intTypePromotion=1

Ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn đối với con người và định hướng cân bằng sức khỏe cho học sinh trung học phổ thông

Chia sẻ: ĐInh ĐInh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:13

0
20
lượt xem
4
download

Ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn đối với con người và định hướng cân bằng sức khỏe cho học sinh trung học phổ thông

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam, âm thanh - tiếng ồn đã vượt mức cho phép và trở thành mối lo ngại cho sức khỏe và cuộc sống của con người. Thế nhưng, người dân vẫn còn thờ ơ đến việc tìm hướng giảm thiểu ô nhiễm tiếng ồn và vẫn tiếp tục sống chung với nó. Điều đó sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng không thể lường trước được. Với đề tài này, tác giả mong muốn mang lại cho mọi người thông tin về ô nhiễm tiếng ồn hiện nay và tác được hại của nó đối với sức khỏe con người, để mọi người có thể nhìn nhận rõ hơn vấn đề và tìm ra hướng giải quyết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn đối với con người và định hướng cân bằng sức khỏe cho học sinh trung học phổ thông

  1. Năm học 2008 – 2009 ẢNH HƯỞNG CỦA Ô NHIỄM TIẾNG ỒN ĐỐI VỚI CON NGƯỜI VÀ ĐỊNH HƯỚNG CÂN BẰNG SỨC KHỎE CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Trần Ánh Nhật Hưởng Sinh viên năm 3, Khoa Địa lý GVHD:ThS. Bùi Vũ Thanh Nhật 1. Đặt vấn đề Với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam, âm thanh - tiếng ồn đã vượt mức cho phép và trở thành mối lo ngại cho sức khỏe và cuộc sống của con người. Thế nhưng, người dân vẫn còn thờ ơ đến việc tìm hướng giảm thiểu ô nhiễm tiếng ồn và vẫn tiếp tục sống chung với nó. Điều đó sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng không thể lường trước được. Với đề tài này, tôi mong muốn mang lại cho mọi người thông tin về ô nhiễm tiếng ồn hiện nay và tác được hại của nó đối với sức khỏe con người, để mọi người có thể nhìn nhận rõ hơn vấn đề và tìm ra hướng giải quyết. Bên cạnh đó, tôi tiến hành nghiên cứu khả năng nhận thức về ô nhiễm tiếng ồn và hướng giải quyết của đối tượng học sinh trung học phổ thông, để từ đó đưa ra những định hướng cân bằng sức khỏe cho học sinh. Hi vọng với đề tài này, mọi người sẽ nhìn nhận sâu hơn về vấn đề ô nhiễm tiếng ồn, và tự tìm hướng giải quyết cho bản thân nhằm cân bằng sức khỏe, đảm bảo công việc và phù hợp với môi trường xã hội hiện nay. 2. Ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn đối với con người 2.1. Khái niệm cơ bản về âm thanh và tiếng ồn Âm thanh là dao động cơ học, được dao động dưới hình thức sóng trong môi trường đàn hồi và được thính giác của con người tiếp thu. Trong không khí, tốc độ âm thanh là 343 m/s, còn trong nước là 1.450 m/s. Tần số của âm thanh được đo bằng Hz, là số dao động trong 1 giây. Sóng âm là sóng cơ học truyền trong các môi trường khí, lỏng hoặc rắn. Tai người có thể cảm nhận được sóng âm từ 16 đến 20.000 Hz và không thể nghe 184
  2. Kỷ yếu Hội nghị sinh viên NCKH được dưới 16 Hz (hạ âm) và trên 20.000 Hz (siêu âm). Mức nghe chuẩn nhất là từ 1.000 đến 5.000 Hz. Cường độ âm (kí hiệu L, đơn vị là W/m 2) là lượng năng lượng được sóng truyền âm truyền trong một đơn vị thời gian qua một đơn vị diện tích đặt vuông góc với phương truyền âm. Mức cường độ âm được tính theo công thức: I L= lg I0 I: Cường độ âm thanh tại điểm xét. I0: Cường độ âm chuẩn (ngưỡng nghe), I0 = 10-12 W/m2 Đơn vị đo của âm thanh là Ben (kí hiệu B), nhưng thường dùng đêxiben (kí hiệu dB): là thang đo logarit, còn gọi là mức cường độ âm, gọi tắt là mức âm. 1dB = 10 -1 B Tiếng ồn là tập hợp những âm thanh có cường độ và tần suất khác nhau, sắp xếp không có trật tự, gây cảm giác khó chịu cho người nghe, ảnh hưởng đến quá trình làm việc và nghỉ ngơi của con người. Có thể hiểu tiếng ồn là là những âm thanh phát ra không đúng lúc, không đúng nơi, âm thanh phát ra với cường độ quá lớn, vượt mức chịu đựng của con người. Đây là một khái niệm tương đối, tùy thuộc vào cảm nhan về tiếng ồn khác nhau mà mức ảnh hưởng sẽ khác nhau. Theo Tổ chức Y tế Thế giới quy định, mức an toàn của cường độ âm thanh đối với tai người là 70 dB. 2.2. Nguyên nhân gây ô nhiễm tiếng ồn 2.2.1. Tiếng ồn giao thông Hiện nay phương tiện giao thông cơ giới rất phổ biến, mỗi xe khi lưu thông trên đường phố sẽ gây ra tiếng ồn do động cơ hoạt động, tiếng còi, ống xả, tiếng rít phanh và sự rung động của các bộ phận trên xe gây nên. Tiếng ồn giao thông hiện nay chủ yếu là do mật độ xe trên đường phố lớn, tập hợp nhiều xe sẽ gây ra hỗn hợp tiếng ồn với nhiều tần số khác nhau. Riêng ở nước ta, còn tồn tại nhiều phương tiện lạc hậu, kém chất lượng nên gây ra tiếng 185
  3. Năm học 2008 – 2009 ồn lớn. Tại thành phố Hồ Chí Minh, phương tiện giao thông đông đúc và ùn tắc vào giờ cao điểm là cực điểm của tiếng ồn giao thông. Bảng 1. Mức ồn do các loại phương tiện giao thông gây ra Loại phương tiện Mức ồn Loại phương tiện Mức ồn Xe nhỏ 77 dB Tiếng còi tàu 75 - 105 dB Xe khách nhỏ 79 dB Tiếng máy bay 85 - 90 dB Xe khách vừa 84 dB Xe quân sự 120 - 135 dB Xe thể thao 91 dB Xe chở rác 82 - 88 dB Trong giao thông hiện nay phải kể đến tiếng ồn do máy bay, tiếng ồn này không thường xuyên nhưng gây ra rất lớn cho khu vực dân cư gần sân bay, đặc biệt là lúc máy bay cất cánh và hạ cánh. Tại khu dân cư gần sân bay Tân Sơn Nhất, người dân cảm thấy rất khó chịu mỗi khi nghe tiếng rít của máy bay. Những kết cấu hạ tầng như nhà cửa, công trình tại đây cũng có dấu hiệu bị nứt nẻ do chấn động của âm thanh phát ra từ máy bay. 2.2.2. Tiếng ồn trong xây dựng Ngày nay, việc sử dụng các phương tiện máy móc trong xây dựng ngày càng phổ biến. Mức độ ảnh hưởng của các thiết bị này là không nhỏ. Gần những công trường đang xây dựng, tiếng ồn phát ra liên tục với tần suất lớn. Bảng 2. Mức ồn do các loại phương tiện xây dựng gây ra Loại phương tiện Mức ồn Loại phương tiện Mức ồn Máy trộn bê tông 75 dB Máy khoan 87 - 114 dB Máy ủi 93 dB Máy nghiền xi măng 100 dB Máy búa 1,5 tấn 80 dB Máy búa hơi 100 - 110 dB 2.2.3. Tiếng ồn trong công nghiệp và sản xuất Công nghiệp sử dụng rất nhiều máy móc, khi hoạt động sẽ gây ra tiếng ồn đáng kể. Khi sản xuất sản phẩm công nghiệp, các vật thể rắn va chạm với nhau, sự chuyển động hỗn loạn giữa các dòng khí và hơi làm cho âm thanh phát ra mạnh hơn, tạo nên tiếng ồn lớn hơn. 186
  4. Kỷ yếu Hội nghị sinh viên NCKH Bảng 3. Mức ồn do các loại phương tiện sản xuất công nghiệp gây ra Loại phương tiện Mức ồn Loại phương tiện Mức ồn Xưởng dệt 110 dB Xưởng rèn 100 - 120 dB Xưởng gò 113 - 114 dB Máy nghiền xi măng 100 dB Máy cưa 82 - 85 dB Máy đập 85 dB 2.2.4. Tiếng ồn trong sinh hoạt Trong sinh hoạt hằng ngày, con người sử dụng nhiều thiết bị thu phát âm thanh như tivi, karaoke, hay những nơi tập trung đông người cũng gây ra tiếng ồn đáng kể như đám cưới, hội chợ, họp chợ, sân trường giờ ra chơi. Những tiếng ồn kể trên thường được lan truyền trong không khí rồi đến tai người, bên cạnh đó còn có những tiếng ồn do sửa chữa nhà cửa. Tất cả những loại tiếng ồn này phụ thuộc chủ yếu vào ý thức của con người. Bảng 4. Mức ồn do con người gây ra Tiếng nói nhỏ 30 dB Tiếng khóc của trẻ 80 dB Tiếng nói chuyện bình thường 60 dB Tiếng hát to 110 dB Tiếng nói to 80 dB Tiếng cửa cọt kẹt 78 dB 2.3. Ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn đối với con người Cùng với xu thế phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, vấn đề tiếng ồn càng trở nên nan giải, tiếng ồn đã vượt quá mức cho phép, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và đời sống hằng ngày của con người. Theo thống kê năm 2003, trên thế giới có 57 triệu người bị điếc hoặc nghe kém mà nguyên nhân chính là do ô nhiễm tiếng ồn. Ở nước ta hiện nay có hàng trăm nghìn người bị điếc hay nghe kém, trong đó số người không phải lao động trong môi trường ồn chiếm tỷ lệ lớn. Bệnh điếc hay nghe kém do tiếng ồn, đặc biệt là tiếng ồn giao thông đang ngày càng gia tăng. Hiệu suất làm việc của con người bị sẽ bị suy giảm trong môi trường có tiếng ồn 50 dB, nhất là đối với lao động trí óc. Tiếng ồn từ 70 dB có thể làm tăng nhịp thở và nhịp đập của tim, tăng nhiệt độ cơ thể và tăng huyết áp, ảnh hưởng 187
  5. Năm học 2008 – 2009 đến hoạt động của dạ dày và giảm hứng thú lao động. Khi tiếng ồn từ 90 dB sẽ gây mất ngủ, mệt mỏi, tổn thương chức năng thính giác, mất thăng bằng cơ thể và suy nhược thần kinh. Tiếng ồn hại sức khoẻ trên cả 2 phương diện. Về sinh lý, nó gây mệt mỏi toàn thân, nhức đầu, choáng váng, ăn không ngon, gầy yếu. Về tâm lý, nó gây khó chịu, lo lắng, bực bội, dễ cáu gắt, sợ hãi, ám ảnh, mất tập trung, dễ nhầm lẫn, thiếu chính xác. Người tiếp xúc với tiếng ồn lâu dài thường mất ngủ (khoảng 70% - 80%), suy nhược (35%), đau đầu (40%); năng suất lao động của viên chức trong điều kiện yên tĩnh sẽ cao hơn khoảng 9% và sai sót trong việc ghi chép tài liệu ít hơn khoảng 29%. Ở các văn phòng có mức ồn 100 người ta phạm sai sót nhiều gấp 2 lần so với làm việc ở mức ồn 70 dB. Tiếng ồn còn có thể làm giảm sức đề kháng của cơ thể, tăng các bệnh thần kinh, tim mạch, tăng lượng catecholamin trong nước tiểu, tăng tỷ lệ mắc hội chứng dạ dày - tá tràng, rối loạn tiêu hoá. Tiếp xúc lâu dài với tiếng ồn sẽ bị ngễnh ngãng, dần dần dẫn đến điếc hoàn toàn. Thống kê về bệnh điếc nghề nghiệp của công nhân trong các ngành công nghiệp cho thấy: ngành đóng tàu và vận hành máy trên tàu biển có từ 10% - 19% người mắc bệnh; ngành khai thác than đá từ 16% - 18%; ngành sản xuất xi măng từ 5% - 10%; ngành dệt từ 8% - 12%; ngành bưu chính viễn thông khoảng 7,4%. 2.3.1. Ảnh hưởng của tiếng ồn đối với giấc ngủ Nhiều nghiên cứu chứng minh tiếng ồn từ 35dB trở lên đã đủ để gây ra rối loạn cho giấc ngủ bình thường. Tiếng động ban đêm tạo ra những cơn thức giấc bất thường, làm thay đổi chu kỳ các giai đoạn của giấc ngủ và gây khó khăn đi vào giấc ngủ, con người sẽ không có cảm giác ngủ ngon khi có nguồn ồn thường xuyên quấy nhiễu bên cạnh, lúc này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và năng suất công việc của ngày hôm sau, con người sẽ cảm thấy mệt mỏi, uể oải, không tỉnh táo để sẵn sàng cho công việc của ngày mới. Tiếng động trong khi ngủ cũng làm tăng huyết áp, nhịp tim, co mạch máu ngoại vi và các cử động của cơ thể như trằn trọc, trở mình, co chân duỗi tay. 188
  6. Kỷ yếu Hội nghị sinh viên NCKH Theo thống kê của ngành y tế cho thấy lượng thuốc an thần, thuốc ngủ được sử dụng tính trên đầu người ở khu vực gần sân bay và các đường giao thông lớn gấp 2 - 3 lần so với ở khu vực không bị ô nhiễm tiếng ồn. Một điểm đáng lưu ý là trẻ em dường như có một cơ chế bảo vệ với tiếng động khi ngủ ban đêm, nên các cháu vẫn ngủ ngon, ít bị thức giấc như người lớn. Tuy nhiên hệ thần kinh của trẻ vẫn dễ bị ảnh hưởng và phản ứng. 2.3.2. Ảnh hưởng của tiếng ồn đối với sức khỏe con người Ảnh hưởng của tiếng ồn lên thính giác đã được biết tới từ thuở xa xưa, khi người thợ rèn, thợ hầm mỏ hoặc người giật chuông nhà thờ làm việc lâu năm với nghề của mình. Thính giác của họ giảm dần, rồi đưa tới điếc hoàn toàn. Tiếp xúc với tiếng động đột ngột và liên tục có thể gây ra mất thính lực tạm thời, nhưng thường thì thính lực trở lại bình thường sau 16 - 18 giờ khi không còn tiếng động. Ảnh hưởng của tiếng động lên tai tùy thuộc ở cường độ của tiếng động và số lượng thời gian tiếp cận với chúng. Hậu quả có thể tạm thời hoặc vĩnh viễn. Nếu tiếp xúc nhiều với tiếng ồn sẽ tạo ra tâm lý rất nặng nề cho cơ thể con người, ảnh hưởng trực tiếp đến thính giác, gây ra bệnh lãng tai, điếc nghề nghiệp, gây ra chứng nhức đầu dai dẳng, rối loạn sinh lý, bệnh lý và suy nhược thần kinh, tim mạch, nội tiết. Lúc này con người thường mệt mỏi, dễ cáu kỉnh, giảm trí nhớ, run mi mắt và phản xạ xương khớp giảm. Tiếng ồn mạnh từ 120 dB trở lên có thể gây chói tai, đau tai, thậm chí thủng màng nhĩ. Tại Bắc Kinh, theo một nghiên cứu cho thấy hậu quả của tiếng ồn đối với hơn 1.000 công nhân dệt vải là sau 5 năm làm việc trong tiếng ồn, huyết áp của họ lên cao đáng kể. Nghiên cứu của TS. Wolfgang Babisch, Đức cho thấy liên tục nghe tiếng ồn giao thông ở mức độ 70 dB có thể tăng rủi ro bệnh nhồi máu cơ tim. 2.3.3. Ảnh hưởng của tiếng ồn đối với năng suất và hiệu quả làm việc Nếu làm việc trong môi trường tiếng ồn sẽ làm giảm một cách đáng kể khả năng tập trung của người lao động, độ chính xác của công việc sẽ giảm, sai sót 189
  7. Năm học 2008 – 2009 trong công việc và sản xuất cao, phát sinh hoặc làm tăng các tai nạn lao động. Thực tế năng suất lao động sẽ giảm từ 20 - 40%. 2.3.4. Ảnh hưởng của tiếng ồn đối với hành vi của con người Sống trong khu xóm ồn ào, nhiều tiếng động, con người trở nên bực bội, giận giữ, khó chịu, hay gây gổ, ít giao thiệp với lối xóm. Tiếng ồn dường như cũng khiến con người giảm đặc tính giúp đỡ và tăng sự hung hổ, gây hấn. Một quan sát cho thấy, khi đang định giúp nhặt một vật rơi cho người khác mà có tiếng ồn dội tới, thì động tác giúp đỡ này ngưng lại. Mặc dù chưa có bằng chứng xác đáng nhưng nhiều nhận xét, nghiên cứu cho thấy tiếng ồn ảnh hưởng tới sự học hỏi của con em. Theo Sheldom Cohen, Đại học Oregon, trẻ em sống trong các căn phòng ở tầng thấp trong một cao ốc gần trục lộ giao thông có khó khăn tập đọc, làm toán, phân biệt chữ có âm tương tự, so với các em sống ở tầng trên cao, xa tiếng ồn. Nhiều nghiên cứu cho hay, tiếng ồn có thể ảnh hưởng tới bào thai còn trong bụng mẹ và thai nhi đáp ứng bằng tăng nhịp tim và chuyển động thân mình. Một nghiên cứu khác cho hay bà mẹ sống gần phi trường có tỷ lệ sinh non cao hơn. 2.3.5. Ảnh hưởng của tiếng ồn đối với việc trao đổi thông tin Thông tin thường bị tiếng ồn gây nhiễu, che lấp, làm cho việc tiếp nhận thông tin sẽ khó khăn hơn, độ chính xác của thông tin nhận được sẽ không cao, ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt của con người. Do đó trong trao đổi thông tin cần phải quy định giới hạn tiếng ồn cho phép để tránh các ảnh hưởng do tiếng ồn gây ra. 3. Định hướng cân bằng sức khỏe cho học sinh trung học phổ thông 3.1. Đánh giá sự hiểu biết của học sinh trung học phổ thông về ô nhiễm tiếng ồn Để đánh giá sự hiểu biết của học sinh trung học phổ thông về ô nhiễm tiếng ồn, tôi tiến hành khảo sát học sinh tại một số trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, chủ yếu là khu vực nội thị. 190
  8. Kỷ yếu Hội nghị sinh viên NCKH Phần lớn học sinh đều biết hoặc từng nghe nói đến âm thanh vượt quá mức cho phép (93%), nhưng trong số đó khi được hỏi thêm về khái niệm ô nhiễm tiếng ồn thì phần lớn các em đều còn mơ hồ, chỉ có một số ít biết rõ khái niệm này thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Điều này khẳng định học sinh biết được sự vượt mức cho phép của âm thanh chỉ thông qua cảm nhận cá nhân, chưa được biết kỹ về khái niệm ô nhiễm tiếng ồn. Trong khi đó, từ phía nhà trường và gia đình chưa có hướng dẫn, giúp đỡ học sinh hiểu biết về vấn đề này. Học sinh khu vực nội thị có nhà nằm chủ yếu ở trung tâm thành phố, chính vì thế mà hầu hết các em đều trả lời mỗi ngày tiếng ồn từ xe cộ làm các em cảm thấy khó chịu nhất. Ngoài ra, các âm thanh khác mà các em cho là tiếng ồn là tiếng xì xầm trong khu vực chợ, tiếng cãi nhau, tiếng nhạc mở quá lớn của các cửa hàng thời trang. Khi được hỏi những âm thanh nào bạn cho là ô nhiễm tiếng ồn, đa số học sinh trả lời được như tiếng xe cộ, tiếng máy nổ (80%), một số ít cho rằng các loại nhạc như rock, dance là nguyên nhân của ô nhiễm tiếng ồn. Khi được hỏi về tiếng nói chuyện có phải là một dạng tiếng ồn thì đa số học sinh cho là không phải vì đây là âm thanh phát ra bình thường (74%), số còn lại (14%) cho rằng nói chuyện được xếp vào tiếng ồn khi nó cắt ngang một hoạt động yên tĩnh khác (học bài, nghỉ ngơi), một số ít (12%) cho rằng tùy vào khi nói chuyện phát ra âm thanh lớn hay nhỏ thì mới có thể biết là hình thành tiếng ồn hay không. Như vậy, có thể thấy rằng học sinh chỉ cho rằng âm thanh gây ô nhiễm là những âm thanh phát ra mạnh, cường độ lớn; còn những âm thành nhỏ khác thì không. Điều đó chứng tỏ sự đánh giá của học sinh về tiếng ồn còn hạn chế, bởi ngay cả những âm thanh bình thường như tiếng nói chuyện đã đạt 60 dB, và khi nói chuyện to tiếng thì con số đã là 80 dB, có nghĩa rằng đã vượt mức an toàn đối với tai người. Đối với âm thanh phát ra từ môi trường xung quanh, đa số học sinh cho rằng có cảm nhận bình thường. Phần lớn học sinh khẳng định rằng, chỉ khi nào gặp phải tiếng ồn quá lớn thì mới cảm thấy khó chịu. Một số ít học sinh (5%) còn 191
  9. Năm học 2008 – 2009 cảm thấy đau tai và hồi hộp (tim đập nhanh) khi gặp phải tiếng ồn lớn, đặc biệt là tiếng xe rú ga, tiếng nhạc mở lớn, số còn lại chỉ cảm thấy khó chịu trong người. Cách để học sinh làm giảm đi sự khó chịu từ tiếng ồn cũng đa dạng, trong đó đa số chọn các phương án như đóng cửa phòng riêng (32%), đến rạp chiếu phim (22%), đeo tai phone nghe nhạc để cách biệt với âm thanh bên ngoài (14%), đi dạo để thư giãn (21%), và vào các nơi yên tĩnh có cây xanh như công viên (11%). Có thể nhận biết được rằng học sinh chọn cách giải quyết trên là dựa vào tính cách và sở thích cá nhân, nhưng điều đáng lo ngại là trong các cách giải quyết ở trên thì những cách được đa số học sinh chọn lại là những cách làm tăng thêm tiếng ồn đối với tai hoặc tăng thêm hậu quả của ô nhiễm tiếng ồn. Vì khi đến rạp hát hay rạp chiếu phim thì cường độ tiếng ồn đo được có thể lên tới 110 dB, điều này càng ảnh hưởng trầm trọng đến học sinh. Một suy nghĩ sai lầm hơn là sử dụng tai phone nghe nhạc, bởi khi đặt âm lượng của máy nghe nhạc ở cường độ tối đa nghĩa là học đã “hấp thụ” âm thanh một cách “trọn vẹn” qua tai phone ở cường độ 120 dB và nó trở thành “sát thủ” đối với đôi tai của học sinh. Thật nghiêm trọng khi theo một nghiên cứu mới đây cho thấy, chịu đựng cường độ âm thanh trên 100 dB trong vòng 15 phút đã gây hại đến sức khỏe con người, mà học sinh thì có bao giờ đi xem phim, nghe nhạc trong vòng 15 phút? Hay là thời gian phải lâu hơn? Cách chọn có khả quan hơn là đi dạo để thư giãn, điều này có thể tạo ra tâm lý thoải mái cho học sinh, nhưng khi đi dạo vẫn có thể bị các tiếng ồn khác phá tan đi sự thư giãn bởi vì trong môi trường thành phố với mức sống nhộn nhịp thì không thể thiếu vắng tiếng ồn. Cách tốt nhất nhưng lại được lựa chọn ít nhất là chọn các công viên cây xanh yên tĩnh làm nơi thư giãn. Có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau như nhà xa công viên, không thích nơi vắng vẻ. Nhưng phải khẳng định rằng đây là môi trường tốt nhất để chống lại tiếng ồn bởi không chỉ không gian yên tĩnh của khung viên công viên, mà cây xanh còn có khả năng hấp thụ tiếng ồn hữu hiệu. 192
  10. Kỷ yếu Hội nghị sinh viên NCKH Qua khảo sát, có thể thấy rằng khả năng nhận thức của học sinh trung học phổ thông về ô nhiễm tiếng ồn còn hạn chế, chính vì thế cần phải đưa ra một định hướng để giúp các em có cách hiểu sâu hơn về vấn đề này, từ đó đưa ra định hướng cân bằng sức khỏe cho bản thân. 3.2. Định hướng cân bằng sức khỏe cho học sinh trung học phổ thông Để hạn chế tác hại của tiếng ồn đối với con người, cần tuyên truyền sâu rộng cho mọi người cùng biết. Thông qua phương pháp thông tin giáo dục con người, dùng thông tin đại chúng để mọi người biết được các tác hại của tiếng ồn và phải có trách nhiệm trong vấn đề tiếng ồn do mình gây nên, tăng thêm ý thức tự giác, ý thức tôn trọng người khác, đảm bảo trật tự yên tĩnh mọi lúc mọi nơi nhằm tăng hiệu quả công việc, đảm bảo sức khỏe và chất lượng môi trường sống. Việc đảm bảo sức khỏe, tránh tác hại của ô nhiễm tiếng ồn cho học sinh trung học phổ thông - thế hệ tương lai của đất nước, là công việc cần thiết. Muốn học sinh tự định hướng cân bằng sức khỏe cho bản thân, cần cho học sinh nhận thức đầy đủ về khái niệm và tác hại của ô nhiễm tiếng ồn đối với con người. Đây không phải là trách nhiệm của một cá nhân, tổ chức mà phải là sự kết hợp của cả cộng đồng. Giáo dục trên cơ sở nhà trường phổ thông kết hợp với gia đình và toàn xã hội. Nhà trường cung cấp tri thức khoa học một cách hệ thống cho học sinh, qua đó hình thành cho học sinh thế giới quan khoa học về tiếng ồn và tác hại của nó. Qua tri thức tiếp nhận được tại trường học, học sinh có thể tự nhận thức được vấn đề, qua đó tự định hướng cho bản thân. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, nội dung trong sách giáo khoa ít quan tâm đến vấn đề này. Có thể xây dựng trong chương trình dạy học thêm một số tiết học hoặc sinh hoạt ngoại khóa về vấn đề này để học học có thể nắm bắt kịp thời. Gia đình cần hiểu và động viên con cái thực hiện bảo vệ sức khỏe, tránh tiếng ồn. Điều này còn tùy thuộc vào tri thức, sự hiểu biết của các bậc cha mẹ học sinh, nên không thể bắt buộc gia đình phải giáo dục con cái nhưng cần có sự 193
  11. Năm học 2008 – 2009 kết hợp từ phía nhà trường với gia đình và xã hội để mức độ giáo dục được tốt hơn. Tuy nhiên, có thể thấy một điều rằng ngay cả trong cộng đồng xã hội cũng chưa được hiểu biết về vấn đề ô nhiễm tiếng ồn một cách cặn kẽ, điều này gây ra những khó khăn khi thực hiện các định hướng bảo vệ sức khỏe. Những định hướng dưới đây cũng nằm trên cơ sở lý thuyết, việc áp dụng vào thực tế còn phải tùy thuộc vào trình độ hiểu biết, mối quan tâm của xã hội đối với sức khỏe con người nói chung và thế hệ trẻ nói riêng. Trước hết, nên tránh những khu vực có tiếng ồn cao. Trong môi trường thành phố, việc tránh tiếng ồn giao thông hầu như là không thể, nên hạn chế tiếp xúc với tiếng ồn giao thông vào giờ cao điểm. Có thể hạn chế đến các nơi ồn ào như chợ, rạp chiếu phim, ca nhạc, vũ trường. Trong các giờ ra chơi ở trường, tiếng ồn là một điển hình cho tính cách hiếu động của học sinh. Cần giáo dục cho học sinh biết được ảnh hưởng của nó đến sức khỏe, từ đó định hướng cho học sinh hạn chế la hét, vui chơi quá mức trong giờ chơi nhằm đảm bảo sức khỏe cho chính bản thân. Khi bị tiếng ồn làm cho cơ thể mệt mỏi, khó chịu, học sinh nên tìm cách thư giãn cho tinh thần thoải mái. Một cách khá tốt đối với học sinh là thường xuyên đến các công viên cây xanh yên tĩnh. Vì riêng đối với cây xanh, sóng âm khi truyền qua sẽ bị phản xạ đi, phản xạ lại nhiều lần làm giảm năng lượng âm một cách đáng kể. Các dải cây xanh rộng từ 10 - 15 m có thể làm giảm tiếng ồn từ 15 - 18 dB. Đứng bên dưới những tán cây xanh còn có thể giảm bớt được lượng bụi trong không khí vì cây xanh đã hấp thụ chúng. Khả năng giảm tiếng ồn của cây xanh không những phụ thuộc vào loại cây mà còn phụ thuộc vào cách bố trí cây, phối hợp các cây có tán, có lùm, các khóm cây, bụi cây. Các cơ quan chức năng, đơn vị có thẩm quyền cần nghiên cứu vấn đề này để bố trí cây xanh trong khuôn viên công viên hợp lý, mang lại lợi ích cho sức khỏe con người. 194
  12. Kỷ yếu Hội nghị sinh viên NCKH Một cách khác có thể phù hợp với lứa tuổi học sinh hơn, đó là sử dụng xe đạp. Đi xe đạp sẽ không ô nhiễm môi trường, ô nhiễm tiếng ồn và an toàn, nếu có gây tai nạn thì mức độ cũng không trầm trọng. Đi xe đạp vừa thanh lịch vừa đảm bảo sức khỏe, phù hợp với sự năng động của học sinh. Học sinh sử dụng xe đạp cũng là một phương pháp tuyên truyền ngược lại cho xã hội về hành động chống lại ô nhiễm tiếng ồn. Nếu trong môi trường trường học có thể khuyến khích học sinh thực hiện tốt việc tuyên truyền này thì sẽ giảm đi một lượng tiếng ồn đáng kể gây ra từ giao thông. Ngoài những biện pháp nhằm định hướng cho học sinh cân bằng sức khỏe, thì việc giáo dục ô nhiễm tiếng ồn và hậu quả của nó và việc làm cần thiết và cần đươc tuyên truyền sâu rộng trong học sinh, để các em có tri thức để nhận biết và tự đưa ra hướng cân bằng sức khỏe cho bản thân. 4. Kết luận Tiếng ồn và hậu quả của nó đang đi đôi với nhịp độ phát triển của xã hội hiện đại. Cần đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền rộng rãi trong toàn xã hội để mỗi người nâng cao nhận thức, cùng nhau bảo vệ môi trường sống bằng những hành động thiết thực hằng ngày. Vì sự phát triển bền vững, vì tương lai đất nước, tương lai của thế hệ trẻ, chúng ta cùng nhau hành động để đẩy lùi ô nhiễm tiếng ồn. Một số giải pháp có khả năng thực hiện được đó là thiết kế cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong việc xây dựng trường học. Khi xây dựng trường học, các cơ quan chức năng cần lưu ý đến vấn đề chọn vị trí xây dựng thích hợp, đảm bảo các yếu tố cơ bản tránh những tiếng ồn (cách xa chợ, khu vui chơi giải trí, …). Trong môi trường trường học, cây xanh có ảnh hưởng không nhỏ đến học tập, tâm lý của học sinh. Cây xanh là nơi các em vui chơi, thư giãn sau những tiết học, và cây xanh giúp hạn chế ô nhiễm tiếng ồn. Việc trồng cây xanh trong trường học sẽ rất có ích đối với học sinh. Một giải pháp cần thiết trong việc tuyên truyền để hạn chế ô nhiễm tiếng ồn do con người đó là nghiên cứu về tiếng ồn trong sinh hoạt gia đình và trong quá 195
  13. Năm học 2008 – 2009 trình dạy – học. Thông qua việc tuyên truyền giúp bố mẹ, thầy cô hiểu được tác hại của tiếng ồn đối với học sinh khi bị la mắng, to tiếng. Từ đây có thể định hướng về cách ứng xử như thế nào cho hợp lý mà vẫn đảm bảo việc giáo dục học sinh được tốt. Đây là định hướng để có sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường. 196
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2