intTypePromotion=1

Ảnh hưởng của việc chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến sinh kế người nông dân bị thu hồi đất tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

Chia sẻ: Bình Bình | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
32
lượt xem
1
download

Ảnh hưởng của việc chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến sinh kế người nông dân bị thu hồi đất tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét sự thay đổi về các nguồn vốn tạo sinh kế của người dân trước và sau thu hồi đất nông nghiệp tại một số phường của ngoại ô của thành phố Hội An để thấy được ảnh hưởng của việc chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất và làm cơ sở cho việc đề xuất những giải pháp hợp lý để phát triển ổn định và bền vững sau khi nhà nước thu hồi đất ở những vùng khác có điều kiện tương tự.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ảnh hưởng của việc chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến sinh kế người nông dân bị thu hồi đất tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 62A, 2010<br /> <br /> ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CHUYỂN ĐẤT NÔNG NGHIỆP<br /> SANG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP ĐẾN SINH KẾ NGƯỜI NÔNG DÂN<br /> BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM<br /> Huỳnh Văn Chương<br /> Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế<br /> Ngô Hữu Hoạnh<br /> Trường Cao đẳng Công nghệ - Kinh tế và Thủy lợi Miền Trung, Bộ NN&PTNT<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Việc Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp làm<br /> thay đổi nguồn tài nguyên tạo sinh kế thực sự là một cú sốc lớn gây xáo trộn cuộc sống của<br /> người nông dân. Các nguồn tài nguyên tạo sinh kế có sự luân chuyển cho nhau, qua điều tra và<br /> phân tích chỉ ra rằng, tài sản đất đai của người nông dân chuyển thành vốn tài chính và vốn vật<br /> chất, rất ít trường hợp chuyển thành nguồn vốn xã hội và nguồn vốn con người trong nhóm các<br /> nguồn tài nguyên tạo sinh kế. Nghiên cứu cho thấy nhiều hộ dân tuy có thu nhập cao hơn sau<br /> khi chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp để thực hiện quá trình đô thị hoá<br /> nhưng người dân không yên tâm do thu nhập không ổn định và cuộc sống tiềm ẩn những bất ổn.<br /> Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cần có những giải pháp cụ thể hơn về tạo việc làm, tư vấn sử<br /> dụng nguồn vốn bồi thường, hỗ trợ đền bù, tái định cư từ phía Nhà nước để người dân bị thu<br /> hồi đất có sinh kế bền vững sau thu hồi đất.<br /> Từ khóa: Chuyển đổi đất đai, thu hồi đất, thu nhập, sinh kế, việc làm.<br /> <br /> 1. Đặt vấn đề<br /> Vấn đề sinh kế của người dân sau thu hồi đất nông nghiệp không phải là đề tài<br /> mới nhưng có ý nghĩa thực tiễn cao, đang là vấn đề quan tâm của các địa phương trong<br /> phạm vi cả nước. Đặc biệt, trong giai đoạn gần đây, ở nước ta, diện tích đất nông nghiệp<br /> bị thu hồi hàng năm khá lớn do quá trình đô thị hoá và phát triển cơ sở hạ tầng và số<br /> người có sinh kế khó khăn sau thu hồi đất ngày càng gia tăng.<br /> Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 7 năm, từ năm<br /> 2001 đến năm 2007, diện tích đất nông nghiệp cả nước giảm 500 nghìn ha, riêng năm<br /> 2007 mất 120 nghìn ha, trong đó chủ yếu là đất trồng cây hàng năm tại các vùng đồng<br /> bằng, ven các đô thị do xây dựng công nghiệp và đô thị. Đất trồng lúa năm 2000 có 4,47<br /> triệu ha, nhưng đến năm 2006 chỉ còn 4,13 triệu ha, giảm 316 nghìn ha, trung bình mỗi<br /> năm giảm 50 nghìn ha (Nguyễn Minh Hoài, 2008). Tuy đất nông nghiệp là nguồn vốn<br /> tài nguyên tạo sinh kế chính của người dân bị thu hồi nhưng đại đa số lao động nông<br /> 47<br /> <br /> nghiệp vẫn bám víu vào diện tích đất ít ỏi còn lại do khó khăn trong tìm kiếm việc làm<br /> mới và với trình độ tay nghề để chuyển đổi công việc không dễ dàng. Tính đến 31-122006, ở 14 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bị thu hồi đất nhiều nhất đã giải quyết<br /> được việc làm cho 22,3 vạn lao động, bằng khoảng 28% tổng số lao động mất việc làm<br /> (Hà Nội: 25.000 người, Hà Tây: 21.756 người, Hà Tĩnh: 29.068 người, Quảng Nam:<br /> 21.517, Đồng Nai: 69.670 người). Thực tế chỉ có 6% số lao động bị thu hồi đất chuyển<br /> sang sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, 9% chuyển sang làm dịch vụ…, còn<br /> tới 60% vẫn tiếp tục làm nông nghiệp (Bùi Ngọc Thanh, 2009).<br /> Khi thu hồi đất, Nhà nước có chính sách bồi thường thiệt hại về đất, hỗ trợ<br /> chuyển đổi nghề nghiệp và ổn định đời sống và thực tế là có những hộ có thu nhập cao<br /> hơn so với trước khi thu hồi đất, nhưng vẫn có một số hộ dân vẫn khó khăn trong việc<br /> tạo lập sinh kế của mình. Mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét sự thay đổi về các<br /> nguồn vốn tạo sinh kế của người dân trước và sau thu hồi đất nông nghiệp tại một số<br /> phường của ngoại ô của thành phố Hội An để thấy được ảnh hưởng của việc chuyển đất<br /> nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất và làm cơ sở cho việc<br /> đề xuất những giải pháp hợp lý để phát triển ổn định và bền vững sau khi nhà nước thu<br /> hồi đất ở những vùng khác có điều kiện tương tự.<br /> 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu<br /> 2.1. Mô tả vùng nghiên cứu<br /> Nghiên cứu được thực hiện tại phường Cẩm Châu và phường Thanh Hà thuộc<br /> thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam (xem hình 1). Đây là hai phường có diện tích đất<br /> nông nghiệp lớn và trong thời gian qua là những địa phương ở thành phố Hội An có<br /> diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi lớn nhất và điển hình cho quá trình đô thị hoá tại<br /> thành phố Hội An.<br /> <br /> Hình 1. Vị trí vùng nghiên cứu<br /> 48<br /> <br /> 2.2.Phương pháp nghiên cứu<br /> 2.2.1. Thu thập số liệu thứ cấp<br /> Thu thập có chọn lọc các thông tin, dữ liệu sẵn có về quá trình thu hồi đất, bồi<br /> thường, hỗ trợ khi thu hồi đất.<br /> 2.2.2. Thu thập số liệu sơ cấp<br /> Số liệu sơ cấp thu thập qua phỏng vấn hộ nông dân có đất bị thu hồi bằng bảng<br /> câu hỏi phỏng vấn sâu. Chúng tôi lựa chọn điều tra các hộ dân bị thu hồi đất tại dự án<br /> xây dựng cụm công nghiệp – đô thị - dịch vụ Thanh Hà, dự án đường Trường Chinh<br /> (đường dẫn vào cụm công nghiệp – đô thị - dịch vụ) tại phường Thanh Hà; dự án xây<br /> dựng đường dẫn cầu Cửa Đại và dự án xây dựng Trường Trung học cơ sở Cẩm Châu tại<br /> Phường Cẩm Châu. Phân các hộ điều tra thành 3 nhóm có diện tích đất nông nghiệp bị<br /> thu hồi khác nhau:<br /> <br /> <br /> Nhóm 1: Các hộ bị thu hồi dưới 30% đất nông nghiệp<br /> <br /> <br /> <br /> Nhóm 2: Các hộ bị thu hồi từ 30% đến dưới 70% đất nông nghiệp<br /> <br /> <br /> <br /> Nhóm 2: Các hộ bị thu hồi từ 70% đất nông nghiệp trở lên.<br /> <br /> Bảng câu hỏi phỏng vấn sâu được soạn thảo sẵn trên phiếu điều tra. Phiếu điều<br /> tra được xây dựng gồm 5 phần, phần I thu thập thông tin chung của hộ gia đình gồm tên,<br /> tuổi, địa chỉ của chủ hộ; nhân khẩu, lao động, trình độ văn hóa và chuyên môn. Phần II<br /> và III của phiếu điều tra nhằm thu thập về tình hình sử dụng đất nông nghiệp, tài sản của<br /> hộ trước và sau thu hồi đất. Phần IV của phiếu được xây dựng để điều tra thông tin về<br /> thu nhập trước và sau thời điểm thu hồi đất, việc sử dụng nguồn vốn bồi thường, hỗ trợ<br /> của các hộ. Phần V của phiếu điều tra là ý kiến và đề xuất của hộ về chính sách thu hồi<br /> đất, bồi thường, hỗ trợ, giải quyết việc làm của Nhà nước khi thu hồi.<br /> 2.2.3. Phương pháp luận trong nghiên cứu<br /> Khung sinh kế bền vững là một công cụ giúp chúng ta nâng cao sự hiểu biết về<br /> đời sống, đặc biệt là các sinh kế của người nghèo. Nó xuất phát từ phân tích của<br /> Amartya Sen về các quyền (entitlements) trong mối quan hệ với nạn đói và đói nghèo,<br /> gần đây được Cục Phát triển Quốc tế Anh (DFID) và một số học giả cùng với các cơ<br /> quan phát triển ứng dụng rộng rãi. Trong nghiên cứu này, chúng tôi dựa vào lý thuyết về<br /> khung sinh kế bền vững (sustainable livelihoods framework) để phân tích sự thay đổi<br /> khả năng tiếp cận các nguồn vốn tạo sinh kế, tác động của sự thay đổi này đến sinh kế<br /> của các hộ nông dân ở Việt Nam trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp phục vụ đô thị<br /> hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế.<br /> <br /> 49<br /> <br /> Hình 2. Khung nghiên cứu sinh kế bền vững của người nông dân có đất nông nghiệp bị thu hồi<br /> Nguồn: Phỏng theo khung sinh kế bền vững của DFID, 1999.<br /> <br /> 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận<br /> 3.1. Tình hình cơ bản của các nhóm hộ điều tra<br /> Cũng như đặc trưng chung của người nông dân Việt Nam, người nông dân ở Hội<br /> An cần cù chịu khó nhưng lại hạn chế về trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn.<br /> Chính đối tượng này gặp nhiều khó khăn về sinh kế trong quá trình đô thị hóa, công<br /> nghiệp hóa, chuyển đổi đất đai và thu hồi đất.<br /> Trong tổng số 68 hộ điều tra, tuổi đời bình quân của chủ hộ khá cao, 63,6 tuổi;<br /> đa số chủ hộ gia đình là nam giới, chiếm 79,4%. Theo số liệu điều tra nông hộ sau khi<br /> thu hồi đất, bình quân nhân khẩu của hộ gia đình từ 5,0 đến 5,6 người/hộ, bình quân lao<br /> động trên hộ gia đình là 3,5 lao động, trong đó, lao động nông nghiệp bình quân là 1,6<br /> lao động/hộ. Sau thu hồi đất, bình quân lao động nông nghiệp chiếm chưa tới 50% số<br /> lao động của các nhóm hộ. Có tới 85,7% chủ hộ chưa tốt nghiệp phổ thông trung học,<br /> 100% chủ hộ chưa có bằng cấp về chuyên môn (Bảng 1).<br /> Đa số lao động có độ tuổi khá cao, lao động nông nghiệp có độ tuổi trên 35 đối<br /> với nữ, trên 40 đối với nam, chiếm tới 62,9%. Lao động nông nghiệp độ tuổi từ 15-18<br /> (độ tuổi đi học) chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ 6,5%. Đây là một trong những lý do khiến rất ít<br /> lao động nông nghiệp theo học để chuyển đổi nghề nghiệp khi bị thu hồi đất.<br /> Bảng 1. Tình hình cơ bản của các nhóm hộ điều tra sau thu hồi đất.<br /> <br /> Chỉ tiêu<br /> <br /> ĐVT<br /> <br /> Nhóm 1<br /> <br /> Nhóm 2<br /> <br /> Nhóm 3<br /> <br /> 1. Số hộ điều tra<br /> <br /> Hộ<br /> <br /> 11<br /> <br /> 30<br /> <br /> 27<br /> <br /> 2. Tuổi bình quân<br /> <br /> Tuổi<br /> <br /> 63.1<br /> <br /> 66.3<br /> <br /> 61.4<br /> <br /> 3. Trình độ văn hóa<br /> 50<br /> <br /> - Cấp 1<br /> <br /> %<br /> <br /> 44,4<br /> <br /> 39,1<br /> <br /> 36,0<br /> <br /> - Cấp 2<br /> <br /> %<br /> <br /> 33,3<br /> <br /> 21,7<br /> <br /> 36,0<br /> <br /> - Cấp 3<br /> <br /> %<br /> <br /> 22,2<br /> <br /> 39,1<br /> <br /> 28,0<br /> <br /> 4.. Trình độ chuyên môn<br /> <br /> %<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 5. Bình quân nhân khẩu<br /> <br /> Người<br /> <br /> 5,0<br /> <br /> 5,6<br /> <br /> 5,2<br /> <br /> - Lao động/hộ<br /> <br /> Lao động<br /> <br /> 2,9<br /> <br /> 3,8<br /> <br /> 3,4<br /> <br /> - Lao đông nông nghiệp/hộ<br /> <br /> Lao động<br /> <br /> 1,3<br /> <br /> 1,8<br /> <br /> 1,5<br /> <br /> 6. Lao động<br /> <br /> Kết quả điều tra cho thấy trình độ học vấn của các nhóm lao động giảm nhanh<br /> theo các độ tuổi, trong khi lao động ở độ tuổi từ 15-18 có 72,7% đang theo học tại các<br /> trường phổ thông, dạy nghề, trung cấp cao đẳng và đại học thì lao động ở độ tuổi từ 18<br /> đến 35 (nữ), 40 (nam) chỉ có 11,5% và không ai đi học ở độ tuổi trên 35 (nữ), 40 (nam).<br /> Như vậy, thực tế cho thấy rằng, đa số chủ hộ có đất nông nghiệp bị thu hồi đều<br /> lớn tuổi, trình độ văn hóa thấp. Lao động lớn tuổi chiếm đa số và ít người được học<br /> hành nhưng đối tượng này lại là những người phải gánh vác trách nhiệm quan trọng<br /> trong việc đảm bảo sinh kế của hộ, là những lao động chính tạo thu nhập cho hộ.<br /> 3.2. Sự thay đổi về sinh kế của người dân bị thu hồi đất nông nghiệp<br /> Đối với người nông dân thì đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất, khi mất<br /> đất tức là mất đi công cụ, phương tiện để đảm bảo đời sống, tức là họ chịu một cú sốc<br /> rất lớn. Ngoài ra, hoàn cảnh của họ cũng có nhiều thay đổi như nhận được khoản tiền<br /> bồi thường, hỗ trợ; các nguồn vốn sinh kế khác thay đổi, người dân phải lựa chọn hoạt<br /> động nào để đảm bảo sinh kế, những tác động từ chính sách của Nhà nước, kết quả dẫn<br /> đến đầu ra sinh kế của người dân bị thu hồi đất nông nghiệp thay đổi như thế nào so với<br /> trước thu hồi đất. Sau đây chúng ta xem xét sự thay đổi các nguồn vốn tạo sinh kế của<br /> họ để thấy được ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế của người nông dân.<br /> 3.2.1. Thay đổi về diện tích đất nông nghiệp (thuộc nguồn vốn tự nhiên)<br /> Bảng 2. Diện tích đất nông nghiệp bình quân của các nhóm hộ<br /> ĐVT: m2<br /> <br /> Trước thu hồi<br /> (Năm 2004)<br /> <br /> Sau thu hồi<br /> (Năm 2009)<br /> <br /> 1. Nhóm 1<br /> <br /> 3263,4<br /> <br /> 2. Nhóm 2<br /> 3. Nhóm 3<br /> <br /> Chỉ tiêu<br /> <br /> So sánh 2009/2004<br /> (+/-)<br /> <br /> (%)<br /> <br /> 2465,6<br /> <br /> -797,8<br /> <br /> -24,4<br /> <br /> 3617,1<br /> <br /> 1536,4<br /> <br /> -2080,6<br /> <br /> -57,5<br /> <br /> 3332,0<br /> <br /> 525,0<br /> <br /> -2807,0<br /> <br /> -84,2<br /> <br /> 51<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2