intTypePromotion=1
ADSENSE

Ảnh hưởng của tỷ lệ pha loãng, pH và nồng độ thẩm thấu lên hoạt lực tinh trùng cá hồng bạc (Lutjanus argentimaculatus Forskal, 1775)

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

75
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường lên hoạt lực tinh trùng cá hồng bạc Lutjanus argentimaculatus (Forsskal, 1775) đã được nghiên cứu qua ba thí nghiệm riêng biệt về tỷ lệ pha loãng (1:50, 1:100, 1:200 (tinh dịch: biển nhân tạo ASW), về pH (6,0; 7,0; 8,0; 9,0) và về nồng độ thẩm thấu (200, 300, 400 và 500 mOsm/kg). Ở các thí nghiệm này, tỉ lệ tinh trùng hoạt lực và thời gian hoạt lực đã được quan sát. Kết quả cho thấy, các thông số hoạt lực tốt nhất của tinh trùng quan sát được khi pha loãng tinh dịch ở tỷ lệ 1:100, pH (8,0) và nồng độ thẩm thấu là 500 mOsm/kg. Các kết quả này có thể đóng góp hữu ích trong việc hoàn thiện các phương pháp bảo quản tinh trùng ở không chỉ cá Hồng bạc mà còn ở các loài cá xương biển khác.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ảnh hưởng của tỷ lệ pha loãng, pH và nồng độ thẩm thấu lên hoạt lực tinh trùng cá hồng bạc (Lutjanus argentimaculatus Forskal, 1775)

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản <br /> <br /> Số 3/2015<br /> <br /> THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC<br /> <br /> ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ PHA LOÃNG, pH VÀ NỒNG ĐỘ<br /> THẨM THẤU LÊN HOẠT LỰC TINH TRÙNG CÁ HỒNG BẠC<br /> (Lutjanus argentimaculatus Forskal, 1775)<br /> EFFECTS OF DILUTION, pH AND OSMOLALITY ON SPERMATOZOA MOTILITY<br /> IN SILVER RED SNAPPER (Lutjanus argentimaculatus Forskal, 1775)<br /> Lê Minh Hoàng1, Nguyễn Địch Thanh2<br /> Ngày nhận bài: 30/7/2014; Ngày phản biện thông qua: 19/3/2015; Ngày duyệt đăng: 15/9/2015<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường lên hoạt lực tinh trùng cá hồng bạc Lutjanus argentimaculatus (Forsskal,<br /> 1775) đã được nghiên cứu qua ba thí nghiệm riêng biệt về tỷ lệ pha loãng (1:50, 1:100, 1:200 (tinh dịch: biển nhân tạo<br /> ASW), về pH (6,0; 7,0; 8,0; 9,0) và về nồng độ thẩm thấu (200, 300, 400 và 500 mOsm/kg). Ở các thí nghiệm này, tỉ lệ<br /> tinh trùng hoạt lực và thời gian hoạt lực đã được quan sát. Kết quả cho thấy, các thông số hoạt lực tốt nhất của tinh trùng<br /> quan sát được khi pha loãng tinh dịch ở tỷ lệ 1:100, pH (8,0) và nồng độ thẩm thấu là 500 mOsm/kg. Các kết quả này có<br /> thể đóng góp hữu ích trong việc hoàn thiện các phương pháp bảo quản tinh trùng ở không chỉ cá Hồng bạc mà còn ở các<br /> loài cá xương biển khác.<br /> Từ khóa: tỷ lệ pha loãng, nồng độ thẩm thấu, hoạt lực tinh trùng, Lutjanus argentimaculatus<br /> <br /> ABSTRACT<br /> Effects of environmental factors on the performance of sperm motility in Lutjanus argentimaculatus (Forsskal,1775)<br /> had been estimated by conducting three separate experiments in which treatments differed in, dilution (1:50; 1:100; 1:200<br /> (semem: artificial seawater), pH value (6.0; 7.0; 8.0 and 9.0) and osmolality (200; 300; 400 and 500 mOsm.kg-)1. In these<br /> experiments, the maximum percentage of motile sperms and total duration motility of all sperms were observed. Based on<br /> the results, the best performances of sperm were shown in treatments with 1:100 dilution, pH 8.0 and osmolality of 500<br /> mOsm.kg-1. To be concluded, these results can be usefully contributed in improvement of the sperm preservation methods<br /> in not only this species but also in other marine teleost.<br /> Keywords: dilution ratio, osmolality, sperm motility, Lutjanus argentimaculatus<br /> <br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Cá hồng bạc (Lutjanus argentimaculatus<br /> Forsskal, 1775) là loài rộng muối, phân bố ở nhiều<br /> khu vực trên thế giới, từ vùng Ấn Độ Dương - Tây<br /> Thái Bình Dương (Indo-West Pacific) từ Samoa và<br /> đảo Line đến Đông Phi, và từ phía Bắc Australia đến<br /> đảo Ryukyu; và rải rác ở vùng Đông Địa Trung Hải<br /> qua kênh đào Suez [10]. Ở Việt Nam, cá Hồng bạc<br /> phân bố rải rác dọc theo bờ biển các tỉnh Quảng<br /> Ninh, Hải Phòng, Thừa Thiên - Huế, Bà Rịa - Vũng<br /> Tàu, vùng biển Tây Nam bộ, nhưng tập trung nhiều<br /> nhất ở vùng biển Nam Trung bộ [4]. Cá Hồng bạc có<br /> <br /> 1<br /> <br /> tốc độ tăng trưởng nhanh, thịt thơm ngon và có giá trị<br /> dinh dưỡng cao, giá bán hiện nay đạt từ 100.000đ/<br /> kg -170.000đ/kg [5]. Ở Việt Nam, cá hồng bạc có thị<br /> trường xuất khẩu rộng và khá hấp hẫn như Trung<br /> Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Mỹ, EU [6]. Tương tự<br /> các đối tượng cá biển khác như cá chẽm (Laters<br /> calcarifer), cá chẽm mõm nhọn (Psammoperca<br /> waigiensis), cá mú (Epinephelus spp.), cá giò<br /> (Rachycentron canadum) và cá măng (Chanos<br /> chanos), cá hồng bạc (Lutjanus argentimaculatus)<br /> là loài cá có giá trị kinh tế cao và đang được nuôi<br /> thương phẩm ở nước ta, nhiều nhất ở các tỉnh<br /> <br /> TS. Lê Minh Hoàng, 2 TS. Nguyễn Địch Thanh: Viện Nuôi trồng thủy sản – Trường Đại học Nha Trang<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 27<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản <br /> Nam Trung bộ [6]. Tuy nhiên, cho đến nay, quá trình<br /> sinh sản nhân tạo và ương giống cá Hồng bạc đang<br /> gặp nhiều khó khăn, do nguồn giống và cá bố mẹ<br /> phụ thuộc phần lớn vào tự nhiên [6]. Năm 2012,<br /> Nguyễn Địch Thanh [5] đã nghiên cứu sản suất<br /> giống nhân tạo cá hồng bạc thành công tuy nhiên<br /> nguồn cá bố mẹ cho nghiên cứu vẫn phải đánh bắt<br /> từ tự nhiên. Do đó, hiện nay, các quy trình bảo quản<br /> tinh lâu dài có thể là giải pháp phù hợp để giảm bớt<br /> sự cần thiết phải đánh bắt cá đực cùng thời điểm với<br /> cá cái bố mẹ. Ngoài ra, các phương pháp bảo quản<br /> này cũng nâng cao sự hiệu quả và mức kiểm soát<br /> trong quản lý di truyền đàn cá, nhờ vậy không chỉ<br /> hữu hiệu trong nuôi trồng thủy sản mà còn giúp bảo<br /> vệ nguồn lợi tự nhiên (tổng quan bởi [16]). Tuy nhiên<br /> cho đến nay, chưa có công trình nào công bố về việc<br /> bảo quản thành công tinh trùng của loài cá này.<br /> Để phát triển các phương pháp bảo quản, việc<br /> nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng<br /> tinh trùng và khả năng thụ tinh của tinh dịch thông<br /> qua biểu hiện vận động của tinh trùng là rất quan<br /> trọng. Các yếu tố môi trường bao gồm tỷ lệ pha<br /> loãng, áp suất thẩm thấu, pH, nhiệt độ, nồng độ<br /> các ion (ví dụ, Ca2+, Mg2+, K+, Na+) đã được chứng<br /> minh là có ảnh hưởng đáng kể lên hoạt lực của tinh<br /> trùng [7, 15] và vì vậy sẽ ảnh hưởng lên chất lượng<br /> tinh và khả năng thụ tinh [15]. Các nghiên cứu loại<br /> này đã được thực hiện trên nhiều đối tượng khác<br /> nhau, ví dụ, cá tầm Ba Tư (Acipenser persicus) [7],<br /> cá đù vàng (Larimichthys polyactis) [15], cá bơn<br /> Đại Tây Dương (Hippoglossus hippoglossus) [14],<br /> cá chẽm mõn nhọn (Psammoperca waigiensis) [3];<br /> tuy nhiên, chưa có báo cáo nào về cá hồng bạc.<br /> Vì thế, nghiên cứu này của chúng tôi sẽ cung cấp<br /> những thông tin đầu tiên về ảnh hưởng của một số<br /> yếu tố môi trường (tỷ lệ pha loãng, pH và nồng độ<br /> thẩm thấu) lên hoạt lực tinh trùng cá hồng bạc mà<br /> nhờ đó sẽ góp phần cải thiện các điều kiện trong<br /> bảo quản ngắn hạn và dài hạn của tinh trùng loài<br /> cá này trong tương lai.<br /> II. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> 1. Thu mẫu<br /> Cá hồng bạc Lutjanus argentimaculatus<br /> (Forskal, 1775) đực thu thập từ tự nhiên, được nuôi<br /> vỗ một thời gian trong các lồng nuôi tại Vũng Ngán Nha Trang - Khánh Hòa. Cá này được cho ăn bằng<br /> cá tạp (khẩu phần ăn: 5% khối lượng cơ thể) kết<br /> hợp bổ sung vitamin và các khoáng chất đồng<br /> thời được chăm sóc tốt để cá thành thục tốt nhất.<br /> <br /> 28 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> Số 3/2015<br /> Các kiểm tra được thực hiện sau đó 2 - 3 tuần, khi<br /> cá đạt chất lượng tinh tốt, cá được vuốt tinh để tiến<br /> hành các thí nghiệm.<br /> Tinh dịch được thu lúc sáng sớm, vào các ống<br /> enpendoff, loại có thể tích 1,5 ml. Quá trình thu được<br /> đảm bảo sao cho nước, phân hay nước tiểu không<br /> bị lẫn vào tinh dịch. Các ống chứa tinh được đậy<br /> chặt nắp và bảo quản lạnh trong thùng xốp đựng đá<br /> bào ngay sau khi tinh được thu và trong quá trình<br /> vận chuyển về Phòng thí nghiệm Viện Nuôi trồng<br /> thủy sản - Trường Đại học Nha Trang trước khi các<br /> đánh giá tiếp theo được tiến hành.<br /> 2. Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của tỷ lệ pha loãng<br /> lên hoạt lực của tinh trùng<br /> Ở thí nghiệm này, nước biển nhân tạo được sử<br /> dụng để pha loãng tinh trùng với thành phần tạo<br /> bao gồm: 27g NaCl; 0,5g KCl; 1,2 g CaCl2; 4,6g<br /> MgCl2 và 0,5 g NaHCO3 trong 1 lít nước cất. Các<br /> nghiệm thức khác nhau có các tỷ lệ pha loãng như<br /> sau: 1:50; 1:100; 1:200 (tinh dịch : nước biển nhân<br /> tạo). Ở mỗi nghiệm thức, sau khi pha loãng, hoạt<br /> lực tinh trùng sẽ được đánh giá thông qua quan sát<br /> dưới kính hiển vi với độ phóng đại 400 lần. Hoạt lực<br /> của tinh trùng bao gồm các thông số: phần trăm tinh<br /> trùng hoạt lực, và tổng thời gian hoạt động. Phần<br /> trăm hoạt lực được xác định bằng số tinh trùng hoạt<br /> lực so với tổng số tinh trùng quan sát được (ước<br /> tính bằng mắt thường). Thời gian hoạt lực được tính<br /> từ lúc pha loãng cho đến 100% tinh trùng bất hoạt<br /> (đơn vị tính: giây). Tỉ lệ pha loãng nào mà ở đó hoạt<br /> lực tinh trùng tốt nhất sẽ được dùng trong các thí<br /> nghiệm đánh giá tiếp theo.<br /> 3. Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của pH lên hoạt lực<br /> của tinh trùng<br /> Thí nghiệm này gồm bốn nghiệm thức khác<br /> nhau về giá trị pH trong môi trường pha loãng tinh<br /> dịch lần lượt là 6,0; 7,0; 8,0; 9,0. Sau khi tinh dịch<br /> được pha loãng, hoạt lực của tinh trùng được đánh<br /> giá và từ đó pH tối ưu cho môi trường pha loãng tinh<br /> dịch được xác định.<br /> 4. Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của nồng độ thẩm<br /> thấu lên hoạt lực của tinh trùng<br /> Để xác định ảnh hưởng của nồng độ thẩm thấu<br /> lên hoạt lực tinh trùng, thí nghiệm đã sử dụng dung<br /> dịch NaCl ở các mức nồng độ thẩm thấu: 200, 300,<br /> 400 và 500 mOsm/kg để pha loãng tinh trùng (với tỉ<br /> lệ pha loãng và nồng độ pH của môi trường tối ưu<br /> được xác định từ các thí nghiệm trước. Nồng độ tối<br /> ưu được xác định là nồng độ mà ở đó hoạt lực tinh<br /> trùng cho biểu hiện tốt nhất.<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản <br /> <br /> Số 3/2015<br /> <br /> 5. Xử lý số liệu<br /> Số liệu được trình bày dưới dạng giá trị trung bình ± sai số chuẩn. Số liệu được xử lý bằng phần mềm<br /> Microsoft Excel. Ảnh hưởng của tỷ lệ pha loãng, pH và áp suất thẩm thấu được phân tích phương sai một yếu<br /> tố (One-way ANOVA) bằng kiểm định Ducan với mức ý nghĩa P
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2