intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của tảo Thalassiosira pseudonana (Hasle & Heimdal, 1970)

Chia sẻ: Ni Ni | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:6

0
22
lượt xem
2
download

Ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của tảo Thalassiosira pseudonana (Hasle & Heimdal, 1970)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết này nghiên cứu xác định độ mặn tối ưu cho sinh trưởng và thành phần sinh hóa của quần thể tảo Thalassiosira pseudonana trong điều kiện phòng thí nghiệm. Đây là một trong những tiền đề để thiết lập quy trình công nghệ nuôi sinh khối loài tảo này ở quy mô công nghiệp phục vụ nhu cầu sản xuất giống các đối tượng thủy sản.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng và thành phần sinh hóa của tảo Thalassiosira pseudonana (Hasle & Heimdal, 1970)

  1. TAP CHI SINH HOC 2014, 36(2): 220­224 Tran Thi Le Trang  DOI: 10.15625/0866­7160.2014­X ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ THÀNH PHẦN SINH  HÓA CỦA TẢO Thalassiosira pseudonana (Hasle & Heimdal, 1970) Trần Thị Lê Trang Trường Đại học Nha Trang, letrangntu@gmail.com TÓM TẮT: Trong nuôi trồng thủy sản,  Thalassiosira là nguồn thức ăn tự  nhiên cho  ấu trùng   tôm và các loài nhuyễn thể. Chúng được ưa thích hơn cả  các loài đang sử  dụng phổ  biến hiện   nay như  Chaetoceros, Tetraselmis nhờ kích thước lớn hơn, phù hợp với cỡ miệng ấu trùng của   các đối tượng này. Độ mặn là một trong số các yếu tố có ảnh hưởng đến sinh trưởng và thành   phần sinh hóa của loài tảo này. Thí nghiệm được bố trí với 6 độ mặn khác nhau gồm 25, 30, 35,  40, 45 và 50‰ nhằm xác định độ  mặn tối  ưu cho sinh trưởng và thành phần sinh hóa của tảo   Thalassiosira pseudonana trong điều kiện thí nghiệm. Kết quả cho thấy, vào này nuôi thứ 5, t ảo  được nuôi ở độ mặn 30 và 35 ‰ cho mật độ cực đại cao nhất (76,90 và 78,83 vạn tế bào/ml), còn   ở  độ  mặn 25‰  (67,87 vạn tế  bào/ml) và thấp nhất là  ở  độ  mặn 40, 45 và 50 ‰ tương  ứng là  65,33; 60,60 và 55,67 vạn tế bào/ml ở ngày nuôi thứ 6 ( p
  2. Tran Thi Le Trang sinh hóa của tảo [5, 6]. Biến động về  độ  mặn  tối, sục khí liên tục, cường độ  ánh sáng 3.000  sẽ  dẫn đến những thay đổi về  khả  năng điều  lux. hòa áp suất thẩm thấu, quá trình quang hợp,  Phương pháp xác định một số chỉ tiêu trao đổi chất và thành phần sinh hóa của tảo  [13]. Theo Coutteau (1996) [4]: độ  mặn thích  Phương pháp xác định khả năng sinh trưởng hợp   cho   các   loài   tảo   biển   dao   động   trong  Mẫu tảo được lấy một lần trong ngày vào  khoảng   12   đến   40‰,   tối   ưu   20   đến   24‰.  8 giờ  sáng để  xác định mật độ  tế  bào. Lượng   Nghiên cứu này nhằm xác định độ mặn tối ưu   mẫu tảo được lấy mỗi lần là 5 ml. Mẫu sau  cho sinh trưởng  và thành phần sinh hóa của   khi thu được cố  định bằng dung dịch Neutral   quần thể  tảo  Thalassiosira  pseudonana  trong  Lugols (20g Potasium Iodin (KI) + 10g I 2 + 200  điều kiện phòng thí nghiệm. Đây là một trong   mL nước cất). những   tiền   đề   để   thiết   lập   quy   trình   công  Việc   xác   định   mật   độ   tế   bào  được   tiến  nghệ   nuôi   sinh   khối   loài   tảo   này   ở   quy   mô  hành bằng buồng đếm hồng cầu (Neubaeur’s   công nghiệp phục vụ  nhu cầu sản xuất giống   Hemacytometer);   buồng   đếm   có   25   ô   vuông  các đối tượng thủy sản.  lớn, mỗi ô có 16 ô vuông nhỏ, mỗi ô vuông  nhỏ   có  diện  tích  0,0025 mm2, độ   sâu buồng  VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU đếm 0,1 mm.  Đối   tượng   nghiên   cứu   là   giống   tảo  Lắc   đều   mẫu   tảo,   dùng   micropipet   hút  Thalassiosira  pseudonana  (Hasle   &   Heimdal,  mẫu tảo cho vào buồng đếm đã được đậy sẵn  1970), được nhập từ  Đan Mạch từ  năm 2008  lamen, để lắng một lúc rồi đưa vào thị trường   và   đang   được   lưu   giữ   tại   phòng   tảo   giống  kính để  đếm  ở  vật kính 40. Mật  độ  tế  bào  thuộc Khoa Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại  được xác định theo 2 trường hợp sau:  học Nha Trang. Nghiên cứu được thực hiện từ  tháng 3 đến tháng 6 năm 2013.  Trường hợp mật độ tảo thưa (dưới 5 106  TB/mL): Mật độ  tế  bào (TB/mL) = Số  tế  bào  Nguồn   nước   biển   được   xử   lý   bằng  đếm được trong 25 ô lớn   104. chlorine  25   ppm  trong   2   ngày,   sau   đó   phơi  nắng và trung hòa bằng natrithiosulfat. Trước  Trường hợp mật độ  tảo dày (trên 5 106  khi   thí   nghiệm,   nước   biển   được   khử   trùng  TB/mL): Mật độ  tế  bào (TB/mL) = Số  tế  bào  bằng cách hấp tiệt trùng ở  nhiệt độ  121oC, áp  ở 5 ô lớn/5   25   104. suất 1 atm trong 15 phút; tảo được thí nghiệm  Phương   pháp  xác   định  thành   phần   sinh   hóa   trong   các   bình   có   thể   tích   1.000   mL;   môi   của tảo trường dinh dưỡng được sử dụng trong nghiên  Để   phân   tích   làm   lượng   protein,  cứu này là f/2.  carbohydrat  và lipit, các mẫu tảo được thu  ở  Phương pháp bố trí thí nghiệm cuối   pha   tăng   trưởng,   khi   tảo   đạt   sinh  khối  Nghiên cứu  ảnh hưởng của độ  mặn được  cực đại.  Các mẫu tảo được tách ly tâm khỏi  bố  trí với 6 công thức lần lượt là: 25, 30, 35,  môi trường nuôi bằng máy ly tâm có tốc độ  40,   45  và   50‰  trong   điều   kiện   phòng   thí  quay 7.500 vòng/phút trong thời gian 10 phút,  nghiệm. Mật độ  tảo ban đầu là 5 vạn tb/ml.  sử   dụng   máy   ly   tâm   Hereaus   Suprafuge   22.  Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần cùng thời  Mẫu tảo sau đó được sấy khô ở nhiệt độ 55°C  điểm.  trong 2 giờ, lưu giữ   ở  nhiệt độ  ­20°C trước   khi   thực   hiện   các   phân   tích   hóa   sinh.   Hàm   Các   yếu   tố   môi   trường,   ngoài   độ   mặn,  lượng lipit trong mẫu tảo khô được phân tích  được duy trì trong phạm vi thích hợp với sinh  theo phương pháp của Bligh & Dyer (1959) [2]  trưởng của tảo T. pseudonana: nhiệt độ phòng  sử  dụng hỗn hợp tách chiết chứa chloroform   25oC, pH = 8, chế  độ  chiếu sáng 12 sáng: 12  và methanol với tỷ lệ thể tích là 2 : 1. Khoảng   120 ml của hỗn hợp này được sử dụng để tách  221
  3. Ảnh hưởng của độ mặn đến tảo chiết   mỗi   gam   tảo   khô.   Các   chất   rắn   được  phân   tách   một   cách   cẩn   thận   bằng   cách   sử  dụng giấy lọc chuyên dụng 2 lớp của  Nhật  Bản. Các chất hòa tan và dung môi được làm  bay hơi trong máy hút chân không  ở  nhiệt độ  60°C. Quá trình tách chiết được thực hiện 3  lần cho đến khi thu được toàn bộ  lượng lipit  thô trong mẫu tảo. Protein và cacbohydrat thô  được phân tích theo phương pháp chuẩn của  AOAC   (1998)   [1].   Quá   trình   phân   tích   được  tiến hành tại Viện Công nghệ sinh học và Môi  Hình 1. Ảnh hưởng của độ mặn lên sinh  trường, Trường Đại học Nha Trang. trưởng của tảo Phương   pháp   xác   định   các   thông   số   môi     trường Sinh   trưởng   của   quần   thể   tảo   gia   tăng  mạnh mẽ trong khoảng 6­7 ngày đầu, trong đó  Các yếu tố môi trường được xác định hàng  tảo được nuôi  ở  độ  mặn thấp (25 đến 35‰)  ngày.   Chỉ   số  pH   được   đo   bằng   máy   đo   pH  có mật độ  cao hơn so với nuôi  ở  độ  mặn cao   (Hanna pH Meter, độ  chính xác 0,1). Độ  mặn  (40 đến 50‰) (p
  4. Tran Thi Le Trang độ mặn của môi trường [9]. Tảo Thalassiosira  Tương   tự   protein   và   carbohydrat,   hàm  pseudonana  có   xu   hướng   ưa   độ   mặn   thấp,  lượng lipit tích lũy trong tế bào tảo cũng có xu  phát   triển   tối   ưu   ở   độ   mặn   25­35‰   nhưng  hướng giảm dần khi độ  mặn tăng từ  25  đến  vẫn có thể sinh trưởng ở độ mặn cao hơn (40   50‰. Cụ  thể, hàm lượng lipit thu  được lớn   đến 50‰). Theo Radchenko & Il’yash (2006)  nhất  ở  độ  mặn 25 và 30‰  (219,33 và 205,33  [11],  T.   pseudonana  là   loài   tảo  sống  ở   vùng  mg/g), theo sau là độ  mặn 35‰ (201,33 mg/g)  cửa sông, nơi tiếp giáp với biển, vì vậy, loài  và thấp nhất  ở 45, 50 và 50‰ (158,33; 144,67  tảo   này   ưa   thích   và   sinh   trưởng   tốt   ở   môi  và 139,67 mg/g) (p0,05).  hấp bị   ức chế  mà cụ  thể  là do các phân tử  Độ   mặn   không   chỉ   ảnh   hưởng   đến   khả  muối  bám  lên các  sắc  tố   quang hợp  làm  ức  năng sinh trưởng, mật độ  cực đại, thời gian   chế quá trình này [8, 12]. đạt mật độ cực đại mà còn tác động đến thành  Ảnh   hưởng   của   độ   mặn   lên   thành   phần  phần   sinh   hóa   tích   lũy   trong   tế   bào   tảo,   đã  sinh hóa của tảo được chứng minh trong nhiều nghiên cứu [9,  11,   12].   Sự   biến   động   về   độ   mặn   của   môi   trường   nuôi   dẫn   đến   thay   đổi   hàm   lượng  protein, carbohydrat và lipit  ở hầu hết các loài  tảo   biển   [12,   13],   trong   đó   có   tảo  Thalassiosira  sp.   [9,   11].   Nghiên   cứu   của  Kiatmetha   et   al.   (2010)   [8]   ở   loài   tảo  Thalassiosira   weissflogii  nuôi   sinh   khối   cho  thấy: hàm lượng protein trong tế  bào đạt cao  nhất (326 mg/g sinh khối khô) khi nuôi  ở  độ  mặn 25‰  và giảm dần khi độ  mặn tăng.  Do  Hình 2. Ảnh hưởng của độ mặn  đó,   trong   thực   tiễn  nên  căn   cứ   vào  độ   mặn  lên thành phần sinh hóa của tảo nước   biển   của   vùng   nuôi   để   chọn   độ   mặn  Kết quả phân tích thành phần sinh hóa của   thích   hợp   trong   quá   trình   nuôi   tảo  T.  tảo  T.   pseudonana  nuôi   ở   các   độ   mặn   khác  pseudonana. nhau   cho   thấy,   hàm   lượng   protein,   lipit   và  KẾT LUẬN  carbohydrat của tảo phụ  thuộc chặt chẽ  vào  độ  mặn của  môi  trường  nuôi  với  xu hướng   Tảo được nuôi  ở  độ  mặn 30 và 35‰  cho  chung là sự  gia tăng độ  mặn tỷ  lệ  nghịch với   mật độ  cực đại cao nhất (76,90­78,83 vạn tế  hàm lượng protein, lipit và carbohydrat tích lũy  bào/ml), tiếp theo là độ  mặn 25‰  (67,87 vạn  trong tế bào (hình 2).  tế  bào/ml) cùng vào ngày nuôi thứ  5 và thấp  nhất là  ở  độ  mặn 40, 45 và 50‰ (60,60­65,67  Hàm lượng protein và carbohydrat trong tế  vạn tế bào/ml) ở ngày nuôi thứ 6 (p
  5. Ảnh hưởng của độ mặn đến tảo Kết quả nghiên cứu thu được trong bài báo  7. Jeffrey S. W., Brown M. R., Gakland. C. D.,  cho thấy nên nuôi tảo  ở  độ  mặn từ  25   đến  1994.   Microalgae   for   mariculture.  Final  35‰  nhằm đạt mật độ  cực đại, hàm lượng  report to FRDC on: Bacteria ­ free (axenic)  protein, carbohydrat và lipit cao nhất. microalgae   for   improved   production   of  Cần nghiên cứu sâu hơn  ảnh hưởng của   larval   and   juvenile   bivalves   and  độ mặn lên thành phần và hàm lượng các acid   “Microalgae   for   mariculture”.   CSIRO.  béo không no đa nối đôi có trong tảo, đặc biệt  Division   of   fisheries   .   University   of  trong nuôi sinh khối tảo T. pseudonana. Đây là  Tasmania. 1­79. một trong những chỉ  tiêu quan trọng để  đánh  8. Kiatmetha   P.,   Siangdang   W.,   Bunnag   B.,  giá được giá trị dinh dưỡng của loài tảo này.  Senapin   S.,   Withyachumnamkul   B.,   2010.  Enhancement   of   survival   and  TÀI LIỆU THAM KHẢO metamorphosis   rates   of  Penaeus   monodon  1. AOAC, 1998. Official methods of analysis.  larvae   by   feeding   with   the   diatom  Association of Official Analytical Chemists,  Thalassiosira   weissflogii.   Aquacult.   Int.  Arlington, VA.  DOI 10.1007/s 10499­010­9375­y. 2. Bligh   E.  G.,   Dyer   W.  J.,  1959.   A   rapid  9. Li   W.   K.   W.,   1979.   Cellular   composition  method   of   total   lipid   extraction   and  and   physiological   characteristic   of   the  purification.  Can. J. Biochem. Physiol.,  37:  diatom  Thalassiosira weissflogii  adapted to  911­917. cadmium stress. Mar. Biol., 55: 171­180.  3. Brown R. M., Dunstan A. G., Norwood S.  10. Pratoomyot   J.,   Srivilas   P.,   Noiraksar   T.,  A.,   Miller  A.   K.,   1996.   Effects   of   harvest  2005.  Fatty   acids   composition   of   10  stage   and   light   on   the   biochemical  microalgal   species.   Songklanakrin.   J.   Sci.  composition   of   the   diatom  Thalassiosira   Technol., 27(6): 1179­1187. pseudonana. J. Phycol., 32: 64­73.  11. Radchenko   I.   G.,   Il’yash   L.   V.,   2006.  4. Coutteau   P.,   1996.   Manual   on   the  Growth   and   photosynthetic   activity   of  production   and   use   of   live   food   for  diatom  Thalassiosira   weissflogii  at  aquaculture:   Micro­algae.   FAO.   Belgium.  decreasing   salinity.   Plant   Physiol.,   33(3):  10­60. 242­247. 5. De Pauw N., Verbevent J., Claus C., 1983.  12. Raghavan G., Haridev C. K., Gopinathan C.  Large   ­   scale   microalgae   production   for  P.,   2008.   Growth   and   proximate  nursery   rearing   of   marine   bivalves.  composition  of   the  Chaetoceros   calcitrans  Aquaculture Engineering. Belgium, 2: 27­47. f.   pumilus   under   different   temperature,  salinity and carbon dioxide levels. Aquacul.  6. Harrison P. J., Thomson P. A., Calderwood  Res., 39: 1053­1058.  G.   S.,   1990.   Effects   of   nutrient   and   light  limitation   on   the   biochemical   composition  13. Richmond   A.,   1986.   Cell   response   to  of   phytoplankton.   Journal   of   Applied  environmental   factors.  In:   A.   Richmond  Phycology.   Kluwer   Academic   Publishers.  (ed.). Handbook of microalgal mass culture.  Belgium, 2: 45­56. CRC Press, Boca Raton., 69­99.  EFFECT OF SALINITY ON GROWTH AND CHEMICAL COMPOSITION  OF Thalassiosira pseudonana (Hasle & Heimdal, 1970) Tran Thi Le Trang 224
  6. Tran Thi Le Trang Nha Trang University SUMMARY In  aquaculture,  Thalassiosira  is   used   to   feed   to  shrimp  and  shellfish  larvae  in   hatcheries.   It   is  considered   preferable   for   this   purpose   to  the   other   commercially   available   microalgae,  Chaetoceros  and  Tetraselmis, because of its larger size which means it can continue to be used at more advanced larval stages.   Salinity is one of the environment factors effected significantly on growth and chemical composition of this  algae. The experiment was conducted with 6 salinities: 25, 30, 35, 40, 45 and 50‰ in order to identify the  optimum   salinity   for   growth   and   chemical   composition   of  Thalassiosira   pseudonana  in   the   laboratory  condition. Results showed that: algae was culture in salinity of 30 and 35‰  gave the highest maximum  density (76.90 and 78.83   104  cells/ml), followed by 25‰ (67.87   104 cells/ml) in the same day 5 and the  lowest at 40, 45 and 50‰  (65.33; 60.60 and 55.67     104  cells/ml) in the day 6  (p

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản