Ảnh hưởng của thức ăn và khẩu phần cho ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá dìa giống (Siganus Guttatus, Bloch 1787)

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
15
lượt xem
0
download

Ảnh hưởng của thức ăn và khẩu phần cho ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá dìa giống (Siganus Guttatus, Bloch 1787)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hai thí nghiệm được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của thức ăn và khẩu phần cho ăn đến sinh trưởng của cá dìa giống. Trong thí nghiệm 1, cá dìa có khối lượng trung bình 0,22g/con được bố trí ngẫu nhiên vào 15 bể (30 L/bể), mật độ 4 con/L. Cá được cho ăn 5 loại thức ăn (Lansy + BS; NRD 3/5; Flake đỏ; Tảo khô và Lansy). Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ảnh hưởng của thức ăn và khẩu phần cho ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá dìa giống (Siganus Guttatus, Bloch 1787)

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 4/2014<br /> <br /> THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC<br /> <br /> ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN VÀ KHẨU PHẦN CHO ĂN<br /> ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ DÌA GIỐNG<br /> (Siganus guttatus, Bloch 1787)<br /> EFFECTS OF DIFFERENT DIETS AND FEEDING RATES ON GROWTH<br /> AND SURVIVAL OF JUVENILE GOLDEN RABBIT FISH (Siganus guttatus, Bloch 1787)<br /> Phan Văn Út1, Nguyễn Đắc Kiên2, Trần Vỹ Hích3<br /> TÓM TẮT<br /> Hai thí nghiệm được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của thức ăn và khẩu phần cho ăn đến sinh trưởng của cá<br /> dìa giống. Trong thí nghiệm 1, cá dìa có khối lượng trung bình 0,22g/con được bố trí ngẫu nhiên vào 15 bể (30 L/bể), mật<br /> độ 4 con/L. Cá được cho ăn 5 loại thức ăn (Lansy + BS; NRD 3/5; Flake đỏ; Tảo khô và Lansy). Mỗi nghiệm thức được<br /> lặp lại 3 lần. Kết quả cho thấy cá dìa đạt khối lượng và chiều dài cao nhất tại nghiệm thức sử dụng thức ăn NRD 3/5 và có<br /> sai khác ý nghĩa với sinh trưởng của cá ở các nghiệm thức còn lại (P < 0,05). Không có sai khác về khối lượng, chiều dài<br /> và tỷ lệ sống giữa cá dìa khi cho ăn thức ăn Lansy và Lansy + BS. Trong thí nghiệm 2, cá dìa được cho ăn thức ăn NRD<br /> 3/5 với 5 khẩu phần ăn khác nhau (6, 8, 10, 12 và 14% khối lượng thân). Kết quả cho thấy cá dìa đạt sinh trưởng tốt nhất<br /> ở nghiệm thức cho ăn khẩu phần 14% khối lượng thân. Không có sự sai khác ý nghĩa về khối lượng cuối của cá dìa cho ăn<br /> khẩu phần 6, 8, 10 và 12% khối lượng thân. Do đó sử dụng thức ăn NRD 3/5 với khẩu phần 14 % khối lượng thân là thích<br /> hợp cho sinh trưởng của cá dìa giai đoạn giống.<br /> Từ khóa: Cá dìa, khẩu phần thức ăn, Siganus guttatus<br /> <br /> ABSTRACT<br /> Two experiments were conducted to evaluate the effects of different diets and feeding rates on growth of juvenile<br /> golden rabbit fish. In the first experiment, the fish (0,22 g/individual) was randomly distributed to fifteen tanks<br /> (30 L/tank) with stocking rate was 4 fish per tank. Fish were fed 5 different diets including Lansy + BS; NRD 3/5; Red<br /> Flake; Dried algae and Lansy with triplicates per each treatment. Results pointed out that the golden rabbit fish fed NRD<br /> 3/5 diet showed the highest weight and length and had significant differences with that of fish fed other diets (P < 0,05).<br /> No significant differences on final weight and length of fish fed Lansy diet and Lansy + BS. In the second one, fish was fed<br /> NRD 3/5 diet with five feeding rates (6, 8, 10, 12 and 14% wet body weight). Results indicated that the golden rabbit fish<br /> fed 14% of feeding rate showed the highest growth rate and had significant difference with other fish fed lower feeding<br /> rates (P < 0,05). The increasing of feeding rate from 6 to 12% did not significantly effect on the final weight of juvenile fish<br /> (P > 0,05). Thus, the using of NRD 3/5 diet with feeding rate at 14 % wet body weight are suitable for the growth of juvenile<br /> golden rabbit fish.<br /> Keywords: Golden rabbit fish, feeding rates, siganus guttatus<br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Cá dìa (Siganus guttatus) là đối tượng cá biển,<br /> phân bố nhiều ở vùng Đông Ấn Độ Dương và Tây<br /> Thái Bình Dương (Woodland, 1990). Đây là loài có<br /> tiềm năng lớn trong nuôi trồng thủy sản nhờ khả<br /> năng sinh sản tốt trong điều kiện nuôi nhốt, nằm ở<br /> <br /> mức thấp trong chuỗi thức ăn và dễ dàng được thị<br /> trường chấp nhận (Zhao và ctv, 2013). Cá dìa đã<br /> được sinh sản nhân tạo thành công ở Trung Quốc,<br /> tuy nhiên những thông tin sâu hơn về ương giống<br /> và nuôi thương phẩm vẫn còn nhiều hạn chế (Zhao<br /> và ctv, 2013).<br /> <br /> ThS. Phan Văn Út: Viện Nuôi trồng thủy sản - Trường Đại học Nha Trang<br /> ThS. Nguyễn Đắc Kiên: Viện Công nghệ sinh học và Môi trường - Trường Đại học Nha Trang<br /> 3<br /> TS. Trần Vỹ Hích: Trung tâm Nghiên cứu sản xuất giống và Dịch bệnh thủy sản - Trường Đại học Nha Trang<br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 71<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 4/2014<br /> <br /> Trong sản xuất giống cá biển, việc xác định loại<br /> thức ăn phù hợp với từng giai đoạn nuôi có ý nghĩa<br /> quan trọng vì đây là giai đoạn cá dần hoàn thiện hệ<br /> thống tiêu hóa. Trong tự nhiên, cá dìa là đối tượng ăn<br /> thực vật và thường trú ngụ ven bờ trong các vịnh hay<br /> đầm phá (Woodland, 1997). Trong giai đoạn ấu trùng<br /> thì cá dìa ăn động vật phù du, trong khi giai đoạn<br /> giống, thức ăn chủ yếu là các thực vật biển, ngay<br /> cả tảo cũng không tìm thấy trong đường ruột của<br /> chúng (Suyehiro, 1942; Gundermann và ctv, 1983).<br /> Giai đoạn trưởng thành tính ăn của chúng vẫn không<br /> khác giai đoạn giống, nhưng có xu hướng ăn những<br /> loại thức ăn có kích cỡ lớn hơn như các loài rong<br /> biển, cỏ biển. Trong điều kiện nuôi nhốt, chúng còn<br /> có thể sử dụng được các loài thức ăn công nghiệp<br /> và chế biến nhưng hiệu quả kém hơn hẳn những<br /> loại thức ăn có nguồn gốc từ các loại thực vật biển.<br /> Ismael (1976), chỉ ra rằng Siganus virgatus sẽ tăng<br /> trưởng tốt hơn khi ăn Sargassum sp thay vì các loại<br /> thức ăn bột viên. Tuy nhiên những thông tin về loại<br /> thức ăn phù hợp cho từng giai đoạn nuôi của cá dìa<br /> để từng bước hoàn thiện quy trình sản xuất giống<br /> nhân tạo thì vẫn còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó<br /> việc xác định khẩu phần cho ăn thích hợp để đạt tăng<br /> trưởng tối ưu và hạn chế thấp nhất thức ăn thừa và ô<br /> nhiễm môi trường nuôi là yếu tố quan trọng trong sản<br /> xuất giống cá biển (Sun và ctv., 2006). Theo Sun và<br /> ctv (2006), tăng khẩu phần ăn từ 3 lên 9 % khối lượng<br /> cơ thể trên ngày có thể giúp cải thiện tăng trưởng,<br /> tuy nhiên cũng làm tăng mức năng lượng trong trong<br /> thức ăn thải ra ngoài môi trường nuôi. Mục đích của<br /> <br /> thí nghiệm này nhằm xác định được loại thức ăn và<br /> khẩu phần ăn phù hợp cho cá dìa giai đoạn 2 - 5cm<br /> trên cơ sở thử nghiệm các loại thức ăn thường được<br /> sử dụng trong ương các loài cá biển khác.<br /> II. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> 1. Đối tượng nghiên cứu<br /> Đối tượng nghiên cứu là cá dìa (Siganus guttatus)<br /> giai đoạn giống (2cm). Cá giống được thu từ kết<br /> quả sản xuất giống nhân tạo và được nuôi trong<br /> bể composite 2 tuần trước khi bắt đầu thí nghiệm.<br /> Sau đó cá dìa có khối lượng trung bình 0,22 g/con<br /> được bố trí ngẫu nhiên vào trong các bể composite<br /> (60 L/bể) với mật độ 4 con/L.<br /> 2. Bố trí thí nghiệm<br /> Trong thí nghiệm 1, cá dìa được cho ăn 5 loại<br /> thức ăn khác nhau gồm: Lansy + BS: Thức ăn<br /> Lansy có bổ sung các vitamin và men tiêu hóa; NRD<br /> 3/5 (INVE, Thái Lan); Flake đỏ; Tảo khô Spirulina và<br /> Lansy. Thành phần dinh dưỡng của thức ăn được<br /> trình bày trong bảng 1. Các nghiệm thức được bố<br /> trí ngẫu nhiên hoàn toàn, mỗi nghiệm thức được<br /> lặp lại 3 lần. Cá được cho ăn bằng tay, khẩu phần<br /> ăn theo nhu cầu, cho ăn 4 lần/ngày vào lúc 6h; 10h;<br /> 14h và 18h<br /> Thí nghiệm 2, Dựa trên kết quả của thí nghiệm 1,<br /> thức ăn NRD 3/5 được sử dụng cho thí nghiệm 2.<br /> Cá được cho ăn 5 khẩu phần khác nhau: 6; 8; 10; 12<br /> và 14 % khối lượng thân.<br /> <br /> Bảng 1. Thành phần dinh dưỡng của thức ăn<br /> Thức ăn<br /> <br /> Protein (%)<br /> <br /> Lipid (%)<br /> <br /> Tro (%)<br /> <br /> Độ ẩm (%)<br /> <br /> Chất xơ (%)<br /> <br /> Kích thước (µm)<br /> <br /> Lansy<br /> <br /> > 48<br /> <br /> NRD 3/5<br /> <br /> > 55<br /> <br /> >9<br /> <br /> < 13<br /> <br /> 9<br /> <br /> < 14,5<br /> <br /> 5 mg/L, NH3< 1 mg/L, NO2 < 1.5 mg/L. Hàng<br /> ngày tiến hành thu thức ăn thừa và vệ sinh bể nuôi,<br /> thay nước 100%.<br /> 4. Phương pháp thu mẫu và xử lý số liệu<br /> Trước khi kết thúc thí nghiệm tiến hành cân khối<br /> lượng và đo chiều dài của cá. Trước khi cân đo,<br /> cá thí nghiệm được ngừng cho ăn trong 24 h và<br /> gây mê bằng Etylen Glycon Mono-Phenylether với<br /> <br /> 72 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> nồng độ 300 ppm Sau đó tiến hành cân khối lượng<br /> của cá bằng cân điện tử với độ chính xác 0,01g.<br /> Chiều dài và chiều cao của cá được đo bằng giấy kẻ<br /> ô ly có độ chính xác 1mm. Số lượng mẫu 30 con/bể.<br /> Các chỉ tiêu đánh giá:<br /> ●<br /> <br /> Tỷ lệ sống:<br /> <br /> Trong đó: Nt: Số cá tại thời điểm đo<br /> N0: Số cá thả ban đầu<br /> ●<br /> <br /> Tốc độ tăng trưởng đặc trưng (SGR) về khối<br /> <br /> lượng của cá được xác định theo công thức:<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> SGRW (%/ngày) =<br /> <br /> Số 4/2014<br /> SPSS Version 17.0. Sự sai khác có ý nghĩa được<br /> xem xét khi P < 0,05.<br /> <br /> x 100%<br /> <br /> Trong đó: W1, W2: chiều dài và khối lượng cá<br /> tương ứng ở thời điểm t1, t2.<br /> ● Hệ số phân đàn về chiều dài<br /> <br /> III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN<br /> <br /> 1. Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh<br /> trưởng, hệ số FCR và tỷ lệ sống của cá dìa<br /> (CVSL –Coefficient of Variantion: %):<br /> Sau 28 ngày thí nghiệm, kết quả sinh trưởng<br /> CVSL (%) =<br /> x 100%<br /> và tỷ lệ sống của cá dìa cho ăn các loại thức ăn<br /> khác nhau được trình bày trong bảng 2. Cá dìa đạt<br /> Trong đó: CV: hệ số phân tán dữ liệu, S: độ lệch<br /> khối lượng cuối, SGR và chiều dài cuối cao nhất<br /> chuẩn của khối lượng và chiều dài kinh tế, : trung<br /> tại nghiệm thức sử dụng thức ăn NRD 3/5 và có<br /> bình của khối lượng và chiều dài toàn thân.<br /> sai khác ý nghĩa với sinh trưởng của cá dìa ở các<br /> ● Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) = khối lượng<br /> nghiệm thức còn lại (P < 0,05). Không có sự sai<br /> thức ăn cho ăn (g)/ khối lượng cá gia tăng (g)<br /> khác ý nghĩa về khối lượng cuối, SGR và chiều dài<br /> Số liệu được trình bày ở dạng trung bình ± độ<br /> cuối của cá dìa khi sử dụng thức ăn Lansy + BS;<br /> lệch chuẩn (SD). Tất cả các số liệu được phân tích<br /> Flake đỏ và Lansy (P > 0,05). Sinh trưởng của cá<br /> bằng phương pháp ANOVA một nhân tố. Sự sai khác<br /> dìa đạt thấp nhất ở nghiệm thức cho ăn thức ăn tảo<br /> giữa các nghiệm thức được so sánh theo phương<br /> khô và có sai khác ý nghĩa với sinh trưởng của cá ở<br /> các nghiệm thức khác (P < 0,05).<br /> pháp Duncan’s multiple range test trên phần mềm<br /> Bảng 2. Sinh trưởng, CVSL, FCR và tỷ lệ sống của cá dìa cho ăn các loại thức ăn khác nhau.<br /> Thức ăn<br /> <br /> Lansy + BS<br /> <br /> NRD 3/5<br /> <br /> Flake đỏ<br /> <br /> Tảo khô Spirulina<br /> <br /> Lansy<br /> <br /> Wban đầu (g/con)<br /> <br /> 0,22 ± 0,06<br /> <br /> 0,22 ± 0,06<br /> <br /> 0,22 ± 0,06<br /> <br /> 0,22 ± 0,06<br /> <br /> 0,22 ± 0,06<br /> <br /> Lban đầu (mm)<br /> <br /> 24,70 ± 2,25<br /> <br /> 24,70 ± 2,25<br /> <br /> 24,70 ± 2,25<br /> <br /> 24,70 ± 2,25<br /> <br /> 24,70 ± 2,25<br /> <br /> Wkết thúc (g/con)<br /> <br /> 1,05 ± 0,06<br /> <br /> 1,47 ± 0,09<br /> <br /> 0,97 ± 0,06<br /> <br /> 0,74 ± 0,01<br /> <br /> 1,01 ± 0,03b<br /> <br /> Lkết thúc (mm)<br /> <br /> 41,29 ± 1,35b<br /> <br /> 48,83 ± 0,87c<br /> <br /> 40,05 ± 1,23b<br /> <br /> 35,03 ± 1,00a<br /> <br /> 40,11 ± 1,39b<br /> <br /> SGR (%/ngày)<br /> <br /> 5,58 ± 0,22<br /> <br /> 6,78 ± 0,21<br /> <br /> 5,27 ± 0,24<br /> <br /> 4,31 ± 0,05<br /> <br /> 5,42 ± 0,10b<br /> <br /> CVSL (%)<br /> <br /> 7,26 ± 1,12<br /> <br /> FCR<br /> <br /> 1,07 ± 0,15<br /> <br /> Tỷ lệ sống (%)<br /> <br /> 74,44 ± 9,48<br /> <br /> b<br /> <br /> b<br /> <br /> c<br /> <br /> c<br /> <br /> 9,19 ± 0,83<br /> a<br /> <br /> 1,10 ± 0,10<br /> <br /> b<br /> <br /> b<br /> <br /> 8,51 ± 2,80<br /> a<br /> <br /> 68,33 ± 10,24<br /> <br /> 1,17 ± 0,06<br /> <br /> a<br /> <br /> a<br /> <br /> 9,07 ± 1,57<br /> a<br /> <br /> 60,56 ± 9,94<br /> <br /> 1,37 ± 0,06<br /> <br /> 7,95 ± 0,77<br /> b<br /> <br /> 58,89 ± 4,19<br /> <br /> 1,17 ± 0,06a<br /> 68,61 ± 5,67<br /> <br /> Số liệu trình bày TB ± SD. Các ký tự khác nhau trong cùng hàng thể hiện sự sai khác ý nghĩa ở mức (P < 0,05).<br /> <br /> Hệ số CV (%) thể hiện mức độ phân đàn của<br /> cá (Ngô Văn Mạnh và ctv, 2014). Trong nghiên cứu<br /> trên, cá dìa sử dụng các loại thức ăn khác nhau có<br /> hệ số CV dao động từ 7,26 - 9,19% và không có sự<br /> sai khác ý nghĩa giữa các nghiệm thức thí nghiệm.<br /> Không có sự ảnh hưởng của các loại thức ăn khác<br /> nhau đến tỷ lệ sống của cá dìa sau 4 tuần thí nghiệm<br /> (P > 0,05). Tỷ lệ sống dao động từ 58,92 - 74,41%.<br /> Sử dụng các loại thức ăn khác nhau cũng làm<br /> ảnh hưởng đến hệ số chuyển hóa thức ăn của cá<br /> dìa giai đoạn giống. Hệ số FCR cao nhất ở nghiệm<br /> thức cho ăn thức ăn tảo khô (Spirulina) và có sai<br /> khác ý nghĩa với hệ số FCR của cá dìa ở các<br /> nghiệm thức khác (P < 0,05). Không có sai khác<br /> về FCR của cá dìa sử dụng thức ăn Lansy + BS,<br /> NRD 3/5, Flake đỏ và Lansy (P > 0,05). Theo<br /> quan sát thì thức ăn tảo khô (Spirulina) dễ hoà<br /> tan nhanh vào trong nước nhất và làm nước<br /> chuyển màu xanh ngay sau khi cho ăn. Điều này<br /> <br /> có thể dẫn đến làm giảm khả năng bắt mồi của cá<br /> dìa và tăng hệ số FCR. Trong khi đó thức ăn NRD<br /> 3/5 lâu tan nhất so với 4 loại thức ăn còn lại và<br /> kích thước mảng thức ăn cũng lớn nhất. Cá dìa<br /> ở giai đoạn 2 cm này có tập tính rỉa mồi với mọi<br /> vật thể lơ lửng trong nước, do đó những thức ăn<br /> viên có độ bền trong nước có thể phù hợp hơn<br /> với tập tính ăn của cá dìa. Bên cạnh đó, nhiều<br /> nghiên cứu đã cho thấy kích cỡ hạt thức ăn có ảnh<br /> hưởng đến tốc độ tăng trưởng cũng như hệ số<br /> chuyển hóa thức ăn ở nhiều loài cá như cá rô phi<br /> Oreochromis niloticus (Azaza và ctv., 2010); cá<br /> tráp Sparus aurata (Goldan và ctv., 1997); cá hồi<br /> Đại Tây Dương Salmo salar (Wankowski & Thorp,<br /> 1979). Kích thước hạt thức ăn nhỏ gây khó khăn<br /> cho cá khi định hướng tìm kiếm thức ăn, đặc biệt<br /> là những loài tìm kiếm thức ăn dựa chủ yếu vào<br /> thị giác (Knights., 1983). Bên cạnh đó mật độ hạt<br /> thức ăn trong nước tăng nhanh khi kích thước hạt<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 73<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> thức ăn giảm, điều này có thể dẫn đến sự nhiễu<br /> loạn trong hoạt động bắt mồi của cá (Laurel và<br /> ctv., 2001). Trong nghiên cứu trên, kích cỡ của<br /> các hạt thức ăn của thức ăn Lansy, tảo khô và<br /> flake đỏ có kích thước hạt thức ăn nhỏ (bảng 1),<br /> điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng bắt<br /> mồi của cá dìa giai đoạn 2 - 5cm, qua đó ảnh<br /> hưởng đến tăng trưởng của cá giai đoạn này.<br /> Trong khi đó, thức ăn NRD 3/5 có kích cỡ hạt lớn<br /> và phù hợp hơn với kích cỡ miệng của cá. Thức<br /> ăn này được sử dụng cho ương nuôi cá biển để<br /> tập chuyển đổi từ thức ăn sống (Artemia) sang<br /> thức ăn tổng hợp và ương trong giai đoạn cá mới<br /> sử dụng được hoàn toàn thức ăn công nghiệp<br /> như cá chim vây vàng (Lại Văn Hùng., 2011). Kết<br /> quả trong nghiên cứu trên cũng cho thấy sử dụng<br /> thức ăn NRD 3/5 là thích hợp cho ương cá dìa<br /> giai đoạn 2 - 5cm.<br /> <br /> Số 4/2014<br /> 2. Ảnh hưởng của khẩu phần ăn đến sinh<br /> trưởng, hệ số FCR và tỷ lệ sống của cá dìa<br /> Sau 4 tuần thí nghiệm, kết quả nghiên cứu cho<br /> thấy thay đổi khẩu phần ăn làm ảnh hưởng đến<br /> sinh trưởng của cá dìa giai đoạn giống. Cá dìa đạt<br /> khối lượng và chiều dài cuối cao nhất (1,33 g/con;<br /> 44,27 mm/con) ở nghiệm thức cho ăn khẩu phẩn<br /> 14% khối lượng thân và có sai khác ý nghĩa với<br /> sinh trưởng của cá dìa cho ăn các thức ăn khác<br /> (P < 0,05). Không có sự sai khác ý nghĩa về khối<br /> lượng cuối, tốc độ tăng trưởng đặc trưng theo khối<br /> lượng của cá dìa ở các nghiệm thức cho ăn khẩu<br /> phần 6 đến 12 % khối lượng thân (P > 0,05).<br /> Tăng khẩu phần ăn từ 6 lên 14 % khối lượng<br /> thân không làm ảnh hưởng đến hế số phân đàn,<br /> hệ số chuyển hóa thức ăn và tỷ lệ sống của cá dìa<br /> giai đoạn này (P > 0,05). Hệ số FCR dao động từ<br /> 1,17 ÷ 1,27 và tỷ lệ sống dao động từ 66,94 ÷ 73,33%.<br /> <br /> Bảng 3. Sinh trưởng, CVSL, FCR và tỷ lệ sống của cá dìa cho ăn các khẩu phần khác nhau<br /> Thức ăn<br /> <br /> 6%<br /> <br /> 8%<br /> <br /> 10%<br /> <br /> 12%<br /> <br /> 14%<br /> <br /> Wban đầu (g/con)<br /> <br /> 0,23 ± 0,02<br /> <br /> 0,23 ± 0,02<br /> <br /> 0,23 ± 0,02<br /> <br /> 0,23 ± 0,02<br /> <br /> 0,23 ± 0,02<br /> <br /> Lban đầu (mm)<br /> <br /> 24,60 ± 0,80<br /> <br /> 24,60 ± 0,80<br /> <br /> 24,60 ± 0,80<br /> <br /> 24,60 ± 0,80<br /> <br /> 24,60 ± 0,80<br /> <br /> Wkết thúc (g/con)<br /> <br /> 1,11 ± 0,08a<br /> <br /> 1,08 ± 0,15a<br /> <br /> 1,13 ± 0,02a<br /> <br /> 1,16 ± 0,03a<br /> <br /> 1,33 ± 0,01b<br /> <br /> 40,35 ± 0,67ab<br /> <br /> 39,58 ± 0,89a<br /> <br /> 40,53 ± 0,94ab<br /> <br /> 41,51 ± 0,22b<br /> <br /> 44,27 ± 0,39c<br /> <br /> SGR (%/ngày)<br /> <br /> 5,60 ± 0,26a<br /> <br /> 5,51 ± 0,52a<br /> <br /> 5,67 ± 0,07a<br /> <br /> 5,77 ± 0,09a<br /> <br /> 6,28 ± 0,02b<br /> <br /> CVSL (%)<br /> <br /> 8,54 ± 1,88<br /> <br /> 8,08 ± 1,22<br /> <br /> 8,27 ± 1,31<br /> <br /> 6,47 ± 0,60<br /> <br /> 8,56 ± 1,14<br /> <br /> FCR<br /> <br /> 1,17 ± 0,12<br /> <br /> 1,17 ± 0,06<br /> <br /> 1,23 ± 0,06<br /> <br /> 1,23 ± 0,06<br /> <br /> 1,27 ± 0,06<br /> <br /> 66,94 ± 10,88<br /> <br /> 73,33 ± 10,63<br /> <br /> 68,61 ± 4,59<br /> <br /> 70,28 ± 4,28<br /> <br /> 72,50 ± 5,20<br /> <br /> Lkết thúc (cm)<br /> <br /> Tỷ lệ sống (%)<br /> <br /> Số liệu trình bày TB ± SD. Các ký tự khác nhau trong cùng hàng thể hiện sự sai khác ý nghĩa ở mức (P < 0,05)<br /> <br /> Thay đổi khẩu phần ăn có ảnh hưởng lớn đến<br /> tốc độ tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn (FCE)<br /> và tỷ lệ sống của một số loài cá giai đoạn giống<br /> như cá hồng Lutjanus argentimaculatus (Abbas &<br /> Siddiqui., 2009); cá tầm Acipenser transmontanus<br /> (Hung & Lutes., 1987). Tăng khẩu phần ăn giúp<br /> tăng tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức<br /> ăn. Abbas & Siddiqui (2009) chỉ ra rằng tăng trưởng<br /> và FCE của cá hồng tăng khi tăng khẩu phần ăn từ<br /> 1 lên 2,5% BW/ngày, tuy nhiên tăng trưởng không<br /> tăng và FCE giảm dần khi tiếp tục tăng khẩu phần<br /> ăn từ 2,5 lên 4,5% BW/ngày. Trong thí nghiệm trên<br /> tăng trưởng của cá dìa tăng khi tăng khẩu phần của<br /> cá từ 6 lên 14% BW/ngày. Sự khác biệt này có thể<br /> do mức khẩu phần cho ăn trong thí nghiệm này còn<br /> thấp và cần có các nghiên cứu sâu hơn.<br /> <br /> 74 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ<br /> Thức ăn có ảnh hưởng đến sinh trưởng và hệ số<br /> FCR của cá dìa giai đoạn giống (2 - 5cm). Cá dìa sử<br /> dụng thức ăn công nghiệp NRD 3/5 (INVE, Thái Lan)<br /> sinh trưởng nhanh hơn so với các loại thức ăn khác.<br /> Không có sai khác ý nghĩa về hệ số phân đàn và tỷ<br /> lệ sống của cá dìa sử dụng các loại thức ăn khác<br /> nhau.<br /> Khẩu phần ăn cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng<br /> của cá dìa giai đoạn giống. Cá dìa đạt sinh trưởng<br /> tốt nhất khi cho ăn khẩu phần 14 % khối lượng thân.<br /> Thay đổi khẩu phần ăn không làm ảnh hưởng đến<br /> hệ số phân đàn, FCR và tỷ lệ sống của cá dìa giai<br /> đoạn này.<br /> Trên cơ sở đó, nên sử dụng thức ăn NRD 3/5<br /> với khẩu phần 14% khối lượng thân cho ương nuôi<br /> cá dìa giai đoạn giống (2 - 5cm).<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 4/2014<br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> Tiếng Việt<br /> 1.<br /> <br /> Lại Văn Hùng, 2011. Thử nghiệm sản xuất giống cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepède, 1801) tại Khánh Hòa.<br /> Báo cáo tổng kết đề tài tỉnh Khánh Hòa.<br /> <br /> 2.<br /> <br /> Ngô Văn Mạnh, Châu Việt Anh, Lại Văn Hùng, Ngô Anh Tuấn, 2014. Ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng và số lần cho ăn<br /> trong ngày lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của cá Chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801) ở giai đoạn giống. Tạp chí<br /> Khoa học và Công nghệ Thủy sản. Số 4/2013.<br /> <br /> 3.<br /> <br /> Abbas, G., Siddiqui, J. A., 2009. Effects of different feeding level on the growth, feed efficiency and body composition of<br /> juvenile mangrove red snapper, Lutjanus argentimaculatus (Forsskal 1775). Aquaculture Research, 40, 781-789.<br /> <br /> 4.<br /> <br /> Azaza, M.S., Dhraïef, M.N., Kraïem, M.M., Baras, E., 2010. Influences of food particle size on growth, size heterogeneity,<br /> food intake and gastric evacuation in juvenile Nile tilapia, Oreochromis niloticus, L., 1758. Aquaculture, 309, 193-202.<br /> <br /> 5.<br /> <br /> Goldan, O., Popper, D., Karplus, I., 1997. Management of size variation in juvenile gilthead seabream (Sparus aurata) I:<br /> particle size and frequency of feeding dry and live food. Aquaculture, 152, 181–190.<br /> <br /> 6.<br /> <br /> Gundermann, N., Popper, D. M., Lichatowich, T., 1983. Biology and life cycle of Siganus vermiculatus (Siganidae, Pisces).<br /> Pac.Sci, Volume 37, Issue 2, 165-180.<br /> <br /> 7.<br /> <br /> Hung, S.S.O., Lutes, P. B., 1987. Optimum feeding rate of hatchery-product juvenile white sturgeon (Acipenser transmontanus)<br /> at 20 0C. Aquaculture, 65, 307 - 317.<br /> <br /> 8.<br /> <br /> Ismael, W., 1976. Culture experiment on siganid, Siganus virgatus and grouper, Epinephelus spp in the lagoon of Pari Island,<br /> Jakarta Bay. Laporan Penelitian Perikanan. Mar.Fish.Res.Rep 1, 1-36.<br /> <br /> 9.<br /> <br /> Knights, B., 1983. Food particle-size preferences and feeding behaviour in warmwater aquaculture of European eel,<br /> Anguilla anguilla (L.). Aquaculture 30, 173-190.<br /> <br /> Tiếng Anh<br /> <br /> 10. Laurel, B.J., Brown, J.A., Anderson, B., 2001. Behaviour, growth and survival of redfish larvae in relation to prey availability.<br /> Journal of Fish Biology, 884-901.<br /> 11. Sun, L., Chen, H., Huang, L., Wang, Z., Yan, Y., 2006. Growth and energy budget of juvenile cobia (Rachycentron canadum)<br /> relative to ration. Aquaculture, 257, 214-220.<br /> 12. Suyehiro, Y., 1942. A study on the digestive system and feeding habits of fish. Japanese Journal of Zoology, Volume 10,<br /> Issue l, l-303.<br /> 13. Zhao, F., Wang, Y., Zhang, L., Zhuang, P., Liu, J., 2013. Survival, growth, food conversion efficiency and plasma osmolality<br /> of juvenile Siganus guttatus (Bloch, 1787): experimental analyses of salinity effects. Fish Physiol Biochem, 39:1025-1030.<br /> 14. Wankowski, J.W.J., Thorpe, J.E., 1979. The role of food particle size in the growth of juvenile Atlantic salmon (Salmo salar L.).<br /> Journal of Fish Biology. 14, 351-370.<br /> 15. Woodland, D. J., 1990. Revision of the fish family Siganidae with descriptions of two new species and comments on<br /> distribution and biology. Indo-Pacific Fish, 19:1-136.<br /> 16. Woodland, D. J., 1997. Siganidae. Spinefoots, rabbitfishes. In: Carpenter KE, Niem VH (eds) FAO species identification<br /> guide for fishery purposes. FAO, Rome, 2069-2790.<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 75<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản