intTypePromotion=3

Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến những biến đổi sinh lý, sinh hóa của Thanh long ruột đỏ (Hylocereus polyrhizus) trong quá trình bảo quản sau thu hoạch

Chia sẻ: VieEinstein2711 VieEinstein2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
28
lượt xem
0
download

Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến những biến đổi sinh lý, sinh hóa của Thanh long ruột đỏ (Hylocereus polyrhizus) trong quá trình bảo quản sau thu hoạch

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong bài viết này tiến hành khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ thấp khác nhau: 3 ± 10 C; 5 ± 10 C; 7 ± 10 C; 9 ± 10 C và đối chứng (mẫu đối chứng ở nhiệt độ môi trường 25 - 30o C) đến những biến đổi sinh lý, sinh hóa xảy ra trong quá trình bảo quản thanh long ruột đỏ. Kết quả cho thấy nhiệt độ bảo quản ở 3 ± 10 C gây nên hiện tượng tổn thương lạnh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến những biến đổi sinh lý, sinh hóa của Thanh long ruột đỏ (Hylocereus polyrhizus) trong quá trình bảo quản sau thu hoạch

  1. Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(83)/2017 ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ THẤP ĐẾN NHỮNG BIẾN ĐỔI SINH LÝ, SINH HÓA CỦA THANH LONG RUỘT ĐỎ (Hylocereus polyrhizus) TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN SAU THU HOẠCH Nguyễn Văn Toản1, Trần Anh Tuấn2 TÓM TẮT Trong bài báo này tiến hành khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ thấp khác nhau: 3 ± 10C; 5 ± 10C; 7 ± 10C; 9 ± 10C và đối chứng (mẫu đối chứng ở nhiệt độ môi trường 25 - 30oC) đến những biến đổi sinh lý, sinh hóa xảy ra trong quá trình bảo quản thanh long ruột đỏ. Kết quả cho thấy nhiệt độ bảo quản ở 3 ± 10C gây nên hiện tượng tổn thương lạnh. Nhiệt độ thích hợp nhất nhằm kéo dài thời hạn tồn trữ thanh long ruột đỏ sau thu hoạch cũng được xác định là: 5 ± 10C. Nghiên cứu cũng cho thấy mẫu ở nhiệt độ 5 ± 10C đã kéo dài thời gian bảo quản lên 24 ngày so với mẫu đối chứng (ĐC) chỉ bảo quản được trong 9 ngày. Ngoài ra, các thông số về chất lượng của quả thanh long ruột đỏ ở điều kiện bảo quản (5 ± 10C; φkk= 85 - 90%, 24 ngày) cũng được xác định: Cường độ hô hấp: 10,07 (ml CO2.kg-1.h-1); màu sắc thịt quả theo góc màu (Ho): 24,780; độ cứng: 9,18 (N); hàm lượng acid tổng số: 0,247(%); hao hụt khối lượng: 2,83% và tỷ lệ hư hỏng: 4,1%. Từ khóa: Thanh long ruột đỏ, sự biến đổi sinh lý, sinh hóa, bảo quản sau thu hoạch, nhiệt độ thấp I. ĐẶT VẤN ĐỀ II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thanh long ruột đỏ là loại quả được sử dụng khá 2.1. Vật liệu nghiên cứu phổ biến với người tiêu dùng ở Việt Nam và thế giới. - Quả thanh long ruột đỏ (Hylocereus polyrhizus) Thanh long ruột đỏ có chứa lycopen với hàm lượng sử dụng làm nguyên liệu là giống thanh long được trung bình 3,4 µg/100 g phần ăn được, đây là một chất chống oxy hóa tự nhiên, có thể chống ung thư, trồng tại huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. Thanh bệnh tim mạch và làm giảm huyết áp (Charoensiri et long được thu hoạch sau 27 - 29 ngày nở hoa (Nguyễn al., 2009). Thanh long là một loại trái cây ngon, bổ Nhật Minh Phương và Hà Thanh Toàn, 2006). dưỡng có giá trị xuất khẩu cao đang được thị trường - Chlorine (Ca(ClO)2) có xuất xứ từ Nhật Bản có ở nhiều nước ưa chuộng: Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, hoạt tính 70%. Singapore... Tuy nhiên, quả thanh long sau thu hoạch - Bao bì bao gói trong bảo quản thanh long là loại hiện nay ở nước ta có thời gian bảo quản ngắn, gây LDPE có chiều dày 25 µm, kích thước 28 ˟ 24 cm. khó khăn cho công tác vận chuyển, phân phối và tiêu Được mua từ công ty TNHH Mosuco (Việt Nam). thụ. Phương pháp thường được sử dụng để kéo dài thời hạn bảo quản, duy trì chất lượng thanh long là - Thùng carton được cung cấp bởi công ty TNHH bảo quản ở nhiệt độ thấp. Nhiệt độ môi trường bảo Cẩm Giang (Việt Nam), kích thước thùng carton: quản thấp có tác dụng ức chế các biến đổi sinh lý, 50 ˟ 58 ˟ 28 cm. sinh hóa xảy ra trong thanh long và kìm hãm sự sinh 2.2. Phương pháp nghiên cứu trưởng phát triển của vi sinh vật. Vì vậy, thời gian bảo quản sau thu hoạch có thể kéo dài. Trên thế giới 2.2.1. Phương pháp phân tích hiện nay, đã có một số nghiên cứu bảo quản nhiệt độ Cường độ hô hấp được xác định theo phương thấp được áp dụng trên đối tượng thanh long như pháp đo kín, sử dụng máy ICA 250 (Anh) để đo các nghiên cứu của Nerd và cộng tác viên (1999), lượng CO2 (Nguyễn Văn Toản, 2011). Lau và cộng tác viên (2007), Freitas và cộng tác viên Hàm lượng acid tổng số được xác định theo (2013). Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu được TCVN 4589-1988. công bố về bảo quản thanh long ruột trắng ở nhiệt độ thấp của Lê Văn Tố và cộng tác viên (2002), Trần Tỷ lệ hư hỏng được xác định theo phương pháp Thị Việt Hà và cộng tác viên (2006), Nguyễn Tiến của Ding và cộng tác viên (2006), bằng cách chia Khương (2011). Đối với thanh long ruột đỏ hiện nay, nguyên liệu trong quá trình bảo quản thành 4 cấp độ các nghiên cứu về bảo quản ở nhiệt độ thấp còn hạn hư hỏng dựa vào diện tích vùng hư hỏng trên quả: chế. Chính vì vậy, việc xác định được nhiệt độ bảo 0 - quả hoàn toàn không hư hỏng, 1 - diện tích hư quản thích hợp nhằm ức chế các biến đổi sinh lý, hỏng dưới 1/4, 2 - diện tích hư hỏng từ 1/4 đến 1/2, sinh hóa và kéo dài thời gian bảo quản thanh long 3 - diện tích hư hỏng từ 1/2 đến 3/4. Tỷ lệ hư hỏng ruột đỏ là nội dung bài báo cần đạt được. được tính theo công thức: 1 Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Huế; 2 Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Gia Lai 106
  2. Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(83)/2017 (1 ˟ N1+2 ˟ N2+3 ˟ N3) ˟ 100 thương lạnh. Tuy nhiên, vào ngày bảo quản thứ 12, (3 ˟ N) mẫu bảo quản ở 3 ± 10C bắt đầu có những biểu hiện tổn thương lạnh (hình 1) và triệu chứng tăng dần Trong đó, N là tổng số quả; N1, N2, N3 tương ứng là theo thời gian cho đến ngày kết thúc quá trình bảo số quả bị hư hỏng theo các cấp độ 1, 2, 3. quản. Tại ngày bảo quản thứ 18, quan sát mẫu thanh Xác định hao hụt khối lượng tự nhiên bằng long bảo quản 3 ± 10C cho thấy; toàn bộ phần thịt phương pháp cân (sử dụng cân kỹ thuật Sartorius quả đều chuyển sang màu nâu đen và bị mềm nhũn - Đức). (hình 1). Những triệu chứng này không được phát Độ cứng của củ được xác định bằng thiết bị đo hiện trên thanh long ruột đỏ bảo quản ở 5 ± 10C; độ cứng Shimpo của Mỹ, đơn vị đo N (Barker, 2002). 7 ± 10C; 9 ± 10C. Tóm lại, kết quả nghiên cứu cho Màu sắc của vỏ quả và thịt quả được xác định thấy thanh long ruột đỏ bảo quản ở nhiệt độ 3 ± 10C bằng thiết bị đo cường độ màu NF333-Nippon bị tổn thương lạnh sau 12 ngày bảo quản và không Densoku do Nhật Bản sản xuất (Barker, 2002). xuất hiện triệu chứng tổn thương lạnh trên các mẫu bảo quản ở nhiệt độ còn lại. Kết quả thực nghiệm 2.2.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm này có sự sai khác so với công bố của Nerd và cộng Thí nghiệm được tiến hành theo sơ đồ sau: Quả tác viên (1999) khi khảo sát ảnh hưởng của nhiệt thanh long ruột đỏ → Thu hoạch → Lựa chọn → Xử lý độ bảo quản ở 60C đến triệu chứng tổn thương lạnh sơ bộ bằng chlorine 100 ppm → Bao gói LDPE 25µm trên thanh long ruột đỏ và ruột trắng tại Israel; kết → Bảo quản ở các nhiệt độ khác nhau (3 ± 10C; 5 ± quả công bố đã chỉ ra rằng, sau 14 ngày bảo quản 10C; 7 ± 10C; 9 ± 10C) và mẫu đối chứng ở nhiệt độ mới xuất hiện triệu chứng tổn thương lạnh. Như môi trường 25 - 30oC; φkk= 85 - 90%). Thí nghiệm vậy, kết quả về mức độ tổn thương lạnh trong các được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi thí nghiệm nghiên cứu khác nhau là không giống nhau. Điều được thực hiện với 3 lần lặp, mỗi mẫu có khối lượng này có thể giải thích là do sự khác nhau về giống, thổ 30 quả. Tiến hành phân tích các chỉ tiêu chất lượng nhưỡng đất đai, điều kiện chăm sóc và độ chín thu cũng như tỷ lệ hư hỏng và hao hụt khối lượng của hoạch khác nhau dẫn đến mức độ nhạy cảm với tổn các mẫu với tần suất 3 ngày/lần. Quá trình theo dõi thương lạnh cũng không giống nhau. kết thúc khi mẫu hư hỏng với tỷ lệ 10%. 2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu Các thí nghiệm được lặp lại 3 lần. Kết quả thí nghiệm được phân tích phương sai ANOVA và kiểm định LSD (5%) để so sánh sự khác biệt trung bình giữa các nghiệm thức. Các phân tích thống kê được xử lý trên phần mềm IBM SPSS 20. 2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 2/2014 đến Hình 1. Mẫu 3 ± 10C sau 12 ngày bảo quản (trái) tháng 6/2016. Quả thanh long sau thu hái được vận và sau 18 ngày bảo quản (phải) chuyển ngay về phòng thí nghiệm thuộc Bộ môn 3.2. Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến sự Công nghệ Sau thu hoạch (thời gian vận chuyển biến đổi góc màu của vỏ và thịt quả thanh long không nên vượt quá 24 giờ), Khoa Cơ khí - Công trong quá trình bảo quản sau thu hoạch nghệ, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế để Màu sắc là chỉ tiêu có ảnh hưởng quan trọng đến xử lý và bảo quản. khả năng tiêu thụ quả thanh long sau bảo quản. Sự III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN già hóa của quả trong thời gian bảo quản có thể góp phần làm cho quả chuyển màu nhanh chóng. Quan 3.1. Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến sát hình 2 và hình 3 dưới đây cho thấy: Góc màu của mức độ tổn thương lạnh trong bảo quản thanh thịt quả có xu hướng giảm dần trong quá trình bảo long ruột đỏ quản ở tất cả các mẫu, tương ứng với màu sắc thịt Hiện tượng tổn thương lạnh thường xảy ra đối quả chuyển từ vùng đỏ tươi sang đỏ sẫm. Tuy nhiên, với các loại quả bảo quản lạnh. Tổn thương lạnh góc màu của mẫu ĐC giảm nhanh nhất sau 6 ngày sẽ làm giảm chất lượng sản phẩm và rút ngắn thời bảo quản, trong khi các mẫu bảo quản ở nhiệt độ gian bảo quản. Qua quá trình nghiên cứu nhận thấy: thấp khác nhau có sự thay đổi chậm hơn. Sự gia tăng Các mẫu thanh long ruột đỏ bảo quản ở nhiệt độ về mức độ tổn thương lạnh trên thanh long bảo quản thấp (3 ± 10C; 5 ± 10C; 7 ± 10C; 9 ± 10C ) sau 6 ngày ở nhiệt độ 3 ± 10C đã làm cho thịt quả bị chuyển sang bảo quản chưa thấy xuất hiện các triệu chứng tổn đỏ sẫm sau 12 ngày bảo quản và thịt quả bắt đầu xuất 107
  3. Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(83)/2017 hiện các vết đen. Trong khi đó, mẫu thanh long bảo thuộc vào nhiệt độ bảo quản. Mẫu ĐC có cường độ quản ở nhiệt độ 5 ± 10C và 7 ± 10C đã hạn chế sự biến hô hấp tăng nhanh hơn các mẫu còn lại và đạt giá trị đổi màu khá tốt. Tuy nhiên, mẫu ĐC có sự thay đổi cực đại là 10,64 (ml CO2.kg-1.h-1) vào ngày bảo quản góc màu với tốc độ giảm nhanh và bắt đầu xuất hiện thứ 6. Sau ngày bảo quản thứ 9, cường độ hô hấp các dấu hiệu hư hỏng vào ngày bảo quản thứ 9. Như ở tất cả các mẫu bảo quản ở nhiệt độ thấp bắt đầu vậy, bảo quản ở nhiệt độ thấp có thể giữ được màu tăng nhanh. Các giá trị thực nghiệm thu được như sắc của vỏ và thịt quả thanh long tốt hơn so với mẫu sau: mẫu bảo quản ở nhiệt độ 3 ± 10C có cường độ ĐC. Trong đó, mẫu bảo quản ở 5 ± 10C kìm hãm tốt hô hấp tạo đỉnh với giá trị cực đại là 4,31 (ml CO2. nhất sự thay đổi màu sắc của vỏ và thịt quả. Theo kg-1.h-1) sau 12 ngày bảo quản. Tương tự, mẫu bảo công bố của tác giả Nerd và cộng tác viên (1999) đã quản ở 5 ± 10C cho thấy cường độ hô hấp đạt giá trị chỉ ra rằng: Bảo quản thanh long ở nhiệt độ thấp đã lớn nhất 4,22 (ml CO2.kg-1.h-1) vào ngày bảo quản có tác dụng làm chậm tốc độ biến đổi màu của quả thứ 24. Mẫu bảo quản ở 7 ± 10C có giá trị cao nhất về so với bảo quản ở nhiệt độ môi trường (25 - 30oC). cường độ hô hấp (4,73 ml CO2.kg-1.h-1) sau 21 ngày Kết quả thực nghiệm hoàn toàn không mâu thuẫn bảo quản. Mẫu ở 9 ± 10C có cường độ hô hấp tạo với công bố này. đỉnh sau 18 ngày bảo quản với giá trị xác định được 5,43 (ml CO2.kg-1.h-1). Tóm lại, quả thanh long ruột đỏ sau thu hoạch bảo quản ở nhiệt độ thấp có hàm lượng CO2 sản sinh ra thấp hơn nhiều so với mẫu ĐC. Trong đó, mẫu bảo quản ở 5 ± 10C có thời điểm cường độ hô hấp tạo đỉnh muộn nhất vào ngày bảo quản thứ 24. Kết quả thực nghiệm này hoàn toàn phù hợp với kết quả đã công bố của tác giả Freitas và cộng tác viên (2013) khi nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến thời hạn bảo quản quả thanh long ruột trắng. Hình 2. Sự thay đổi góc màu của vỏ quả theo thời gian ở các nhiệt độ bảo quản khác nhau Hình 4. Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến sự biến thiên cường độ hô hấp của quả thanh long ruột đỏ trong quá trong bảo quản Hình 3. Sự thay đổi góc màu của thịt quả 3.4. Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến sự theo thời gian ở các nhiệt độ bảo quản khác nhau biến đổi độ cứng quả thanh long trong quá trình bảo quản sau thu hoạch 3.3. Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến sự biến đổi cường độ hô hấp quả thanh long trong Mức độ thay đổi độ cứng quả và thịt quả thanh quá trình bảo quản sau thu hoạch long ruột đỏ trong quá trình bảo quản ở nhiệt độ thấp được biểu hiện qua hình 5 và 6. Kết quả thực nghiệm thu được khi khảo sát sự biến thiên của cường độ hô hấp của quả thanh long Kết quả thực nghiệm thu được từ hình hình 5 và ruột đỏ được thể hiện ở hình 4 cho thấy: Cường độ hình 6 cho thấy: Độ cứng của quả và thịt quả thanh hô hấp của nguyên liệu trước khi đưa vào bảo quản long bảo quản ở các nhiệt độ khác nhau có xu hướng có giá trị 10,07 (ml CO2.kg-1.h-1), sau đó có xu hướng giảm dần theo thời gian bảo quản. Nguyên nhân giảm xuống vào ngày bảo quản thứ 3 và mức độ của việc giảm độ cứng vỏ quả và thịt quả có thể giải giảm còn tùy thuộc vào nhiệt độ tồn trữ khác nhau. thích như sau: Trong quá trình chín sau thu hoạch Sau ngày bảo quản thứ 3, cường độ hô hấp của các của quả thanh long, do hoạt động của các enzyme mẫu tăng trở lại và mức độ biến đổi khác nhau tùy protopectinase, amylase đã chuyển hóa protopectin 108
  4. Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(83)/2017 (không hòa tan) trong thành tế bào tạo thành các số của tất cả các mẫu bảo quản ở nhiệt độ thấp khác pectin (hòa tan) và tinh bột trong thịt quả được thủy nhau và mẫu ĐC đều giảm trong suốt quá trình theo phân thành đường (Quách Đĩnh và ctv., 1996). Vì dõi. Sau 6 ngày bảo quản, hàm lượng acid tổng số của vậy, độ cứng của thịt và vỏ quả giảm là điều dễ nhận các mẫu có sự thay đổi giảm rất nhanh và đặc biệt ở thấy. Trái lại, sự giảm độ cứng của quả và thịt quả giai đoạn cuối quá trình bảo quản. Điều này được giải thanh long bị tổn thương lạnh khi bảo quản ở nhiệt thích như sau: Acid hữu cơ là cơ chất quan trọng của độ 3 ± 10C lại là kết quả của sự trương nước trong tế quá trình hô hấp, trao đổi chất và sinh năng lượng bào (Wang, 1989). So với mẫu ĐC, các mẫu thanh (Rodríguez et al., 2005). Ngoài ra, các acid hữu cơ long bảo quản ở nhiệt độ 5 ± 10C; 7 ± 10C; 9 ± 10C còn tham gia vào quá trình decarboxyl hóa (Marin đã hạn chế sự thay đổi độ cứng tốt hơn. Tuy nhiên, et al., 2009) nên hàm lượng acid tổng số giảm dần là sự biến động vẫn khác nhau ở các mẫu bảo quản ở điều dễ nhận thấy. Kết quả thực nghiệm trên hình 5 nhiệt độ thấp. Trong đó, mẫu bảo quản ở 5 ± 10C có cho thấy: Mẫu ĐC hàm lượng acid tổng số giảm chỉ độ cứng duy trì đến ngày bảo quản thứ 24; mẫu 7 ± còn 0,162 % vào ngày bảo quản thứ 9. Trong khi đó, 10C; 9 ± 10C có tốc độ giảm độ cứng được kéo dài mẫu bảo quản ở nhiệt độ 5 ± 10C có hàm lượng acid đến ngày bảo quản thứ 21 và ngày bảo quản thứ 18. tổng số duy trì đạt giá trị cao vào ngày bảo quản thứ Kết quả thực nghiệm không mâu thuẫn với công bố 24 với giá trị xác định được (0,227%). Kết quả thực của Lê Văn Tố và cộng tác viên (2002) khi đánh giá nghiệm này hoàn toàn không mâu thuẫn với công hiệu quả tác động của nhiệt độ thấp đến quá trình bố của tác Freitas và cộng tác viên (2013) khi nghiên sinh lý và sinh hóa trên quả thanh long ruột trắng cứu ảnh hưởng của nhiệt độ thấp kết hợp bao gói theo thời gian bảo quản và đã cho thấy; thanh long đến chất lượng của thanh long ruột trắng trong quá ruột trắng được lưu trữ trong ở 50C duy trì độ cứng trình bảo quản. tốt hơn mẫu bảo quản ở 200C. Hình 7. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến Hình 5. Sự thay đổi độ cứng của vỏ quả thanh long sự biến thiên hàm lượng acid tổng số khi bảo quản ở các nhiệt độ khác nhau của thanh long trong thời gian bảo quản 3.6. Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến sự biến đổi hao hụt khối lượng của quả thanh long trong quá trình bảo quản sau thu hoạch Sự biến thiên hao hụt khối lượng của quả thanh long theo thời gian bảo quản được thể hiện ở hình 8. Hình 6. Sự thay đổi độ cứng thịt quả thanh long khi bảo quản ở các nhiệt độ khác nhau 3.5. Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến sự biến đổi hàm lượng acid tổng số quả thanh long trong quá trình bảo quản sau thu hoạch Kết quả ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến hàm lượng acid tổng số trong quá trình bảo quản được Hình 8. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hao hụt thể hiện ở hình 7 cho ta thấy: Hàm lượng acid tổng khối lượng của quả trong thời gian bảo quản 109
  5. Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(83)/2017 Kết quả thực nghiệm thu được từ hình 8 cho Số liệu thu được từ bảng 1 cho thấy: Mẫu bảo thấy: Tỷ lệ hao hụt khối lượng có xu hướng tăng dần quản ở nhiệt độ 3 ± 10C có tỷ lệ hư hỏng cao nhất theo thời gian bảo quản ở tất cả các mẫu. Tuy nhiên, vào ngày bảo quản thứ 12 với giá trị xác định được hao hụt khối lượng của các mẫu bảo quản ở nhiệt là 10,03%. Điều này có thể giải thích do hiện tượng độ (3 ± 10C; 5 ± 10C; 7 ± 10C; 9 ± 10C) thấp hơn tổn thương lạnh gây nên. Trong khi đó, mẫu ĐC mẫu ĐC. Điều này cho thấy; bảo quản ở nhiệt độ vào ngày bảo quản thứ 9 có tỷ lệ hư hỏng 8,04%; các thấp đã kìm hãm cường độ hô hấp và hạn chế được mẫu (5 ± 10C; 7 ± 10C; 9 ± 10C) có tỷ lệ hư hỏng lần sự bay hơi nước tự nhiên trên bề mặt của quả. Kết lượt (4,10%; 4,82% và 5,56%) vào các ngày kết thúc quả thực nghiệm này hoàn toàn phù hợp với công quá trình bảo quản tương ứng (24 ngày; 21 ngày và bố của Nguyễn Nhật Minh Phương và Hà Thành 18 ngày). Toàn (2006) khi khảo sát hao hụt khối lượng trên IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ quả thanh long ruột trắng. Kết quả thực nghiệm trên hình 6 khi xác định hao hụt khối lượng của quả vào 4.1. Kết luận ngày bảo quản thứ 9 cũng cho thấy: Mẫu ĐC có tỷ lệ - Thanh long ruột đỏ bảo quản ở nhiệt độ 3 ± 10C hao hụt cao nhất (5,40%), các mẫu bảo quản ở (3 ± đã xuất hiện tổn thương lạnh vào ngày bảo quản 10C; 5 ± 10C; 7 ± 10C; 9 ± 10C) có hao hụt thấp hơn thứ 12. tương ứng là 2,57 %; 0,98 %; 1,18 % và 2,02%. Tóm - Đã xác định được nhiệt độ thích hợp nhất với lại, mẫu bảo quản ở 5 ± 10C có khả năng hạn chế tốt mục đích kìm hãm sự biến đổi về sinh lý, sinh hóa nhất sự hao hụt khối lượng và kéo dài thời gian bảo đồng thời kéo dài thời hạn bảo quản thanh long ruột quản của quả thanh long ruột đỏ đến ngày bảo quản đỏ sau thu hoạch là 5 ± 10C. thứ 24. - Đã kéo dài được thời gian bảo quản thanh long 3.7. Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến tỷ ruột đỏ sau thu hoạch ở điều kiện (5 ± 10C; φkk= 85 - lệ hư hỏng của quả thanh long trong quá trình bảo 90%) lên đến 24 ngày so với chỉ 9 ngày khi bảo quản quản sau thu hoạch ở điều kiện môi trường (25 - 300C; φkk= 85 - 90%). Tỷ lệ hư hỏng thể hiện tính hiệu quả của các 4.2. Đề nghị phương án bảo quản. Tỷ lệ hư hỏng được theo dõi Áp dụng kết quả thu được để tiếp tục nghiên cứu trong quá trình bảo quản thanh long ruột đỏ sau thu và hoàn thiện quy trình bảo thanh long ruột đỏ sau hoạch được trình bày ở bảng 1. thu hoạch cho mục đích tiêu dùng và xuất khẩu. Bảng 1. Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến tỷ lệ hư hỏng của thanh long ruột đỏ TÀI LIỆU THAM KHẢO trong quá trình bảo quản sau thu hoạch Quách Đĩnh, Nguyễn Vân Tiếp, Nguyễn Văn Thoa, Mẫu bảo Thời gian bảo Tỷ lệ quả hư 1996. Bảo quản và chế biến rau quả. Nhà xuất bản quản quản (ngày) hỏng (%) Khoa học và kỹ thuật. Hà Nội. 12 10,03 Trần Thị Việt Hà, Nguyễn Hữu Đạt, Bùi Cách Tuyến, Lê Đình Đôn, 2006. Ảnh hưởng của biện pháp xử lý 3 ± 10C 15 11,04 nhiệt lên sự phát triển của nấm Fusarium lateritium 18 12,52 gây đốm quả thanh long. Tạp chí Bảo vệ thực vật, 24 4,10 1: 13-16. 27 5,94 Nguyễn Tiến Khương, 2011. Hoàn thiện công nghệ sản 5 ± 10C xuất nấm men đối kháng kết hợp với màng bao ăn 30 8,56 được để bảo quản quả thanh long. Luận văn thạc sỹ, 21 4,82 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên. 7 ± 10C 24 7,14 Nguyễn Nhật Minh Phương và Hà Thanh Toàn, 2006. 27 9,5 Khảo sát các điều kiện thích hợp cho việc tồn trữ quả thanh long. Tạp chí khoa học, Đại học Cần Thơ, 18 5,56 5: 131-140. 9 ± 10C 21 7,82 Nguyễn Văn Toản, 2011. Điều tiết quá trình sinh tổng 24 11,08 hợp etylen nhằm kéo dài thời gian chín sau thu 6 7,48 hoạch của quả chuối tiêu. Luận án tiến sĩ kỹ thuật, Đà Nẵng. 9 8,04 ĐC Tiêu chuẩn Quốc gia, 1988. TCVN 4589-1988. Phương 12 9,21 pháp xác định acid tổng số. 110

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản