lường<br /> mức độ CBTT<br /> Cơ sở để xây dựng chỉ số CBTT<br /> Cho đến thời điểm 9/2017, chưa có bất kỳ bộ<br /> tiêu chí chính thức nào được công bố để đo<br /> lường mức độ CBTT của các công ty niêm yết<br /> ở Việt Nam. Vì vậy, để phục vụ cho nghiên cứu<br /> của mình, nhóm tác giả đã tiến hành xây dựng<br /> bộ tiêu chí để đo lường mức độ CBTT của các<br /> công ty niêm yết trên HOSE. Hiện tại, có nhiều<br /> bộ tiêu chí đo lường mức độ CBTT của các<br /> công ty đang được sử dụng ở nhiều nước trên<br /> thế giới. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các bộ tiêu<br /> chí này, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng bộ<br /> tiêu chí của Standard and Poor (S&P) có nhiều<br /> ưu điểm hơn và có thể được vận dụng trong<br /> điều kiện TTCK Việt Nam. Vì vậy, để xây dựng<br /> chỉ số CBTT cho các công ty niêm yết trên<br /> HOSE, nhóm tác giả dựa trên bộ tiêu chí của<br /> S&P, kết hợp với các quy định của pháp luật<br /> Việt Nam về CBTT của các công ty niêm yết<br /> trên TTCK.<br /> Chỉ số đo lường mức độ CBTT<br /> <br /> 34 Số 194- Tháng 7. 2018<br /> <br /> Trên cơ sở bộ tiêu chí của S&P, các quy định<br /> hiện hành về CBTT và thực tiễn hoạt động các<br /> công ty niêm yết trên HOSE, nhóm tác giả đã<br /> xây dựng bộ tiêu chí để đo lường mức độ CBTT<br /> của các công ty niêm yết bao gồm 72 tiêu chí1.<br /> Ở một khía cạnh khác, để đo lường mức độ<br /> CBTT, các nghiên cứu thực nghiệm thường<br /> sử dụng một trong ba phương pháp, đó là: có<br /> trọng số, không có trọng số và hỗn hợp. Những<br /> nghiên cứu sử dụng phương pháp trọng số cho<br /> rằng nếu đo lường mức độ CBTT dựa trên các<br /> thông tin có sẵn dựa trên các báo cáo thường<br /> niên hoặc theo chuẩn mực kế toán (các thông<br /> tin bắt buộc) là không thích hợp vì có nhiều<br /> thông tin không cần thiết so với các thông tin<br /> quan trọng đối với người đọc. Ngược lại, theo<br /> quan điểm của các nghiên cứu sử dụng phương<br /> pháp không có trọng số thì cho rằng mức độ<br /> CBTT giữa các công ty sẽ ít bị chệch hơn so<br /> với phương pháp có trọng số. Phương pháp hỗn<br /> hợp là phương pháp sử dụng cả phương pháp<br /> có trọng số và không có trọng số. Phương pháp<br /> này có thể xem như là giải pháp trung hòa cho<br /> hai phương pháp trên.<br /> Với tình hình thực tế của các công ty niêm yết<br /> cũng như các quy định của pháp luật về CBTT<br /> ở Việt Nam, nghiên cứu này sử phương pháp<br /> không trọng số để đo lường mức độ CBTT của<br /> các công ty. Phương pháp này đã được sử dụng<br /> trong nhiều nghiên cứu trước đây (Botosan,<br /> 1997; Chau và Gray, 2002; Fathi, 2013). Trên<br /> cơ sở chấm điểm từng tiêu chí, chỉ số CBTT<br /> của từng công ty được tính như sau:<br /> n<br /> <br /> /d<br /> <br /> ij<br /> <br /> DISCi =<br /> <br /> j=1<br /> <br /> n<br /> <br /> # 100<br /> <br /> Trong đó:<br /> DISCi: Mức độ CBTT của công ty i (0 ≤ DISCi<br /> ≤ 100)<br /> dij: Điểm tiêu chí j của công ty i (dij = 1 nếu<br /> mục thông tin j được công bố, dij = 0 nếu mục<br /> thông tin j không được công bố).<br /> n: Số lượng mục thông tin (tiêu chí) trong bộ<br /> tiêu chí được xây dựng (n = 72)<br /> Do giới hạn về dung lượng của bài viết nên nhóm tác<br /> giả không trình bày chi tiết bộ tiêu chí trong bài viết<br /> này. Tuy nhiên, bộ tiêu chí này có thể được cung cấp<br /> cho các đối tượng có quan tâm nếu được yêu cầu.<br /> 1<br /> <br /> Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng<br /> <br /> QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP<br /> <br /> <br /> <br /> 3.3. Phương pháp nghiên cứu<br /> Để ước lượng ảnh hưởng của đặc điểm HĐQT<br /> đến mức độ CBTT của các công ty niêm yết<br /> trên HOSE, mô hình hồi quy tuyến tính được<br /> sử dụng trong nghiên cứu này. Một cách cụ thể,<br /> mô hình hồi quy có dạng như sau:<br /> DISCi = β0 + β1BSIZEi + β2DUALi + β3BOWNi<br /> + β4BWi + β5FSIZEi + β6PROi + β7LEVi + β8<br /> BIG4i + εi<br /> Trong đó:<br /> DISCi: Chỉ số đo lường mức độ CBTT của công<br /> ty i;<br /> BSIZEi: Quy mô hội đồng quản trị của công ty<br /> i;<br /> DUALi: Kiêm nhiệm của công ty i;<br /> BOWNi: Tỷ lệ sở hữu của hội đồng quản trị<br /> công ty i;<br /> BWi: Tỷ lệ nữ trong HĐQT của công ty i;<br /> FSIZEi: Quy mô của công ty i;<br /> PROi: Tỷ suất lợi nhuận của công ty i;<br /> LEVi: Đòn bẩy tài chính của công ty i;<br /> BIG4i: Chủ thể kiểm toán của công ty i.<br /> Nội dung chi tiết về các biến độc lập và kỳ<br /> vọng về mối tương quan giữa chúng với biến<br /> phụ thuộc được trình bày chi tiết ở Bảng 1.<br /> Ngoài các biến liên quan đến đặc điểm HĐQT<br /> đã được trình bày ở trên (mục 2.2), nghiên cứu<br /> này còn sử dụng một số biến kiểm soát. Các<br /> biến kiểm soát này bao gồm: Quy mô công ty,<br /> tỷ suất lợi nhuận, đòn bẩy tài chính và chủ thể<br /> kiểm toán.<br /> <br /> Tên biến<br /> BSIZE<br /> DUAL<br /> BOWN<br /> BW<br /> <br /> Quy mô công ty (FSIZE): Trong nghiên cứu<br /> này biến quy mô công ty được đo lường bằng<br /> logarit tổng tài sản của công ty. Việc sử dụng<br /> logarit của tổng tài sản thay vì tổng tài sản là<br /> để tránh hiện tượng phương sai sai số thay đổi<br /> trong mô hình hồi quy do giá trị tổng tài sản<br /> của các công ty có thể có sự khác biệt rất lớn.<br /> Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng<br /> công ty có quy mô càng lớn thì mức độ CBTT<br /> càng cao (Botosan, 1997; Aksu và Kosedag,<br /> 2006; Cheung và cộng sự, 2007; Lopes và<br /> Rodrigues, 2007; Nandi và Ghosh, 2013). Mối<br /> quan hệ này được giải thích là do: (i) công ty<br /> lớn có số lượng nhà đầu tư nhiều và thu hút sự<br /> chú ý các nhà phân tích nhiều hơn; (ii) những<br /> công ty lớn có nhiều thông tin để cung cấp cho<br /> đầu tư hơn; (iii) các công ty có quy mô càng<br /> lớn thì chi phí đại diện phát sinh càng nhiều. Vì<br /> vậy, các công ty có quy mô càng lớn được kỳ<br /> vọng có mức độ CBTT càng cao.<br /> Tỷ suất lợi nhuận (PRO): Theo lý thuyết Tín<br /> hiệu, các công ty có tỷ suất lợi nhuận cao có xu<br /> hướng CBTT nhiều hơn các công ty có tỷ suất<br /> sinh lời thấp hoặc bị thua lỗ để tạo ra tín hiệu<br /> tốt cho các nhà đầu tư. Trong điều kiện bất cân<br /> xứng thông tin, các nhà quản trị trong các công<br /> ty có lợi nhuận cao thường muốn CBTT nhiều<br /> hơn để củng cố vị trí của họ và được trả thù lao<br /> quản lý cao hơn (Rouf, 2010). Nhiều nghiên<br /> cứu thực nghiệm gần đây đã chỉ ra rằng, tỷ suất<br /> lợi nhuận có mối tương quan thuận với mức độ<br /> CBTT của công ty (Wallace và Naser, 1995;<br /> <br /> Bảng 1. Diễn giải các biến độc lập được sử dụng trong mô hình hồi quy<br /> Đo lường biến<br /> <br /> Kỳ vọng<br /> +<br /> <br /> Số lượng thành viên trong HĐQT<br /> Biến giả, bằng 1 nếu công ty có chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc hoặc giám đốc,<br /> bằng 0 nếu ngược lại<br /> (Số lượng cổ phần sở hữu bởi các thành viên HĐQT/tổng số cổ phần phát hành) x<br /> 100 (%)<br /> <br /> -<br /> <br /> Phần trăm (%) số thành viên nữ trong HĐQT<br /> <br /> +<br /> <br /> FSIZE<br /> <br /> Logarit tổng tài sản của công ty<br /> <br /> +<br /> <br /> PRO<br /> <br /> Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản<br /> <br /> +<br /> <br /> LEV<br /> <br /> Nợ phải trả/ Tổng tài sản<br /> <br /> +<br /> <br /> BIG4<br /> <br /> Biến giả, bằng 1 nếu công ty được kiểm toán bởi một trong bốn công ty kiểm toán<br /> lớn nhất (Big 4), bằng 0 nếu ngược lại.<br /> <br /> +<br /> <br /> Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng<br /> <br /> Số 194- Tháng 7. 2018<br /> <br /> 35<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản