BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
ĐÀO MINH NGỌC
ẢNH HƯỞNG CỦA KHOẢNG CÁCH VĂN HÓA QUỐC GIA TỚI ĐÁNH GIÁ CỦA KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ VỀ SỨC HẤP DẪN CỦA TÀI NGUYÊN DU LỊCH VĂN HÓA: NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : KINH TẾ DU LỊCH Mã số: 62340410
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. PHẠM TRƯƠNG HOÀNG TS. HOÀNG THỊ LAN HƯƠNG
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật. Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Hà Nội, ngày…. tháng…. Năm 2018
Người hướng dẫn 1
Người hướng dẫn 2
Tác giả luận án
PGS.TS. Phạm Trương Hoàng
TS. Hoàng Thị Lan Hương
NCS. Đào Minh Ngọc
LỜI CẢM ƠN
Xin trân trọng cảm ơn gia đình và những người thân yêu đã luôn động viên và là
điểm tựa cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án.
Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Phạm Trương Hoàng, TS. Hoàng Thị Lan Hương.
Thầy, Cô đã luôn tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành nghiên cứu này.
Xin trân trọng cảm ơn thầy cô, bạn bè đồng nghiệp tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Viện Đào tạo Sau đại học và Khoa Du lịch - Khách sạn vì đã luôn quan
tâm, chia sẻ với tôi những khó khăn trong công việc và trong quá trình nghiên cứu.
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận án
NCS. Đào Minh Ngọc
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU ........................................................................1
1.1. Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài ...................................................................1 1.1.1. Về mặt lý luận ........................................................................................... 1
1.1.2. Về mặt thực tiễn ........................................................................................ 3
1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án ...............................................4 1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu ...............................................4
1.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.................................................................................5
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án ...............................................6 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................6
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................7
1.4. Quy trình và nội dung nghiên cứu ...................................................................7
1.5. Kết cấu của luận án...........................................................................................9
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU .......................10
2.1. Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến .................................................................................................................10 2.1.1. Tài nguyên du lịch văn hóa ...................................................................... 10 2.1.2. Sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ............................................. 12
2.1.3. Đo lường đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến............................................................................................. 14
2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp
dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa tại điểm đến ................................................. 19
2.2. Khoảng cách văn hóa quốc gia.......................................................................21 2.2.1. Văn hóa quốc gia và sự khác biệt văn hóa quốc gia.................................. 21
2.2.2. Khái niệm khoảng cách văn hóa quốc gia ................................................ 23
2.2.3. Đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia .................................................. 24 2.2.4. Đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia bằng các chỉ số của Hofstede và
phương pháp của Jackson (2001)........................................................................ 28
2.3. Ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến sức hấp dẫn của điểm đến, của tài nguyên du lịch văn hóa ........................................................................33 2.3.1. Ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến các hành vi tiêu dùng của khách du lịch quốc tế.................................................................................... 33
2.3.2. Ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến dự định lựa chọn điểm đến, lựa chọn tài nguyên du lịch văn hóa ............................................................ 35
2.3.3. Ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của điểm đến, tài nguyên du lịch.............................. 36
2.4. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa
quốc gia đến đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến ......................................................................................47 2.4.1. Căn cứ xây dựng mô hình và các giả thuyết nghiên cứu........................... 47 2.4.2. Mô hình nghiên cứu lý thuyết .................................................................. 54
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................................................58
3.1. Quy trình và phương pháp nghiên cứu .........................................................58 3.1.1. Quy trình nghiên cứu ............................................................................... 58
3.1.2. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 59
3.2. Thang đo các nhân tố trong mô hình nghiên cứu .........................................69 3.2.1. Thang đo khoảng cách của các yếu tố văn hóa quốc gia ........................... 69
3.2.2. Các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến ....................... 70 3.2.3. Thang đo Đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến ......... 71 3.2.4. Thang đo Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của
tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến ................................................................ 73
3.2.5. Thang đo động cơ du lịch của khách khi đến thăm tài nguyên du lịch văn
hóa ở điểm đến ................................................................................................... 75 3.2.6. Thang đo kinh nghiệm du lịch quá khứ tại điểm đến ................................ 76
3.2.7. Đặc điểm nhân khẩu học của khách du lịch.............................................. 76
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 .......................................................................................................78
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...........................................................................79
4.1. Kiểm tra các thang đo trong mô hình nghiên cứu........................................79 4.1.1. Kiểm tra độ tin cậy của các thang đo........................................................ 79 4.1.2. Kiểm tra hiệu lực của thang đo ................................................................ 83
4.2. Kết quả phân tích ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa.....91 4.2.1. Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh................................................................ 91
4.2.2. Hàm giả định về mối quan hệ của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu. 92 4.2.3. Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu ................................................. 95
4.2.4. Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu ................................ 103 4.2.5. Kết quả phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đặc điểm cá nhân tới đánh giá
của khách du lịch về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa...................... 105
TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 .....................................................................................................108
CHƯƠNG 5. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ GỢI Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH DỰA VÀO TÀI NGUYÊN VĂN HÓA Ở VIỆT NAM...................109
5.1. Thảo luận về các kết quả nghiên cứu lý luận ..............................................109 5.1.1. Việc xác định các tiêu chí và đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn
của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến là một quá trình năng động, thay đổi phụ thuộc vào điểm đến, vào đặc thù của chuyến đi.......................................... 109
5.1.2. Khách du lịch quốc tế có xu hướng phân định rõ các nhân tố hấp dẫn mang tính trừu tượng – cụ thể - cảnh quan, bầu không khí khi đánh giá sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến .............................................................. 110
5.1.3. Các yếu tố khoảng cách văn hóa quốc gia có ảnh hưởng khác nhau tới đánh
giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến........................................................................................................... 114
5.1.4. Các nhân tố đo lường đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn
của tài nguyên du lịch văn hóa chịu ảnh hưởng khác nhau từ khoảng cách văn hóa
quốc gia............................................................................................................ 117
5.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam ...........................................121 5.2.1. Đánh giá của khách du lịch quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí
trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam ...... 121
5.2.2. Đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài
nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam.................................................................. 123
5.3. Gợi ý đối với phát triển du lịch dựa vào tài nguyên văn hóa ở Việt Nam.125 5.3.1. Khái quát về du lịch văn hóa và tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam 125
5.3.2. Một số gợi ý đối với sự phát triển du lịch dựa vào tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam ................................................................................................ 129
5.4. Hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.........................................135 5.4.1. Hạn chế của mô hình đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia ............... 135 5.4.2. Hạn chế khi sử dụng thang đo và phương pháp đo lường đánh giá của
khách du lịch về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến khi xác định sức hấp dẫn của những loại hình tài nguyên du lịch văn hóa cụ thể........... 136
TIỂU KẾT CHƯƠNG 5 .....................................................................................................137
KẾT LUẬN...........................................................................................................................138
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Diễn giải tiếng Việt Diễn giải tiếng Anh
Thuật ngữ ATLAS
Hiệp hội du lịch, giải trí, giáo dục Châu Âu European Association for Tourism and Leisure Education
CDIDV Chỉ số khoảng cách chủ nghĩa cá nhân Cultural Distance of Individualism
Index
CDIND
Chỉ số khoảng cách thỏa mãn đam mê cá nhân Cultural Distance of Indulgence Index
CDLTO Chỉ số khoảng cách định hướng dài hạn Cultural Distance of Long-Term
Orientation Index
CDMAS Chỉ số khoảng cách nam tính
Cultural Distance of Masculinity Index
CDPDI Chỉ số khoảng cách quyền lực Cultural Distance of Power
Distance Index
CDUAI Chỉ số khoảng cách tránh sự rủi ro Cultural Distance of Uncertainty
Advoidance Index
ĐCGT Động cơ giải trí
ĐCVH Động cơ văn hóa
DLVH Cultural Tourism Du lịch văn hóa
EFA Phân tích nhân tố khám phá Exploratory Factor Analasys
ETC Hội đồng lữ hành Châu Âu Europian Travel Commission
ICOMOS Hội đồng di tích và di chỉ quốc tế International Council On
Monument and Sites
IDV Individualism Chủ nghĩa cá nhân
IND Indulgence Thỏa mãn đam mê cá nhân
KDL Khách du lịch
KNDL Kinh nghiệm du lịch quá khứ ở điểm Past Experiences
đến của khách du lịch quốc tế
LTO Định hướng dài hạn Long-Term Orientation
MAS Nam tính Masculinity
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
Organisation for Economic Co- in Operation and Development
Diễn giải tiếng Việt Diễn giải tiếng Anh Thuật ngữ
Europe
Khoảng cách quyền lực Power Distance Index PDI
Attractiveness SHD Sức hấp dẫn
Criterion Contructs TC
Đánh giá của khách du lịch quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí trong
việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TCCQ Đánh giá của khách du lịch quốc tế về
mức độ quan trọng của tiêu chí cảnh quan, bầu không khí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TCCT
Đánh giá của khách du lịch quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí cụ
thể trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TCTT
Đánh giá của khách du lịch quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí trừu
tượng trong việc tạo nên sức hấp dẫn
của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TNDL Tài nguyên du lịch
TT
Đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài
nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TTCQ Đánh giá của khách du lịch quốc tế về
sức hấp dẫn từ các thuộc tính cảnh quan, bầu không khí xung quanh tài
nguyên du lịch văn hóa
TTCT
Đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cụ thể của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Diễn giải tiếng Việt Diễn giải tiếng Anh
Thuật ngữ TTTT Đánh giá của khách du lịch quốc tế về
sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng của tài nguyên du lịch văn hóa ở
điểm đến
UAI Tránh sự rủi ro (không chắc chắn) Uncertainty Advoidance
UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa United Nations Educational,
liên hợp quốc and Cultural
Scientific Organization
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Các yếu tố văn hóa quốc gia theo Schwartz (1994, 1999).......................................26
Bảng 2.2. Các yếu tố văn hóa quốc gia theo lý thuyết Hofstede..............................................28
Bảng 2.3. Đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia theo Jackson, 2001.................................32
Bảng 2.4. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến sự lựa chọn
điểm đến và sở thích đối với tài nguyên của khách du lịch quốc tế ........................38
Bảng 2.5. Tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu........................................................................55
Bảng 3.1. Chủ đề phỏng vấn chuyên gia..................................................................................60
Bảng 3.2. Phân bố mẫu tại các địa bàn thực hiện nghiên cứu điều tra.....................................63
Bảng 3.3. Tổng hợp các đặc điểm nhân khẩu học của mẫu điều tra........................................67
Bảng 3.4. Tổng hợp chỉ số khoảng cách văn hóa quốc gia giữa Việt Nam với các quốc gia
theo chỉ số của Hofstede và đo lường của Jackson..................................................69
Bảng 3.5. Thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến ...........................................70
Bảng 3.6. Thang đo đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc
tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến.............................72
Bảng 3.7. Thang đo đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài
nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến .........................................................................74
Bảng 3.8. Thang đo động cơ du lịch của khách khi đến thăm các tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến...................................................................................................................75
Bảng 3.9. Thang đo kinh nghiệm du lịch quá khứ tại điểm đến ..............................................76
Bảng 3.10. Các đặc điểm nhân khẩu học của khách du lịch....................................................77
Bảng 4.1. Kết quả kiểm định thang đo Đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của
tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến79
Bảng 4.2. Kết quả kiểm định thang đo Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các
thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến.............................................81
Bảng 4.3. Kết quả kiểm định thang đo Động cơ du lịch của khách khi đến thăm tài nguyên du
lịch văn hóa ở điểm đến...........................................................................................83
Bảng 4.4. Kết quả phân tích nhân tố đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của
tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến84
Bảng 4.5. Ma trận xoay nhân tố Đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến............85
Bảng 4.6. Kết quả phân tích nhân tố đánh giá của khách du lịch về mức độ hấp dẫn từ các
thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến.............................................86
Bảng 4.7. Ma trận xoay các nhân tố Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến.......................................................87
Bảng 4.8. Kết quả phân tích nhân tố động cơ du lịch của khách khi đến thăm tài nguyên du
lịch văn hóa ở điểm đến...........................................................................................88
Bảng 4.9. Ma trận xoay các nhân tố động cơ du lịch của khách khi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến...........................................................................................88
Bảng 4.10. Kết quả phân tích nhân tố tổng hợp các biến quan sát...........................................89
Bảng 4.11. Ma trận xoay tổng hợp các thang đo nhân tố.........................................................90
Bảng 4.12. Kết quả phân tích tương quan mối quan hệ của biến độc lập với biến phụ thuộc.92
Bảng 4.13. Kết quả phân tích hồi quy mối quan hệ thứ nhất...................................................95
Bảng 4.14. Kết quả phân tích hồi quy mối quan hệ thứ hai.....................................................97
Bảng 4.15. Kết quả phân tích hồi quy mối quan hệ thứ ba ......................................................99
Bảng 4.16. Kết quả phân tích hồi quy mối quan hệ thứ tư.....................................................100
Bảng 4.17. Kết quả phân tích hồi quy mối quan hệ thứ năm.................................................102
Bảng 4.18. Tổng hợp kết quả phân tích hồi quy toàn bộ các nhân tố trong mô hình nghiên cứu của luận án .............................................................................................................103
Bảng 4.19. Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu ............................................104
Bảng 4.20. Kết quả phân tích tương quan mối quan hệ của biến kiểm soát với biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu......................................................................................105
Bảng 4.21. Kết quả phân tích ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân đến đánh giá của khách du
lịch về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến............................107
Bảng 5.1. Tổng hợp các nhân tố mới đo lường Đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của các tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa
ở điểm đến..............................................................................................................111
Bảng 5.2. Tổng hợp các nhân tố mới đo lường Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ
các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến ....................................112
Bảng 5.3. Xếp hạng của khách du lịch quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam..........................122
Bảng 5.4. Đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam ...................................................................................124
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Quy trình thực hiện nghiên cứu..................................................................................8
Hình 2.1. Phân loại tài nguyên văn hóa....................................................................................12
Hình 2.2. Đo lường đánh giá của du khách về sức hấp dẫn của điểm đến du lịch (Hu &
Ritchie, 1993)...........................................................................................................15
Hình 2.3. Đo lường đánh giá sức hấp dẫn của điểm đến du lịch (Formica, 2000) ..................16
Hình 2.4. Đo lường đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn của điểm đến (Emir & cộng sự, 2016) ..................................................................................................................17
Hình 2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến .........................................................................20
Hình 2.6. Mô hình nghiên cứu (dự kiến)..................................................................................54
Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu................................................................................................58
Hình 4.1. Mô hình nghiên cứu (hiệu chỉnh).............................................................................91
Hình 4.2. Mô hình kết quả hồi quy mối quan hệ thứ nhất .......................................................96
Hình 4.3. Mô hình kết quả hồi quy mối quan hệ thứ hai .........................................................98
Hình 4.4. Mô hình kết quả hồi quy mối quan hệ thứ ba...........................................................99
Hình 4.5. Mô hình kết quả hồi quy mối quan hệ thứ tư.........................................................101
Hình 4.6. Mô hình kết quả hồi quy mối quan hệ thứ năm .....................................................102
1
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài
1.1.1. Về mặt lý luận
Ở các điểm đến, tài nguyên du lịch (TNDL) luôn được xem là yếu tố cốt lõi, là giá trị cơ bản tạo nên sự thu hút, hấp dẫn đối với khách du lịch (KDL) (Apostolakis,
2003; Richards, 2010). Việc tìm kiếm những phương pháp đo lường sức hấp dẫn của TNDL trở nên rất cần thiết, bởi đây chính là cơ sở để các nhà quản lý, kinh doanh hiểu
rõ hơn về lợi thế đặc trưng của mỗi điểm đến, từ đó có thể đưa ra các chiến lược quản lý phù hợp giúp tăng cường khả năng cạnh tranh của điểm đến trong bối cảnh thị
trường du lịch toàn cầu (Lew, 1987; Hu and Ritchie, 1993; Formica and Uysal, 2006;
Mikulic và cộng sự, 2016).
Những nghiên cứu xác định sức hấp dẫn của TNDL đã được thực hiện từ những năm 1970 nhằm mục đích quy hoạch điểm đến, quản lý tài nguyên (Formica, 2000; Formica and Uysal, 2006). Đây là thời kỳ mà phát triển du lịch định hướng theo khả năng cung ứng của điểm đến bởi nhu cầu du lịch còn khá đồng nhất (Hu and Ritchie,
1993; Formica and Uysal, 2006). Ở giai đoạn này, sức hấp dẫn của TNDL ở một điểm
đến chủ yếu được xác định dựa trên số lượng tài nguyên, sự đa dạng của các loại hình tài nguyên (Gearing và cộng sự, 1974), sức chứa, quy mô hay sự thuận lợi khi tiếp cận
với TNDL (Gearing và cộng sự, 1974; Aroch, 1984).
Đến cuối những năm 1990, thị trường du lịch có nhiều thay đổi, nhu cầu của KDL quốc tế trở nên đa dạng và phức tạp hơn đỏi hỏi các nhà quản lý, kinh doanh phải
hiểu sâu về đặc điểm của từng thị trường nhằm thực hiện các hoạt động quy hoạch,
quản lý điểm đến, kinh doanh sản phẩm phù hợp (Ark and Richards, 2006; Formica
and Uysal, 2006). Xuất phát từ định hướng thị trường, các nhà nghiên cứu cho rằng, để
xác định được mức độ hấp dẫn của điểm đến, của tài nguyên đối với mỗi thị trường khác nhau, cần phải tiếp cận đo lường sức hấp dẫn này thông qua cảm nhận, đánh giá
của KDL trong mối quan hệ với những đặc điểm riêng của họ (Ark and Richards,
2006; Formica and Uysal, 2006, Wu và cộng sự, 2015). Theo đó, sức hấp dẫn của
TNDL ở điểm đến được xác định chính là các thuộc tính của tài nguyên phù hợp với các tiêu chí mà KDL đặt ra, có khả năng tạo ra những ấn tượng, cảm nhận tích cực cho họ. Những ấn tượng, cảm nhận tích cực này thu hút sự chú ý của khách đối với tài nguyên và có thể hình thành mong muốn tới du lịch để tìm hiểu về các giá trị của tài
2
nguyên, hoặc quay trở lại tìm hiểu về TNDL ở điểm đến của KDL (Formica and
Uysal, 2006; Ahmad và cộng sự, 2014).
Việc xác định sức hấp dẫn của điểm đến, của TNDL theo hướng tiếp cận thị trường rất phù hợp để ứng dụng trong nghiên cứu marketing, nhất là ở thời điểm hiện
tại, khi mà nhu cầu và xu hướng tiêu dùng du lịch đã thay đổi theo hướng đa dạng và phức tạp hơn (Ahmad và cộng sự, 2014). Đặc biệt, với những thị trường mang tính chất chuyên biệt như DLVH thì việc xác định sức hấp dẫn theo định hướng thị trường
lại càng cần thiết, bởi lẽ tiêu chí về sức hấp dẫn, cảm nhận, đánh giá về giá trị hấp dẫn của TNDL văn hóa có sự khác biệt khá lớn giữa các thị trường do ảnh hưởng của sự
khác biệt về xã hội, văn hóa và tâm lý cá nhân (Wu và cộng sự, 2015). Những lập luận trên đã cho thấy, việc nghiên cứu đo lường mức độ hấp dẫn của TNDL văn hóa qua
cảm nhận, đánh giá của người tiêu dùng du lịch và xác định những yếu tố ảnh hưởng tới sự cảm nhận, đánh giá này chắc chắn sẽ có nhiều ý nghĩa về lý luận, thực tiễn đối
với sự phát triển của điểm đến, của sản phẩm DLVH ở các quốc gia.
Ở khía cạnh nghiên cứu văn hóa và cảm nhận về điểm đến, các nhà nghiên cứu đã chứng minh được rằng, khác biệt văn hóa quốc gia có mối quan hệ ảnh hưởng mạnh
mẽ và sâu rộng tới cảm nhận, đánh giá của KDL quốc tế về điểm đến, về TNDL (Crotts,
2004; Crotts and Erdmann, 2000; Crotts and McKercher, 2006; Lim và cộng sự, 2008; Litvin and Kar, 2004; Litvin và cộng sự, 2004; Lord và cộng sự, 2008; March, 2000;
Mattila, 1999; Pizam and Sussmann, 1995; Prebensen và cộng sự, 2003; Reisinger and Turner, 2002). Đề cập sâu hơn về mức độ khác biệt văn hóa giữa các quốc gia, một số tác giả đã sử dụng khái niệm khoảng cách văn hóa quốc gia và nghiên cứu mối quan hệ của khoảng cách văn hóa quốc gia với sở thích, đánh giá về điểm đến của KDL quốc tế như Tsang and App (2007); Yang and Wong (2012); Leung và cộng sự (2013); Ahn and McKercher, (2015); Juan và cộng sự (2017). Trong đó, khoảng cách văn hóa quốc gia
được hiểu là mức độ khác biệt dựa trên một thang đo lường những giác độ văn hóa của
các quốc gia (Kogut and Singh, 1988; Jackson, 2001; Shenkar, 2012). Khoảng cách văn
hóa quốc gia có mối liên hệ với sở thích về sản phẩm, dịch vụ du lịch (Leung và cộng sự, 2003; Reisinger and Mavondo, 2005; Tsang and Ap, 2007), sở thích và dự định lựa
chọn điểm đến du lịch (Crotts, 2004; Litvin and Kar, 2004; Lord và cộng sự, 2008;
Esiyok và cộng sự, 2017; Juan và cộng sự, 2017), hành vi của người tiêu dùng trước và
trong chuyến đi (Meng, 2010; Lee và cộng sự, 2017), hình ảnh và nhận thức về điểm đến du lịch (Ahn and McKercher, 2015).
3
Ở những nghiên cứu nói trên, TNDL văn hóa được nhắc đến như một thuộc tính
quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của điểm đến đối với KDL và thường được đo lường cùng với các yếu tố tạo nên sức hấp dẫn tổng thể của điểm đến như hạ tầng du lịch,
môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa xã hội… Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào xác định cụ thể mức độ ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới đánh giá của KDL về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến trong bối cảnh du lịch quốc tế.
Trong khi đây chính là một chủ đề nghiên cứu hết sức cần thiết bởi lẽ hành vi, sở thích tiêu dùng DLVH ở hiện tại đã có nhiều thay đổi. Người tiêu dùng đã chuyển từ tiêu
dùng bị động sang tiêu dùng chủ động và quan tâm nhiều hơn tới giá trị hấp dẫn cốt lõi của điểm đến là TNDL (Formica and Uysal, 2006). Khác biệt văn hóa trở thành một
trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ và là nhân tố thu hút người tiêu dùng lựa
chọn điểm đến du lịch (Kozak and Decrop, 2008; OECD, 2009; Isaac, 2008; Reisinger, 2009; Richards, 2002). Do đó, rất cần thiết phải có các nghiên cứu xem xét
ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến sở thích đối với tài nguyên và đánh
giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa để hiểu rõ hơn đặc điểm tiêu dùng của từng thị trường KDL văn hóa. Hơn nữa, trong nghiên cứu về du lịch, biến số
khoảng cách văn hóa dù đã được biết đến là yếu tố có ảnh hưởng tới sở thích, hành vi tiêu dùng du lịch nhưng số lượng nghiên cứu được công bố còn khá hạn chế (Juan và
cộng sự, 2017). Vì vậy mà việc thực hiện nghiên cứu chủ đề này của luận án là hết sức cần thiết, chắc chắn sẽ mang lại ý nghĩa thiết thực về mặt lý luận, giúp bổ sung sự hiểu biết sâu sắc hơn về ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến hành vi tiêu
dùng của khách du lịch trong bối cảnh quốc tế.
1.1.2. Về mặt thực tiễn
Du lịch văn hóa (DLVH) đang trở thành một trong những xu hướng đang phát
triển rất mạnh mẽ trên thế giới (Boniface, 2003; Verbeke và cộng sự, 2008; Kozak and Decrop, 2008; Du Cros, 2001; Richards, 2002). Phát triển DLVH một mặt mang lại
nhiều lợi ích về kinh tế, xã hội, mặt khác giúp các điểm đến có thể bảo tồn, giữ gìn và
phát triển bền vững những giá trị di sản văn hóa luôn nằm trong nguy cơ bị lãng quên
hay phá hủy của cộng đồng (Boniface, 2003; Isaac, 2008). Ở Việt Nam, phát triển du lịch dựa vào tài nguyên văn hóa luôn được xem là định hướng, là cơ sở để tạo nên sự
hấp dẫn của các sản phẩm du lịch. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến 2020, tầm nhìn 2030 đã xác định mục tiêu quan trọng đó là: “phát triển DLVH bền vững gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc,… Phát triển các sản phẩm DLVH gắn với di sản, lễ hội, tham quan và tìm hiểu văn hóa, lối sống địa
4
phương: phát triển du lịch làng nghề và du lịch cộng đồng…”. Để hoàn thành mục tiêu này, ngành du lịch Việt Nam sẽ phải vượt qua rất nhiều thách thức, trong đó, thách thức rất lớn đó là tạo nên sức hấp dẫn, tăng cường năng lực cạnh tranh của sản phẩm
DLVH so với sản phẩm của các nước lân cận.
Trong quá trình phát triển du lịch dựa vào TNDL văn hóa, ngoài việc tận dụng các giá trị giàu bản sắc của văn hóa Việt Nam, những nhà quản lý và kinh doanh còn rất cần có những hiểu biết về cảm nhận và những yếu tố ảnh hưởng tới cảm nhận của
KDL quốc tế về giá trị của TNDL văn hóa. Đây chính là cơ sở để các nhà kinh doanh có thể phát triển các chương trình, điểm đến DLVH phù hợp với nhu cầu của từng thị
trường, nâng cao sức hấp dẫn của Việt Nam đối với KDL quốc tế. Do đó, việc thực hiện nghiên cứu xác định sức hấp dẫn của TNDL văn hóa thông qua đánh giá của KDL
quốc tế, trong mối quan hệ ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia mà tác giả thực hiện trong luận án này mang ý nghĩa thực tiễn lớn. Bởi lẽ, ở Việt Nam, những
nghiên cứu theo hướng này chưa có nhiều. Đặc biệt, còn thiếu các nghiên cứu ứng dụng các lý thuyết đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia để xác định sự khác biệt trong việc đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa.
Xuất phát từ khoảng trống lý luận trong chủ đề ảnh hưởng của khoảng cách văn
hóa quốc gia tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa, đồng thời xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu đối với sự phát triển du lịch
dựa vào TNDL văn hóa ở Việt Nam, tác giả lựa chọn đề tài: “Ảnh hưởng của khoảng
cách văn hóa quốc gia tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa: nghiên cứu ở Việt Nam” làm luận án tiến sĩ Quản lý kinh tế chuyên ngành Kinh tế Du lịch.
1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là khám phá ảnh hưởng của khoảng cách văn
hóa quốc gia tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm
đến. Kết quả của luận án có thể là tài liệu để các nhà kinh doanh, tiếp thị điểm đến xây
dựng thành công những chiến lược tiếp thị hình ảnh DLVH, quảng bá về TNDL văn hóa và thiết kế các chương trình DLVH phù hợp với đặc điểm của thị trường, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững.
5
Mục tiêu cụ thể của luận án là:
(1) Hệ thống và phát triển thang đo lường sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở
điểm đến qua đánh giá của KDL, từ đó khám phá mức độ hấp dẫn của TNDL văn hóa ở Việt Nam qua đánh giá của KDL quốc tế;
(2) Xác định ảnh hưởng của các yếu tố khoảng cách văn hóa quốc gia đến đánh
giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến;
(3) Xác định ảnh hưởng của một số yếu tố thuộc đặc điểm cá nhân đến đánh giá
1.2.1.2. Câu hỏi nghiên cứu
của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất: Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn của
tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến được đo lường như thế nào?
Câu hỏi nghiên cứu thứ hai: Khoảng cách văn hóa quốc gia có ảnh hưởng như
thế nào đến đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến?
Câu hỏi nghiên cứu thứ ba: Các đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng như thế nào
đến đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến?
1.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ
1.2.2.1. Tổng quan lý thuyết
nghiên cứu đó là:
Tác giả thực hiện tổng quan lý thuyết về các chủ đề:
- Sức hấp dẫn của TNDL văn hóa, đo lường đánh giá của KDL quốc tế về sức
hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến;
- Khoảng cách văn hóa quốc gia và ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc
gia tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn TNDL văn hóa ở điểm đến;
- Ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân (động cơ, kinh nghiệm quá khứ, nhân
khẩu học) tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa điểm đến.
6
1.2.2.2. Đề xuất mô hình, giả thuyết nghiên cứu và thực hiện kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở tổng quan lý thuyết, xác định vấn đề nghiên cứu, tác giả đề xuất mô
hình, giả thuyết nghiên cứu và thực hiện kiểm định các giả thuyết nghiên cứu nhằm:
- Tổng hợp, phát triển thang đo đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của
TNDL văn hóa ở điểm đến;
- Xác định ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới đánh giá của KDL
quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến;
- Xác định ảnh hưởng của một số yếu tố thuộc cá nhân người tiêu dùng tới
1.2.2.3. Thảo luận về các kết quả nghiên cứu
đánh giá của họ về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Từ kết quả nghiên cứu, tác giả thực hiện thảo luận về các nội dung:
- Thang đo đánh giá của KDL về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến;
- Ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến đánh giá của KDL quốc tế
về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
- Ảnh hưởng của các yếu tố động cơ, kinh nghiệm quá khứ và các đặc điểm nhân khẩu học đến đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở
1.2.2.4. Kết luận và gợi ý từ kết quả nghiên cứu
điểm đến.
Từ các kết quả phân tích của luận án, tác giả thảo luận và đề xuất một số gợi ý
cho phát triển du lịch dựa vào tài nguyên văn hóa ở Việt Nam.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: của luận án là những ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia và một số yếu tố đặc điểm cá nhân tới đánh giá của KDL quốc tế về sức
hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Đối tượng phỏng vấn sâu: các chuyên gia văn hóa, hành vi và các nhà nghiên
cứu thị trường tại các doanh nghiệp lữ hành quốc tế (inbound).
7
Đối tượng điều tra bằng bảng hỏi: là KDL quốc tế (không bao gồm Việt Kiều)
đến du lịch ở Việt Nam bằng nhiều hình thức khác nhau như đi qua công ty lữ hành, đi tự túc… và là những người đã tới tham quan các TNDL văn hóa ở Việt Nam.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: đề tài thực hiện dựa trên cơ sở tổng quan, phân tích tài
liệu, phỏng vấn sâu đối với các chuyên gia văn hóa, hành vi và các nhà nghiên cứu thị trường tại các doanh nghiệp lữ hành quốc tế (inbound) và điều tra KDL quốc tế đến
Việt Nam. Điều tra chính thức sẽ được thực hiện ở Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Đây là những thành phố đón số lượng lớn KDL quốc tế đến và cũng đại diện
cho 3 miền Bắc, Trung và Nam của Việt Nam.
Phạm vi về thời gian: nghiên cứu được thực hiện từ 12.2015 đến 12.2017; thời
gian điều tra chính thức từ tháng 07.2016 đến tháng 07.2017.
1.4. Quy trình và nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu gồm những phần thể hiện trong hình 1.1 như sau:
8
Vấn đề nghiên cứu Ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa: nghiên cứu tại Việt Nam
Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
Tổng quan nghiên cứu Các nghiên cứu ở chủ đề tài nguyên du lịch, điểm đến du lịch; sức hấp dẫn của điểm đến du lịch, của TNDL văn hóa Các nghiên cứu về chủ đề ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa tới đánh giá của KDL về sức hấp dẫn của điểm đến Các nghiên cứu về chủ đề ảnh hưởng của động cơ, kinh nghiệm du lịch, đặc điểm nhân khẩu học tới đánh giá của KDL về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa Cơ sở lý thuyết Mô hình đo lường văn hóa quốc gia của Hofstede (2010); Phương pháp của Jackson (2001) nhằm xác định khoảng cách của các yếu tố văn hóa quốc gia từ chỉ số đo lường của Hofstede Sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến đo lường qua đánh giá của KDL Bản chất và mối quan hệ của các yếu tố đặc điểm cá nhân với đánh giá của KDL về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa
Xây dựng mô hình nghiên cứu Tổng quan nghiên cứu xác định khoảng trống đề xuất mô hình, giả thuyết và phương pháp nghiên cứu phù hợp Nghiên cứu định tính kiểm tra sự phù hợp của mô hình, của các biến số và mối quan hệ của các biến số trong mô hình nghiên cứu
Đo lường sức hấp dẫn của TNDL văn hóa qua đánh giá của khách du lịch Nghiên cứu định lượng đánh giá sơ bộ các thang đo (Cronbach Alpha) nhân tố trong mô hình nghiên cứu Phân tích khám phá nhân tố (EFA) đối với các biến trong mô hình nghiên cứu Xác định mức độ hấp dẫn của TNDL văn hóa của Việt Nam qua đánh giá của KDL quốc tế Đo lường ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới sức hấp dẫn của TNDL văn hóa qua đánh giá của khách du lịch Phân tích hồi quy đa biến ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới đánh giá của KDL về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến Phân tích ảnh hưởng của đặc điểm cá nhân tới đánh giá của KDL về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến
Gợi ý cho phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam Từ các kết quả nghiên cứu đề xuất gợi ý đối với phát triển du lịch dựa vào tài nguyên du lịch văn hóa phù hợp với các thị trường mục tiêu của du lịch Việt Nam.
Hình 1.1. Quy trình thực hiện nghiên cứu
9
1.5. Kết cấu của luận án
Ngoài các phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm
năm chương:
Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu
Chương 2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu
Chương 4. Kết quả nghiên cứu
Chương 5. Thảo luận kết quả nghiên cứu và gợi ý đối với phát triển du lịch dựa
vào tài nguyên văn hóa ở Việt Nam
10
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Chương hai đề cập đến những nội dung lý thuyết và tổng quan nghiên cứu làm
cơ sở cho việc xác định khoảng trống và xây dựng mô hình nghiên cứu. Cụ thể là: (1) Cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa đo
lường qua đánh giá của KDL; (2) Tổng quan lý thuyết về khoảng cách văn hóa quốc gia; (3) Tổng quan và bàn luận về các nghiên cứu có liên quan đến chủ đề ảnh hưởng
của khoảng cách văn hóa quốc gia đến đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của điểm đến, của TNDL văn hóa; (4) Xác định khoảng trống, đề xuất mô hình, giả thuyết
nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
2.1. Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
2.1.1. Tài nguyên du lịch văn hóa
TNDL văn hóa là một yếu tố cốt lõi của quá trình xây dựng, phát triển sản
phẩm du lịch và là mấu chốt quan trọng tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến du lịch (Boniface, 2003). TNDL văn hóa bao gồm các yếu tố văn hoá, kiến trúc, nghệ thuật,
các công trình sáng tạo của cộng đồng; các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể có thể khai thác phục vụ KDL (Boniface, 2003). Hiểu theo nghĩa rộng, TNDL văn hóa được
xem là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng dân cư tại một vùng, một điểm đến sáng tạo, gìn giữ trong quá khứ và ở hiện tại có thể sử dụng vào mục đích đáp ứng nhu cầu du lịch (ICOMOS, 2005; Richards, 2007).
Ở Việt Nam, khái niệm TNDL văn hóa đã được một số nhà nghiên cứu đề cập. Tác giả Trần Đức Thanh & Trần Thị Mai Hoa (2017) đã định nghĩa: “Tài nguyên du lịch văn hóa là các sản phẩm do con người tạo ra cùng các giá trị của chúng có sức hấp dẫn đối với khách du lịch hoặc được khai thác đáp ứng cầu du lịch” (Trần Đức Thanh & cộng sự, 2017, tr 110). Trong Luật Du lịch Việt Nam 2018 khái niệm TNDL được nêu: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành các sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa”. TNDL văn hóa chính là các yếu tố, giá trị văn hóa tồn tại gắn liền với một cộng đồng, một địa phương và có khả năng được khai thác để đáp
11
ứng nhu cầu của KDL. TNDL văn hóa được xem là một trong những yếu tố quan trọng
tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến du lịch (Phạm Trung Lương & cộng sự, 2000).
Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể hiểu “TNDL văn hóa là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng dân cư tại một vùng, một điểm đến sáng tạo, gìn giữ trong quá khứ, ở hiện tại và có thể được sử dụng để thiết kế sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu khi đi du lịch của con người. Những tài nguyên có giá trị văn hóa có thể là lực hấp dẫn, thu hút người từ nơi khác đến để chiêm ngưỡng và trải nghiệm những giá trị này ở điểm đến. TNDL văn hóa sẽ bao gồm cả các yếu tố môi trường văn hóa xã hội, lối sống, phong tục, tập quán, các di sản văn hóa lịch sử và sáng tạo hiện đại” (ICOMOS, 2005; UNESCO, 2009).
TNDL văn hóa có thể được phân chia thành tài nguyên văn hóa hữu thể gồm
các di tích, công trình, các mặt hàng ăn uống, sản phẩm làng nghề, tác phẩm nghệ thuật … và tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể gồm các lễ hội, phong tục, tập quán,
truyền thuyết, lối sống… (Trần Đức Thanh & cộng sự, 2017) hoặc có thể được phân chia theo loại hình của tài nguyên như di tích lịch sử, công trình đương đại, làng nghề, phong tục tập quán, …(Trần Thúy Anh & cộng sự, 2011). Theo cách phân chia của
ICOMOS (2005), tài nguyên văn hóa có thể thu hút KDL được chia thành các loại:
Tài nguyên di sản văn hóa: gồm những yếu tố đại diện cho văn hóa, lịch sử của một điểm đến nhất định và được truyền lại từ các thế hệ trước. Tài nguyên di sản văn hóa gồm có: các di sản vật thể (các địa điểm kiến trúc, di sản vật thể, các đài tưởng niệm, di tích lịch sử quốc gia); các di sản phi vật thể (văn học, nghệ thuật dân gian) và điểm chứa di sản (bảo tàng, nhà hát, địa điểm diễn ra sự kiện, những ký ức kết nối với
lịch sử, các bộ sưu tập…).
Tài nguyên văn hóa đương đại: là các yếu tố, các sản phẩm sáng tạo của thời kì hiện đại gắn với cộng đồng dân cư bản địa sinh sống tại một điểm đến nhất định. Tài nguyên văn hóa đương đại có thể bao gồm các sự kiện đương đại (liên hoan điện ảnh, sân khấu, các đại hội thể thao, sự kiện cộng đồng, sự kiện hợp tác…), các chương trình, địa điểm vui chơi giải trí (công viên, sòng bạc, trung tâm chiếu phim, cơ sở mua sắm, trung tâm trình diễn nghệ thuật, khu thể thao phức hợp… và các sáng tạo hiện đại (nghệ thuật thị giác, nghệ thuật sắp đặt, âm nhạc, sân khấu, nghệ thuật đương đại
(ICOMOS, 2005). Sơ đồ phân loại tài nguyên văn hóa được thể hiện như sau:
12
TÀI NGUYÊN VĂN HÓA CỦA ĐIỂM ĐẾN
TÀI NGUYÊN DI SẢN VĂN HÓA - Di sản văn hóa vật thể: di tích, địa điểm kiến trúc, văn hóa, lịch sử… - Di sản phi vật thể: nghệ thuật, văn hóa dân gian
TÀI NGUYÊN VĂN HÓA ĐƯƠNG ĐẠI - Sự kiện, lễ hội đương đại: liên hoan điện ảnh, sân khấu, âm nhạc… - Chương trình, địa điểm vui chơi, giải trí: công viên, sòng bạc, rạp hát, rạp chiếu phim… - Sản phẩm sáng tạo của thời hiện đại: trò chơi, nghệ thuật thị giác… - Các địa điểm chứa di sản văn hóa vật thể và phi vật thể: bảo tàng, bộ sưu tập, thư viện, địa điểm trình diễn nghệ thuật dân gian, làng nghề…
Hình 2.1. Phân loại tài nguyên văn hóa
(Nguồn: ICOMOS, 2005)
Ngoài hai yếu tố tài nguyên di sản văn hóa và tài nguyên văn hóa đương đại, tại mỗi điểm đến, các yếu tố bên ngoài gồm bầu không khí tâm lý xã hội, lối sống, thái độ
của cộng đồng bản địa, các hoạt động thời trang, đồ họa, phần mềm, phim ảnh, truyền
thông, giải trí… được xem là những thuộc tính nằm ngoài hai nhóm tài nguyên trên nhưng có vị trí rất quan trọng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở
điểm đến (ICOMOS, 2005; Richards, 2007; OECD, 2009; Reisinger, 2009).
2.1.2. Sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa
Nghiên cứu xác định sức hấp dẫn của điểm du lịch, của TNDL đã được thực
hiện từ đầu những năm 1970 (Formica, 2000). Ở giai đoạn này, các tác giả tiếp cận đo lường sức hấp dẫn của tài nguyên từ góc độ địa lý nhằm thực hiện quy hoạch điểm đến
du lịch. Sức hấp dẫn của TNDL chủ yếu được đo lường dựa trên việc xác định số
lượng tài nguyên, sự đa dạng loại hình tài nguyên, quy mô, sức chứa, sự thuận lợi khi
tiếp cận với TNDL (Ritchie and Zins, 1973; Gearing và cộng sự, 1974).
Đến những năm 1990, xuất phát từ quan điểm marketing hiện đại, các nhà nghiên cứu cho rằng, để hiểu rõ hơn sức hấp dẫn của điểm đến, của tài nguyên đối với
mỗi thị trường cần phải tiếp cận đo lường sức hấp dẫn này thông qua cảm nhận, đánh
giá của người tiêu dùng du lịch (Lew, 1987; Keng, 1993; Ark and Richards, 2006;
Formica and Uysal, 2006; Wu và cộng sự, 2015). Theo Lew (1987, tr3): “Sức hấp dẫn của một điểm đến du lịch được tạo thành từ các thuộc tính có khả năng tạo ra thu hút
13
đối với khách du lịch mà điểm đến có được. Những thuộc tính đó là những thứ mà khách cảm thấy cần phải được nhìn thấy, các hoạt động mà khách thấy cần phải làm và những trải nghiệm mà khách thấy cần được ghi nhớ ở điểm đến”. Ở định nghĩa này, sức hấp dẫn của điểm đến hay của TNDL sẽ được xác định thông qua cảm nhận, đánh giá của KDL. Mức độ quan trọng của mỗi thuộc tính mà khách cần phải được thấy, được trải nghiệm ở điểm đến phụ thuộc vào mỗi nhóm khách khác nhau trong mối
quan hệ với những yếu tố văn hóa, tâm lý xã hội và đặc điểm của mỗi chuyến đi... Từ các thuộc tính được đánh giá là quan trọng, KDL sẽ so sánh với những giá trị thực có
của tài nguyên và hình thành đánh giá về sức hấp dẫn của điểm đến hay của TNDL (Formica, 2000; Formica and Uysal, 2006; Vengesayi và cộng sự, 2009).
Cũng trên cơ sở tiếp cận sức hấp dẫn là khả năng thu hút KDL của điểm đến,
tác giả Hu and Ritchie (1993, tr 25) đã định nghĩa: “Sức hấp dẫn của một điểm đến du lịch phản ánh ý kiến đánh giá của cá nhân khách du lịch về khả năng mà các thuộc tính ở điểm đến có thể thỏa mãn nhu cầu, tạo ra sự hài lòng cho họ trong kỳ nghỉ tại điểm đến”. Mức độ hấp dẫn của điểm đến sẽ được xác định bằng những ý kiến đánh giá của du khách (Hu and Ritchie, 1993). Khi thuộc tính của điểm đến, của tài nguyên
được cảm nhận là phù hợp với sở thích thì KDL sẽ đánh giá thuộc tính đó có sức hấp
dẫn cao và ngược lại (Hu and Ritchie, 1993). Định nghĩa của Hu and Ritchie (1993) đã được nhiều tác giả phát triển trong các nghiên cứu sau này để xác định sức hấp dẫn của
điểm đến du lịch (Formica and Uysal, 2006; Ahmad và cộng sự, 2014).
Từ các nghiên cứu về sức hấp dẫn của điểm đến, một số tác giả đã đề cập sâu hơn khi xem xét đo lường sức hấp dẫn của TNDL hay cụ thể hơn trong đo lường sức hấp dẫn của TNDL văn hóa. Theo các tác giả Ark and Richards (2006), sức hấp dẫn của TNDL văn hóa phụ thuộc rất lớn vào cảm nhận của người tiêu dùng du lịch và sức hấp dẫn này được đo bằng mức độ mà người tiêu dùng mong muốn được hưởng thụ,
trải nghiệm các hoạt động, thuộc tính văn hóa ở điểm đến (Ark and Richards, 2006).
Wei and Zhu (2014), khi đo lường sức hấp dẫn của các di sản văn hóa ở
Thượng Hải đã cho rằng sức hấp dẫn du lịch là những cảm nhận tích cực mà KDL có được về giá trị của di sản văn hóa trên cơ sở sự tương tác với tài nguyên. Những cảm
nhận này chủ yếu xuất phát từ ý tưởng và trải nghiệm mà KDL có về giá trị của tài
nguyên và là yếu tố thu hút sự chú ý của khách đối với tài nguyên (Wei and Zhu,
2014). Cùng quan điểm với Wei and Zhu (2014), tác giả Wu và cộng sự (2015) khi nghiên cứu về sức hấp dẫn du lịch của tài nguyên văn hóa có liên quan đến di sản của
14
ngành muối ở Đài Loan đã đề cập đến khái niệm sức hấp dẫn của TNDL văn hóa.
Theo đó, TNDL văn hóa được xem là hấp dẫn khi có các yếu tố tích cực khiến KDL thấy rằng cần “phải xem” và tạo ra những trải nghiệm thú vị, đáng nhớ đối với khách
(Wu và cộng sự, 2015). Tác giả cũng khẳng định, sức hấp dẫn của TNDL văn hóa cần phải được đo lường từ cảm nhận, đánh giá của KDL trên cơ sở các thuộc tính sẵn có của tài nguyên. Những thuộc tính tạo ra ấn tượng, cảm nhận tích cực đối với khách sẽ
có sức hấp dẫn cao và ngược lại sẽ là không hấp dẫn (Wu và cộng sự, 2015).
Như vậy, có thể thấy xuất phát từ góc độ phân tích nhu cầu và cảm nhận của KDL, các nhà nghiên cứu đã có chung quan điểm cho rằng: Sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa là các thuộc tính của tài nguyên văn hóa ở điểm đến phù hợp với những tiêu chí, sở thích của khách du lịch, có khả năng tạo ra ấn tượng, cảm nhận tích cực cho khách du lịch. Những ấn tượng, cảm nhận tích cực này thu hút sự chú ý của khách đối với tài nguyên và tác động đến mong muốn tới du lịch hoặc tìm hiểu về các giá trị của tài nguyên văn hóa ở điểm đến của khách du lịch.
2.1.3. Đo lường đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Từ giai đoạn 1990 - 2000, sức hấp dẫn của tài nguyên, của điểm đến đã được các nhà nghiên cứu xác định dựa trên cảm nhận, đánh giá của người tiêu dùng du lịch nhằm đáp ứng sự đa dạng của nhu cầu du lịch (Formica and Uysal, 2006; Cracolici and Nijkamp, 2009; Jani và cộng sự, 2009; Kim and Perdue, 2011; Goeldner, 2011). Theo hướng này, tài nguyên hay điểm đến du lịch được xem là có sức hấp dẫn đối với KDL khi những thuộc tính của tài nguyên, của điểm đến phù hợp với đặc điểm nhu cầu, sở thích của khách. Và “sức hấp dẫn của điểm đến, của TNDL cần được đánh giá thông qua những nhận định của người tiêu dùng về các thuộc tính của điểm đến mà họ cho rằng phải được xem, phải được trải nghiệm ở điểm đến và đánh giá là làm hài lòng họ, trong mối quan hệ với những nhu cầu, đặc điểm riêng của cá nhân" (Hu and Ritchie, 1993, tr 26). Điều này là đúng đối với tài nguyên hay điểm đến DLVH, bởi lẽ sức hấp dẫn của tài nguyên văn hóa ở một điểm đến phụ thuộc rất nhiều vào cảm nhận, đánh giá của KDL (Ark and Richards, 2006; Jani và cộng sự, 2009).
Phát triển từ nghiên cứu của Lew (1987), tác giả Hu and Ritchie (1993) đã điều tra ý kiến đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của các thuộc tính ở 5 điểm đến là Hawaii, Úc, Hy Lạp, Pháp và Trung Quốc. Khách là những người đến du lịch ở 5 điểm đến nói trên với hai nhóm động cơ khác nhau gồm nhóm khách đi du lịch với mục đích giải trí đơn thuần và nhóm khách đi du lịch với mục đích tìm hiểu về văn
15
hóa, nâng cao hiểu biết về điểm đến. 16 thuộc tính của điểm đến đã được đề xuất trong bảng hỏi để điều tra đánh giá của KDL. Phần đầu của bảng hỏi, Hu & Ritchie đã điều tra đánh giá của KDL về mức độ quan trọng của mỗi thuộc tính trong việc tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến - mức độ mà thuộc tính khiến cho KDL cảm thấy cần phải được xem, cần phải được trải nghiệm ở điểm đến. Thang đo likert 5 điểm gồm các mức từ hoàn toàn không quan trọng (almost no importance) đến rất quan trọng (very importance) được sử đụng để đánh giá mức độ quan trọng của mỗi thuộc tính trong việc tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến. Phần thứ hai của bảng hỏi là những câu hỏi nhằm đo lường đánh giá của KDL về khả năng các thuộc tính thực có của điểm đến làm hài lòng họ. Thang đo likert 5 điểm gồm các mức từ khả năng rất thấp (very low ability) đến khả năng rất cao (very high ability) được sử dụng để đánh giá. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đã cho thấy mục đích chuyến đi và kinh nghiệm du lịch quá khứ ở điểm đến có ảnh hưởng tới đánh giá về sức hấp dẫn của điểm đến. Mô hình nghiên cứu của Hu and Ritchie (1993) được thể hiện như sau:
ĐO LƯỜNG SỨC HẤP DẪN CỦA ĐIỂM ĐẾN QUA ĐÁNH GIÁ CỦA KHÁCH DU LỊCH
Kinh nghiệm quá khứ ở điểm đến của khách du lịch (Individual’s Revious Visitation Experience)
Đo lường đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của thuộc tính trong việc tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến du lịch (To determine the relative importance of selected attributes in contributing to the overall attractiveness of a tourism destination)
Đo lường đánh giá của khách du lịch về khả năng thuộc tính của điểm đến làm hài lòng khách du lịch (To examine the perceived ability of selected destination to provide satisfaction on each touristic attribute of Tourism Destination)
Các thuộc tính của
Mục đích của khách trong chuyến đi (Vacation Purpose Types)
điểm đến du lịch
Hình 2.2. Đo lường đánh giá của du khách về sức hấp dẫn của điểm đến du lịch (Hu & Ritchie, 1993)
Từ nghiên cứu của Ritchie and Zins (1978), Lew (1987), Hu and Ritchie (1993), Formica và cộng sự đã đề xuất phương pháp đo lường sức hấp dẫn của điểm đến trong
16
mối quan hệ cung cầu, trong đó nhấn mạnh giá trị hấp dẫn cốt lõi là TNDL. Theo đó,
đo lường sức hấp dẫn của một điểm đến hoặc của TNDL bao gồm: (1) xác định các thuộc tính của điểm đến du lịch (Attraction Contrucst); (2) xác định đánh giá của KDL
về trọng số của thuộc tính trong việc tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến (Contruct Weights), (3) xác định đánh giá của KDL về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của điểm đến (Contrucst Scores), trên cơ sở đó, xác định sức hấp dẫn của điểm đến du lịch. Mô
hình nghiên cứu của Formica (2000) được thể hiện như sau:
Đánh giá của khách du lịch về trọng số của thuộc tính trong việc tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến (Contrucst Weights)
Sức hấp dẫn của điểm đến du lịch (Destination Attractiveness) Xác định thuộc tính hấp dẫn của điểm đến du lịch (Attraction Contrucst)
Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của điểm đến (Contrucst Scores)
Hình 2.3. Đo lường đánh giá sức hấp dẫn của điểm đến du lịch (Formica, 2000)
Như vậy, đo lường sức hấp dẫn của điểm đến, của tài nguyên, theo Formica (2000), là việc xác định đánh giá của KDL về sự thu hút, hấp dẫn của các thuộc tính của điểm đến, của tài nguyên trong mối quan hệ ảnh hưởng từ những yếu tố văn hóa,
xã hội và tâm lý cá nhân KDL (Formica, 2000). Những đánh giá này bao gồm: đánh giá trọng số của thuộc tính trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên và đánh giá về sức hấp dẫn đối với KDL của mỗi thuộc tính thực có ở điểm đến (Formica, 2000).
Tiếp tục với hướng nghiên cứu đo lường sức hấp dẫn của điểm đến thông qua
cảm nhận của người tiêu dùng, một số tác giả đã áp dụng phân tích phân cấp theo quá
trình tâm lý AHP (Analytic Hierarchy Process). Đây là mô hình lý thuyết tâm lý đã
được phát triển trong nghiên cứu hành vi người tiêu dùng du lịch bởi Chen (2006). AHP cũng đã được sử dụng để đánh giá các yếu tố tạo nên sức hấp dẫn đối với KDL
của điểm đến (Emir & cộng sự, 2016). Bước đầu, người ta xác định danh sách các thuộc tính được sử dụng làm tiêu chí đo lường sức hấp dẫn của điểm đến. Dựa trên các tiêu chí đó, người tiêu dùng sẽ xác định mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc
17
thu hút, lôi kéo sự chú ý hoặc lựa chọn điểm đến của họ. Thuật ngữ “Criterion
Contructs” được sử dụng để thay thế cho thuật ngữ “Contructs Weighs” với nghĩa người tiêu dùng sẽ xác định mức độ quan trọng của thuộc tính trong việc tạo nên sức
hấp dẫn của điểm đến, của tài nguyên du lịch ở điểm đến và gọi đó là tiêu chí tạo nên sự hấp dẫn của điểm đến (Emir & cộng sự, 2016). Tiếp đó, trên cơ sở so sánh với các tiêu chí đã được xác định, người tiêu dùng sẽ đánh giá sức hấp dẫn của từng thuộc
tính thực có của điểm đến (Emir & cộng sự, 2016).
Đánh giá về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến (Criterion Contrucst)
Xác định các tiêu chí hấp dẫn của điểm đến du lịch (Attraction Contrucst)
Đánh giá về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của điểm đến (Evaluation Contrucst)
Hình 2.4. Đo lường đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn của điểm đến (Emir & cộng sự, 2016)
Phương pháp đo lường sức hấp dẫn của điểm đến được phá triển bởi Hu and Ritchie (1993) và Formica và cộng sự (2000, 2006), Emir & cộng sự (2016) được nhiều
nhà nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch sử dụng nhằm đánh giá sức hấp dẫn của TNDL ở
điểm đến (Jani và cộng sự, 2009). Trong đó các tác giả Ark and Richards (2006); Vengesayi và cộng sự (2009); Wei and Zhu (2014); Wu và cộng sự (2015) đã ứng dụng
phương pháp này nhằm đo lường đánh giá của KDL về sức hấp dẫn của TNDL nói chung và TNDL văn hóa nói riêng. Nội dung đo lường bao gồm: thứ nhất, xác định các tiêu chí tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến; thứ hai, đo lường đánh giá của KDL về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến và thứ ba, đo lường đánh giá của KDL về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến (Ark and Richards, 2006; Iatu, 2011; Wei and Zhu, 2014; Wu và cộng sự, 2015).
Các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến du lịch
Các thuộc tính của TNDL văn hóa được hiểu là những đặc điểm, tính chất của tài nguyên văn hóa ở các điểm đến du lịch (McKercher and Ho, 2004). Các thuộc tính này có thể phân loại dựa trên loại hình tài nguyên hoặc phân loại dựa vào tính chất của
18
TNDL văn hóa và được sử dụng làm tiêu chí để đo lường sức hấp dẫn của TNDL văn
hóa ở điểm đến (Ariya và cộng sự, 2017).
Xuất phát từ góc độ tâm lý học, các nhà nghiên cứu cho rằng, để cảm nhận, đánh giá về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của điểm đến du lịch, khách thường có xu hướng
tổng hợp, hình ảnh hóa các yếu tố đơn lẻ thành những thuộc tính phản ánh tính chất chung của điểm đến (Gearing và cộng sự, 1974; Mayo and Javis, 1981). Tương tự đối với TNDL văn hóa ở một điểm đến, KDL sẽ có xu hướng tổng hợp và hình ảnh hóa
những tính chất của một số tài nguyên mà khách biết đến hoặc đã trải nghiệm thành những thuộc tính mang tính tổng hợp và gắn nó trở thành thuộc tính chung của TNDL
văn hóa ở điểm đến (McKercher and Ho, 2004; Ark and Richards, 2006, Miquel and Raquel, 2013; Wei and Zhu, 2014; Guan and Jones, 2015, Wu và cộng sự, 2015).
Những thuộc tính này sẽ được khách lựa chọn và sử dụng làm tiêu chí xác định sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở các điểm đến du lịch (Emir & cộng sự, 2016).
Đánh giá mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn
của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Trên cơ sở các thuộc tính của TNDL văn hóa đã được KDL xác định là tiêu chí
hấp dẫn của tài nguyên, KDL đánh giá mức độ quan trọng của mỗi tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến. Nói cách khác, đây chính là việc KDL xác định mức độ mà các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến thu hút họ, khiến họ muốn đến để tìm hiểu hoặc trải nghiệm ở các TNDL văn hóa (Hu and Ritchie, 1993; Formica và cộng sự, 2006; Wu và cộng sự, 2015). Thang điểm đo lường
mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến là thang
likert 5 điểm gồm các mức từ hoàn toàn không quan trọng (almost no importance) đến rất quan trọng (very importance). Việc đánh giá mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến phụ thuộc vào các đặc điểm
cá nhân của KDL và phụ thuộc vào đặc thù của chuyến đi, của điểm đến (Formica and
Uysal, 2006; Vengesayi và cộng sự, 2009; Tomigová và cộng sự, 2016).
Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên
du lịch văn hóa ở điểm đến
Trên cơ sở sự cảm nhận và so sánh các thuộc tính thực có của TNDL văn hóa với các tiêu chí đã được xác định, KDL thực hiện đánh giá sức hấp dẫn của TNDL văn hóa. Những thuộc tính gợi lên cho KDL cảm nhận tích cực và phù hợp với những tiêu chí về sức hấp dẫn tài nguyên sẽ được khách đánh giá là có mức độ hấp dẫn cao và
19
ngược lại (Hu and Ritchie, 1993; Formica and Uysal, 2006; Krešić and Prebežac, 2011). Thang điểm đo lường được sử dụng là thang đo likert 5 điểm gồm các mức từ mức độ hấp dẫn rất thấp (Highly non-attractive) đến mức độ hấp dẫn rất cao (Highly attractive) được sử dụng để đánh giá sức hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa (Krešić and Prebežac, 2011; Wo và cộng sự, 2015).
2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa tại điểm đến
Đo lường sức hấp dẫn của TNDL văn hóa qua đánh giá của KDL chính là việc đo lường mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn và đo lường những đánh giá của KDL về sức hấp dẫn từ các thuộc tính tài nguyên. Việc xác định mức độ quan trọng của tiêu chí và đánh giá sức hấp dẫn của thuộc tính tương tự như quá trình cảm nhận về điểm đến du lịch sẽ khác nhau ở các cá nhân và chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như đặc điểm tâm lý cá nhân, văn hóa xã hội, các yếu tố bối cảnh của chuyến đi (Formica and Uysal, 2006; Vengesayi và cộng sự, 2009; Kim and Perdue, 2011; Bùi Thanh Hương & cộng sự, 2011; Brida & cộng sự, 2012). Cụ thể là:
Ảnh hưởng của các yếu tố đặc điểm cá nhân của khách du lịch gồm đặc điểm nhân khẩu học như độ tuổi, trình độ, thu nhập (Ark and Richards, 2006; OECD, 2009;
Isaac, 2008; Milman and Pizam, 1995; Peters and Weiermair, 2000; McKercher and
Du Cros, 2003; Neves, 2012; Wu và cộng sự, 2015), văn hóa cá nhân, tầng lớp xã hội
(Isaac, 2008; Reisinger, 2009) và đặc điểm cá nhân khác như động cơ du lịch, kinh
nghiệm du lịch quá khứ (Kozak, 2001; McKercher, 2002, McKercher and Du Cros,
2003; Richards, 1996; Kim và cộng sự, 2007). Các đặc điểm cá nhân được chứng minh
là có ảnh hưởng tới quá trình người tiêu dùng xác định các tiêu chí tạo nên sức hấp dẫn
của điểm đến, của tài nguyên và ảnh hưởng đến việc đánh giá của KDL quốc tế về sức
hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến (Ark and Richards, 2006;
Vengesayi và cộng sự, 2009; Kim and Perdue, 2011; Krešić and Prebežac, 2011; Loon
và cộng sự, 2015; Wu và cộng sự, 2015; Tomigová và cộng sự, 2016).
Ảnh hưởng của các yếu tố bối cảnh như khoảng cách địa lý, mức độ khác biệt văn hóa giữa nơi đi và nơi đến (khoảng cách văn hóa quốc gia) (Turner, 2002;
Reisinger, 2009; Ng và cộng sự, 2009; Manrai and Manrai, 2011) những tình huống
đặc thù về chi phí, thời gian của chuyến đi (Boniface, 2003; Ark and Richards, 2006;
Isaac, 2008; Vengesayi và cộng sự, 2009). Các yếu tố này có ảnh hưởng tới cảm nhận
và đánh giá mức độ hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
20
CÁC ĐẶC ĐIỂM CÁ NHÂN
- Nhân khẩu học - Động cơ du lịch - Kinh nghiệm du lịch quá khứ - Văn hóa cá nhân, tầng lớp xã hội
Đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
YẾU TỐ BỐI CẢNH
Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
- Khoảng cách địa lý - Mức độ khác biệt văn hóa giữa nơi đi và nơi đến (khoảng cách văn hóa quốc gia) - Tình huống đặc thù: mục đích, chi phí, thời gian chuyến đi…
Hình 2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)
Như vậy, đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa chịu tác
động của những yếu tố bao gồm: các yếu tố thuộc cá nhân người tiêu dùng và các yếu
tố bối cảnh của chuyến đi. Trong đó, khoảng cách văn hóa giữa quốc gia gửi khách và
quốc gia nhận khách được xếp vào nhóm các yếu tố bối cảnh, tình huống của chuyến
đi (Juan và cộng sự, 2017). Và được xem là yếu tố quan trọng để giải thích sự khác
biệt về hành vi, sở thích, ứng xử của con người trong môi trường đa văn hóa (Kotler
and Armstrong, 2010; Reisinger, 2009; De Mooij and Hofstede, 2002; De Mooij,
2013; Leung và cộng sự, 2013; Ahn and McKercher, 2015; Buafai and Khunon, 2016).
Trong lĩnh vực du lịch, nhiều nghiên cứu đã chứng minh được rằng khoảng
cách văn hóa quốc gia có mối liên hệ với sở thích về sản phẩm, dịch vụ du lịch (Leung
và cộng sự, 2003; Reisinger and Mavondo, 2005; Tsang and Ap, 2007), sở thích và dự
định lựa chọn điểm đến du lịch (Crotts, 2004; Esiyok và cộng sự, 2017; Litvin and
Kar, 2004; Lord và cộng sự, 2008), hành vi của người tiêu dùng trước và trong chuyến
đi (Meng, 2010; Ng, Lee và cộng sự, 2007), hình ảnh và nhận thức về điểm đến du lịch
21
(Ahn and McKercher, 2015). Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu xác định cụ thể mức độ
ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới sức hấp dẫn của TNDL văn hóa.
Trong khi, TNDL văn hóa luôn được xác định là một yếu tố quan trọng tạo nên sự hấp
dẫn của điểm đến nhất là ở bối cảnh hiện tại người tiêu dùng du lịch quan tâm nhiều
hơn tới các giá trị hấp dẫn cốt lõi của tài nguyên thì khác biệt văn hóa trở thành một
trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ thậm chí là động lực, là yếu tố thu hút
người tiêu dùng tìm kiếm và lựa chọn điểm đến du lịch (Kozak and Decrop, 2008;
OECD, 2009; Isaac, 2008; Reisinger, 2009; Richards, 2002).
Những lý do trên chứng minh cho sự cần thiết phải có những nghiên cứu về ảnh
hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp
dẫn của TNDL văn hóa nhằm hiểu rõ hơn đặc điểm tiêu dùng của từng thị trường. Hơn
nữa, trong lĩnh vực nghiên cứu hành vi du lịch, biến số khoảng cách văn hóa dù đã
được biết đến là biến có ảnh hưởng, tác động tới sở thích, hành vi người tiêu dùng du
lịch tuy nhiên số nghiên cứu được công bố còn khá hạn chế (Juan và cộng sự, 2017).
Do đó, rất cần thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ của khoảng
cách văn hóa quốc gia với đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn
hóa. Kết quả của nghiên cứu sẽ giúp giải thích rõ hơn những khác biệt trong đặc điểm
nhận thức và hành vi của KDL quốc tế ở các điểm đến du lịch khác nhau.
2.2. Khoảng cách văn hóa quốc gia
Khoảng cách văn hóa giữa các quốc gia đã được các nhà nghiên cứu khẳng định
có liên quan tới nhiều lĩnh vực của hành vi như: quyết định đầu tư nước ngoài (Sousa
and Bradley, 2006; Tang, 2012; Sousa and Brito, 2014), hành vi người tiêu dùng quốc
tế (De Mooij and Hofstede, 2002; Crotts and Litvin, 2003; De Mooij and Hofstede,
2010, 2011), nhận thức và hành vi người tiêu dùng du lịch (Pizam and Sussmann,
1995; Reisinger and Turner, 2002; Crotts, 2004; Litvin and Kar, 2004; Tsang and Ap,
2007; Ng và cộng sự, 2009; Meng, 2010; Kim and McKercher, 2011; Shenkar, 2012;
Leung và cộng sự, 2013; Martin và cộng sự, 2017).
2.2.1. Văn hóa quốc gia và sự khác biệt văn hóa quốc gia
Văn hóa là một khái niệm đa nghĩa bởi ở mỗi mỗi lĩnh vực nghiên cứu, văn hóa
lại được tiếp cận theo một cách khác nhau. Các định nghĩa về văn hóa theo góc độ tiếp
22
cận thường gồm các nhóm: (1) các định nghĩa căn cứ vào nguồn gốc: chú trọng tới góc
độ xuất xứ của nền văn hóa, (2) các định nghĩa căn cứ vào yếu tố lịch sử: chú trọng tới
truyền thống và sự kế thừa, (3) các định nghĩa dựa vào chuẩn mực, giá trị: nhấn mạnh
các quan niệm về chuẩn mực và giá trị của một cộng đồng, (4) các định nghĩa thể hiện
đặc điểm tâm lý học: chú trọng tới quá trình ứng phó và tận dụng các ảnh hưởng của tự
nhiên, xã hội hình thành lối thế ứng xử phù hợp (Đỗ Hữu Hải, 2014).
Có thể hiểu rằng, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra. Trong cuốn Nguồn gốc của văn hóa (The Origins of Culture), Tylor
(1871) đã định nghĩa “Văn hóa là một phức thể toàn diện bao gồm tri thức, tín ngưỡng,
nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực, thói quen khác được con
người tập hợp và hành động theo với tư cách là một thành viên của xã hội” (trích theo
Đỗ Hữu Hải, 2014). Ronen và cộng sự (1985) cho rằng: “Văn hóa của một cộng đồng
bao gồm quá trình nhận thức, lối sống, cách thức ứng xử, thái độ của con người trong
cộng đồng với tự nhiên, xã hội, được biểu hiện thành những giá trị, những chuẩn mực
xã hội, những quan niệm, những biểu tượng hay hệ tư tưởng và triết lý sống”.
Tiếp cận từ góc độ nghiên cứu tâm lý, hành vi, một số nhà nghiên cứu đã cho
rằng, “Văn hóa quốc gia chính là sự phản ánh tính cách, khuôn mẫu hành vi của một
quốc gia... Đó chính là phần mềm trí tuệ tập thể, giúp phân biệt thành viên của quốc
gia này với thành viên của quốc gia khác” (Hofstede và cộng sự, 2010, tr. 10). Văn
hóa quốc gia là tổng hợp sự tích lũy chia sẻ những giá trị, chuẩn mực, lễ nghi và truyền
thống giữa các thành viên của một quốc gia, là các tập hợp ý thức tâm lý cộng đồng để
phân biệt thành viên của quốc gia này với thành viên của quốc gia khác (Soloman,
1996, trích theo Shenkar, 2012) và trở thành “khuôn thức suy nghĩ, cảm giác và phản
ứng của đa số các cá nhân trong một cộng đồng quốc gia” (Kluckhohn 1951, trích theo
Ng & cộng sự, 2007).
Do văn hóa là một hiện tượng đa chiều, phức tạp nên rất khó để có thể thống
nhất trong cách hiểu về văn hóa của một quốc gia. Tuy nhiên, ở góc độ tiếp cận văn
hóa quốc gia trong mối quan hệ với hành vi ứng xử của các cá nhân trong cộng đồng,
các nhà nghiên cứu có chung quan điểm rằng văn hóa quốc gia sẽ (1) mang tính chung
và được các cá nhân trong một quốc gia cùng chia sẻ, (2) được thu nhận, học tập bởi
23
các cá nhân ở quốc gia đó, (3) có mối quan hệ với giá trị, niềm tin, thái độ, cảm xúc
của mỗi cá nhân ở quốc gia , (4) ảnh hưởng đến hoặc dẫn dắt hành vi ứng xử của các
cá nhân thuộc quốc gia, (5) được truyền từ thế hệ này sang thế hệ tiếp theo, (6) được
thể hiện bằng nhiều chiều khác nhau, (7) có sự đáp ứng, sáng tạo, thay đổi phù hợp với
thực tiễn và (8) văn hóa giữa các quốc gia luôn tồn tại sự khác biệt về các giá trị,
chuẩn mực, biểu tượng và lối thế ứng xử (Hofstede và cộng sự, 2010; Trần Ngọc
Thêm, 2004; Ronen and Shenkar, 1985).
Giữa các quốc gia khác nhau sẽ luôn tồn tại những điểm khác biệt hay tương
đồng về văn hóa (Hofstede, 2010). Sự khác biệt hay tương đồng văn hóa quốc gia
chính là sự khác biệt hay tương đồng của những giá trị, chuẩn mực, biểu tượng, yếu tố
văn hóa mà mỗi quốc gia chấp nhận, gìn giữ trong quá khứ và ở hiện tại (Hofstede,
2010; Ronen and Shenkar, 1985). Những sự khác biệt và tương đồng đó được thể hiện
thông qua quá trình nhận thức, lối sống, cách ứng xử, thái độ với tự nhiên, với con
người của các cá nhân đến từ các quốc gia khác nhau (Trần Quốc Vượng & cộng sự,
2006; Trần Ngọc Thêm, 2004; Schwartz, 2006; Hofstede, 2011). Trong quá trình lý
giải sự khác biệt về hành vi, phương thức ứng xử của các cá nhân đến từ các quốc gia
khác nhau, văn hóa được nhắc đến như một nhân tố chính có tác động xuyên suốt và
mạnh mẽ tới nhận thức và hành vi của con người. Đây chính là cơ sở để hình thành các
lý thuyết nhằm xác định ảnh hưởng của sự khác biệt văn hóa quốc gia tới tâm lý và
hành vi tiêu dùng (Kogut and Singh, 1988; Jackson, 2001; De Mooij, 2010).
2.2.2. Khái niệm khoảng cách văn hóa quốc gia
Để hiểu rõ mối quan hệ ảnh hưởng của khác biệt văn hóa với hành vi của con
người, nhiều tác giả đã tìm kiếm các tiêu chí văn hóa điển hình để có thể đo lường mức
độ cách biệt tương đối của các chiều văn hóa giữa các quốc gia. Đo lường văn hóa
quốc gia là việc tìm ra những thước đo có tính phổ quát, dựa trên một giác độ tiếp cận
nhất định, được nhiều cá nhân công nhận là có thể mang tính đại diện cho văn hóa
quốc gia (Kluckhohn 1951, trích theo Ng & cộng sự, 2007). Từ thước đo chung này,
các mức độ khác biệt văn hóa giữa các quốc gia có thể được xác định và gọi bằng khái
niệm khoảng cách văn hóa quốc gia.
24
Như vậy, khoảng cách văn hóa quốc gia (National Cultural Distance) được
hiểu là mức độ cách biệt dựa trên một thang đo lường các giác độ văn hóa điển hình
giữa các quốc gia khác nhau (Sousa and Bradley, 2006; Shenkar, 2012). Trong du lịch
quốc tế, khoảng cách văn hóa quốc gia đã được nhiều nhà nghiên cứu xác định là biến
số để giải thích sự khác biệt trong kinh doanh quốc tế, trong hành vi tiêu dùng của
KDL. Và khoảng cách văn hóa quốc gia trong du lịch được xác định là mức độ cách
biệt giữa nền văn hóa của các quốc gia gửi khách với quốc gia nhận khách dựa trên
một thang đo nhất định (Jackson, 2001; Reisinger, 2009; Ng. Lee và cộng sự, 2009).
2.2.3. Đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia
Nghiên cứu tiên phong đề xuất đo lường mức độ khác nhau giữa các nền văn
hóa được thực hiện từ những năm 1950 bởi Kluckhohn và cộng sự. Theo đó,
Kluckhohn đã cho rằng các yếu tố của nền văn hóa quốc gia có ảnh hưởng đến các cá
nhân và do đó, cần phải tìm kiếm các yếu tố tiêu biểu để so sánh sự khác nhau giữa các
nền văn hóa thông qua các cá nhân trong cộng đồng và xem xét mức độ ảnh hưởng của
khác biệt đó tới các cá nhân như thế nào (Kluckhohn 1951, trích theo Ng & cộng sự,
2007). Từ những nghiên cứu của Kluckhohn (1951), các tác giả đã tập hợp, lựa chọn
những yếu tố tiêu biểu, phản ánh đặc điểm của các nền văn hóa và sử dụng để đo
lường, so sánh sự khác nhau giữa các nền văn hóa. Một số lý thuyết tiêu biểu như lý
thuyết Hofstede (2010), Schwartz (1994, 1999), Ronen and Shenkar (1985, 2013) đã
được ghi nhận là những hạt nhân hợp lý và được sử dụng trong nhiều nghiên cứu về
2.2.3.1. Lý thuyết nhóm văn hóa của Ronen and Shenkar và phương pháp đo
lường khoảng cách văn hóa quốc gia của Clack and Pugh
hành vi của con người trong môi trường đa văn hóa (Hsu & cộng sự, 2013).
Lý thuyết nhóm văn hóa của Ronen and Shenkar (1985, 2013)
Năm 1985, trên cơ sở sự khác biệt và tương đồng của 3 yếu tố địa lý, tôn giáo
và ngôn ngữ, Ronen and Shenkar chia thế giới thành 8 nhóm văn hóa là nhóm Ăng lô,
nhóm Bắc Âu, nhóm German, nhóm La tinh Châu Âu, nhóm La Tinh Châu Mỹ, nhóm
Cận Đông, nhóm Ả Rập và nhóm Viễn Đông (Ronen and Shenkar, 1985). Đến năm
2013, dựa trên phân tích lý thuyết về “tảng băng trôi”, trong đó sự khác biệt về văn
25
hóa giữa các quốc gia được xem xét trên cơ sở sự khác biệt về hiện vật (biểu tượng),
giá trị và chuẩn mực trong văn hóa, Ronen and Shenkar đã chia thế giới thành 10
nhóm văn hóa bao gồm: Ăng Lo, Bắc Âu, German, La tinh Châu Âu, La Tinh Châu
Mỹ, Đông Âu, Đông Á, Nam Á, Châu Phi, Trung Đông.
Phương pháp đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia Clack and Pugh (2001)
Dựa trên mô hình cụm nhóm văn hóa của Ronen and Shenkar (1985), Clack and
Pugh (2001) đã đặt chỉ số văn hóa cho 8 nhóm văn hóa ban đầu và sau này là 10 nhóm:
Ăng Lo (1), Bắc Âu (2), German (3), La tinh Châu Âu (4), La Tinh Châu Mỹ (5), Đông
Âu (6), Trung Đông (7), Châu Phi (8), Đông Á (9), Nam Á (10). Từ chỉ số này, Clack
and Pugh (2001) xác định khoảng cách văn hóa quốc gia của hai quốc gia bằng khoảng
cách của hai nhóm văn hóa chứa hai quốc gia đó. Ví dụ Bolivia thuộc nhóm La tinh
Châu Mỹ có chỉ số văn hóa là 5, Mỹ thuộc nhóm Ănglo, có chỉ số văn hóa là 1, khoảng
cách văn hóa quốc gia giữa Bolivia và Mỹ là 4 (Clack and Pugh, 2001).
Hạn chế cơ bản trong phương pháp đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia theo
cách của Clack and Pugh (2001) đó là do quá đơn giản nên chỉ số khoảng cách không
thể phản ánh được chính xác mức độ khác biệt của các nền văn hóa nhất là ở góc độ
quan điểm của cá nhân. Thậm chí, ngay trong một nhóm văn hóa, các giá trị, chuẩn mực
và biểu tượng của hai quốc gia cũng sẽ có nhiều khác biệt chứ không thể không có
khoảng cách như đề xuất của Clack and Pugh (2001). Do đó, việc sử dụng chỉ số về
khoảng cách văn hóa quốc gia của Clack and Pugh trong nghiên cứu về ảnh hưởng của
khác biệt văn hóa tới nhận thức và hành vi của KDL quốc tế sẽ có điểm chưa phù hợp.
2.2.3.2. Lý thuyết văn hóa của Schwartz (1988, 1992,1994)
Trên cơ sở lý thuyết giá trị được hình thành từ nhu cầu của con người, Schwartz
(1988 - 1992) đã xây dựng mô hình về các giá trị văn hóa cá nhân, văn hóa quốc gia và
thực hiện điều tra nhằm đo lường các yếu tố đặc trưng văn hóa cá nhân, văn hóa quốc
gia. Điều tra được thực hiện trên cơ sở mẫu là các học sinh và giáo viên tới từ 38 quốc
gia khác nhau. Từ kết quả thu được của cuộc điều tra, Schwartz (1994) đã đề xuất một
mô hình gồm các giá trị văn hóa ở cấp độ cá nhân và các giá trị văn hóa ở cấp độ quốc
gia (Schwartz, 2006). Ở cấp độ quốc gia, Schwartz đã đề xuất 7 yếu tố đặc trưng để
phân biệt các nền văn hóa.
26
Bảng 2.1. Các yếu tố văn hóa quốc gia theo Schwartz (1994, 1999)
Yếu tố văn hóa Mô tả nội dung yếu tố
Chủ nghĩa bảo thủ
Yếu tố chứng tỏ xã hội coi trọng nguyên gốc, nguyên trạng, tránh các hành động ảnh hưởng tới truyền thống. Conservatism
Yếu tố chứng tỏ xã hội ghi nhận vai trò cá nhân và các Tự chủ trí tuệ
Intellectual autonomy hành động tự chủ; con người có thể theo đuổi các lợi ích và ham muốn học hỏi của mình.
Yếu tố chứng tỏ cá nhân có quyền theo đuổi mong Tự chủ tình cảm
muốn và theo đuổi niềm đam mê riêng. Affective autonomy
Yếu tố chứng tỏ xã hội coi sự phân cấp và phân chia
Hệ thống phân quyền (Hierarchy) nguồn lực theo phân cấp là hợp lý.
Chủ nghĩa quyền lực (Mastery) Yếu tố chứng tỏ xã hội coi trọng và cho phép cá nhân có thể thể hiện quyền lực đối với đối với người khác.
Yếu tố chứng tỏ xã hội nhấn mạnh sự quan trọng của
Chủ nghĩa bình quân (Egalitarian commitment) tính vị tha và sự bình đẳng.
Yếu tố chứng tỏ xã hội ưa sự hài hòa Sự hài hòa (Harmony)
Nguồn: Schwartz, 2006 Lý thuyết của Schwartz (1994; 1999) đã được sử dụng trong lĩnh vực hành vi tiêu dùng để kiểm tra mối quan hệ giữa đặc trưng văn hóa quốc gia và hành vi của người tiêu dùng trong bối cảnh quốc tế. Năm 2008, Schwartz đã đo lường chỉ số trung bình của 7 yếu tố văn hóa cho 80 quốc gia trên một thang điểm từ 1 – 7. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu trong lĩnh vực hành vi đa văn hóa đã cho rằng, việc sử dụng các chỉ số văn hóa của Schwartz để đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia nhằm kiểm tra mối quan hệ của khoảng cách này với hành vi tiêu dùng sẽ khó khăn hơn so với chỉ số văn hóa của Hofstede bởi lẽ, chỉ số của Schwartz nằm trong khoảng từ 1 – 7, nên nếu sử dụng để phân định khoảng cách văn hóa quốc gia thì sẽ có sự trùng lặp về khoảng cách rất lớn, vì thế mà chỉ số của Schwartz đã chưa được áp dụng rộng rãi khi nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến hành vi tiêu dùng (Steenkamp, 2001; De Mooij & Hofstede, 2011, Juan và cộng sự, 2017).
27
2.2.3.3. Lý thuyết đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia qua đánh giá cá nhân (Self-Rating of National Cultural Distance)
Phương pháp đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia qua đánh giá cá nhân do nhóm tác giả Boyacigiller (1990); Rao and Schmidt (1998) đề xuất. Đây là phương pháp đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia thông qua quan điểm của nhóm khách thể và chủ đề nghiên cứu (Boyacigiller, 1990). Dựa theo chủ đề nghiên cứu, các tác giả sẽ tiến hành điều tra nhận thức của nhóm khách thể nghiên cứu ở quốc gia A về khoảng cách văn hóa với quốc gia B và ảnh hưởng của nhận thức này tới thái độ, hành vi của người được điều tra (Boyacigiller, 1990, Rao and Schmidt, 1998).
Các nghiên cứu sử dụng phương pháp đo lường tự nhận thức về khoảng cách văn hóa quốc gia sẽ điều tra nhận thức của khách thể về khoảng cách văn hóa quốc gia bằng câu hỏi: “Ông/bà nhận định như thế nào về khoảng cách văn hóa giữa quốc gia của ông (bà) với quốc gia A?”. Trước đó, khoảng cách văn hóa quốc gia được giải thích là một khái niệm dùng để chỉ mức độ cách biệt của văn hóa quốc gia. Sau đó, một bảng lựa chọn với thang đo likert bao gồm các mức độ: (1) không có khoảng cách, (2) khoảng cách rất gần, (3) khoảng cách gần, (4) khoảng cách trung bình, (5) khoảng cách xa, (6) khoảng cách rất xa, (7) hoàn toàn khác biệt được đưa ra để người trả lời lựa chọn. Kết hợp với các phân tích tác động từ một số biến nhân khẩu học, các tác giả xác định nhận thức về khoảng cách văn hóa quốc gia của nhóm khách thể và nghiên cứu tác động của khoảng cách này tới nhận thức và hành vi của nhóm khách thể đó (Wan và cộng sự, 2003). Phương pháp này có hạn chế là mỗi cá nhân sẽ hiểu về văn hóa quốc gia theo một cách khác nhau. Do đó, nhận định của họ về khoảng cách văn hóa quốc gia cũng sẽ không tương đồng. Vì vậy, sử dụng phương pháp đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia qua đánh giá cá nhân trong nghiên cứu về tác động của khoảng cách văn hóa quốc gia đến cảm nhận và hành vi của KDL quốc tế cũng sẽ gặp khó khăn khi người trả lời không có cách hiểu giống nhau về khoảng cách văn hóa quốc gia (Ng và cộng sự, 2009).
Có thể thấy có rất nhiều phương pháp để đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Điều này phù hợp với thực tế là sẽ khó có một phép đo nào có thể bao quát hết toàn bộ những nội dung rất rộng lớn và phức tạp của văn hóa. Trong luận án này, tác giả sử dụng lý thuyết đo lường văn hóa quốc gia của Hofstede bởi lẽ, cho đến nay, đây vẫn là một trong những lý thuyết được xem là hợp lý và sử dụng nhiều hơn cả khi nghiên cứu về ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới hành vi của người tiêu dùng trong bối cảnh quốc tế (De Mooij, 2010; Juan và cộng sự, 2017).
28
2.2.4. Đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia bằng các chỉ số của Hofstede và phương pháp của Jackson (2001)
2.2.4.1. Lý thuyết văn hóa của Hofstede
Cuối những năm 1960, Geert Hendrick Hofstede, một nhà nghiên cứu về hành vi đa văn hóa đã tìm cách xác định các tiêu chí đo lường văn hóa quốc gia thông qua hệ thống các yếu tố văn hóa cơ bản biểu hiện qua các cá nhân trong cộng đồng. Trong giai đoạn 1967 – 1973, Hofstede đã khảo sát 117.000 nhân viên IBM tới từ 40 quốc gia khác nhau trên thế giới về những giá trị cơ bản để xác định đặc trưng văn hóa của một quốc gia. Trên cơ sở các dữ liệu thu thập được, năm 1980, Hofstede đã đề xuất lý thuyết đo lường văn hóa. Lý thuyết được đề xuất gồm 4 yếu tố đo lường văn hóa quốc gia là: Chủ nghĩa cá nhân (Individualism), khoảng cách quyền lực (Power Distance), Mức độ tránh sự rủi ro (Uncertainty Avoidance), Nam tính (Masculinity).
Lý thuyết đo lường văn hóa của Hofstede được áp dụng trong nhiều nghiên cứu về giao thoa văn hóa, hành vi trong bối cảnh đa văn hóa. (De Mooij, 2002, 2010). Tiếp đó, từ quan sát về ảnh hưởng của Nho giáo tới văn hóa của một số quốc gia thuộc khu vực Châu Á, Hofstede đã mở rộng nghiên cứu của mình tới các quốc gia khác ngoài 40 quốc gia trong cuộc khảo sát lần đầu tiên. Đối tượng khảo sát được mở rộng không chỉ có nhân viên IBM mà còn có những phi công hàng không thương mại, các sinh viên, các nhà quản lý dịch vụ và người tiêu dùng cuối cùng. Sau cuộc khảo sát này, năm 2001, Hofstede và cộng sự đã bổ sung yếu tố thứ năm trong mô hình đo lường văn hóa quốc gia của mình đó là yếu tố định hướng dài hạn (Long – Term Orientation). Đến năm 2010, sử dụng cơ sở dữ liệu của Minkov, Hofstede và cộng sự đã bổ sung yếu tố thứ 6 là mức độ thể hiện đam mê cá nhân (Indulgence). Mỗi yếu tố của văn hóa quốc gia sẽ được Hofstede tính theo thang điểm từ 0 – 100, số điểm càng cao chứng tỏ yếu tố đó được biểu hiện ra bên ngoài cộng đồng càng nhiều.
Bảng 2.2. Các yếu tố văn hóa quốc gia theo lý thuyết Hofstede
Yếu tố
Mô tả nội dung yếu tố Yếu tố chủ nghĩa cá nhân thể hiện mức độ phụ thuộc, kết nối giữa
Chủ nghĩa cá nhân các thành viên trong xã hội. Ở các quốc gia có chỉ số chủ nghĩa cá nhân cao, mọi người ít kết nối, ít có sự chia sẻ trách nhiệm nhóm.
Individualism Hình ảnh cá nhân gồm nhiều yếu tố xoay xung quanh “tôi”. Còn ở
- IDV
quốc gia có chỉ số chủ nghĩa cá nhân thấp, sự gắn kết nhóm cao, các cá nhân có mối liên hệ mật thiết, tôn trọng lợi ích nhóm và trung
29
Yếu tố
Mô tả nội dung yếu tố thành với nhóm. Quy mô các nhóm lớn, các thành viên có trách nhiệm lo lắng cho thành viên khác trong nhóm. Hình ảnh của con
người gồm những yếu tố xoay xung quanh “chúng ta”. Về hành vi, cá nhân đến từ các nước có chỉ số IDV cao được khuyến
khích và thích thể hiện ý kiến, theo đuổi chủ nghĩa hưởng thụ, tiêu dùng thực dụng. Nhu cầu thể hiện bản thân, khám phá bản thân cao.
Ngược lại, ở các quốc gia có chỉ số IDV thấp, con người thường ít khi thể hiện chính kiến cá nhân, tiêu dùng hài hòa hơn. Động cơ hòa
mình vào nhóm cao hơn là thể hiện bản thân.
Yếu tố này liên quan tới mức độ chấp nhận các tình huống rủi ro của thành viên trong xã hội. Ở các nước có chỉ số UAI cao, cá nhân
Tránh sự rủi ro Uncertainty Advoidance – thường tránh tối đa các tình huống không chắc chắn. Con người và các mối quan hệ xã hội được điều khiển bởi quy tắc, trật tự và khó dung nạp hành vi, ý tưởng không theo quy tắc, không chính thống.
UAI Ngược lại, ở các quốc gia có UAI thấp, cá nhân luôn có thái độ
hưởng ứng với yếu tố mới và khác biệt. Xã hội có ít quy tắc hơn. Về hành vi, cá nhân ở các quốc gia có chỉ số UAI cao rất coi trọng
sự chính xác về giờ giấc, về tiêu chuẩn, quy trình đã thiết lập; không
thích thay đổi với những kế hoạch đã định sẵn. Các quyết định được đưa ra khi có đủ thông tin và có sự phân tích kỹ những yếu tố liên quan. Ngược lại, ở các quốc gia có chỉ số UAI thấp, sự đúng giờ, đúng nguyên tắc không đươc coi trọng, ưa thích hoặc dễ chấp nhận
sự thay đổi so với chương trình, quy chuẩn đã thiết lập. Quyết định
được đưa ra nhanh chóng.
Yếu tố này nói lên mức độ xã hội chấp nhận sự bất bình đẳng trong
phân chia quyền lực của xã hội. Chỉ số PDI cao nghĩa là các cá nhân
Khoảng cách quyền lực Power trong xã hội chấp nhận và xác định đúng vị trí của mình. Ngược lại, chỉ số PDI thấp đồng nghĩa với việc có sự bình đẳng và phân bố đều
Distance – quyền lợi giữa các thành viên trong xã hội.
PDI Về hành vi, cá nhân tới từ các quốc gia có chỉ số PDI thấp độc lập
hơn trong suy nghĩ và thể hiện ý kiến của mình; trong các mối quan hệ mong muốn được tư vấn, chia sẻ hơn là kiểm soát. Ngược lại, ở các quốc gia có chỉ số PDI cao, các cá nhân có xu hướng phụ thuộc
30
Yếu tố
Mô tả nội dung yếu tố vào suy nghĩ của người khác, đồng tình với việc có người quản lý, kiểm soát các hành vi và suy nghĩ của cá nhân.
Yếu tố này chỉ ra vai trò của Nam giới trong xã hội. Ở các quốc gia
Nam tính
(Masculinity - có chỉ số MAS cao, nam giới phải là trụ cột, phải có tính cách mạnh mẽ và có trách nhiệm quyết định mọi việc lớn trong gia đình và xã
MAS)
hội. Ngược lại, ở những quốc gia có chỉ số MAS thấp, vai trò giới tính bị làm mờ đi. Nam giới và nữ giới có vị trí ngang nhau trong
các quyết định. Nam giới trong xã hội được phép thể hiện sự yếu đuối. Nữ giới có quyền nỗ lực, quyền thể hiện sự mạnh mẽ, độc lập.
Về mặt hành vi, ở xã hội MAS cao, các thành viên xem trọng thành tích, chủ nghĩa anh hùng, sự quyết đoán, cạnh tranh và khát khao
thành công. Ngược lại, ở xã hội MAS thấp, các thành viên ưa thích sự hợp tác, khiêm tốn, chăm sóc cho người yếu hơn, xã hội đồng thuận và đề cao chất lượng cuộc sống.
Các quốc gia đều phải duy trì truyền thống và sự kết nối quá khứ của mình ở hiện tại và tương lai. Tuy nhiên, sự ưu tiên của mỗi quốc gia cho hai việc này là khác nhau. Ở các quốc gia có chỉ số LTO
Định hướng dài hạn (Long-Term Orientation – LTO) thấp, truyền thống và các chuẩn mực có sự thay đổi phù hợp với xã hội, với thời gian. Ở các quốc gia có chỉ số LTO cao, truyền thống và các chuẩn mực ít thay đổi hơn.
Về mặt hành vi, các cá nhân ở những quốc gia có chỉ số LTO thấp thường dài hạn trong hành động, nghĩ nhiều đến chuẩn mực và
truyền thống khi hành động, được khuyến khích tiết kiệm và nỗ lực đầu tư cho giáo dục như một cách chuẩn bị cho tương lai. Ngược lại,
ở các quốc gia có chỉ số LTO thấp, các cá nhân coi trọng những
hành động ở thời điểm hiện tại, mục tiêu ngắn hạn, coi trọng, tiết
kiệm thời gian, linh hoạt.
Yếu tố thể hiện đam mê cá nhân là mức độ mà cá nhân ở các quốc gia quan niệm về sự thoải mái, cho phép bản thân thực hiện những
Thể hiện đam mê cá nhân việc thỏa mãn niềm đam mê, ham muốn cá nhân. Chỉ số IND thấp
(Indulgence - IND)
phản ánh một niềm tin của các cá nhân trong xã hội rằng sự thỏa mãn những mong muốn của con người cần phải được kiểm soát bởi các quy tắc xã hội nghiêm ngặt.
31
Yếu tố
Mô tả nội dung yếu tố Các cá nhân đến từ quốc gia có chỉ số IND thấp thường có khuynh hướng hoài nghi và bi quan với cuộc sống hơn, họ không tận dụng
thời gian rảnh rỗi cho những việc cá nhân. Ngược lại, ở các nước có chỉ số IND cao, con người trong xã hội luôn sẵn sàng nhận ra và thể
hiện những động lực, ham muốn của bản thân. Thái độ sống tích cực, lạc quan, luôn tận dụng thời gian rảnh rỗi để làm những việc
thỏa mãn mong muốn của bản thân.
Nguồn: Hofstede và cộng sự (2010)
Lý thuyết văn hóa của Hofstede được sử dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu xã hội học, tâm lý học và hành vi con người (Williamson, 2002; Litvin và cộng sự, 2004; Ng và cộng sự, 2007; De Mooij and Hofstede, 2010, 2011; Manrai and Manrai, 2011). Đến nay, Hofstede và cộng sự đã tiến hành các cuộc khảo sát ở quy mô lớn và công bố các chỉ số đo lường các yếu tố đặc trưng văn hóa của 103 quốc gia trên thế giới. Lập luận rằng lý thuyết Hofstede là hợp lý để sử dụng trong nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến nhận thức và hành vi của người tiêu dùng ở môi trường đa văn hóa (Williamson, 2002; Litvin và cộng sự, 2004; Ng và cộng sự, 2009; De Mooij and Hofstede, 2010, 2011; Manrai and Manrai, 2011; Esiyok, 2017; Juan, 2017), các tác giả đã sử dụng chỉ số đo lường văn hóa của Hofstede trong nghiên cứu về tâm lý học, xã hội học marketing quốc tế và hành vi con người (Pizam and Jansen- Verbeke, 1997; Williamson, 2002; Litvin và cộng sự, 2004; Ng và cộng sự, 2009; De Mooij and Hofstede, 2010, 2011; Manrai and Manrai, 2011). Đó là các nghiên cứu về ảnh hưởng của văn háo quốc gia tới: sự tự khái niệm bản thân, nhận dạng, hình ảnh sản phẩm, thương hiệu (De Mooij, 2002; 2010), thái độ đối với sản phẩm, thương hiệu, động cơ tiêu dùng (De Mooij, 2002, 2010), cảm xúc (De Mooij, 2002, 2010). Lý thuyết Hofstede cũng là lý thuyết được sử dụng phổ biến nhất trong lĩnh vực nghiên cứu về ảnh hưởng của khác biệt văn hóa đến nhận thức và hành vi tiêu dùng du lịch (Reisinger and Turner, 2002; Crott, 2004; Reisinger, 2009; Meng, 2010; De Mooij and Hofstede, 2011; Kim and McKercher, 2011; Ahn and McKercher, 2015; Esiyok và cộng sự, 2017; Juan và cộng sự, 2017; Qian và cộng sự, 2017).
Những lập luận nêu trên đã cho thấy, mặc dù còn một số hạn chế, nhưng mô hình Hofstede vẫn là mô hình phù hợp để sử dụng nhằm xác định ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến mà tác giả thực hiện trong luận án này.
32
2.2.4.2. Đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia theo Jackson (2001)
Trên cơ sở các chỉ số văn hóa đã được đo lường và công bố bởi Hofstede và theo đề xuất của Jackson (2001), khoảng cách của các yếu tố văn hóa giữa các quốc gia được đo lường như sau:
Bảng 2.3. Đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia theo Jackson, 2001
Ký hiệu Yếu tố Đo lường khoảng cách Nguồn
Bằng giá trị tuyệt đối của hiệu chỉ Hofstede Chủ nghĩa
(2010) CDIDV cá nhân
số IDVcủa quốc gia A và chỉ số IDV của quốc gia B (Individualism) Jackson, 2001
Tránh sự rủi ro
Bằng giá trị tuyệt đối của hiệu chỉ số UAI của quốc gia A và chỉ số Hofstede (2010) CDUAI (Uncertainty
UAI của quốc gia B Advoidance) Jackson, 2001
Đam mê cá nhân (Indulgence) Bằng giá trị tuyệt đối của hiệu chỉ số IND của quốc gia A và chỉ số Hofstede (2010) CDIND
IND của quốc gia B Jackson, 2001
Bằng giá trị tuyệt đối của hiệu chỉ Hofstede
(2010) CDPDI
Khoảng cách quyền lực (Power Distance) số PDI của quốc gia A và chỉ số PDI của quốc gia B Jackson, 2001
Nam tính Bằng giá trị tuyệt đối của hiệu chỉ Hofstede
(2010) CDMAS (Masculinity)
số MAS của quốc gia A và chỉ số MAS của quốc gia B Jackson, 2001
Bằng giá trị tuyệt đối của hiệu chỉ số LTO của quốc gia A và chỉ số Hofstede (2010) CDLTO
Định hướng dài hạn (Longterm Orientation) LTO của quốc gia B Jackson, 2001
Nguồn: Hofstede (2010); Jackson (2001)
Ưu điểm của cách tính toán này là có thể xác định được mức độ khác biệt của
từng yếu tố văn hóa quốc gia theo chỉ số của Hofstede và các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng phương pháp này là phù hợp để xác định ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa
quốc gia tới các hành vi cá nhân trong đó có hành vi tiêu dùng du lịch (Reisinger and Turner, 2002; Crotts, 2004; Litvin và cộng sự, 2004; Crotts and McKercher, 2006;
33
Meng, 2010; Kim and McKercher, 2011; Yang and Wong, 2012; Ahn and McKercher,
2015; Buafai and Khunon, 2016; Esiyok, 2017; Juan và cộng sự, 2017).
Trong luận án, tác giả sử dụng các chỉ số đo lường văn hóa quốc gia theo nghiên cứu của Hofstede và cộng sự và phương thức đo lường khoảng cách giữa các
yếu tố văn hóa của Jackson (2001) để nghiên cứu những ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến việc lựa chọn thuộc tính hấp dẫn và đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở Việt Nam.
2.3. Ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến sức hấp dẫn của điểm đến, của tài nguyên du lịch văn hóa
Đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh rằng khoảng cách văn hóa quốc gia có ảnh hưởng tới nhận thức và hành vi của người tiêu dùng du lịch (Esiyok và cộng sự,
2017; Juan, 2017). Trong các nghiên cứu này, khoảng cách văn hóa quốc gia được cho rằng có mối liên hệ với sở thích, đánh giá và sự lựa chọn điểm đến của KDL quốc tế
(March, 2000; Reisinger and Turner, 2002; Crotts, 2004; Litvin and Kar, 2004; Crotts and McKercher, 2006; Tsang and Ap, 2007; Ng và cộng sự, 2009; Meng, 2010; Kim and McKercher, 2011; Manrai and Manrai, 2011; Risitano và cộng sự, 2012; Martin và
cộng sự, 2017), nhu cầu du lịch, sở thích về sản phẩm, dịch vụ du lịch (Crotts and
Erdmann, 2000; Reisinger and Mavondo, 2005; Crotts and McKercher, 2006; Leung và cộng sự, 2013; Buafai and Khunon, 2016), sở thích và dự định lựa chọn điểm đến
du lịch (Crotts, 2004; Litvin and Kar, 2004; Lord và cộng sự 2008; Esiyok và cộng sự, 2017), hành vi của người tiêu dùng trước và trong chuyến đi (Pizam and Sussmann,
1995; March, 2000; Wong and Lau, 2001; Prebensen và cộng sự, 2003; Crotts, 2004; Meng, 2010; Kim and McKercher, 2011), hình ảnh điểm đến và nhận thức về các
thuộc tính của điểm đến du lịch (Kogut and Singh, 1988; McKercher và cộng sự, 2006; Ahn and McKercher, 2015; Esiyok và cộng sự, 2017).
2.3.1. Ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến các hành vi tiêu dùng của khách du lịch quốc tế
Ahn and McKercher (2015) khi thực hiện xem xét mối quan hệ của khoảng cách văn hóa quốc gia với hành vi trong quá trình đi du lịch và sự hài lòng của KDL
quốc tế đến Hồng Kong đã khẳng định, khoảng cách văn hóa quốc gia có tác động
nghịch chiều với thời gian lưu trú của khách tại điểm đến, số lượng điểm tham quan trong hành trình và việc tìm kiếm các hoạt động giải trí, ăn uống bên ngoài khách sạn
34
và có tác động thuận chiều với các yếu tố như độ tuổi đi du lịch, sở thích du lịch cá
nhân và sự hài lòng đối với các dịch vụ tại điểm đến.
Cũng trong mối quan hệ của khác biệt văn hóa với hành vi của KDL quốc tế, một số nhà nghiên cứu đã xem xét sự ảnh hưởng của yếu tố định hướng dài hạn (LTO) và
khoảng cách quyền lực (PDI) trong văn hóa tới nhận thức và hành vi của KDL quốc tế. Nghiên cứu của Reisinger and Mavondo (2005) đề cập đến ảnh hưởng của yếu tố định hướng dài hạn (LTO) tới hành vi của KDL quốc tế. Theo đó, KDL tới từ các nước có
chỉ số định hướng dài hạn (LTO) cao khi đến với các nước có chỉ số LTO thấp hơn thường lo lắng nhiều về tài chính và an ninh, có nhiều sự chuẩn bị trước chuyến đi để
giảm thiểu rủi ro hơn. Ngược lại, KDL tới từ các nước có chỉ số định hướng dài hạn LTO thấp, khi đến với các nước có chỉ số định hướng dài hạn LTO cao hơn sẽ quan
tâm nhiều hơn tới các vấn đề về ngôn ngữ, tôn giáo và ăn uống. Kết quả nghiên cứu của Hu and Weber (2014) lại cho thấy có mối quan hệ giữa yếu tố định hướng dài hạn
(LTO) với những đánh giá, hành vi của KDL quốc tế. Theo đó, với KDL tới từ các quốc gia có chỉ số định hướng dài hạn LTO thấp, thời gian của quá trình từ dự định đi du lịch đến tìm kiếm thông tin và quyết định đi ngắn hơn; họ coi trọng sự đúng giờ,
chính xác của lịch trình, có xu hướng tập trung vào một hoạt động hoặc một mục đích
khi đến tham quan tại một điểm đến. Ngược lại, KDL đến từ các nước có chỉ số định hướng dài hạn LTO cao, thời gian của quá trình từ dự định đến quyết định lâu hơn; họ
đặt nhiều mục đích, nhiều hoạt động vào một chuyến đi, lịch trình và giờ giấc có thể thay đổi dễ dàng hơn (Hu and Weber, 2014). Nghiên cứu của Mattila (1999) lại cho thấy
rằng, KDL đến từ các nước có yếu tố khoảng cách quyền lực (PDI) thể hiện cao thường quan tâm, đánh giá cao các tiện nghi, có liên quan trực tiếp đến sự trải nghiệm của cá nhân trong khi những KDL đến từ các nước có chỉ số PDI thấp lại chú trọng hơn tới các dịch vụ tổng thể, mang tính công cộng.
Tác giả Reisinger and Turner (2002) trong đánh giá tổng thể 5 yếu tố văn hóa
theo Hofstede đã cho thấy có mối quan hệ của yếu tố khoảng cách quyền lực (PDI) với
việc lựa chọn và đánh giá các dịch vụ. Cụ thể là KDL đến từ các quốc gia có chỉ số PDI cao đòi hỏi nhiều hơn sự phân biệt trong dịch vụ rõ ràng giữa các tầng lớp xã hội
khác nhau. Tương tự như vậy, nghiên cứu của Hu and Weber (2014) cũng cho thấy
mối quan hệ của chỉ số khoảng cách quyền lực PDI với việc đánh giá sức hấp dẫn của
chương trình khách hàng trung thành trong khách sạn. Những KDL tới từ các quốc gia có chỉ số khoảng cách quyền lực PDI cao đòi hỏi phải có sự phân biệt rõ ràng trong dịch vụ, chính sách ưu đãi nếu muốn thu hút họ là khách hàng trung thành.
35
2.3.2. Ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến dự định lựa chọn điểm đến, lựa chọn tài nguyên du lịch văn hóa
Các nhà nghiên cứu đã lập luận rằng, tìm kiếm sự mới lạ từ văn hóa của một cộng đồng khác chính là yếu tố thúc đẩy còn người đi du lịch (Boniface, 2003; ETC and WTO, 2005; Isaac, 2008; Reisinger, 2009), vì thế mà khác biệt văn hóa giữa nơi
đến và nơi đi luôn có mối liên hệ với sở thích của KDL đối với điểm đến, với TNDL (Pizam and Sussmann, 1995; Ng và cộng sự, 2007; Manrai and Manrai, 2011; Ahn and
McKercher, 2015; Buafai and Khunon, 2016; Juan và cộng sự, 2017). Tuy nhiên, mức độ hấp dẫn của sự mới lạ và khả năng hòa mình vào những khác biệt về văn hóa của
cộng đồng khác sẽ không giống nhau giữa các cá nhân. Nó phụ thuộc rất nhiều vào
những đặc điểm riêng như tuổi tác, trình độ hay những khác biệt về văn hóa, xã hội. Rất nhiều nghiên cứu đã cho thấy yếu tố khoảng cách văn hóa giữa điểm đi và điểm đến có thể sử dụng để giải thích những khác biệt sở thích của KDL quốc tế đối với sản
phẩm, dịch vụ, tài nguyên và điểm đến (Ng và cộng sự, 2007; Kim and McKercher, 2011; Manrai and Manrai, 2011; Juan và cộng sự, 2017).
Nghiên cứu của Yavas (1987), Ng và cộng sự (2007), Esiyok và cộng sự (2016)
đã chứng minh mối quan hệ nghịch chiều giữa khoảng cách văn hóa (xác định dựa trên chỉ số của Hofstede) với sở thích, tiêu chí để lựa chọn điểm đến của KDL trong bối
cảnh quốc tế. Theo đó, khi đi du lịch quốc tế, nhất là ở những quốc gia mà khách đến lần đầu, họ thường lựa chọn điểm đến có sự tương đồng về các giá trị, chuẩn mực và biểu tượng văn hóa, do đó, thường bị hấp dẫn bởi những quốc gia điểm đến có khoảng
cách văn hóa gần (Crotts, 2004; Crotts and McKercher, 2006). Nghiên cứu của Yavas (1987) đã chứng minh rằng, KDL người Ả Rập thích các điểm đến là quốc gia Hồi
giáo, có khoảng cách văn hóa gần với Ả Rập. Cũng tương tự như vậy, các nghiên cứu của Ng và cộng sự (2007), Esiyok và cộng sự (2016), đã cho thấy mối quan hệ ảnh
hưởng nghịch chiều giữa khoảng cách văn hóa quốc gia và sở thích đối với điểm đến,
sự lựa chọn điểm đến của KDL là người châu Âu, người Úc và người Thổ Nhĩ Kỳ.
Sử dụng lý thuyết về sự hưng phấn tối ưu của Ahola (1980) cho rằng hành vi giải trí (gồm cả du lịch) là một quá trình biện chứng và tối ưu hóa, trong đó, hai yếu tố
đối nghịch sẽ có ảnh hưởng đồng thời đến cá nhân đó là nhu cầu cần sự ổn định, an
toàn và nhu cầu tìm kiếm sự mới lạ, thay đổi (Snepenger và cộng sự, 2006), các nghiên
cứu về hành vi du lịch đã kết luận, mặc dù trong du lịch, tìm kiếm sự mới lạ từ văn hóa của một cộng đồng khác chính là động cơ trọng tâm thúc đẩy còn người đi đến một địa
36
điểm du lịch (Boniface, 2003; ETC and WTO, 2005; Isaac, 2008; Reisinger, 2009),
nhưng sự mới lạ, độc đáo ấy chỉ hấp dẫn đối với khách khi mà họ không cảm thấy bị đe dọa, lo lắng về rủi ro khi gặp phải sự khác biệt quá lớn về văn hóa (Crotts, 2004).
Mức độ chấp nhận các tình huống rủi ro khác nhau ở các nền văn hóa vì thế sẽ có ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của con người khi đi du lịch đến một quốc gia khác (Juan và cộng sự, 2017).
Về sở thích đối với tài nguyên, nghiên cứu của Lew and McKercher (2006) trên
KDL quốc tế đến Hàn Quốc đã khẳng định rằng, khách đến từ các thị trường có văn hóa gần với Hàn Quốc thích tìm kiếm nhiều loại hình tài nguyên khác nhau để tham
quan, thích những hoạt động hoặc thuộc tính cụ thể của điểm đến (như sự đa dạng của tài nguyên, số lượng điểm tham quan trong chuyến đi). Trong khi đó, KDL quốc tế đến
từ các nước có khoảng cách văn hóa xa so với Hàn Quốc lại quan tâm nhiều đến các thuộc tính trừu tượng của điểm đến (như bầu không khí, vẻ đẹp cảnh quan, sự hiếu
khách, cởi mở của cộng đồng bản địa). Họ cũng thích tham gia vào các hoạt động trải nghiệm và hiểu biết về văn hóa địa phương hơn là những KDL tới từ các nước có khoảng cách văn hóa gần với Hàn Quốc (Lew and McKercher, 2006).
Đi sâu xem xét mối quan hệ ảnh hưởng của sự khác biệt về yếu tố chủ nghĩa cá
nhân (IDV) và yếu tố tránh sự rủi ro (UAI), nghiên cứu của Pizam and Sussman (1995), Kim and Lee (2000) và Prebensen và cộng sự (2005) cho thấy, KDL quốc tế
đến từ các nước có chỉ số chủ nghĩa cá nhân (IDV) cao thường bị hấp dẫn bởi những
điểm đến có tài nguyên tự nhiên, văn hóa mới lạ, độc đáo, giá trị tài nguyên còn nguyên vẹn, thích những hoạt động trải nghiệm giới hạn bản thân (Pizam and Sussmann, 1995; Prebensen và cộng sự, 2003; Tsang and Ap, 2007; Meng, 2010; Kim and McKercher, 2011). Ngược lại, những KDL tới từ các quốc gia có chủ nghĩa cá nhân (IDV) thấp thường thu hút bởi những TNDL văn hóa có nét tương đồng so với
văn hóa của họ, chấp nhận những tài nguyên tái hiện và thích các hoạt động hài hòa
với tự nhiên, văn hóa và xã hội của nơi đến (Pizam and Sussmann, 1995; Prebensen và
cộng sự, 2003; Tsang and Ap, 2007; Meng, 2010; Kim and McKercher, 2011).
2.3.3. Ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của điểm đến, tài nguyên du lịch
Sự khác biệt văn hóa có ảnh hưởng đáng kể đến việc nhận thức về hình ảnh điểm đến du lịch (Kastenholz, 2010). Kết quả nghiên cứu của Ahn and McKercher (2015) đã cho thấy, khi KDL tới các nước có khoảng cách văn hóa chủ nghĩa cá nhân
37
xa (CDIDV), họ sẽ chủ động hơn trong tìm kiếm thông tin về điểm đến. Các kênh
được lựa chọn để tìm kiếm thông tin thường là sách báo, phương tiện truyền thông công cộng, các chương trình quảng bá, giới thiệu về điểm đến, về TNDL ở điểm đến.
Còn theo nghiên cứu của Lord và cộng sự (2008), khách tới từ quốc gia có khoảng cách văn hóa quốc gia xa sẽ đặt ra nhiều tiêu chí khi lựa chọn điểm đến hơn và thường có những cảm nhận, đánh giá về sức hấp dẫn của điểm đến khắt khe hơn. Trong khi,
nếu tới các quốc gia có khoảng cách chủ nghĩa cá nhân (CDIDV) gần, KDL quốc tế lại tin tưởng hơn vào các thông tin từ các nguồn tham khảo từ bạn bè, người thân, người
nổi tiếng; tính chủ động trong tìm kiếm thông tin qua các kênh truyền thấp hơn. Các nghiên cứu của McKercher và cộng sự (2006, 2015) còn cho thấy, KDL tới từ các
quốc gia có khoảng cách văn hóa quốc gia gần đặt ra ít tiêu chí hơn và tích cực hơn khi
cảm nhận, đánh giá về điểm đến.
Xem xét ảnh hưởng khoảng cách văn hóa quốc gia tới hình ảnh điểm đến,
nghiên cứu của Litvin and Kar (2003) cho thấy mối quan hệ giữa khoảng cách văn hóa quốc gia và việc hình thành hình ảnh điểm đến và sự hài lòng của KDL quốc tế. Tác giả sử dụng các yếu tố đo lường hình ảnh điểm đến của Baloglu và cộng sự (1999) và
chứng minh rằng KDL tới từ các nước có khoảng cách văn hóa quốc gia gần sẽ có chỉ
số từ hình ảnh bị chi phối cao hơn và mức độ hài lòng cao hơn khi những thuộc tính thực tế tại điểm đến tương đồng với hình ảnh bị chi phối. Ngược lại, KDL tới từ các
nước có khoảng cách văn hóa quốc gia xa sẽ có chỉ số hình ảnh được nhận thức cao hơn, tìm kiếm thông tin nhiều hơn và mức độ hài lòng cao hơn khi những thuộc tính
thực tế tại điểm đến tương đồng với hình ảnh được nhận thức (Litvin and Kar, 2004)
Các nghiên cứu của Money and Crotts (2003), Litvin và cộng sự (2004), Crotts (2004) cho thấy, chỉ số tránh sự không chắc chắn (UAI) có ảnh hưởng đáng kể tới quá trình tìm kiếm thông tin và đánh giá về điểm đến của khách khi đi du lịch. Chẳng hạn
như nghiên cứu của Pizam and Sussmann (1995) đã chứng minh rằng, KDL tới từ các
nước có chỉ số yếu tố tránh sự rủi ro (UAI) cao thường tìm kiếm thông tin về điểm đến
nhiều hơn, đặt ra nhiều điều kiện khi lựa chọn điểm đến hơn. Họ thích các điểm đến có chỉ số tránh sự rủi ro UAI gần với mình và nếu tới các quốc gia có chỉ số UAI càng
thấp thì tần suất tìm kiếm thông tin sẽ càng nhiều (Pizam and Sussmann, 1995). Kết
quả nghiên cứu của Crott (2004) lại thể hiện rằng KDL Mỹ thích các điểm đến có
khoảng cách chỉ số tránh sự không chắc chắn (CDUAI) gần với Mỹ (nằm trong khoảng từ 3 đến 24) và không thích lựa chọn những điểm đến du lịch là các quốc gia có khoảng cách văn hóa quốc gia quá xa so với Mỹ (Crotts, 2004).
38
Nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến hành
vi của khách đi du lịch với mục đích văn hóa, McKercher và cộng sự (2006) đã cho thấy rằng, chỉ số khoảng cách tránh rủi ro trong văn hóa có ảnh hưởng tới đánh giá về
sự hấp dẫn của điểm đến du lịch văn hóa và hành vi giảm thiểu rủi ro do khác biệt văn hóa của KDL quốc tế. Những KDL tới từ các quốc gia có chỉ số tránh rủi ro cao thường bị hấp dẫn bởi những quốc gia có các giá trị, chuẩn mực và biểu tượng tương
đồng với văn hóa của mình. Còn khi đến với những quốc gia có chỉ số tránh rủi ro thấp hơn và xa so với văn hóa của mình, KDL thường tìm kiếm thông tin nhiều hơn, tỷ lệ
thuê hướng dẫn viên cũng cao hơn (Mc Kercher và cộng sự, 2006; Yang and Wong, 2012; Martin và cộng sự, 2017). Ngược lại, những KDL tới từ các quốc gia có chỉ số
tránh rủi ro thấp lại chấp nhận mức độ khoảng cách của chỉ số tránh rủi ro cao hơn và
họ thường bị thu hút bởi các yếu tố văn hóa mang tính mới lạ, độc đáo so với văn hóa của họ khi đến với các quốc gia (McKercher và cộng sự, 2006; Yang and Wong, 2012;
Martin và cộng sự, 2017). Ngoài ra, ở nghiên cứu của Crott and Erdmann (2000), Crott
(2004), khoảng cách của yếu tố tránh sự rủi ro (CDUAI) đã được sử dụng để giải thích cho dự định lựa chọn điểm đến du lịch nước ngoài của người Mỹ. Kết quả cho thấy,
KDL Mỹ thích lựa chọn các điểm đến có khoảng cách yếu tố tránh sự rủi ro (CDUAI) gần với quốc gia mình, trong khoảng từ 3 – 24 hơn là những quốc gia có sự khác biệt
quá lớn về yếu tố tránh sự rủi ro UAI.
Các nghiên cứu về ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến động cơ, sở thích, nhận thức về điểm đến, về tài nguyên và hành vi của khách trong quá trình đi
du lịch được tác giả tổng hợp và tóm tắt như sau:
Bảng 2.4. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến sự lựa chọn điểm đến và sở thích đối với tài nguyên của khách du lịch quốc tế
TT Kết quả và bình luận của tác giả Tác giả/năm
Yavas (1987)
1 Người Ả Rập bị hấp dẫn bởi những điểm đến là quốc gia Hồi giáo, có khoảng cách văn hóa quốc gia gần.
Mối quan hệ được nghiên cứu Tác động của khoảng cách văn hóa quốc gia đến sở thích đối với điểm đến của KDL là người Ả Rập – Hồi giáo
2
Pizam and Sussmann (1995) Ảnh hưởng của yếu tố tránh sự rủi ro (UAI) tới sở thích về các hoạt - Khách Nhật thích các chương trình du lịch trọn gói, ngắn ngày, thích các hoạt động nhẹ nhàng, an toàn và thích các điểm đến là các
39
TT Kết quả và bình luận của tác giả Tác giả/năm Mối quan hệ được nghiên cứu
động trong chuyến đi; Ảnh hưởng của yếu tố chủ nghĩa cá nhân (IDV) tới sở thích lựa chọn nhóm đi du lịch
quốc gia có chỉ số tránh sự rủi ro UAI gần hoặc cao hơn Nhật. - Khách Châu Âu và Mỹ (Mỹ, Pháp, Ý) thích các kỳ nghỉ dài ngày, hoạt động ngoài trời, khám phá tự nhiên, ít quan tâm tới chỉ số tránh sự rủi ro UAI hơn khách Nhật - Nhật là quốc gia có chỉ số chủ nghĩa cá nhân IDV thấp. Khách tới từ Nhật thích đi du lịch theo nhóm bạn, gia đình, theo công ty tổ chức. Trong khi, Mỹ, Ý, Pháp là các quốc gia có thỉ số chủ nghĩa cá nhân IDV cao thì KDL tới từ các quốc gia này thích đi du lịch cá nhân, tự tổ chức.
Mattila (1999)
3
- KDL tới từ các nước có chỉ số khoảng cách quyền lực PDI cao lưu ý nhiều hơn tới các thiết bị, tiện nghi trong phòng ngủ, trong khi KDL tới từ các nước có chỉ số khoảng cách quyền lực PDI thấp chú trọng đánh giá các khu vực dịch vụ chung tại cơ sở lưu trú.
Ảnh hưởng của yếu tố chủ nghĩa cá nhân (IDV) và yếu tố khoảng cách quyền lực (PDI) theo đo của Hofstede lường (1980) tới đánh giá của KDL quốc tế về chất lượng dịch vụ lưu trú
March (2000)
4 Ảnh hưởng của yếu tố chủ nghĩa cá nhân (IDV) tới động cơ du lịch quốc tế và đặc tính đồng nhất của các phân đoạn thị trường KDL Nhật Bản
- Những KDL tới từ các nước có chỉ số chủ nghĩa cá nhân cao (IDV) được thúc đẩy bởi sự hưởng thụ, tiện lợi, theo đuổi niềm vui, sự kích thích. - KDL tới từ các quốc gia có chỉ số chủ nghĩa cá nhân IDV thấp được thúc đẩy bởi xã hội hóa, nhóm hoạt động và coi trọng các hoạt động gắn hài hòa với thiên nhiên; - Tính tập thể rất cao của người Nhật tạo ra sự đồng nhất trong các nhóm thị trường KDL tại Nhật Bản.
5 Crotts and Ảnh hưởng của yếu tố - KDL tới từ các nước có chỉ số Nam tính
40
TT Kết quả và bình luận của tác giả
Tác giả/năm Erdmann (2000)
Wong and Lau (2000)
Mối quan hệ được nghiên cứu nam tính (MAS) tới việc đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch và lòng trung thành của khách hàng với sản phẩm du lịch. Ảnh hưởng của yếu tố định hướng dài hạn (LTO) đến việc lập kế hoạch cho chuyến đi và các hoạt động ưa thích tại Hong Kong 6
Kim and Lee (2000)
7 Ảnh hưởng yếu tố chủ nghĩa cá nhân (IDV) tới động cơ và hành vi của KDL quốc tế
Jackson (2001)
Ảnh hưởng của yếu tố chủ nghĩa cá nhân (IDV) đến sự lựa chọn điểm đến du lịch văn hóa 8
(MAS) cao thường thích các dịch vụ sang trọng, đẳng cấp, họ đòi hỏi cao hơn về chất lượng dịch vụ (vận chuyển và lưu trú) và mức độ trung thành với sản phẩm, dịch vụ cao hơn. - Khách đến từ các nước có chỉ số định hướng dài hạn LTO cao thường lập kế hoạch chi tiết, cẩn thận hơn cho chuyến đi; thích các hoạt động hài hòa với tự nhiên; lựa chọn các tài nguyên quen thuộc, gần gũi; thích đi theo nhóm và thích chương trình du lịch trọn gói hơn. - Khách đến từ các quốc gia có chỉ số định hướng dài hạn LTO cao thích các điểm đến có chỉ số định hướng dài hạn LTO gần với quốc gia của mình. - KDL đến từ các nước có chỉ số chủ nghĩa cá nhân IDV cao thích trải nghiệm sự mới lạ, thích đi du lịch cá nhân - KDL đến từ các nước có chủ nghĩa tập thể cao thích đi du lịch theo nhóm gia đình, bạn bè, thích những trải nghiệm quen thuộc - KDL từ các quốc gia có chỉ số chủ nghĩa cá nhân IDV cao thích lựa chọn các điểm đến có khoảng cách chủ nghĩa cá nhân IDV gần; ngược lại khách tới từ các quốc gia có chỉ số chủ nghĩa cá nhân IDV thấp lại thích lựa chọn các quốc gia có khoảng cách chủ nghĩa cá nhân IDV xa.
9
Resinger and Turner (2002)
Ảnh hưởng của yếu tố tránh sự rủi ro (UAI) và tố khoảng cách yếu lực (PDI) đến quyền - Tránh sự rủi ro ảnh hưởng đến sự lo lắng trong giao tiếp của người đến từ các nước có chỉ số tránh sự rủi ro UAI cao, đặc biệt là lo lắng về sự bất đồng ngôn ngữ khi đi du
41
TT Kết quả và bình luận của tác giả Tác giả/năm
Mối quan hệ được nghiên cứu hành vi giao tiếp của KDL quốc tế và việc lựa chọn, đánh giá các dịch vụ du lịch
lịch và thích thuê hướng dẫn viên để giảm thiểu lo lắng - Những người tới từ các quốc gia có chỉ số tránh sự rủi ro UAI cao thường tránh xung đột, giao tiếp gián tiếp, sử dụng nhiều loại ngôn ngữ trong giao tiếp (cử chỉ, nét mặt, âm điệu….nhiều hơn); ngược lại với những người Úc (được xem là có chỉ số UAI thấp) sẽ không tránh xung đột, thích giao tiếp trực tiếp, xu hướng sử dụng duy nhất ngôn ngữ nói khi giao tiếp với nhau. - Chỉ số khoảng cách quyền lực PDI có ảnh hưởng đến việc lạ chọn và đánh giá dịch vụ. KDL đến từ các nước có chỉ số khoảng cách quyền lực PDI cao đòi hỏi phải có sự phân biệt trong dịch vụ đối với các tầng lớp tuổi tác, nghề nghiệp, xã hội khác nhau.
Money and Crott (2003) 10
Ảnh hưởng của yếu tố tránh sự rủi ro (UAI) đến các lo lắng về rủi ro khi đi du lịch và hành vi giám thiểu rủi ro của KDL quốc tế - KDL đến từ một quốc gia có tránh sự rủi ro UAI thấp sẽ có một ngưỡng chấp nhận rủi ro cao hơn, có ít các hành vi giảm thiểu rủi ro hơn và mức độ chấp nhận các chương trình du lịch không chắc chắn cao hơn so với quốc gia có chỉ số tránh sự rủi ro cao.
Henderson, (2003)
11
Tác động của khoảng cách văn hóa quốc gia đến sức hấp dẫn của điểm đến đối với KDL quốc tế Người Châu Âu bị hấp dẫn những điểm đến có niềm tin và cách thức ứng xử tương tự với quốc gia mình và do đó bị thu hút bởi những điểm đến có khoảng cách văn hóa gần so với quốc gia mình.
Litvin and Kar (2003)
12
Ứng dụng mức độ khác biệt về chủ nghĩa cá nhân (IDV) trong nghiên cứu hình ảnh điểm đến và sự hài lòng khi trải - KDL đến với những quốc gia có khoảng cách chủ nghĩa cá nhân IDV gần thường có các chỉ số về hình ảnh bị chi phối cao hơn; hài lòng cao hơn khi những hình ảnh điểm đến trong thực tế có mức độ tương đồng cao
42
TT Kết quả và bình luận của tác giả Tác giả/năm
Mối quan hệ được nghiên cứu thực tế của
nghiệm khách
Crotts (2004)
13
Ảnh hưởng từ khoảng cách của yếu tố tránh sự rủi ro (UAI) tới sở thích lựa chọn điểm đến du lịch quốc tế
với hình ảnh bị chi phối. - Ngược lại, KDL đến với những quốc gia có khoảng cách chủ nghĩa cá nhân IDV xa thường có các chỉ số hình ảnh điểm đến được nhận thức cao hơn. Họ tìm kiếm thông tin nhiều hơn và hài lòng khi những hình ảnh thực tế tương đồng với hình ảnh được nhận thức - KDL Mỹ thích đi du lịch tới các nước có khoảng cách chỉ số tránh sự không chắc chắn (UAI) gần với Mỹ (nằm trong khoảng từ 3 đến 24) - Không thích lựa chọn điểm đến du lịch là các quốc gia có khoảng cách văn hóa quốc gia quá xa (hoàn toàn khác biệt so với Mỹ)
Reisinger and Mavondo, (2005)
lịch quốc
14
Mối quan hệ của yếu tố định hướng dài hạn (LTO), động cơ du lịch du lịch quốc tế, nhận thức về rủi ro và dự định tế. đi du Nghiên cứu được thực hiện trên 246 người Úc và 336 người nước ngoài.
Prebensen (2005) 15
Nghiên cứu mối quan hệ giữa yếu tố chủ nghĩa cá nhân (IDV) và động cơ du lịch của khách. - KDL Úc có động cơ và ý định đi du lịch tới các quốc gia có khoảng cách văn hóa quốc gia xa cao hơn so với KDL không phải là người Úc. - KDL Úc (có chỉ số định hướng dài hạn LTO thấp) khi tới một quốc gia có khác biệt về LTO lớn sẽ lo lắng về những rủi ro liên quan tới văn hóa xã hội (ngôn ngữ, tôn giáo, ăn uống). - KDL tới từ các nước có chỉ số định hướng dài hạn LTO cao khi đến với các nước có chỉ số LTO thấp hơn thường lo lắng nhiều về tài chính và an ninh; chuẩn bị nhiều hơn trước chuyến đi để giảm thiểu rủi ro. - KDL tới từ các quốc gia có chỉ số chủ nghĩa cá nhân IDV cao thích các hoạt động tham quan, thưởng ngoạn giá trị tài nguyên tự nhiên tại điểm đến.
43
TT Kết quả và bình luận của tác giả Tác giả/năm Mối quan hệ được nghiên cứu
- KDL tới từ các quốc gia có chỉ số chủ nghĩa cá nhân IDV thấp thích các hoạt động giải trí mang tính gia đình nhiều hơn.
Crotts and Mc Ketcher (2006)
16 Ảnh hưởng từ khoảng cách của yếu tố chủ nghĩa cá nhân (IDV) và tố khoảng cách yếu quyền lực (PDI) đến sự hài lòng và dự định quay trở lại của KDL quốc tế.
lực
- KDL ở các quốc gia có chỉ số khoảng cách chủ nghĩa cá nhân (CDIDV) xa so với Hongkong khi sử dụng chương trình du lịch trọn gói thì sẽ có mức độ hài lòng cao hơn, dự định quay trở lại cao hơn so với tự đi du lịch và ngược lại. - KDL tới từ các nước có chỉ số khoảng cách quyền (CDPDI) xa so với Hongkong có dự định thay đổi mục đích du lịch ở những lần tiếp theo cao hơn; trong khi KDL tới từ các quốc gia có CDPDI gần thì mục đích của lần du lịch lần tiếp theo có tỉ lệ lặp cao.
Ng và cộng sự, 2007
17 Khoảng cách văn hóa quốc gia có tác động nghịch chiều với dự định lựa chọn điểm đến du lịch.
Ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới dự định lựa chọn điểm đến du lịch quốc tế của KDL
Tsang and Ap (2007)
18
Ảnh hưởng của yếu tố chủ nghĩa cá nhân (IDV) tới sở thích lựa chọn loại hình hoạt động tại điểm đến du lịch.
- KDL tới từ các nước có chỉ số chủ nghĩa cá nhân IDV cao sẽ hướng tới các loại hình du lịch chinh phục tự nhiên (leo núi, mạo hiểm…) nhiều hơn so với các nước có chỉ số chủ nghĩa cá nhân IDV thấp thường hướng tới các loại hình tham quan, ngắm cảnh.
và sự,
Lord cộng 2008 19
Nghiên cứu tác động từ sự khác biệt của yếu tố chủ nghĩa cá nhân (IDV), yếu tố tránh sự rủi ro (UAI) và yếu tố - Những người đến từ các nước có chỉ số chủ nghĩa cá nhân cao, quan tâm nhiều hơn đến những lợi ích cụ thể mà họ nhận được trong chuyến đi như chi phí, giá cả, chất lượng sản phẩm và điều này ảnh hưởng đến
44
TT Kết quả và bình luận của tác giả Tác giả/năm
Mối quan hệ được nghiên cứu định hướng dài hạn (LTO) thức, tới nhận hành vi và sự hài lòng của KDL quốc tế.
sự hài lòng của họ. - Kích thước tránh sự không chắc chắn có tỉ lệ nghịch với thời gian của chuyến đi. - Những người đến từ quốc gia có chỉ số tránh sự rủi ro UAI thấp thích những điểm đến, tài nguyên mới mẻ và ngược lại. - Mức độ tránh sự rủi ro có ảnh hưởng nghịch chiều với sự hài lòng, cảm nhận và đánh giá về sự hấp dẫn của điểm đến.
Meng (2010)
Ảnh hưởng từ khoảng cách yếu tố chủ nghĩa cá nhân (IDV) tới hành vi đi du lịch theo nhóm của KDL quốc tế 20
- KDL tới từ các quốc gia có chỉ số chủ nghĩa cá nhân IDV cao sẽ có ảnh hưởng tới việc KDL ít lựa chọn đi du lịch theo nhóm, thích các hoạt động tự do, khám phá thiên nhiên và văn hóa bản địa; ngược lại, khách đến từ các nước có chủ nghĩa tập thể cao sẽ thích đi du lịch theo nhóm, thích các hoạt động theo chương trình đã được định sẵn, hoạt động hài hòa với tự nhiên.
Ahn and McKercher (2013)
21
- Khoảng cách văn hóa quốc gia có mối quan hệ với nhu cầu đi du lịch, đặc điểm du lịch, nhận thức về các yếu tố thu hút và sự hài lòng của KDL quốc tế với Hongkong. - Khoảng cách văn hóa quốc gia không có tác động tới lịch trình, hành vi chi tiêu của KDL quốc tế tới Hongkong. - Khoảng cách văn hóa quốc gia có thể là chỉ báo không mạnh mẽ bằng khoảng cách vật lý. Tuy nhiên, việc sử dụng khoảng cách văn hóa quốc gia có một số ý nghĩa trong việc kiểm tra mối quan hệ này với các chuyến đi của KDL đến từ những quốc gia có khoảng cách địa lý xa.
Ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến nhu cầu đi du lịch tới Hongkong, nhận thức về các yếu tố thu hút, tham gia thành phần chuyến đi, trình lịch chuyến đi, chi tiêu và sự hài lòng của KDL quốc tế đến Hongkong So sánh ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia và khoảng cách vật lý đến tiêu dùng của đến KDL quốc tế
45
TT Kết quả và bình luận của tác giả Tác giả/năm Mối quan hệ được nghiên cứu
Leung và cộng sự (2013)
- Khoảng cách của chỉ số tránh sự rủi ro (UAI) có ảnh hưởng tiêu cực tới mức độ hài lòng của KDL quốc tế về dịch vụ vận chuyển công cộng. 22
Hongkong. Ảnh hưởng từ khoảng cách của yếu tố tránh sự không chắc chắn (UAI) tới sự hài lòng về dịch vụ hàng không, phương tiện vận chuyển công cộng và dịch vụ công ở Hongkong
and
Hu Weber, 2014
23
Ảnh hưởng của cả năm yếu tố: chủ nghĩa cá nhân (IDV), tránh sự rủi ro (UAI), khoảng cách quyền lực (PDI), nam tính (MAS), định hướng dài hạn (LTO) tới nhận thức về sức hấp dẫn của các chương trình khách hàng trung thành đối với các khách sạn ở Trung Quốc (nghiên cứu so sánh khách Nhật Bản và Trung Quốc)
- KDL tới từ các quốc gia có chỉ số khoảng cách quyền lực PDI cao sẽ đánh giá cao thuộc tính có chính sách ưu đãi cao hơn so với khách không phải là thành viên trong các chương trình khách hàng trung thành. - KDL tới từ các quốc gia có chỉ số chủ nghĩa cá nhân IDV thấp sẽ quan tâm tới số thành viên, những thành viên có mối quan hệ tương tác trong các chương trình khách hàng trung thành khi lựa chọn tham gia. - KDL tới từ các quốc gia có chỉ số khoảng cách quyền lực PDI cao tham gia vào chương trình khách hàng trung thành nhiều hơn và ngược lại. - Khách hàng tới từ quốc gia có chỉ số nam tính MAS cao quan tâm tới các phần thưởng, điểm thưởng và thích sự tiện lợi trong quá trình chuyển đổi điểm thưởng.
Buafai and Kiểm tra mối quan hệ - Yếu tố khoảng cách quyền lực PDI có ảnh
Khunon, 2016 của 6 yếu tố theo mô hình Hofstede với sự hài hưởng nghịch chiều đối với sự hài lòng về tài nguyên và cơ sở ăn uống. 24
lòng về sản phẩm du lịch ở Thái Lan của KDL - Yếu tố chủ nghĩa cá nhân IDV có ảnh hưởng thuận chiều đối với cơ sở ăn uống
quốc tế. - Yếu tố nam tính MAS không ảnh hưởng
46
TT Kết quả và bình luận của tác giả Tác giả/năm
Mối quan hệ được nghiên cứu Các thành phần của sản phẩm gồm: tài nguyên tới sự hài lòng về sản phẩm du lịch - Yếu tố tránh sự rủi ro UAI có ảnh hưởng
(điểm tham quan), cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, sự tiếp cận, cơ sở ăn thuận chiều với sự hài lòng của khách về khả năng tiếp cận và hài lòng tổng quan về sản phẩm
uống, cửa hàng lưu niệm, đại lý lữ hành và - Yếu tố định hướng dài hạn LTO có ảnh hưởng nghịch chiều với tài nguyên, khả
dịch vụ du lịch.
năng tiếp cận và cơ sở ăn uống. - Yếu tố thể hiện đam mê cá nhân IND có
ảnh hưởng thuận chiều với tài nguyên, cơ sở
vật chất kỹ thuật và cơ sở ăn uống.
Esiyok và Ảnh hưởng của khoảng - Khoảng cách văn hóa quốc gia có tác dụng
cộng sự cách văn hóa quốc gia nghịch chiều với những người Thổ Nhĩ Kỳ
(2017)
đến sự lựa chọn điểm đến du lịch y tế đi du lịch y tế nhằm điều dưỡng hoặc điều trị những căn bệnh nhẹ như mắt, mũi, răng,
thẩm mỹ…
25
- Khoảng cách văn hóa quốc gia không ảnh hưởng tới những người Thổ Nhĩ Kỳ đi du lịch y tế để điều trị bệnh nặng và nhi khoa.
Tuy nhiên, ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia ít hơn so với thu nhập và
khoảng cách vật lý.
Juan cộng và sự Kiểm tra ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa - KDL Trung Quốc có xu hướng lựa chọn các điểm đến có khoảng cách văn hóa ở
(2017)
quốc gia tới sự lựa chọn điểm đến của KDL mức độ trung bình. - Khoảng cách văn hóa ở mức độ quá gần 26 Trung Quốc khi đi nước thì điểm đến ít hấp dẫn người Trung Quốc
ngoài
và quá xa thì sẽ trở thành yếu tố cản trở vì người Trung Quốc lo lắng về rủi ro khi đi
du lịch.
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
47
Tổng quan nghiên cứu cho thấy, khoảng cách văn hóa quốc gia có ảnh hưởng
tới sở thích và đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên, của điểm đến cũng như ảnh hưởng đến quá trình cảm nhận về điểm đến, quyết định lựa chọn điểm
đến và hành vi của khách trước, trong và sau quá trình đi du lịch. Tuy nhiên, dù đã có nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới sở thích đối với tài nguyên, sở thích đối với các hoạt động văn hóa của KDL quốc tế (như Pizam and
Sussmann, 1995; Ahn and McKercher, 2015) nhưng cho đến nay, chưa có nhiều nghiên cứu đề cập cụ thể đến mối quan hệ của khoảng cách văn hóa quốc gia với việc
cảm nhận, đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa. Do đó, việc nghiên cứu xác định sức hấp dẫn và những yếu tố ảnh hưởng tới sức hấp dẫn của
TNDL văn hóa là rất cần thiết bởi TNDL văn hóa và khác biệt văn hóa giữa nơi đi và
nơi đến luôn được xem là một trong những động lực quan trọng, là yếu tố thu hút, hấp dẫn người tiêu dùng tìm kiếm và lựa chọn điểm đến DLVH (Richards, 2002, 2007).
2.4. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
2.4.1. Căn cứ xây dựng mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, không phải tất cả các yếu tố văn hóa xác định
theo mô hình Hofstede (2010) đều có ảnh hưởng như nhau đến hành vi của KDL quốc
tế. Do đó, nghiên cứu giải thích hành vi của người tiêu dùng cần xem xét mức độ tác
động khác nhau của từng yếu tố khoảng cách văn hóa. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp giải
thích sâu sắc hơn các đặc điểm tâm lý và hành vi của KDL quốc tế (Crotts and
McKercher, 2006; Tsang and Ap, 2007; Meng, 2010; Rinuastuti và cộng sự, 2014).
Đây là gợi ý quan trọng để tác giả nghiên cứu ảnh hưởng khác nhau của mỗi yếu tố
khoảng cách văn hóa tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của các thuộc tính
TNDL văn hóa ở điểm đến.
Mối quan hệ 1: Khoảng cách của yếu tố chủ nghĩa cá nhân (CDIDV) trong văn hóa giữa hai quốc gia và đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Yếu tố chủ nghĩa cá nhân (IDV) thể hiện mức độ phụ thuộc, kết nối lẫn nhau
giữa các thành viên trong xã hội. Về mặt hành vi, cá nhân đến từ các nước có chỉ số
chủ nghĩa cá nhân IDV cao được khuyến khích thể hiện ý kiến của bản thân, theo đuổi
48
chủ nghĩa hưởng thụ, tiêu dùng thực dụng. Động cơ và nhu cầu thể hiện, khám phá
giới hạn bản thân cao. Ngược lại, ở các quốc gia có chỉ số chủ nghĩa cá nhân IDV
thấp, con người thường ít khi được khuyến khích thể hiện chính kiến, tiêu dùng hài
hòa hơn, động cơ hòa mình vào nhóm cao hơn là thể hiện bản thân.
Thông qua các nghiên cứu về ảnh hưởng của yếu tố chủ nghĩa cá nhân IDV đến
hành vi tiêu dùng du lịch, có thể thấy, yếu tố này có sự ảnh hưởng đáng kể tới việc xác
định tiêu chí và đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của điểm đến, cũng như sở
thích lựa chọn tài nguyên của KDL. Theo đó, khi tới các quốc gia có khoảng cách chủ
nghĩa cá nhân xa, du khách sẽ đặt mức độ quan trọng của các tiêu chí hấp dẫn cao hơn
và đánh giá mức độ hấp dẫn của TNDL văn hóa thấp hơn (Crotts and McKercher,
2006; Lord và cộng sự, 2008; Ahn and McKercher, 2015). Đây chính là cơ sở cho việc
đề xuất mối quan hệ ảnh hưởng của khoảng cách yếu tố chủ nghĩa cá nhân tới đánh giá
của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến ở giả thuyết [H1].
Giả thuyết H1a: Khoảng cách của yếu tố chủ nghĩa cá nhân (CDIDV) trong văn
hóa giữa hai quốc gia ảnh hưởng thuận chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về mức độ
quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Giả thuyết H1b: Khoảng cách của yếu tố chủ nghĩa cá nhân (CDIDV) trong văn
hóa giữa hai quốc gia ảnh hưởng nghịch chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về sức
hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Mối quan hệ 2: Khoảng cách của yếu tố tránh sự rủi ro (CDUAI) trong văn hóa giữa hai quốc gia với đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Yếu tố này liên quan tới mức độ tránh các tình huống không chắc chắn của các cá
nhân trong xã hội. Về mặt hành vi, cá nhân ở các quốc gia có chỉ số UAI cao rất coi
trọng sự chính xác về giờ giấc, về các tiêu chuẩn, quy trình đã thiết lập; không thích có
sự thay đổi với những điều đã định sẵn, các quyết định được đưa ra sau khi có sự phân
tích cẩn thận thông tin, yếu tố liên quan. Ngược lại, ở các quốc gia có chỉ số UAI thấp,
sự đúng giờ, đúng nguyên tắc ít đươc coi trọng. Người ta thích hoặc dễ chấp nhận sự
thay đổi so với chương trình đã thiết lập; các quyết định được đưa ra nhanh chóng hơn.
Hofstede (1989, 1997) cho rằng sự khác biệt về chỉ số tránh sự không chắc chắn
giữa hai quốc gia là một vấn đề văn hóa có ảnh hưởng quan trọng nhất đối với nhận
thức và hành vi của cá nhân khi đến một môi trường văn hóa khác với văn hóa quen
49
thuộc của mình. Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực hành vi KDL quốc tế như Lepp
and Gibson (2003), Money and Crotts (2003), Litvin và cộng sự (2004), Crotts (2004);
Yang and Wong (2012) đã chứng minh mối quan hệ ảnh hưởng nghịch chiều của
khoảng cách của yếu tố tránh sự không chắc chắn (CDUAI) tới cảm nhận của KDL
quốc tế về sức hấp dẫn của điểm đến. Đây là cơ sở để tác giả đề xuất giả thuyết [H2]
về ảnh hưởng của khoảng cách yếu tố tránh sự rủi ro trong văn hóa giữa hai quốc gia
tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến:
Giả thuyết H2a: Khoảng cách của yếu tố tránh sự rủi ro (CDUAI) trong văn hóa
giữa hai quốc gia ảnh hưởng thuận chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về mức độ
quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Giả thuyết H2b: Khoảng cách của yếu tố tránh sự rủi ro (CDUAI) trong văn hóa
giữa hai quốc gia có ảnh hưởng nghịch chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp
dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Mối quan hệ 3: Khoảng cách yếu tố thể hiện đam mê cá nhân (CDIND) trong văn hóa giữa hai quốc gia với đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Yếu tố thể hiện đam mê cá nhân được định nghĩa là mức độ mà cá nhân cho phép
bản thân thực hiện những việc thỏa mãn niềm đam mê, động cơ, ham muốn của mình.
Ngược lại, kiềm chế phản ánh một niềm tin của các cá nhân trong xã hội rằng sự thỏa
mãn những mong muốn của con người cần phải được kiểm soát bởi các quy tắc xã hội
nghiêm ngặt (Hofstede, 2010). Những người đến từ quốc gia có chỉ số đam mê cá nhân
(IND) thấp có niềm tin rằng sự thỏa mãn mong muốn của con người cần phải được
kiểm soát bởi những quy tắc xã hội nghiêm ngặt. Họ thường có khuynh hướng hoài
nghi và bi quan với cuộc sống, ít tận dụng thời gian rảnh rỗi cho những việc cá nhân.
Ngược lại, ở các nước có chỉ số đam mê cá nhân IND cao, con người trong xã hội luôn
sẵn sàng nhận ra và thể hiện những ham muốn của bản thân, thái độ sống tích cực, lạc
quan, luôn tận dụng thời gian rảnh rỗi để làm những việc thỏa mãn mong muốn của
bản thân (Hofstede, 2010).
Trong lĩnh vực hành vi tiêu dùng du lịch, đã có một số nghiên cứu đề cập đến sự
ảnh hưởng thuận chiều của chỉ số đam mê cá nhân IND với sự hài lòng của KDL quốc
tế đối với các thuộc tính của điểm đến như tài nguyên, cơ sở lưu trú, cơ sở ăn uống khi
đi du lịch du lịch (Buafai and Khunon, 2016). Những nghiên cứu này cho thấy có sự
50
ảnh hưởng của chỉ số thỏa mãn đam mê cá nhân (IND) với nhận thức và hành vi của
người tiêu dùng du lịch và là cơ sở để tác giả đề xuất giả thuyết [H3] xem xét mối
quan hệ ảnh hưởng của khoảng cách yếu tố đam mê cá nhân/kiểm soát xã hội
(CDIND) tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa
Giả thuyết H3a: Khoảng cách của yếu tố thể hiện đam mê cá nhân (CDIND)
trong văn hóa giữa hai quốc gia ảnh hưởng thuận chiều tới đánh giá của KDL quốc tế
về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở
điểm đến.
Giả thuyết H3b: Khoảng cách của yếu tố thể hiện đam mê cá nhân (CDIND)
trong văn hóa giữa hai quốc gia có ảnh hưởng nghịch chiều tới đánh giá của KDL quốc
tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Mối quan hệ 4: Khoảng cách yếu tố quyền lực (CDPDI) trong văn hóa giữa hai quốc gia với đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Theo Hofstede (1991) quốc gia nào cũng tồn tại sự bất bình đẳng về quyền lực,
tuy nhiên, mức độ chấp nhận điều này ở mỗi quốc gia sẽ khác nhau và điều này được
thể hiện thông qua chỉ số khoảng cách quyền lực (PDI). Về mặt hành vi cá nhân, con
người tới từ các quốc gia có chỉ số khoảng cách quyền lực (PDI) thấp thường độc lập
hơn trong suy nghĩ và thể hiện ý kiến của mình; trong các mối quan hệ mong muốn
được tư vấn, chia sẻ hơn là kiểm soát. Ngược lại, ở các quốc gia có chỉ số khoảng cách
quyền lực (PDI) cao, các cá nhân thường có xu hướng phụ thuộc vào suy nghĩ của
người khác, đồng tình với việc có người quản lý, kiểm soát các hành vi và suy nghĩ
của mình. Trong lĩnh vực du lịch, đã có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng, yếu tố
khoảng cách quyền lực (PDI) có ảnh hưởng tới đánh giá của khách hàng về chất lượng
và ảnh hưởng tới lòng trung thành của khách hàng đối với các sản phẩm, dịch vụ du
lịch. Điều này cho thấy mối quan hệ giữa yếu tố khoảng cách quyền lực đối với hành
vi đánh giá cá nhân KDL quốc tế. Đây là cơ sở để tác giả đề xuất giả thuyết [H4] xem
xét mối quan hệ của khoảng cách quyền lực với đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp
dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Giả thuyết H4a: Khoảng cách của yếu tố khoảng cách quyền lực (CDPDI) trong văn
hóa giữa hai quốc gia ảnh hưởng thuận chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về mức độ
quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
51
Giả thuyết H4b: Khoảng cách của yếu tố khoảng cách quyền lực (CDPDI) trong
văn hóa giữa hai quốc gia có ảnh hưởng nghịch chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về
sức hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Mối quan hệ 5: Khoảng cách yếu tố nam tính (CDMAS) trong văn hóa giữa hai quốc gia với đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Yếu tố nam tính đề cập đến vai trò của nam giới trong xã hội. Về mặt hành vi, ở
xã hội có chỉ số nam tính MAS cao, các thành viên đề cao thành tích, ưa sự quyết
đoán, thích cạnh tranh và khát khao được thành công. Ngược lại, ở xã hội có chỉ số
nam tính MAS thấp, các thành viên ưa thích sự hợp tác, khiêm tốn, chăm sóc cho
người yếu hơn, xã hội có tính đồng thuận và đề cao chất lượng cuộc sống cộng đồng.
Trong lĩnh vực tiêu dùng, các nhân ở các quốc gia có chỉ số nam tính MAS cao thường
đề cao các hành vi quyết đoán, ít quan tâm đến cảm giác của người khác, khi đánh giá
về sản phẩm dịch vụ họ thường đánh giá một cách rõ ràng, trực diện, nhiều tiêu chí và
khó khăn trong đánh giá về chất lượng sản phẩm (Lord và cộng sự, 2008). Sự khác biệt
về chỉ số nam tính trong xã hội đã được đề cập trong các nghiên cứu về hành vi đánh
giá của KDL quốc tế đối với chất lượng dịch vụ và lòng trung thành của khách hàng
với sản phẩm dịch vụ du lịch. Theo đó, KDL tới từ các nước có chỉ số nam tính (MAS)
cao thường thích các dịch vụ sang trọng, đẳng cấp, họ đòi hỏi cao hơn về chất lượng
dịch vụ (vận chuyển và lưu trú) và mức độ trung thành với sản phẩm, dịch vụ cao hơn
(Crotts and Erdmann, 2000). Đối với tài nguyên du lịch, KDL tới từ các nước có chỉ số
nam tính cao có xu hướng quan tâm nhiều hơn tới các giá trị tài nguyên mang tính cụ
thể, nổi tiếng và đặt ra nhiều tiêu chí hơn khi lựa chọn một điểm đến du lịch. Để làm rõ
hơn mối quan hệ giữa yếu tố nam tính (CDMAS) đối với những đánh giá của KDL
quốc tế về TNDL văn hóa, tác giả đề xuất giả thuyết [H5] về ảnh hưởng của CDMAS
với đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa
Giả thuyết H5a: Khoảng cách của yếu tố nam tính (CDMAS) trong văn hóa giữa
hai quốc gia ảnh hưởng thuận chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan
trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Giả thuyết H5b: Khoảng cách của yếu tố nam tính (CDMAS) trong văn hóa giữa
hai quốc gia có ảnh hưởng nghịch chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn
từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến.
52
Mối quan hệ 6: Khoảng cách yếu tố định hướng dài hạn (CDLTO) trong văn hóa giữa hai quốc gia với đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Định hướng dài hạn trong văn hóa đề cập đến việc xã hội duy trì truyền thống và
sự kết nối quá khứ khi đối phó với những thách thức của hiện tại và tương lai. Sự ưu
tiên của mỗi quốc gia cho hai việc này là khác nhau. Ở các quốc gia có chỉ số LTO
thấp, truyền thống và các chuẩn mực có sự thay đổi phù hợp với xã hội hiện tại. Ở các
quốc gia có chỉ số LTO cao, truyền thống và các chuẩn mực ít thay đổi hơn. Về mặt
hành vi xã hội, các cá nhân ở những quốc gia có chỉ số LTO cao thường có định hướng
dài hạn trong hành động, nghĩ nhiều đến chuẩn mực và truyền thống khi hành động,
được khuyến khích tiết kiệm và nỗ lực đầu tư cho giáo dục như một cách chuẩn bị cho
tương lai. Ngược lại, ở các quốc gia có chỉ số LTO thấp, các cá nhân coi trọng những
hành động ở thời điểm hiện tại, mục tiêu ngắn hạn, coi trọng, tiết kiệm thời gian, linh
hoạt. Những sự khác biệt trong hành vi của các cá nhân do ảnh hưởng của yếu tố định
hướng dài hạn trong văn hóa (LTO) đã được một số nhà nghiên cứu xem xét trong mối
quan hệ với nhận thức về rủi ro và hành vi giảm thiểu rủi ro khi đi du lịch quốc tế
(Reisinger and Mavondo, 2005), hành vi lập kế hoạch cho chuyến đi (Wong and Lau,
2000) và các hoạt động ưa thích của khách khi đi du lịch ở quốc gia khác (Wong and
Lau, 2000). Kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng, KDL tới từ các quốc gia có chỉ
số định hướng dài hạn LTO cao thường ưa thích các hoạt động hài hòa với tự nhiên;
lựa chọn các tài nguyên quen thuộc, gần gũi với bản thân. Từ kết quả này, để xem xét
rõ hơn tác động của yếu tố định hướng dài hạn LTO tới đánh giá của KDL quốc tế về
sức hấp dẫn của TNLD văn hóa, tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu [H6]:
Giả thuyết H6a: Khoảng cách của yếu tố định hướng dài hạn (CDLTO) trong văn
hóa giữa hai quốc gia ảnh hưởng nghịch chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về mức độ
quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Giả thuyết H6b: Khoảng cách của yếu tố định hướng dài hạn (CDLTO) trong văn
hóa giữa hai quốc gia có ảnh hưởng thuận chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về sức
hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Mối quan hệ 7: Các đặc điểm tâm lý cá nhân với đánh giá của khách
du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên văn hóa ở điểm đến
53
Quá trình cảm nhận, đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn điểm đến, của
TNDL văn hóa chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như văn hóa, xã hội, môi trường và
đặc điểm riêng của mỗi cá nhân. Nhiều mô hình về quá trình ra quyết định lựa chọn
điểm đến du lịch (Crompton, 1992; Bahaudin, 2012) đã cho thấy các đặc điểm nhân
khẩu học gồm giới tính, tuổi tác, giáo dục, thu nhập là những yếu tố ảnh hưởng đến
nhận thức của cá nhân về một điểm đến du lịch, do đó, chắc chắn sẽ có mối quan hệ
với việc đánh giá sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến của KDL.
Ngoài các đặc điểm nhân khẩu học, trong nghiên cứu du lịch, động cơ và kinh
nghiệm du lịch quá khứ ở điểm đến được xác định là hai yếu tố thuộc nhóm tâm lý cá
nhân có ảnh hưởng quan trọng tới hành vi của KDL (Poria và cộng sự, 2006; Chen và
cộng sự, 2014; Bahaudin, 2012; Vinh, 2013) và có mối quan hệ ảnh hưởng rất đáng kể
tới nhận thức và tình cảm của KDL đối với điểm đến, với tài nguyên du lịch (Martin và
cộng sự, 2006). Mỗi điểm đến sẽ có những thuộc tính cơ bản như TNDL, bầu không khí,
các giá trị lợi ích khác…, và các thuôc tính này sẽ trở nên hấp dẫn hơn khi phù hợp với
động cơ mà KDL đang tìm kiếm. Từ đó sẽ tác động đến cảm nhận, đánh giá của KDL
về sự hấp dẫn của điểm đến.
Đối với yếu tố kinh nghiệm quá khứ, những người đã từng có kinh nghiệm du lịch
tại điểm đến sẽ có thể thích ứng dễ dàng hơn với những khác biệt về văn hóa giữa hai
quốc gia, đồng thời kiến thức thực tế của họ về TNDL văn hóa, về điểm đến du lịch
cũng khác biệt so với những người chưa đi du lịch lần nào (Mazursky, 1989; Huang and
Hsu, 2009; Pennnington và cộng sự, 2011). Vì thế, những đánh giá của KDL quốc tế về
sức hấp dẫn của TNDL văn hóa sẽ có thể chịu ảnh hưởng bới yếu tố kinh nghiệm du lịch
quá khứ ở điểm đến.
Ở nghiên cứu này tác giả sẽ xem xét các yếu tố đặc điểm cá nhân gồm động cơ
du lịch, kinh nghiệm quá khứ và các đặc điểm nhân khẩu học (độ tuổi, trình độ, thu
nhập) với vai trò là biến kiểm soát đánh giá của KDL Quốc tếvề sức hấp dẫn của
TNDL văn hóa ở điểm đến.
54
2.4.2. Mô hình nghiên cứu lý thuyết
Các giả thuyết đã nêu ở trên có thể tổng hợp trong mô hình nghiên cứu lý thuyết
dự kiến dưới đây:
KHOẢNG CÁCH VĂN HÓA QUỐC GIA
KHOẢNG CÁCH YẾU TỐ CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN (CDIDV)
H1a,b
KHOẢNG CÁCH YẾU TỐ TRÁNH SỰ RỦI RO (CDUAI)
Đánh giá của khách du lịch quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
H2a,b
KHOẢNG CÁCH YẾU TỐ THỂ HIỆN ĐAM MÊ CÁ NHÂN (CDIND)
H3a,b
KHOẢNG CÁCH YẾU TỐ KHOẢNG CÁCH QUYỀN LỰC (CDPDI)
H4a,b
KHOẢNG CÁCH YẾU TỐ NAM TÍNH (CDMAS)
H5a,b
Đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
KHOẢNG CÁCH YẾU TỐ ĐỊNH HƯỚNG DÀI HẠN (CDLTO)
H6a,b
Biến kiểm soát - Động cơ du lịch của khách khi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến - Kinh nghiệm du lịch quá khứ ở điểm đến - Đặc điểm nhân khẩu học: tuổi, trình độ, thu nhập
Hình 2.6. Mô hình nghiên cứu (dự kiến)
55
Bảng 2.5. Tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu
GIẢ THUYẾT KÝ HIỆU
H1:
H1a:
H1b:
H2:
H2a:
H2b:
H3:
H3a:
H3b:
H4:
Khoảng cách của yếu tố chủ nghĩa cá nhân (CDIDV) trong văn hóa giữa hai quốc gia ảnh hưởng tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến Khoảng cách của yếu tố chủ nghĩa cá nhân (CDIDV) trong văn hóa giữa hai quốc gia ảnh hưởng thuận chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến Khoảng cách của yếu tố chủ nghĩa cá nhân (CDIDV) trong văn hóa giữa hai quốc gia có ảnh hưởng nghịch chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến. Khoảng cách của yếu tố tránh sự rủi ro (CDUAI) trong văn hóa giữa hai quốc gia có ảnh hưởng tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến Khoảng cách của yếu tố tránh sự rủi ro (CDUAI) trong văn hóa giữa hai quốc gia ảnh hưởng thuận chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí trong tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến Khoảng cách của yếu tố tránh sự rủi ro (CDUAI) trong văn hóa giữa hai quốc gia có ảnh hưởng nghịch chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến Khoảng cách của yếu tố thể hiện đam mê cá nhân (CDIND) trong văn hóa giữa hai quốc gia có ảnh hưởng tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến Khoảng cách của yếu tố thể hiện đam mê cá nhân (CDIND) trong văn hóa giữa hai quốc gia ảnh hưởng thuận chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến Khoảng cách của yếu tố thể hiện đam mê cá nhân (CDIND) trong văn hóa giữa hai quốc gia ảnh hưởng nghịch chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến Khoảng cách của yếu tố khoảng cách quyền lực (CDPDI) trong văn hóa giữa hai quốc gia có ảnh hưởng tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến
56
GIẢ THUYẾT KÝ HIỆU
H4a:
H4b:
H5:
H5a:
H5b:
H6:
H6a:
H6b:
Khoảng cách của yếu tố khoảng cách quyền lực (CDPDI) trong văn hóa giữa hai quốc gia ảnh hưởng thuận chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến Khoảng cách của yếu tố khoảng cách quyền lực (CDPDI) trong văn hóa giữa hai quốc gia ảnh hưởng nghịch chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến Khoảng cách của yếu tố nam tính (CDMAS) trong văn hóa giữa hai quốc gia có ảnh hưởng tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến Khoảng cách của yếu tố nam tính (CDMAS) trong văn hóa giữa hai quốc gia ảnh hưởng thuận chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến Khoảng cách của yếu tố nam tính (CDMAS) trong văn hóa giữa hai quốc gia có ảnh hưởng nghịch chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến Khoảng cách của yếu tố định hướng dài hạn (CDLTO) trong văn hóa giữa hai quốc gia có ảnh hưởng tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến Khoảng cách của yếu tố định hướng dài hạn (CDLTO) trong văn hóa giữa hai quốc gia ảnh hưởng thuận chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến Khoảng cách của yếu tố định hướng dài hạn (CDLTO) trong văn hóa giữa hai quốc gia ảnh hưởng nghịch chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến
Nguồn: Tổng hợp đề xuất của tác giả
Ngoài 06 giả thuyết chính của mô hình nghiên cứu, tác giả thực hiện kiểm định
ảnh hưởng của các yếu tố thuộc đặc điểm cá nhân người tiêu dùng gồm: động cơ du
lịch của khách khi đến thăm TNDL văn hóa, kinh nghiệm du lịch quá khứ ở điểm đến
và các đặc điểm nhân khẩu học để xem xét mối quan hệ kiểm soát của các yếu tố này
tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở Việt Nam.
57
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Kết quả nghiên cứu của chương hai đã tổng hợp được được những vấn đề có
liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận án.
Thứ nhất, tổng quan nghiên cứu về sức hấp dẫn của tài nguyên, của điểm đến du lịch và đo lường sức hấp dẫn của TNDL văn hóa qua đánh giá của KDL quốc tế.
Theo đó, đo lường sức hấp dẫn của TNDL văn hóa qua đánh giá của KDL quốc tế sẽ được thực hiện theo các nội dung (1) xác định các tiêu chí tạo nên sức hấp dẫn của
TNDL văn hóa ở điểm đến; (2) đo lường đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến; (3)
đo lường đánh giá của KDL quốc tế về mức độ hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Thứ hai, tổng quan lý thuyết đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia và khẳng định sự phù hợp của lý thuyết Hofstede, công thức Jackson (2001) trong nghiên cứu
ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Thứ ba, tổng quan các nghiên cứu về mối quan hệ ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới sở thích, nhận thức và hành vi của KDL quốc tế đối với điểm đến, với TNDL, từ đó, xác định khoảng trống trong nghiên cứu về ảnh hưởng của khoảng
cách văn hóa quốc gia đến đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn
hóa ở điểm đến.
Thứ tư, từ khoảng trống nghiên cứu và tổng quan các nghiên cứu trước, chương hai đã đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết và các giả thuyết về mối quan hệ giữa các biến trong mô hình nghiên cứu.
58
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nội dung của chương 3 trình bày về các phương pháp được sử dụng trong quá
trình thực hiện luận án, đồng thời cũng thể hiện kết quả nghiên cứu định tính và định lượng sơ bộ làm tiền đề cho phân tích định lượng chính thức, cụ thể là: (1) Quy trình
thực hiện nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để phân tích và tổng hợp số liệu, dữ liệu; (2) các phương pháp xử lý dữ liệu; (3) một số kết quả nghiên
cứu từ tiếp cận định tính và định lượng; (4) tổng hợp và xác định thang đo, phương pháp đo cho các biến của mô hình nghiên cứu .
3.1. Quy trình và phương pháp nghiên cứu
3.1.1. Quy trình nghiên cứu
Mô hình, giả thuyết và thang đo
Nghiên cứu được thực hiện theo quy trình được nêu ở Hình 3.1. như sau:
Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
Nghiên cứu định tính: phỏng vấn chuyên gia
Kiểm tra độ phù hợp của thang đo, hiệu đính nội dung của các câu hỏi
Chuẩn hóa bảng hỏi
Nghiên cứu định lượng sơ bộ (N = 50)
Thu thập dữ liệu chính thức của nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng chính thức (N = 750)
Phân tích Cronbach’s Alpha; phân tích EFA
Đánh giá độ tin cậy của các thang đo, kiểm định giá trị của các biến trong mô hình
Phân tích hồi quy đa biến
Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu
59
3.1.2. Phương pháp nghiên cứu
3.1.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp
Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu ở chủ đề sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến, khoảng cách văn hóa quốc gia và ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa
quốc gia tới hành vi, cảm nhận, đánh giá về tài nguyên, về điểm đến của người tiêu dùng du lịch, tác giả tiến hành so sánh và đối chiếu các kết quả nghiên cứu đã được
chọn lọc; ghi nhận những biến số đo lường đã được đề cập và phân tích từ những công trình nghiên cứu trước; bổ sung một số nội dung mới, những cách định nghĩa, đặc
3.1.2.2. Nghiên cứu định tính - phương pháp phỏng vấn sâu
Mục tiêu của phỏng vấn sâu
điểm hoặc biểu hiện mới của các thuộc tính đã được nhắc đến và lựa chọn những biến số phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của luận án.
Nghiên cứu về các hoạt động tâm lý và ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa đến cảm nhận, đánh giá của người tiêu dùng du lịch là phạm trù phức tạp và trừu tượng. Luận án sử dụng phương pháp phỏng vấn nhằm xem xét sự phù hợp của mô
hình nghiên cứu; Khám phá, điều chỉnh, sàng lọc, bổ sung một số biểu hiện đo lường
các yếu tố trong mô hình bao gồm: các thuộc tính được xem là tiêu chí hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến, đo lường đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của
TNDL văn hóa; đo lường động cơ của khách khi đến tham quan TNDL văn hóa, kinh
nghiệm quá khứ ở điểm đến và các biến số đo lường khác.
Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu 08 người gồm các chuyên gia về văn hóa, hành vi tiêu dùng và các nhà nghiên cứu thị trường ở các doanh nghiệp lữ hành inbound. Phỏng vấn được
chia thành 2 đợt: Đợt thứ nhất, trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu, mô hình và giả thuyết nghiên cứu đã đề xuất, tác giả tiến hành phỏng vấn một số chuyên gia về văn
hóa hành vi và nhà nghiên cứu thị trường tại các doanh nghiệp lữ hành inbound ở Việt
Nam. Kết quả của phỏng vấn là cơ sở đề tác giả tổng hợp ý kiến về những điểm phù hợp hay không phù hợp của các yếu tố trong mô hình nghiên cứu, về các biểu hiện để
đo lường các nhân tố trong mô hình nghiên cứu. Thời gian cho mỗi cuộc phỏng vấn
chuyên gia ở đợt 1 kéo dài từ 1 đến 2 tiếng. Đợt thứ hai, phỏng vấn chuyên gia được thực hiện sau khi có kết quả khảo sát chính thức, nhằm tham vấn ý kiến chuyên gia về kết quả nghiên cứu và những gợi ý, đề xuất phù hợp với kết quả nghiên cứu.
60
Mô tả phỏng vấn sâu
- Chủ đề phỏng vấn
Mục tiêu của nghiên cứu định tính nhằm xem xét sự phù hợp của mô hình
nghiên cứu; khám phá, điều chỉnh, sàng lọc, bổ sung biến số đo lường các nhân tố trong mô hình bao gồm: các thuộc tính tiêu chí tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa
ở điểm đến, biến số đo lường đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa; động cơ của khách khi đến tham quan TNDL văn hóa, kinh nghiệm quá khứ
và các biến số đo lường khác. Chuyên gia được phỏng vấn là những nhà nghiên cứu, giảng dạy về văn hóa, hành vi và các nhà nghiên cứu thị trường tại các tổ chức, doanh
nghiệp du lịch. Chủ đề phỏng vấn gồm những nội dung sau:
Bảng 3.1. Chủ đề phỏng vấn chuyên gia
TT Chủ đề phỏng vấn
1 Xác định các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến?
2 Phương pháp đo lường đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL
văn hóa?
3 Các yếu tố ảnh hưởng tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL
văn hóa ở điểm đến?
4 Ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới đánh giá của KDL quốc tế
về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến?
- Kết quả phỏng vấn
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Kết quả phỏng vấn cho thấy ý kiến chuyên gia có nhiều điểm chung. Chi tiết
thông tin về các câu hỏi phỏng vấn được trình bày ở Phụ lục 1 của luận án. Ở phần này, tác giả xin trình bày tóm tắt các kết quả phỏng vấn.
Thứ nhất, về thuộc tính và phương pháp đo lường đánh giá của KDL quốc tế về
sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến, đa phần các chuyên gia đều đồng tình với
việc sử dụng các thuộc tính là tính chất, đặc điểm được KDL tổng hợp hóa, trừu tượng hóa đã được tác giả đề xuất thông qua tổng quan tài liệu. Ngoài ra, một số chuyên gia được phỏng vấn đã cho rằng cần bổ sung thuộc tính “sự đáp ứng nhu cầu đa dạng của
61
KDL quốc tế của TNDL văn hóa” để làm tiêu chí đo lường sức hấp dẫn của TNDL văn
hóa ở điểm đến.
Thứ hai, các ý kiến đều đồng ý về mối quan hệ ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa tới cảm nhận, đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở
điểm đến. Có 02 chuyên gia đề nghị là sử dụng thuật ngữ “mức độ khác biệt văn hóa” để thay cho thuật ngữ “khoảng cách văn hóa” thì sẽ dễ hiểu hơn với người Việt. Tuy nhiên, khi được giải thích rằng điều tra sẽ được thực hiện với KDL quốc tế đến Việt
Nam thì các chuyên gia đã đồng tình với thuật ngữ khoảng cách văn hóa nhưng vẫn đề nghị phải giải thích kỹ nội hàm của thuật ngữ này trong bảng hỏi.
Thứ ba, đa phần các chuyên gia nghiên cứu về văn hóa, hành vi đều cho rằng các chỉ số của Hofstede đã đo lường là có thể chấp nhận được trong nghiên cứu này,
bởi lẽ Hofstede đo lường trên một mẫu rất lớn nên các giá trị đo lường được đảm bảo về quy mô, hơn nữa, văn hóa là một phạm trù rất phức tạp, trừu tượng nên khó có thể
có một mô hình đo lường văn hóa hoàn hảo, vì vậy, có thể chấp nhận được những khuyết thiếu hoặc hạn chế của mô hình đo lường văn hóa.
Thứ tư, các yếu tố độ tuổi, trình độ học vấn, thu nhập, kinh nghiệm du lịch quá
khứ ở điểm đến và động cơ của khách khi đến du lịch ở TNDL văn hóa được các chuyên gia đề xuất đưa vào mô hình nghiên cứu như là biến số kiểm soát đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa. Tuy nhiên, có 01 chuyên
gia cho rằng, trong mô hình nghiên cứu này, kinh nghiệm du lịch quá khứ ở điểm đến
và động cơ của khách khi đến du lịch ở TNDL văn hóa nên được đặt là biến điều tiết mối quan hệ giữa khoảng cách văn hóa và đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn
3.1.2.3. Nghiên cứu định lượng - phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục tiêu của điều tra bằng bảng hỏi
của TNDL văn hóa thì sẽ phù hợp hơn.
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được sử dụng sau tổng hợp lý thuyết và
nghiên cứu định tính. Điều tra được thực hiện nhằm mục tiêu:
- Kiểm định độ tin cậy của thang đo - Kiểm tra giá trị thang đo và khám phá các nhân tố trong mô hình nghiên cứu
- Kiểm định mối quan hệ ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới
đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
62
Quy trình thực hiện điều tra bằng bảng hỏi
- Điều tra và phân tích định lượng sơ bộ
Để hoàn thiện bảng hỏi, điều tra sơ bộ đã được thực hiện ở Hà Nội với đơn vị
mẫu là 50 KDL quốc tế đến Việt Nam. Mục đích của điều tra sơ bộ là để hoàn thiện bảng hỏi, tránh những câu hỏi chưa rõ nghĩa khiến người được điều tra hiểu sai trong
quá trình trả lời. Về cơ bản, điều tra sơ bộ đã cho phép tác giả điều chỉnh các lỗi chính tả, in ấn, cách thức trình bày, diễn đạt câu hỏi. Trên cơ sở kết quả định tính và điều tra
- Điều tra chính thức
sơ bộ, tác giả điều chỉnh nội dung bảng hỏi và thực hiện điều tra chính thức. Mẫu phiếu điều tra chính thức được trình bày chi tiết trong Phụ lục 2.
Tiếp sau điều tra sơ bộ, điều tra chính thức được thực hiện trong thời gian từ tháng 7 năm 2016 đến tháng 7 năm 2017. Mẫu điều tra được lựa chọn bằng phương pháp chọn mẫu có chủ đích gồm KDL quốc tế đến Việt Nam (không bao gồm Việt
Kiều), đến du lịch ở Việt Nam bằng nhiều hình thức khác nhau như đi qua công ty lữ
hành, đi tự túc… và là những người đã tới tham quan các TNDL văn hóa ở Việt Nam. Điều tra được thực hiện tại Hà Nội, Đà Nẵng và Tp. Hồ Chí Minh. Đây là những trung
tâm đón KDL inbound và có tính đại diện cho ba khu vực văn hóa ở Việt Nam. Ngôn
ngữ được sử dụng trong bảng hỏi là tiếng Anh.
Về kích thước mẫu, đối với phân tích nhân tố (EFA), kích thước mẫu được tính dựa trên số lượng biến quan sát đưa vào phân tích. Theo Hair và cộng sự (1998), số
lượng mẫu tối thiểu phải đạt gấp 5 lần số lượng biến quan sát (trích theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2011). Trong nghiên cứu này, có tổng số 13 nhân tố gồm: 6 nhân tố thuộc nhóm khoảng cách văn hóa quốc gia (không đưa vào phân tích
nhân tố do sử dụng chỉ số của Hofstede); 01 nhân tố là đánh giá của KDL quốc tế về
mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến có tổng cộng 18 biến quan sát, 1 nhân tố là đánh giá của KDL quốc tế về
mức độ hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến có tổng cộng 18 biến
quan sát, 1 nhân tố động cơ du lịch của khách khi đến thăm TNDL văn hóa ở điểm đến
(có tổng cộng 5 biến quan sát), 1 nhân tố kinh nghiệm du lịch quá khứ ở điểm đến (có 5 biến quan sát). Tổng số biến quan sát sẽ đưa vào phân tích nhân tố là: 46 biến. Do đó, để phân tích nhân tố trong nghiên cứu này, mẫu tối thiểu phải đạt là N = 46*5 = 235 đơn vị mẫu.
63
Đối với phân tích hồi quy, theo Tabachnick and Fidell (1996), để cho kết quả
tốt nhất, mẫu được xác định theo công thức N ≥ 8m + 50 (m là số biến độc lập trong mô hình). Để phân tích hồi quy trong nghiên cứu nay, cỡ mẫu tối thiểu phải đạt là N =
8*13 + 50 = 154 (trích theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2011).
Như vậy, cỡ mẫu tối thiểu cho cả hai phân tích là 235 đơn vị. Để đảm bảo thu thập được ý kiến của nhiều khách đến du lịch ở các khu vực khác nhau của Việt Nam, tác giả đã phân bổ số bảng hỏi theo 3 thành phố thực hiện điều tra mỗi điểm là 250
phiếu. Tổng số đơn vị mẫu được điều tra là 750 KDL quốc tế, đến Việt Nam (không bao gồm Việt Kiều), đến du lịch ở Việt Nam bằng nhiều hình thức khác nhau như đi
qua công ty lữ hành, đi tự túc… và là những người đã tới tham quan các TNDL văn hóa ở Việt Nam. KDL quốc tế đi theo công ty được phát bảng hỏi thông qua các
hướng dẫn viên tại doanh nghiệp lữ hành inbound; KDL quốc tế đi lẻ được phát và trả lời bảng hỏi tại khu vực các TNDL văn hóa.
Trong thời gian thực hiện điều tra chính thức, tác giả và cộng sự đã phát ra 750 phiếu, thu về 623 phiếu, số phiếu bị loại bỏ là 65 phiếu (do không điền hoặc KDL trả lời không đến tham quan, không có thông tin về TNDL văn hóa ở Việt Nam). Số phiếu
hợp lệ đưa vào phân tích là 558 phiếu, đạt tỷ lệ 74,4%, đảm bảo các điều kiện chọn
mẫu cho phép. Tỷ lệ phân bố mẫu điều tra chính thức theo theo địa bàn như sau:
Bảng 3.2. Phân bố mẫu tại các địa bàn thực hiện nghiên cứu điều tra
Số phiếu đưa vào phân tích Số phiếu TT Thành phố phát ra Phiếu Tỷ lệ %
1 Hà Nội 250 202 36,20
2 Đà Nẵng 250 170 30,47
3 Tp. Hồ Chí Minh 250 186 33,33
750 558 100 Tổng số
Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra của tác giả
64
- Xử lý dữ liệu điều tra
+ Biên tập và mã hóa dữ liệu
Dữ liệu thu thập được biên tập và xác định tính phù hợp trước khi đưa vào phân
tích. Sau đó, tác giả kiểm tra mức độ hoàn thiện của các bản trả lời. Bản trả lời chưa
hoàn thiện sẽ được xem xét tỷ lệ hoàn thành các câu hỏi để quyết định sử dụng hay
loại bỏ bảng hỏi ra khỏi dữ liệu. Bên cạnh đó, tác giả cũng tiến hành kiểm tra tính nhất
quán trong nội dung trả lời của các câu hỏi ở mỗi bản hỏi.Các câu hỏi trong bảng hỏi
được mã hóa bằng con số và ký hiệu để thuận lợi cho phân tích dữ liệu.
+ Phân tích dữ liệu
Luận án sử dụng phần mềm SPSS 20 để phân tích kết quả các câu trả lời. Phân
tích được thực hiện qua các bước: phân tích mô tả, phân tích nhằm kiểm tra độ tin cậy
của thang đo thông qua Cronbach Alpha, kiểm tra độ hiệu lực của thang đo bằng phân
tích nhân tố (EFA), xác định mối quan hệ tương quan giữa các biến trong mô hình
nghiên cứu (Correlate) và phân tích hồi quy đa biến. Cụ thể như sau:
+ Phân tích mô tả
Phân tích nhằm mô tả các thuộc tính của mẫu điều tra. Thông tin phân tích mô
tả sẽ bao gồm: đặc điểm nhân khẩu học (giới tính, tuổi, trình độ, thu nhập của KDL);
kinh nghiệm đi du lịch quá khứ tại điểm đến. Phân tích mô tả giúp tác giả trình bày
bao quát tổng thể mẫu, những đặc điểm của mẫu (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng
Ngọc, 2005).
+ Phân tích Cronbach’s Alpha và hệ số tương quan biến tổng để kiểm tra độ tin
cậy của thang đo
Độ tin cậy của thang đo được kiểm tra bằng hệ số Cronbach’s Alpha (CA) –
nhằm xem xét các đo lường trong mỗi nhân tố có liên kết chặt chẽ với nhau hay
không; Hệ số tương quan biến tổng (Item – Total Correlation) – nhằm loại những biến
quan sát không đóng góp nhiều cho sự mô tả của khái niệm cần đo. Các tiêu chí được
sử dụng khi kiểm tra độ tin cậy của thang đo như sau:
- Mức giá trị Alpha lớn hơn 0,6: hệ số CA > 0,8 là thang đo lường tốt; 0,7 <
Cronbach Alpha < 0,8 là sử dụng được; từ 0,6 trở lên có thể sử dụng trong bối cảnh
nghiên cứu mới, mang tính chất khám phá (Nguyễn Thị Tuyết Mai và cộng sự, 2015).
65
- Hệ số Item – Total Correlation (tương quan biến tổng) lớn hơn 0,3. Biến quan
sát sẽ bị loại nếu như có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0,3 hoặc nếu loại biến thì
giá trị Cronbach Alpha sẽ lớn hơn hệ số CA nếu để biến (Nguyễn Đình Thọ và
Nguyễn Thị Mai Trang, 2007).
+ Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis)
Phân tích EFA thuộc nhóm phân tích đa biến phụ thuộc lẫn nhau nhằm kiểm tra
độ hiệu lực của thang đo các nhân tố trong mô hình nghiên cứu. Phân tích dựa trên mối
tương quan giữa các biến quan sát với nhau. Phương pháp này giúp đánh giá tính đồng
nhất của các biến quan sát (items) được mong đợi là có quan hệ đáng kể với nhau
trong cùng một nhân tố (factor). Phân tích nhân tố có thể làm thay đổi hoặc hình thành
những nhân tố mới dựa trên việc kết hợp, gộp các biến quan sát có mối quan hệ tuyến
tính. Trong luận án này, tác giả sử dụng phương pháp trích Principal Components
Analysis cùng với phép xoay Varimax (Mayers và cộng sự, 2000) với các chỉ tiêu:
- Hệ số tải nhân tố (Factor Loading) – là chỉ tiêu để đảm bảo ý nghĩa thiết thực
của EFA phải đạt mức > 0,5; một nhân tố trích xuất hai nhóm sẽ phải có giá trị cách
nhau > 0,3 và sẽ lựa chọn hệ số tải ở nhóm lớn hơn.
- Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) – được dùng để xem xét sự thích hợp của
phân tích nhân tố. Chỉ tiêu này phải nằm trong đoạn từ 0,5 ≤ KMO ≤ 1 là phù hợp.
- Kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig. < 0,05) – là đại lượng thống kê
dùng để xem xét giả thuyết các biến không có mối quan hệ với tổng thể. Khi Sig. <
0,05 nghĩa là kiểm định có ý nghĩa thống kê (nghĩa là các biến quan sát có mối tương
quan với nhau trong tổng thể).
- Phần trăm phương sai toàn bộ (Percentage of Variance) – thể hiện phần trăm
biến thiên của các biến quan sát, giá trị này phải > 50%.
+ Phân tích tương quan Correlation Pearson
Phương pháp phân tích tương quan được thực hiện nhằm kiểm tra mối quan hệ
có hoặc không tương quan giữa các biến bằng cách xây dựng ma trận hệ số tương
quan. Kết quả phân tích tương quan giữa các biến độc lập và phụ thuộc trong mô hình
nghiên cứu sẽ cho phép tác giả xác định được các mối quan hệ tuyến tính và tránh
được hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình nghiên cứu khi phân tích SPSS. Các chỉ
tiêu của cho biết hai nhân tố có tương quan tuyến tính gồm:
66
- Chỉ số Sig. (2-tailed) của hai nhân tố < 0,05 (với mức ý nghĩa này giả thuyết
H0 – hệ số tương quan của tổng thể bằng 0 bị bác bỏ và ngược lại).
- Chỉ số Pearson Correlation càng lớn thì quan hệ tương quan càng mạnh.
- Dựa vào ma trận hệ số tương quan, tác giả xây dựng các hàm giả định về mối
quan hệ giữa các nhân tố trong mô hình nghiên cứu làm cơ sở cho phân tích hồi quy.
+ Phân tích hồi quy đa biến
Mục tiêu của phân tích hồi quy đa biến nhằm đánh giá ảnh hưởng của các biến
độc lập lên biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu, từ đó, giả thuyết nghiên cứu của
luận án được kiểm định và kết luận. Phân tích hồi quy có các tiêu chí như sau:
- Hệ số R2: cho biết mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập tới biến phụ thuộc.
- Giá trị Sig. của kiểm định F trong bảng phân tích phương sai (ANOVA) phải
< 0,05. Kiểm định này nhằm đánh giá sự phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính tổng
thể; Sig. của kiểm định F < 0,05 sẽ cho biết giả thuyết H0 bị bác bỏ.
- Giá trị Sig. của từng nhân tố trong mối quan hệ ảnh hưởng tới biến phụ thuộc
phải < 0,05. Kiểm định này đánh giá sự phù hợp của từng mối quan hệ giữa các biến;
Sig. của kiểm định F < 0,05 sẽ cho biết giả thuyết H0 bị bác bỏ.
- Hệ số Durbin-Watson của kiểm định phải nằm trong khoảng 1,0 đến 3,0 để
không có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra.
- Hệ số VIF của từng nhân tố phải nhỏ hơn 10 (tốt nhất là nhỏ hơn 3) để không
có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các nhân tố.
- Giá trị Beta chuẩn hóa: càng cao chứng tỏ nhân tố độc lập càng có ảnh hưởng
mạnh mẽ đến nhân tố phụ thuộc; Beta đạt giá trị âm chứng tỏ mối quan hệ là nghịch
chiều; Beta đạt giá trị dương chứng tỏ mối quan hệ là thuận chiều.
- Kết quả phân tích mô tả mẫu điều tra chính thức
Đặc điểm nhân khẩu học gồm giới tính, độ tuổi, trình độ, thu nhập của mẫu điều
tra chính thức được phân tích như sau:
67
Bảng 3.3. Tổng hợp các đặc điểm nhân khẩu học của mẫu điều tra
Mẫu điều tra Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ %
Nam 308 55,2 Giới tính
Nữ 250 44,8
558 100 Tổng
≤ 18 17 3,0 Độ tuổi
19 – 24 54 9,7
25 – 34 159 28,5
35 – 44 126 22,6
45 – 54 91 16,3
55 – 64 81 14,5
≥ 65 30 5,4
558 100 Tổng
Tiểu học 16 2,9
Trung học 38 6,8 Trình độ học vấn
Giáo dục nghề 142 25,4
Đại học 264 47,3
Sau đại học 98 17,6
558 100 Tổng
5.001 – 10.000 EU 2 0,4
Thu nhập hộ gia đình/năm 10.001 – 20.000 EU 33 5,9
20.001 – 30.000 EU 57 10,2
30.001 – 40.000 EU 112 20,1
40.001 – 50.000 EU 67 12,0
50.001 – 60.000 EU 46 8,2
> 60.000 EU 192 34,4
Missing 49 8,8
100 Tổng
558 Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra của tác giả
68
Về giới tính, trong tổng số 558 người trả lời có 308 là nam giới chiếm 55,2% và
250 nữ giới chiếm 44,8%.
Về độ tuổi, độ tuổi chiếm số lượng cao nhất là [25 – 34] (159 người trả lời, chiếm 28,5%), tiếp theo là [35 – 44] (126 người trả lời, chiếm 22,6%) và [45 – 54] (có 91 người trả lời, chiếm 16,3%). Kết quả phù hợp với thực tế, bởi lẽ, KDL quốc tế thuộc ba nhóm độ tuổi nói trên đều là những người tiêu dùng có hội đủ các điều kiện về thời gian, tiền bạc và sức khỏe để đi du lịch tới các điểm du lịch nước ngoài. Đồng thời, nhu cầu tìm hiểm, trải nghiệm những giá trị của văn hóa tại điểm đến của nhóm người tiêu dùng ở ba độ tuổi này cũng cao hơn. Nhóm có số người trả lời thấp nhất là nhóm [dưới 18 tuổi] (có 17 người trả lời, chiếm 3,0%) và độ tuổi [≥ 65] (có 30 người trả lời, chiếm 5,4%). Hai nhóm tuổi [55 – 64] và [19 -24] có số người trả lời ở nhóm giữa trong bảng phân bố này, lần lượt là 81 người trả lời, chiếm 14,5%, 54 người trả lời, chiếm 09,7%). Tỷ lệ này phù hợp với các kết quả nghiên cứu về hành vi của KDL văn hóa của các tác giả và thị trường du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Về trình độ học vấn, 362 người trả lời (chiếm 64,9%) có trình độ đại học và sau đại học. Số người có trình độ giáo dục nghề là 142 người (chiếm tỷ lệ 25,4%), trình độ trung học là 38 người (chiếm tỷ lệ 6,8%), và chỉ một số ít 16 người có trình độ tiểu học (chiếm 2,9%) trên tổng số người trả lời.
Về thu nhập, biến số này không thu thập được đủ dữ liệu của 558 người do có 49 người không trả lời, tỷ lệ missing chiếm 8,8%. Với các phiếu trả lời mức thu nhập bằng đơn vị tiền tệ là USD hoặc một số đơn vị tiền tệ khác, tác giả đã thực hiện quy đổi chung về đơn vị thu nhập là EU theo tỉ giá tại thời điểm trả lời phiếu điều tra. Sau khi đã quy đổi, trong tổng số 509 đáp án hợp lệ, có 192 người trả lời có mức thu nhập trung bình năm/hộ gia đình từ [60.000 EU trở lên], chiếm tỷ lệ 34,4%. Tiếp theo, mức thu nhập từ [30001 đến 40000 EU] có 112 người, chiếm tỷ lệ 20,1%. Các mức thu nhập [40001 đến 50000 EU] và [50001 đến 60000 EU] lần lượt là 67 và 46 người, chiếm tỷ lệ 12.% và 8,2% trong tổng số người trả lời. Mức thu nhập từ [20001 đến 30000 EU] và [10001 đến 20000 EU] có 90 người trả lời lựa chọn, chiếm tỷ lệ 16,1% và một tỷ lệ rất nhỏ 02 người chiếm 0,4% số người trả lời lựa chọn mức thu nhập trung bình hàng năm là từ 10.000 EU trở xuống. Điều này phù hợp với phân tích của một số tác giả như Richards (2005, 2007), Isacc (2008) rằng KDL đi đến các quốc gia khác với động cơ văn hóa thường là những người có thu nhập cao hơn so với khách đi du lịch vì mục đích khác. Mối quan hệ của các đặc điểm nhân khẩu học tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở Việt Nam sẽ được trình bày ở phần sau của nghiên cứu.
69
3.2. Thang đo các nhân tố trong mô hình nghiên cứu
3.2.1. Thang đo khoảng cách của các yếu tố văn hóa quốc gia
Trên cơ sở các chỉ số văn hóa đã được đo lường và công bố bởi Hofstede và
theo đề xuất của Jackson (2001), khoảng cách của các yếu tố văn hóa giữa quốc gia
gửi khách và Việt Nam được tính cụ thể như sau:
Bảng 3.4. Tổng hợp chỉ số khoảng cách văn hóa quốc gia giữa Việt Nam với các quốc gia theo chỉ số của Hofstede và đo lường của Jackson
IDV
UAI
PDI
LTO
MAS
IND
TT
National
CD IDV
CD UAI
CD PDI
CD LTO
CD MAS
CD IND
1 Vietnam 20 30 70 57 40 35
2 Australia 90 51 36 21 61 70 34 21 36
3 Canada 80 48 39 36 60 18
4 China 20 30 71 -36 68 -33 24 0 0
5 France 71 86 31 80 -10 68 21 87 -30 63 21 52 -12 66 -26 43 51 2 56 -6 -3 11 48 -13
6 Germany 67 65 35 40 47 35 35 -5
7 India 48 40 77 83 -26 51 26 28 -7 10 6 9
8 Indonesia 14 48 78 62 66 -26 56 -16 46 38 -6 -8 18 -5 -3
9 Italy 76 75 50 61 30 56 20 45 5
10 Japan 46 92 42 26 16
11 Malaysia 26 36 -4 88 -31 41 6 -30 26
12 Newzealand 79 49 54 62 6 100 22 33 59 19
Saudi Arabia
13 Rusia 39 95 -6 70 -30 95 -55 50 -10 58 -18 36 -7 57 -22 75 -40 20 19 65
14 25 80 5 48 93 -23 95 -25 50 21 4 60 -20 15 52 -17
15 South Korea 18 85 60 39 -2 10 55 -43
16 Spain 51 86 57 24 81 -24 36 1 100 48 42 46 -11 29 31 13 56 2 9 6
17 Sweden 71 29 31 53 5 44 51 39 -1 35 -9
18 Taiwan 17 69 58 45 78 -3 12 39 -5
19 Thailand 20 64 64 4 93 -36 32 34 0 6 34 25
20 UK 89 35 35 51 69 35 5 6
21 USA 91 40 26 71 6 66 -26 62 -22 43 49 -14 45 -10 69 -34 16 30 31
46 Nguồn: Hofstede và cộng sự (2010), Jackson (2001)
70
3.2.2. Các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Các thuộc tính của TNDL văn hóa là những đặc điểm, tính chất của tài nguyên
văn hóa ở điểm đến (McKercher and Ho, 2004). Đây là căn cứ để KDL quốc tế đánh giá mức độ quan trọng của tiêu chí và đánh giá sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm
đến du lịch. Xuất phát từ góc độ tâm lý học, các nhà nghiên cứu cho rằng, để cảm nhận, đánh giá về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của điểm đến, KDL thường có xu
hướng tổng hợp, hình ảnh hóa các yếu tố đơn lẻ thành những thuộc tính phản ánh tính chất chung của điểm đến (Gearing và cộng sự, 1974; Mayo & Javis, 1981; Baglolu và
cộng sự, 1999). Đối với TNDL văn hóa, KDL sẽ có xu hướng hình ảnh hóa những tính chất đơn lẻ của một số tài nguyên mà khách biết hoặc đã trải nghiệm và gắn nó trở
thành thuộc tính chung của TNDL văn hóa ở điểm đến (McKercher and Ho, 2004; Ark and Richards, 2006, Miquel and Raquel, 2013; Wei and Zhu, 2014; Guan and Jones,
2015, Wu và cộng sự, 2015). Từ góc độ tiếp cận này, các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến được tổng hợp như sau:
Bảng 3.5. Thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TT Thuộc tính Tác giả
1 Số lượng TNDL văn hóa ở điểm đến Gearing và cộng sự,
2 Sự đa dạng các loại hình TNDL văn hóa ở điểm đến
3 Quy mô của các TNDL văn hóa ở điểm đến
1974; McKercher and Ho, 2004; Formica, 2000; Formica and Uysal, 2006. 4
Sự thuận lợi trong tiếp cận với các TNDL văn hóa ở điểm đến
5 Sức chứa của các TNDL văn hóa ở điểm đến
6 Tính hiệu quả của hoạt động bảo tồn TNDL văn hóa ICOMOS, 2002;
ở điểm đến LORD, 2001
7
Điểm đến có nhiều TNDL văn hóa được công nhận ở cấp độ cao
8 Sự nguyên vẹn của các TNDL văn hóa ở điểm đến McKercher and Ho,
2004; Chen và cộng 9 Sự nguyên gốc của TNDL văn hóa ở điểm đến sự, 2014; Formica, 10 Sự nổi tiếng của TNDL văn hóa ở điểm đến
71
TT Thuộc tính Tác giả
11 Tính độc đáo của TNDL văn hóa ở điểm đến 2000; Formica and Uysal, 2006, Wu và 12 Vẻ đẹp của TNDL văn hóa ở điểm đến cộng sự, 2015.
13 Vẻ đẹp cảnh quan xung quanh TNDL văn hóa ở
điểm đến
14 Tính sống động của TNDL văn hóa ở điểm đến
15 Sự phù hợp với các nhu cầu của KDL quốc tế của Phát triển từ phỏng vấn
TNDL văn hóa ở điểm đến sâu
16 Bầu không khí tâm lý xung quanh TNDL văn hóa ở
điểm đến
McKercher and Ho, 2004; Miquel and Raquel, 2013; Chen và 17
Phong tục, lối sống của người dân địa phương xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến cộng sự, 2014; Wu và cộng sự, 2015; Lee and 18
Sự thân thiện và hiếu khách của người dân địa phương xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến Chen, 2016; Formica, and 2000; Formica
Uysal, 2006.
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.2.3. Thang đo Đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Trên cơ sở các tiêu chí hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến, KDL sẽ đánh giá
mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa
(Emir, 2016). Thang đo likert 5 điểm gồm các mức từ (1) hoàn toàn không quan trọng
(Almost-Unimportant); (2) không quan trọng (unimportant); (3) trung bình (Neutral);
(4) quan trọng (important) đến rất quan trọng (Highly importance) được sử đụng để
đánh giá mức độ quan trọng của mỗi tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của
TNDL văn hóa ở điểm đến (Hu and Ritchie, 1993; Formica, 2006; Ark and Richards,
2006, Vengesayi và cộng sự, 2009; Wei and Zhu, 2014; Wu và cộng sự, 2015). Các
biến quan sát để đo lường nhân tố “Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng
của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến”
được trình bày như sau:
72
Bảng 3.6. Thang đo đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Biến quan sát Tác giả Ký hiệu
TC1 Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có số
lượng TNDL văn hóa nhiều Gearing và cộng sự, 1974; McKercher and
TC2 Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có sự đa Ho, 2000; 2004; Formica, and Formica dạng về loại hình TNDL văn hóa Uysal, 2006. TC3 Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có các
TNDL văn hóa quy mô lớn
TC4 Mức độ quan trọng của tiêu chí tiếp cận với TNDL
văn hóa ở điểm đến thuận lợi
TC5 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở
điểm đến có sức chứa du lịch lớn
ICOMOS, 2002; LORD,
TC6 Mức độ quan trọng của tiêu chí hoạt động bảo tồn TNDL văn hóa ở điểm đến có hiệu quả cao 2001; McKercher and
2004; Formica, and Formica TC7 Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có nhiều TNDL văn hóa được công nhận ở cấp độ cao Ho, 2000; Uysal, 2006.
TC8 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở
điểm đến có tính nguyên vẹn cao
and Ho, McKercher 2004; Chen và cộng sự, 2014; Formica, 2000; TC9 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở Formica and Uysal, điểm đến có tính nguyên gốc cao 2006, Wu và cộng sự, TC10 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở 2015 điểm đến nổi tiếng
TC11 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở
điểm đến có tính độc đáo cao
TC12 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở
điểm đến đẹp
TC13 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên cảnh
73
Biến quan sát Tác giả Ký hiệu
quan xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến đẹp
TC14 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở
điểm đến có tính sống động cao
TC15 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến phù hợp với các nhu cầu của KDL quốc Phát triển từ phỏng vấn sâu
tế
TC16 Mức độ quan trọng của tiêu chí bầu không khí tâm
lý xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến dễ chịu
and Ho, McKercher and 2004; Miquel Raquel, 2013; Chen và
cộng sự, 2014; Wu và cộng sự, 2015, Lee and TC17 Mức độ quan trọng của tiêu chí phong tục, lối sống của người địa phương ở khu vực TNDL văn hóa thú vị
Chen, 2016; Formica and Uysal, 2006. TC18 Mức độ quan trọng của tiêu chí sự thân thiện, hiếu khách của người dân địa phương xung quanh
TNDL văn hóa ở điểm đến
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.2.4. Thang đo Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Trên cơ sở những thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến, KDL thực hiện đánh giá sức hấp dẫn của mỗi thuộc tính đối với họ (Hu and Ritchie, 1993; Formica
and Uysal, 2006; Wei and Zhu, 2014; Wu và cộng sự, 2015). Những thuộc tính được KDL xem là thú vị, gợi lên cảm xúc mạnh mẽ, tích cực sẽ được đánh giá có sức hấp
dẫn cao và ngược lại, những điểm ít hấp dẫn hơn sẽ có mức điểm thấp hơn (Hu and
Ritchie, 1993; Formica and Uysal, 2006; Krešić and Prebeža, 2011; Wei and Zhu,
2014; Wu và cộng sự, 2015). Thang điểm đo lường đánh giá của KDL về sức hâp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến là thang likert từ (1) hoàn toàn không
hấp dẫn (Highly non-attractive); (2) không hấp dẫn (Non-attractive); (3) trung bình (Neutral); (4) hấp dẫn (Attractive); (5) rất hấp dẫn (Highly Attractive) (Formica, 2000; Hồ Kỳ Minh, 2010; Bùi Thị Tám và cộng sự, 2012). Các biến quan sát để đo lường đánh giá của KDL về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa như sau:
74
Bảng 3.7. Thang đo đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Biến quan sát Tác giả
Ký hiệu TT1
TT2
Gearing và cộng sự, 1974; McKercher and Ho, 2004; Formica, 2000; Formica and Uysal, 2006. TT3
TT4
TT5
TT6
TT7
Sức hấp dẫn từ thuộc tính số lượng TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính sự đa dạng các loại hình TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính quy mô của TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính thuận lợi trong tiếp cận với các TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính sức chứa du lịch của TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính hiệu quả của hoạt động bảo tồn TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính cấp độ công nhận của TNDL văn hóa ở điểm đến
TT8
TT9
Sức hấp dẫn từ thuộc tính nguyên vẹn của các TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính nguyên gốc của TNDL văn hóa ở điểm đến
TT10 Sức hấp dẫn từ thuộc tính nổi tiếng của TNDL văn
2001 LORD, McKercher and Ho, 2004; Formica, 2000; Formica and Uysal, 2006. McKercher and Ho, 2004; Chen và cộng sự, 2014; Formica, 2000; Formica and Uysal, 2006, Wu và cộng sự, 2015 hóa ở điểm đến
TT11 Sức hấp dẫn từ thuộc tính độc đáo của TNDL văn
hóa ở điểm đến
TT12 Sức hấp dẫn từ thuộc tính vẻ đẹp của TNDL văn
hóa ở điểm đến
TT13 Sức hấp dẫn từ thuộc tính vẻ đẹp cảnh quan xung
quanh TNDL văn hóa ở điểm đến
TT14 Sức hấp dẫn từ thuộc tính sống động của TNDL
văn hóa ở điểm đến
TT15 Sức hấp dẫn từ thuộc tính phù hợp với các nhu cầu
của KDL quốc tế của TNDL văn hóa ở điểm đến Phát triển từ phỏng vấn sâu
TT16 Sức hấp dẫn từ thuộc tính bầu không khí tâm lý McKercher and Ho,
75
Biến quan sát Tác giả Ký hiệu
xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến
sự TT17 Sức hấp dẫn từ thuộc tính phong tục, lối sống của người dân địa phương xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến
TT18 Sức hấp dẫn từ thuộc tính thân thiện và hiếu khách của người dân địa phương xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến
2004; Miquel and Raquel, 2013; Chen và cộng sự, 2014; cộng Wu và (2015) Lee and Chen (2016); Formica, 2000. Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.2.5. Thang đo động cơ du lịch của khách khi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Trong nghiên cứu này, nội hàm và thang đo Động cơ du lịch của khách khi đến thăm TNDL văn hóa ở điểm đến được sử dụng từ kết quả nghiên cứu của ATLAS, (2004, 2007); Isaac (2008); Csapó (2012); Richards (2009). Các mức điểm gồm (1) hoàn toàn không đồng ý; (2) không đồng ý, (3) trung bình; (4) đồng ý (5) hoàn toàn đồng ý được đưa ra để khách lựa chọn và xác định động cơ khi đến tham quan các
TNDL văn hóa của mình. Cụ thể, thang đo lường Động cơ du lịch của khách khi đến thăm TNDL văn hóa ở điểm đến được đề xuất như sau:
Bảng 3.8. Thang đo động cơ du lịch của khách khi đến thăm các tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Nguồn
Ký hiệu ĐC1
ĐC2
Phát triển từ nghiên cứu của ATLAS (2004, 2007); Isaac Richards (2008); (2009) ĐC3
ĐC4
ĐC5
Động cơ du lịch của khách khi đến thăm nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến Tôi đến thăm TNDL văn hóa ở điểm đến để tìm hiểu sâu hơn về văn hóa của nơi này Tôi đến thăm TNDL văn hóa ở điểm đến để học hỏi những điều mới về văn hóa của nơi này Tôi đến thăm TNDL văn hóa ở điểm đến để trải nghiệm bầu không khí văn hóa của nơi này Tôi đến thăm TNDL văn hóa ở điểm đến chủ yếu là để tham quan, vãn cảnh Tôi đến thăm TNDL văn hóa ở điểm đến chỉ để giải trí đơn thuần
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
76
3.2.6. Thang đo kinh nghiệm du lịch quá khứ tại điểm đến
Kinh nghiệm du lịch quốc tế đề cập đến nhiều yếu tố bao gồm: số lần tới điểm
đến trước đây (Sonmez & Graefe, 1998; Kozak, Crott & Law, 2007), phương thức đi du lịch trước đây, phương tiện vận chuyển, thời gian lưu trú được lựa chọn trước đây
và sự hài lòng tổng thể từ những lần đi du lịch trước (Kozak, 2007). Kinh nghiệm du lịch trong quá khứ là một trong những yếu tố có tác động mạnh mẽ tới khuynh hướng
hành vi trong tương lai (Mazursky, 1989; Siinmez & Graefe, 1998; Nyaupane, Paris, & Teye, 2011). Những người có kinh nghiệm quá khứ tại điểm đến có thể thích ứng rất
dễ dàng với sự khác biệt về văn hóa giữa hai quốc gia, đồng thời kiến thức thực tế của họ về văn hóa ở nơi đến cũng khác biệt so với những người chưa đi du lịch ở điểm đến
lần nào (Kozak, 2007; Pizam and Sussman, 2007, Isaac, 2008). Do đó, trong đề tài này, tác giả kiểm định ảnh hưởng của kinh nghiệm du lịch quá khứ tại điểm đến là một
biến kiểm soát đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến. Kinh nghiêm du lịch trong quá khứ sẽ được tiếp cận bằng cách đo lường số lần khách đã đến du lịch tại điểm đến (Kozak, 2007; Pizam and Sussman, 2007, Isaac,
2008). Cụ thể như sau:
Bảng 3.9. Thang đo kinh nghiệm du lịch quá khứ tại điểm đến
Ký hiệu Ý nghĩa thang đo Nguồn
KNDL1 Đến du lịch ở điểm đến lần đầu tiên ATLAS (2007);
KNDL2 Kozak (2001); Đến du lịch ở điểm đến lần thứ hai
Pizam and KNDL3 Đến du lịch ở điểm đến lần thứ ba
Sussman (2007), KNDL4 Đến du lịch ở điểm đến lần thứ tư
Isaac (2008) KNDL5 Đến du lịch ở điểm đến lần thứ năm trở lên
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.2.7. Đặc điểm nhân khẩu học của khách du lịch
Trong nghiên cứu về hành vi của KDL văn hóa, đặc điểm nhân khẩu học luôn
được xem như yếu tố quan trọng tác động đến cảm nhận, hành vi của KDL. Trong đó,
được đề cập đến nhiều nhất thường là: giới tính (Isaac, 2008; Pizam and Sussman, 1998), độ tuổi (Baloglu and McCleary, 1999; Isaac, 2008); thu nhập (Berlin and
Matin, 2004; Isaac, 2008); trình độ học vấn (Baloglu and McCleary, 1999). Trong luận án này, tác giả xem xét mối quan hệ kiểm soát của độ tuổi, thu nhập và trình độ tới
77
đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa. Các thước đo được sử
dụng trích từ nghiên cứu của Richards (2007); ATLAS (2007) Isaac (2008). Cụ thể:
Bảng 3.10. Các đặc điểm nhân khẩu học của khách du lịch
Yếu tố Thang điểm Nguồn tham khảo
≤ 18
18 – 24 Richard, 2003, 2007; Isacc, 2008; Wu và cộng sự, 2015
25 – 34
Độ tuổi 35 – 44
45 – 54
55 – 64
≥ 65
Tiểu học
Trung học Richard, 2003, 2007; Isacc, 2008; Wu và cộng sự, 2015
Giáo dục nghề Trình độ học vấn
Đại học
Sau đại học
≤ 10.000 EU Richard, 2003, 2007; Isacc,
10.001 – 20.000 EU 2008; Wu và cộng sự, 2015
20.001 – 30.000 EU
30.001 – 40.000 EU Thu nhập trung bình hàng năm theo hộ gia đình 40.001 – 50.000 EU
50.001 – 60.000 EU
> 60.000 EU
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
78
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
Kết quả nghiên cứu của chương 3 đã trình bày về các phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân tích số liệu, dữ liệu phù hợp với đề tài và mục đích nghiên cứu của
luận án. Cụ thể là:
Thứ nhất, mô tả quy trình thực hiện nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu, phương pháp thu thập, phân tích số liệu, dữ liệu phù hợp để đạt được mục đích
nghiên cứu luận án.
Thứ hai, bằng các kết quả tổng quan tài liệu và phỏng vấn sâu ở tiếp cận định tính, các thang đo lường các nhân tố trong mô hình nghiên cứu đã được tổng hợp và trình bày làm cơ sở để xây dựng bảng hỏi và thực hiện các phân tích ở chương sau.
Thứ ba, sử dụng phân tích mô tả, chương 3 của luận án cũng đã trình bày tổng quan về mẫu điều tra với các số liệu phân tích nhân khẩu học bao gồm giới tính, độ
tuổi, thu nhập, trình độ.
79
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nội dung của chương 4 trình bày các kết quả phân tích của luận án, cụ thể là: (1)
Kết quả kiểm định thang đo và phân tích nhân tố đối với các biến trong mô hình nghiên cứu; (2) Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa tới đánh giá
của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến; (3) Kết quả phân tích ảnh hưởng kiểm soát của độ tuổi, trình độ, thu nhập, động cơ du lịch của khách khi đến
thăm TNDL văn hóa ở điểm đến và kinh nghiệm du lịch quá khứ ở điểm đến tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa.
4.1. Kiểm tra các thang đo trong mô hình nghiên cứu
4.1.1. Kiểm tra độ tin cậy của các thang đo
4.1.1.1. Độ tin cậy của thang đo Đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Thang đo “Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí trong
việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến” (ký hiệu: TC) gồm 18 biến quan sát. Phân tích cho thấy hệ số Cronchbach’s Alpha của nhân tố này là 0,746. Có
04 biến quan sát bị loại do có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0,3 hoặc giá trị CA khi loại biến lớn hơn CA ban đầu. Kết quả kiểm định như sau:
Bảng 4.1. Kết quả kiểm định thang đo Đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Tên biến quan sát
Kết quả
Ký hiệu
Tương quan biến tổng
CA = 0,746
Đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến TC1 Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có số lượng TNDL
0,440
văn hóa nhiều
Tiếp tục
TC2 Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có sự đa dạng về
0,516
loại hình TNDL văn hóa
Tiếp tục
TC3 Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có các TNDL văn
-0,363
Loại bỏ
80
Tên biến quan sát
Kết quả
Ký hiệu
Tương quan biến tổng
hóa quy mô lớn
TC4 Mức độ quan trọng của tiêu chí tiếp cận tới TNDL văn hóa ở
0,396
điểm đến thuận lợi
Tiếp tục
TC5 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến có
0,075
sức chứa du lịch lớn
Loại bỏ
TC6 Mức độ quan trọng của tiêu chí hoạt động bảo tồn TNDL văn
-0,457
hóa ở điểm đến có hiệu quả
Loại bỏ
TC7 Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có nhiều TNDL văn
-0,043
hóa được công nhận ở cấp độ cao
Loại bỏ
TC8 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến có
0,516
tính nguyên vẹn cao
Tiếp tục
TC9 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến có
0,621
tính nguyên gốc cao
Tiếp tục
TC10 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến
0,553
nổi tiếng
Tiếp tục
TC11 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến có
0,610
tính độc đáo cao
Tiếp tục
TC12 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến
0,657
đẹp
Tiếp tục
TC13 Mức độ quan trọng của tiêu chí cảnh quan xung quanh TNDL
0,308
văn hóa ở điểm đến đẹp
Tiếp tục
TC14 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến có
0,519
tính sống động cao
Tiếp tục
TC15 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến
0,487
phù hợp với các nhu cầu của KDL quốc tế
Tiếp tục
TC16 Mức độ quan trọng của tiêu chí bầu không khí tâm lý xung
0,383
quanh TNDL văn hóa ở điểm đến dễ chịu
Tiếp tục
TC17 Mức độ quan trọng của tiêu chí phong tục, lối sống của người
0,514
địa phương xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến thú vị
Tiếp tục
0,629
TC18 Mức độ quan trọng của tiêu chí sự thân thiện, hiếu khách của người dân địa phương xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến
Tiếp tục Nguồn: Tổng hợp kết quả nghiên cứu của tác giả
81
4.1.1.2. Độ tin cậy của thang đo Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
Đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở Việt Nam (TT) gồm 18 biến quan sát. Phân tích cho kết quả hệ số Cronchbach’s Alpha của nhân tố là CA = 0,756. Có 05 biến quan sát bị loại bỏ do có hệ số tương
quan biến tổng nhỏ hơn 0,3 hoặc giá trị CA khi loại biến lớn hơn CA ban đầu. Kết quả kiểm định được thể hiện như sau:
Bảng 4.2. Kết quả kiểm định thang đo Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Tên biến quan sát
Kết quả
Ký hiệu
Tương quan biến tổng
CA = 0,756
Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
0,679
TT1
Sức hấp dẫn từ thuộc tính số lượng TNDL văn hóa ở điểm đến
Tiếp tục
0,657
TT2
Sức hấp dẫn từ thuộc tính đa dạng các loại hình TNDL văn
hóa ở điểm đến
Tiếp tục
TT3
Sức hấp dẫn từ thuộc tính quy mô của TNDL văn hóa ở điểm
-0,415
đến
Loại bỏ
0,591
TT4
Sức hấp dẫn từ thuộc tính thuận lợi trong tiếp cận với TNDL văn hóa ở điểm đến
Tiếp tục
TT5
-0,392
Sức hấp dẫn từ thuộc tính sức chứa của TNDL văn hóa ở điểm đến
Loại bỏ
TT6
-0,027
Sức hấp dẫn từ thuộc tính hiệu quả của hoạt động bảo tồn TNDL văn hóa ở điểm đến
Loại bỏ
TT7
0,241
Sức hấp dẫn từ thuộc tính cấp độ công nhận của TNDL văn hóa ở điểm đến
Loại bỏ
0,650
TT8
Sức hấp dẫn từ thuộc tính nguyên vẹn của TNDL văn hóa ở điểm đến
Tiếp tục
82
Tên biến quan sát
Kết quả
Ký hiệu
Tương quan biến tổng
TT9
Sức hấp dẫn từ thuộc tính nguyên gốc của TNDL văn hóa ở
0,002
điểm đến
Loại bỏ
0,524
TT10
Sức hấp dẫn từ thuộc tính nổi tiếng của TNDL văn hóa ở điểm
đến
Tiếp tục
0,651
TT11
Sức hấp dẫn từ thuộc tính độc đáo của TNDL văn hóa ở điểm đến
Tiếp tục
0,383
TT12
Sức hấp dẫn từ thuộc tính vẻ đẹp của TNDL văn hóa ở điểm
đến
Tiếp tục
0,448
TT13
Sức hấp dẫn từ thuộc tính vẻ đẹp cảnh quan xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến
Tiếp tục
0,373
TT14
Sức hấp dẫn từ thuộc tính sống động của TNDL văn hóa ở điểm đến
Tiếp tục
0,538
TT15
Sức hấp dẫn từ thuộc tính phù hợp với các nhu cầu của KDL quốc tế của TNDL văn hóa ở điểm đến
Tiếp tục
0,412
TT16
Sức hấp dẫn từ thuộc tính bầu không khí tâm lý xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến
Tiếp tục
0,449
TT17
Sức hấp dẫn từ thuộc tính phong tục, lối sống của người dân
địa phương xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến
Tiếp tục
0,590
TT18
Sức hấp dẫn từ thuộc tính thân thiện và hiếu khách của người dân địa phương xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến
Tiếp tục Nguồn: Tổng hợp kết quả nghiên cứu của tác giả
4.1.1.3. Độ tin cậy của thang đo động cơ du lịch của khách khi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Động cơ du lịch của khách khi đến thăm TNDL văn hóa ở điểm đến gồm có 5
biến quan sát. Kết quả phân tích hệ số Cronchbach’s Alpha của thang đo này là CA = 0,726. Hệ số tương quan biến tổng (Item-Total Correlation) của cả 5 biến quan sát đều thỏa mãn điều kiện lớn hơn 0,3. Kết quả kiểm định được trình bày như sau:
83
Bảng 4.3. Kết quả kiểm định thang đo Động cơ du lịch của khách khi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Tên biến quan sát
Ký hiệu
Kết quả
Tương quan biến tổng
CA = 0,726
Động cơ tìm hiểu sâu hơn về văn hóa của điểm đến
0,563 Tiếp tục
Động cơ du lịch của khách khi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
ĐC1
Động cơ học hỏi những điều mới về văn hóa của điểm đến
0,593 Tiếp tục
ĐC2
Động cơ trải nghiệm bầu không khí văn hóa của điểm đến
0,563 Tiếp tục
ĐC3
Động cơ chủ yếu là để tham quan, vãn cảnh
0,339 Tiếp tục
ĐC4
Động cơ giải trí đơn thuần
0,398 Tiếp tục
ĐC5
Nguồn: Tổng hợp kết quả nghiên cứu của tác giả
4.1.2. Kiểm tra hiệu lực của thang đo
Phương pháp nhân tích nhân tố khám phá EFA sẽ được sử dụng để đánh giá độ hiệu lực của phép đo. Phương pháp này giúp đánh giá tính đồng nhất của các biến quan
sát (items) và được mong đợi là có quan hệ đáng kể với nhau trong cùng một nhân tố
(factor). Kiểm định nhân tố EFA sẽ được tác giả thực hiện qua 2 bước: Bước 1: Phân tích nhân tố đối với từng thành phần trong mô hình. Bước 2: Phân tích nhân tố toàn bộ
4.1.2.1. Kết quả phân tích nhân tố đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
các biến quan sát có ý nghĩa sau khi phân tích riêng biệt từng nhân tố.
Thang đo “Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí trong
việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến” sau phân tích Cronbach’s Alpha còn lại 14 biến quan sát. Kết quả phân tích nhân tố EFA như sau:
84
Bảng 4.4. Kết quả phân tích nhân tố đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Kết quả Kết luận Chỉ tiêu so sánh Chỉ số cần đánh giá
Hệ số KMO 0,5≤KMO≤1 0,862 Phân tích nhân tố là phù hợp
Sig. Sig. < 0,05 0,000 Các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể
% phương sai 69,79 % biến thiên của dữ liệu được giải > 50% 69,790 trích toàn bộ thích bởi 3 nhân tố mới
Đại diện một phần biến thiên được giải
Eigenvalues >1 1,189 thích bởi mỗi nhân tố, nhân tố rút ra có
ý nghĩa tóm tắt thông tin tốt nhất
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả Trong 14 biến quan sát, không có biến quan sát nào có hệ số tải nhân tố FL < 0,5, có biến quan sát tải vào hai nhân tố nhưng hệ số tải cách nhau > 0,3. Do đó, cả 14
biến quan sát đều được giữ lại và trích xuất thành 3 nhân tố bao gồm:
Nhân tố thứ nhất, được tác giả đặt tên mới là Đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của các tiêu chí trừu tượng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến (ký hiệu: TCTT): gồm 8 biến quan sát.
Nhân tố thứ hai, được tác giả đặt tên mới là Đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của các tiêu chí cụ thể trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến (ký hiệu TCCT): gồm 4 biến quan sát.
Nhân tố thứ ba, được tác giả đặt tên mới là Đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của các tiêu chí cảnh quan và bầu không khí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến (ký hiệu TCCQ): 02 biến quan sát.
Bảng ma trận phân tích nhân tố Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan
trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến được thể hiện như sau:
85
Bảng 4.5. Ma trận xoay nhân tố Đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Rotated Component Matrixa
Component 2
3
Ký hiệu mới
1 0,810
TCTT1 Mức độ quan trọng của tiêu chí phong tục, lối sống của người dân địa phương xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến thú vị
0,793
TCTT2 Mức độ quan trọng của tiêu chí sự thân thiện, hiếu khách của
người địa phương xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến
0,779
TCTT3 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến
đẹp
0,770
TCTT4 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến
có tính độc đáo cao
0,769
TCTT5 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến
có tính nguyên gốc
0,765
TCTT6 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến
có tính sống động cao
0,702
TCTT7 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến
nổi tiếng
0,533
TCTT8 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến
phù hợp với các nhu cầu của KDL quốc tế
0,914
TCCT1 Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có sự đa dạng về
loại hình TNDL văn hóa
0,893
TCCT2 Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến
có tính nguyên vẹn cao
0,867
TCCT3 Mức độ quan trọng của tiêu chí tiếp cận tới TNDL văn hóa ở
điểm đến thuận lợi
0,844
TCCT4 Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có số lượng TNDL
văn hóa nhiều
0,789
TCCQ1 Mức độ quan trọng của tiêu chí bầu không khí tâm lý xung
quanh TNDL văn hóa ở điểm đến dễ chịu
0,758
TCCQ2 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên cảnh quan xung
quanh TNDL văn hóa ở điểm đến đẹp
Extraction Method: Principal Component Analysis. Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization. Rotation converged in 4 iterations.
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả
86
4.1.2.2. Kết quả phân tích nhân tố đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Thang đo đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến sau phân tích Cronbach’s Alpha còn lại 13 biến quan sát. Tác giả đưa vào phân tích nhân tố EFA, kết quả thu được như sau:
Bảng 4.6. Kết quả phân tích nhân tố đánh giá của khách du lịch về mức độ hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Kết quả Kết luận Chỉ tiêu so sánh Chỉ số cần đánh giá
Hệ số KMO 0,5≤KMO≤1 0,815 Phân tích nhân tố là phù hợp
Sig. Sig. < 0,05 0,000
> 50% 79,498 % phương sai toàn bộ
Eigenvalues >1 1,326
Các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể 79,498% biến thiên của dữ liệu được giải thích bởi 3 nhân tố mới Đại diện một phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố, nhân tố rút ra có ý nghĩa tóm tắt thông tin tốt nhất
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả Số liệu cho thấy có 03 nhân tố được tách ra từ 01 nhân tố ban đầu đo lường đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở Việt Nam. Trong 13 biến quan sát, có 1 biến quan sát bị loại bỏ là: TT1: Sức hấp dẫn từ thuộc tính số lượng TNDL văn hóa ở điểm đến do tải vào 2 nhân tố và hệ số tải nhân tố (FL) ở hai nhóm cách nhau không quá 0,3.
Lặp lại quy trình lần thứ hai, tác giả thu được 03 nhân tố với 12 biến quan sát có ý nghĩa với hệ số FL đều > 0,5; hệ số KMO = 0,798; Sig. = 0,000; % of Variance =
79,593 %; Eigenvalues = 1,326. Có 03 nhân tố mới được đưa vào mô hình bao gồm:
Nhân tố 1 tên mới là Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc
tính trừu tượng của TNDL văn hóa ở điểm đến (ký hiệu: TTTT)gồm 4 biến quan sát
Nhân tố 2 tên mới là Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc
tính cụ thể của TNDL văn hóa ở điểm đến (ký hiệu: TTCT) gồm 3 biến quan sát
Nhân tố 3 tên mới là Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính bầu không khí và cảnh quan của TNDL văn hóa ở điểm đến (TTCQ) gồm 5 biến quan sát.
87
Bảng ma trận phân tích nhân tố Đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ
các thuộc tính của của TNDL văn hóa ở điểm đến được thể hiện như sau:
Bảng 4.7. Ma trận xoay các nhân tố Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Rotated Component Matrixa
Component
1
2
3
0,952
Ký hiệu mới TTTT1
Sức hấp dẫn từ thuộc tính nổi tiếng của TNDL văn
hóa ở điểm đến
0,951
TTTT2
Sức hấp dẫn từ thuộc tính vẻ đẹp của TNDL văn hóa
ở điểm đến
0,881
TTTT3
Sức hấp dẫn từ thuộc tính sống động của TNDL văn hóa ở điểm đến
0,852
TTTT4
Sức hấp dẫn từ thuộc tính độc đáo của TNDL văn hóa ở điểm đến
0,923
TTCT1
Sức hấp dẫn từ thuộc tính nguyên vẹn của các TNDL văn hóa ở điểm đến
0,922
TTCT2
Sức hấp dẫn từ thuộc tính đa dạng các loại hình TNDL văn hóa ở điểm đến
0,782
TTCT3
Sức hấp dẫn từ thuộc tính thuận lợi trong tiếp cận
với TNDL văn hóa ở điểm đến
0,891
TTCQ1
Sức hấp dẫn từ thuộc tính bầu không khí tâm lý xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến
0,867
TTCQ2
Sức hấp dẫn từ thuộc tính vẻ đẹp cảnh quan xung
quanh TNDL văn hóa ở điểm đến
0,862
TTCQ3
Sức hấp dẫn từ thuộc tính phù hợp với các nhu cầu của KDL quốc tế của TNDL văn hóa ở điểm đến
0,725
TTCQ4
Sức hấp dẫn từ thuộc tính phong tục, lối sống của người dân địa phương ở khu vực TNDL văn hóa
0,593
TTCQ5
Sức hấp dẫn từ thuộc tính thân thiện, hiếu khách của người dân địa phương xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến
Extraction Method: Principal Component Analysis. Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization. a. Rotation converged in 4 iterations.
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả
88
4.1.2.3. Kết quả phân tích nhân tố động cơ du lịch của khách khi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Trên cơ sở sự phù hợp của cả 5 biến quan sát trong phân tích CA, tác giả phân tích EFA nhân tố Động cơ du lịch của khách khi đến thăm TNDL văn hóa ở điểm đến.
Bảng 4.8. Kết quả phân tích nhân tố động cơ du lịch của khách khi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Kết quả
Kết luận
Chỉ số đánh giá Hệ số KMO
Chỉ tiêu 0,5≤KMO≤1
0,645 Phân tích nhân tố là phù hợp
Sig.
Sig. < 0,05
0,000
> 50%
80,868
% phương sai trích toàn bộ
Eigenvalues
>1
1,542
Các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể 80,868 % biến thiên của dữ liệu được giải thích bởi 2 nhân tố mới Đại diện một phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố, nhân tố rút ra có ý nghĩa tóm tắt thông tin tốt nhất
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả Cả 5 biến quan sát đều đạt hệ số tải nhân tố (Factor Loading) lớn hơn 0,5 và được trích xuất thành 2 nhân tố: Nhân tố thứ nhất có tên mới là Động cơ văn hóa (ĐCVH): gồm 3 biến quan sát là (ĐCVH1): Tìm hiểu sâu hơn về văn hóa của điểm đến; (ĐCVH2): Học hỏi những kiến thức mới về văn hóa của điểm đến; (ĐCVH3): Trải nghiệm bầu không khí văn hóa ở điểm đến. Nhân tố thứ hai có tên mới là Động cơ tham quan giải trí (ĐCGT): gồm 2 biến quan sát đó là (TTGT1): Tham quan các TNDL văn hóa; (ĐCGT2): Giải trí đơn thuần. Bảng 4.9. Ma trận xoay các nhân tố động cơ du lịch của khách khi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Rotated Component Matrixa
Component
2
1 0,932 0,906 0,817
0,911 0,903
Động cơ hiểu sâu hơn về văn hóa ở điểm đến Động cơ tìm kiếm những điều mới về văn hóa ở điểm đến Động cơ trải nghiệm bầu không khí văn hóa ở điểm đến Động cơ tham quan các TNDL văn hóa ở điểm đến Động cơ giải trí đơn thuần
Ký hiệu mới ĐCVH1 ĐCVH2 ĐCVH3 ĐCGT1 ĐCGT2 Extraction Method: Principal Component Analysis. Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization. Rotation converged in 3 iterations.
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả
89
4.1.2.4. Kết quả phân tích nhân tố toàn bộ các biến quan sát
Có thể thấy, nhóm thứ nhất với 3 biến quan sát liên quan đến việc tìm hiểu sâu về văn hóa, trải nghiệm, hòa mình vào bầu không khí văn hóa nơi đến. Những đối tượng khách có động cơ văn hóa, họ xem việc đi du lịch như là cách để học hỏi, tìm hiểu về nền văn hóa khác, cũng như để “phát triển bản thân”. Trong khi đi du lịch, họ mong muốn có được những trải nghiệm văn hóa sâu sắc và có xu hướng tiêu dùng “trải nghiệm thử thách để học hỏi” rõ nét nhất (McKercher and Du Cros, 2003). KDL có động cơ văn hóa cao sẽ có những tiêu chí và đánh giá về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa cao hơn với KDL thông thường (Isaac, 2008; Richards, 2007; OECD, 2009; Csapó, 2012). Nhóm thứ hai với 2 biến quan sát liên quan đến giải trí đơn thuần. Với nhóm này, KDL không đặt mục tiêu độc đáo, đặc sắc và giá trị của văn hóa của tài nguyên là quan trọng mà sẽ quan tâm đến cả các yếu tố cảnh quan, vẻ đẹp của TNDL văn hóa. Những khám phá mới về động cơ du lịch của khách khi đến thăm TNDL văn hóa ở điểm đến sẽ là cơ sở để hiểu rõ hơn về hành vi và sở thích của KDL.
Sau khi phân tích Cronbach’s Alpha và EFA ở Bước 1, kết quả có 10 biến quan
sát bị loại bỏ, còn lại 31 biến quan sát được đưa vào phân tích nhân tố EFA. Cụ thể:
Bảng 4.10. Kết quả phân tích nhân tố tổng hợp các biến quan sát
Kết quả
Chỉ số Hệ số KMO
Chỉ tiêu 0,5≤KMO≤1
Kết luận 0,821 Phân tích nhân tố là phù hợp
Sig.
Sig. < 0,05
0,000
> 50%
76,825
% phương sai trích toàn bộ
Eigenvalues
>1
1,053
Các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể 76,825% biến thiên của dữ liệu được giải thích bởi 8 nhân tố mới Đại diện một phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố, nhân tố rút ra có ý nghĩa tóm tắt thông tin tốt nhất
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả
Số liệu cho thấy trong 31 biến quan sát, có 3 biến quan sát bị loại bỏ khi phân tích EFA tổng thể là: TCTT1 (Mức độ quan trọng của tiêu chí phong tục, lối sống của người địa phương xung quanh TNDLvăn hóa ở điểm đến thú vị ), TCTT6 (Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến có tính sống động cao) và TTCQ5 (Sức hấp dẫn từ thuộc tính thân thiện và hiếu khách của người dân địa phương xung quanh TNDLvăn hóa ở điểm đến) do hai biến quan sát này tải vào 2 nhân tố và hệ số tải nhân tố (FL) ở hai nhóm cách nhau không quá 0,3.
90
Lặp lại quy trình trên lần thứ hai, tác giả thu được 08 nhân tố với 28 biến quan sát có ý nghĩa với hệ số FL đều lớn hơn 0,5; hệ số KMO = 0,812; Sig. = 0,000; % of Variance = 79,411 %; Eigenvalues = 1,004. 08 nhân tố mới bao gồm:
Bảng 4.11. Ma trận xoay tổng hợp các thang đo nhân tố
CA
Đặt tên mới
2
3
6
7
8
Yếu tố 5 4
1 0,847
0,846
0,801
0,891
0,797
0,760
Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí trừu tượng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến
0,619
0,854
0,841
0,900
0,832
Ký hiệu mới TCTT1 TCTT2 TCTT3 TCTT4 TCTT5 TCTT6 TCCT1 TCCT2 TCCT3 TCCT4
0,816
0,848
TCCQ1 TCCQ2
0,667
0,642
Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí cụ thể trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí cảnh quan, bầu không khí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL VH ở điểm đến
0,821
0,801
0,837
0,790
Đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng của TNDL văn hóa ở điểm đến
0,732
0,908
0,908
0,909
TTTT1 TTTT2 TTTT3 TTTT4 TTCT1 TTCT2 TTCT3
0,766
Đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cụ thể của TNDL văn hóa ở điểm đến
0,911
0,911
0,923
0,831
Đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cảnh quan và bầu không khi của TNDL VH ở điểm đến
0,794
0,908
0,928
0,867
Động cơ văn hóa của khách khi đến thăm TNDL VH
0,789
0,794
TTCQ1 TTCQ2 TTCQ3 TTCQ4 ĐCVH1 ĐCVH2 ĐCVH3 ĐCGT4 ĐCGT5
0,887
0,902 Động cơ tham quan, giải trí của khách khi đến thăm TNDL VH
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả
91
4.2. Kết quả phân tích ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa
4.2.1. Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh
Từ các kết quả phân tích Cronbach Alpha và EFA, mô hình nghiên cứu sẽ được
Đánh giá của KDL về mức độ quan trọng của các tiêu chí sức hấp dẫn trừu tượng của TNDL văn hóa ở điểm đến
hiệu chỉnh như sau:
KHOẢNG CÁCH VĂN HÓA QUỐC GIA
KHOẢNG CÁCH YẾU TỐ CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN (CDIDV)
Đánh giá của KDL về mức độ quan trọng của các tiêu chí sức hấp dẫn cụ thể của TNDL văn hóa ở điểm đến
H1
KHOẢNG CÁCH YẾU TỐ TRÁNH SỰ RỦI RO (CDUAI)
H2
Đánh giá của KDL về mức độ quan trọng của các tiêu chí sức hấp dẫn cảnh quan và bầu không khí của TNDL văn hóa ở điểm đến
KHOẢNG CÁCH YẾU TỐ ĐAM MÊ CÁ NHÂN VÀ KIẾM SOÁT XÃ HỘI (CDIND)
H3
KHOẢNG CÁCH YẾU TỐ KHOẢNG CÁCH QUYỀN LỰC (CDPDI)
H4
KHOẢNG CÁCH YẾU TỐ NAM TÍNH (CDMAS)
Đánh giá của KDL về sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng của TNDL văn hóa ở điểm đến
H5
KHOẢNG CÁCH YẾU TỐ ĐỊNH HƯỚNG DÀI HẠN (CDLTO)
Đánh giá của KDL về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cụ thể của TNDL văn hóa ở điểm đến
H6
Đánh giá của KDL về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cảnh quan và bầu không khi của TNDL văn hóa ở điểm đến
Hình 4.1. Mô hình nghiên cứu (hiệu chỉnh)
Biến kiểm soát
- Động cơ văn hóa của khách du lịch - Động cơ giải trí của khách du lịch - Kinh nghiệm du lịch quá khứ ở điểm đến - Tuổi, trình độ, thu nhập
92
4.2.2. Hàm giả định về mối quan hệ của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu
4.2.2.1. Kết quả phân tích tương quan
Trên cơ sở mô hình nghiên cứu đã được hiệu chỉnh, tác giả tiến hành phân tích tương quan giữa các biến bằng cách xây dựng ma trận hệ số tương quan. Ma trận này cho thấy mối quan hệ của các yếu tố khoảng cách văn hóa quốc gia tới các nhân tố phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu. Đây là cơ sở để tác giả xây dựng các hàm giả định nhằm phân tích hồi quy. Ma trận hệ số tương quan như sau:
Bảng 4.12. Kết quả phân tích tương quan mối quan hệ của biến độc lập với biến phụ thuộc
Correlations
TCTT
TCCT
TCCQ
TTTT
TTCT
TTCQ
CDUAI
CDIND
CDPDI
CDMAS
CDLTO
0,131**
0,124**
0,193**
-0,235**
CDIDV 0,429**
1
0,035
-0,010
0,051
-0,034
-0,033
-0,030
PC
TCTT
0,409
0,822
0,230
0,419
0,000
0,436
0,480
0,002
0,003
0,000
0,000
Sig
558
558
558
558
558
558
558
558
558
558
558
N
1
-0,034
-0,022
-0,026
0,035
-0,029
0,075
-0,022
-0,053
-0,010
-0,005
PC
TCCT
0,419
0,612
0,541
0,409
0,480
0,077
0,612
0,213
0,805
0,912
Sig
558
558
558
558
558
558
N
558 0,416**
558 -0,145**
558 0,247**
558 0,157**
558 -0,107*
1
-0,025
-0,045
-0,033
0,051
PC
TCCQ
0,548
0,285
0,436
0,000
0,001
0,000
0,000
0,230
0,011
Sig
558
558
558
558
N
558 -0,791**
558 0,134**
558 -0,345**
558 -0,328**
558 -0,376**
558 0,303**
1
0,053
0,051
PC
TTTT
0,207
0,000
0,230
0,002
0,000
0,000
0,000
0,000
Sig
558
558
558
558
558
558
N
558 -0,325**
558 -0,155**
558 0,403**
1
0,075
-0,025
-0,045
-0,034
PC
TTCT
0,000
0,077
0,548
0,285
0,419
0,000
0,000
Sig
558
558
558
558
558
558
N
558 -0,125**
558 0,125**
TTCQ
1
-0,022
0,007
0,025
0,038
93
Correlations
TCTT
TCCT
TCCQ
TTTT
TTCT
TTCQ
CDIDV
CDUAI
CDIND
CDPDI
CDMAS
CDLTO
0,003
0,608
0,864
0,557
0,371
0,003
Sig
558
558
558
558
558
558
558
N
0,051
0,044
0,019
-0,033
1
-0,026
PC
0,227
0,303
0,659
0,436
CDIDV
0,541
Sig
558
558
558
558
558
558
N
0,001
1
-0,045
-0,010
0,053
PC
0,977
CDUAI
0,285
0,822
0,207
Sig
558
558
558
558
558
N
0,044
0,019
1
-0,008
PC
0,303
0,659
CDIND
0,846
Sig
558
558
558
558
N
0,007
1
0,051
PC
0,871
CDPDI
0,230
Sig
558
558
558
N
1
-0,010
PC
CDMAS
0,822
Sig
558
558
N
1
PC
CDLTO
Sig
558
N
**. Correlation is significant at the 0,01 level (2-tailed); *. Correlation is significant at the 0,05 level (2-tailed).
Chú thích: PC = Pearson Correlation’ Sig = Sig. (2-tailed)
Nguồn: tổng hợp từ phân tích của tác giả
94
4.2.2.2. Xây dựng hàm hồi quy giả định
Từ bảng ma trận hệ số tương quan ta thấy được mối quan hệ của các biến phụ
thuộc với các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu. Xét mức ý nghĩa 5% các hàm
hồi quy giả định được xây dựng như sau: Hàm hồi quy giả định thứ nhất TCTT =β0+β1(CDIDV)+β2(CDIND)+β3(CDPDI)+β4(CDMAS) +β5(CDLTO) Biến phụ thuộc: TCTT (Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của
các tiêu chí trừu tượng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến)
Biến độc lập: CDIDV; CDIND; CDPDI; CDMAS; CDLTO; Hàm hồi quy giả định thứ hai: TCCQ = β0+β1(CDIDV)+β2(CDUAI)+β3(CDIND)+β4(CDPDI) +β5(CDLTO) Biến phụ thuộc: TCCQ (Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của
các tiêu chí cảnh quan, bầu không khí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn
hóa ở điểm đến).
Biến độc lập: CDIDV; CDUAI; CDIND; CDPDI; CDLTO Hàm hồi quy giả định thứ ba: TTTT=β0+β1(CDIDV)+β2(CDUAI)+β3(CDIND)+β4(CDPDI)+β5(CDMAS)
+β6(CDLTO)
Biến phụ thuộc: TTTT (đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc
tính trừu tượng của TNDL văn hóa ở điểm đến)
Biến độc lập: CDIDV; CDUAI; CDIND; CDPDI; CDMAS; CDLTO Hàm hồi quy giả định thứ tư: TTCT = β0 +β1(CDIDV) +β2(CDMAS) + β3(CDLTO) Biến phụ thuộc: TTCT (đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc
tính cụ thể của TNDL văn hóa ở điểm đến)
Biến độc lập: CDIDV; CDMAS; CDLTO Hàm hồi quy giả định thứ năm: TTCQ = β0 +β1(CDIDV) +β2(CDLTO) Biến phụ thuộc: TTCQ (đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc
tính cảnh quan và bầu không khí của TNDL văn hóa ở điểm đến)
Biến độc lập: CDIDV; CDLTO;
95
4.2.3. Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu
4.2.3.1. Mối quan hệ 1: ảnh hưởng khoảng cách văn hóa quốc gia đến đánh giá của khách du lịch quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí trừu tượng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TCTT =β0+β1(CDIDV)+β2(CDIND)+β3(CDPDI)+β4(CDMAS) +β5(CDLTO) Phân tích hồi quy cho kết quả như sau: R2 = 0,219, nghĩa là mô hình hồi quy tuyến tính đã xây dựng phù hợp với tập dữ liệu ở mức 21,9%. Các biến độc lập đưa
vào chạy hồi quy ảnh hưởng 21,9% sự thay đổi của biến phụ thuộc, còn lại phần lớn là do các biến ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên.
Hệ số Durbin-Watson của kiểm định là 1,194 nằm trong khoảng 1,0 đến 3,0 nên
không có hiện tượng tương quan chuỗi bậc nhất xảy ra.
Giá trị Sig. của kiểm định F = 0,000b < 0,05, cho phép bác bỏ giả thuyết H0, mô
hình đã xây dựng phù hợp với tổng thể, tập dữ liệu có thể sử dụng được.
Các chỉ số VIF đều nhỏ hơn 3 nên không có hiện tượng đa cộng tuyến.
Bảng 4.13. Kết quả phân tích hồi quy mối quan hệ thứ nhất Coefficientsa
Unstandardized Coefficients Standardized Coefficients Collinearity Statistics Model t Sig. Std. B Beta Tolerance VIF Error
2,758 0,077 (Constant) 35,625 0,000
0,013 0,001 CDIDV 0,507 9,424 0,000 0,485 2,064
-0,005 0,002 CDIND -0,112 -2,074 0,039 0,484 2,066 1 -0,006 0,003 CDPDI -0,128 -2,176 0,030 0,405 2,471
0,007 0,002 CDMAS 0,155 3,503 0,000 0,718 1,392
a. Dependent Variable: TCTT b. Adjusted R Square = 0,219
c. Durbin-Watson = 1,194 d. Sig. kiểm định F = 0,000b < 0,05
-0,002 0,002 CDLTO -0,037 -0,853 0,394 0,734 1,362
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả Từ bảng kết quả phân tích hồi quy tuyến tính thứ nhất ta loại bỏ sự ảnh hưởng
của yếu tố CDLTO do có chỉ số Sig. lớn hơn 0,05. Còn lại các nhân tố CDIDV, CDIND, CDPDI, CDMAS ảnh hưởng tới TCTT với mức Sig. < 0,05.
Mối quan hệ giữa các yếu tố được biểu diễn như sau:
96
+ 0,507 (CDIDV)
- 0,112 (CDIND)
- 0,128 (CDPDI)
= TCTT (đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của các tiêu chí trừu tượng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến)
+ 0,155 (CDMAS)
Hình 4.2. Mô hình kết quả hồi quy mối quan hệ thứ nhất
Mô hình trên có ý nghĩa rằng ở mức ý nghĩa 5%, các yếu tố: CDIDV, CDIND,
CDPDI, CDMAS có ảnh hưởng 21,9 % tới đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan
trọng của các tiêu chí trừu tượng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở
điểm đến
Trong trường hợp các đại lượng khác không đổi, khi khoảng cách của yếu tố chủ nghĩa cá nhân (CDIDV) tăng lên một đơn vị thì đánh giá của KDL quốc tế về mức
độ quan trọng của các tiêu chí trừu tượng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến sẽ tăng lên 0,507 đơn vị.
Trong trường hợp các đại lượng khác không đổi, khi khoảng cách của yếu tố
đam mê cá nhân (CDIND) tăng lên một đơn vị thì đánh giá của KDL quốc tế về mức
độ quan trọng của các tiêu chí trừu tượng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến sẽ giảm đi 0,112 đơn vị.
Trong trường hợp các đại lượng khác không đổi, khi khoảng cách yếu tố quyền lực (CDPDI) tăng lên một đơn vị thì đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng
của các tiêu chí trừu tượng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến sẽ giảm đi 0,128 đơn vị.
4.2.3.2. Mối quan hệ 2: ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến đánh giá của khách du lịch quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí cảnh quan, bầu không khí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa
Trong trường hợp các đại lượng khác không đổi, khi khoảng cách yếu tố nam tính (CDMAS) tăng lên một đơn vị thì đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí trừu tượng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến sẽ tăng lên 0,155 đơn vị.
TCCQ=β0+β1(CDIDV)+β2(CDUAI)+β3(CDIND)+β4(CDPDI)+β5(CDLTO)
97
Kết quả phân tích hồi quy: Hệ số R2 điều chỉnh = 0,178 nghĩa là mô hình hồi quy tuyến tính đã xây dựng phù hợp với tập dữ liệu ở mức 17, 8%. Các biến độc lập
đưa vào chạy hồi quy ảnh hưởng 17, 8% sự thay đổi của biến phụ thuộc, còn lại phần lớn là do các biến ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên.
Hệ số Durbin-Watson của kiểm định là 1,310 nằm trong khoảng 1,0 đến 3,0 nên
không có hiện tượng tương quan chuỗi bậc nhất xảy ra.
Giá trị Sig. của kiểm định F = 0,000b < 0,05, cho phép bác bỏ giả thuyết H0, mô
hình đã xây dựng phù hợp với tổng thể, tập dữ liệu có thể sử dụng được.
Các chỉ số VIF đều nhỏ hơn 3 nên không có hiện tượng đa cộng tuyến.
Unstandardized
Standardized
Collinearity
Coefficients
Coefficients
Statistics
Model
t
Sig.
Std.
Beta
Tolerance
VIF
B
Error
Bảng 4.14. Kết quả phân tích hồi quy mối quan hệ thứ hai Coefficientsa
(Constant) CDIDV
3,218 0,014
0,112 0,002
28,719 8,698
0,000 0,000
0,496
0,454
2,202
1
CDUAI
-0,002
0,002
-1,492
0,136
-0,082
0,488
2,047
CDIND CDPDI
0,000 -0,008
0,003 0,003
0,121 -2,638
0,904 0,009
0,007 -0,156
0,411 0,422
2,435 2,368
CDLTO
0,005
0,002
2,043
0,042
0,094
0,695
1,439
a. Dependent Variable: TCCQ b. Adjusted R Square = 0,178
c. Durbin-Watson = 1,310 d. Sig. kiểm định F = 0,000b < 0,05
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả Từ bảng kết quả phân tích hồi quy tuyến tính mối quan hệ thứ hai ta thấy việc
xác định đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí cảnh quan,
bầu không khí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến (TCCQ) không chịu sự ảnh hưởng từ khoảng cách của các yếu tố tránh sự rủi ro (CDUAI), đam
mê cá nhân (CDIND) do có Sig. > 0,05. Có ba yếu tố khoảng cách văn hóa quốc gia
gồm khoảng cách của yếu tố chủ nghĩa cá nhân (CDIDV), khoảng cách của yếu tố
quyền lực (CDPDI), khoảng cách của yếu tố định hướng dài hạn (CDLTO) có ảnh hưởng tới đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí cảnh quan,
bầu không khí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở mức 17,8%. Mối quan hệ giữa các yếu tố được biểu diễn như sau:
98
+ 0,496 (CDIDV)
- 0,156 (CDPDI)
= TCCQ (đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của các tiêu chí cảnh quan, bầu không khí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến)
+ 0.094 (CDLTO)
Hình 4.3. Mô hình kết quả hồi quy mối quan hệ thứ hai
Như vậy, trong trường hợp, các đại lượng khác không đổi, khoảng cách của yếu
tố chủ nghĩa cá nhân (CDIDV) tăng lên một đơn vị thì đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí cảnh quan, bầu không khí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến sẽ tăng lên 0,496 đơn vị.
Trong trường hợp, các đại lượng khác không đổi, khoảng cách của yếu tố quyền lực (CDPDI) tăng lên một đơn vị thì đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng
của các tiêu chí cảnh quan, bầu không trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến sẽ giảm đi 0,156 đơn vị.
Trong trường hợp, các đại lượng khác không đổi, khoảng cách của yếu tố định
hướng dài hạn (CDLTO) tăng lên một đơn vị thì đánh giá của KDL quốc tế về mức độ
4.2.3.3. Mối quan hệ 3: ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
quan trọng của các tiêu chí cảnh quan, bầu không khí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến sẽ tăng lên 0,094 đơn vị.
TTTT = β0 +β1(CDIDV) +β2(CDUAI) +β3(CDIND) +β4(CDPDI)
+β5(CDMAS) +β6(CDLTO)
Kết quả phân tích: R2 = 0,714 cho thấy mô hình hồi quy tuyến tính đã xây dựng phù hợp với tập dữ liệu ở mức 71,4%. Các biến độc lập đưa vào chạy hồi quy ảnh hưởng 71,4% sự thay đổi của biến phụ thuộc, còn lại là do các biến ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên.
Hệ số Durbin-Watson của kiểm định là 1,511 nằm trong khoảng 1,0 đến 3,0 nên
không có hiện tượng tương quan chuỗi bậc nhất xảy ra.
99
Giá trị Sig. của kiểm định F = 0,000b < 0,05, cho phép bác bỏ giả thuyết H0, mô
hình đã xây dựng phù hợp với tổng thể, tập dữ liệu có thể sử dụng được.
Các chỉ số VIF đều nhỏ hơn 3 nên không có hiện tượng đa cộng tuyến.
Collinearity Statistics
Standardized Coefficients
Model
t
Sig.
B
Beta
Tolerance
VIF
1
Bảng 4.15. Kết quả phân tích hồi quy mối quan hệ thứ ba Coefficientsa
(Constant) CDIDV CDUAI CDIND CDPDI CDMAS CDLTO
Unstandardized Coefficients Std. Error 0,060 0,001 0,001 0,002 0,002 0,001 0,001
4,140 -0,020 -0,004 0,000 0,005 -0,013 0,000
0,000 0,000 0,000 0,760 0,001 0,000 0,739
0,450 0,453 0,376 0,368 0,666 0,695
2,222 2,207 2,663 2,721 1,500 1,440
a. Dependent Variable: TTTT b. Adjusted R Square = 0,714
69,429 -25,107 -0,849 -5,515 -0,186 0,306 0,011 3,423 0,128 -11,370 -0,316 -0,009 -0,333 c. Durbin-Watson = 1,511 d. Sig. kiểm định F = 0,000b < 0,05
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả Từ bảng kết quả phân tích hồi quy, ta loại bỏ mối quan hệ ảnh hưởng của các yếu tố CDIND, CDLTO do có chỉ số Sig. lớn hơn 0,05. Các yếu tố còn lại đều có mối quan hệ ảnh hưởng tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của các thuộc tính
trừu tượng của TNDL văn hóa ở Việt Nam. Mối quan hệ giữa các yếu tố như sau:
– 0,849 (CDIDV)
– 0,186 (CDUAI)
= TTTT (Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng của tài nguyên du lịch văn hóa)
+ 0,128 (CDPDI)
– 0,316 (CDMAS)
Hình 4.4. Mô hình kết quả hồi quy mối quan hệ thứ ba
Như vậy, trong trường hợp, các đại lượng khác không đổi, khoảng cách của yếu
tố chủ nghĩa cá nhân (CDIDV) trong văn hóa giữa hai quốc gia tăng lên một đơn vị thì
đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng của TNDL văn
hóa ở điểm đến sẽ giảm đi 0,849 đơn vị.
100
Trong trường hợp, các đại lượng khác không đổi, khoảng cách của yếu tố tránh sự rủi ro (CDUAI) trong văn hóa giữa hai quốc gia tăng lên một đơn vị thì đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng của TNDL văn hóa sẽ giảm đi 0,186 đơn vị.
Trong trường hợp, các đại lượng khác không đổi, khoảng cách của yếu tố khoảng cách quyền lực (CDPDI) trong văn hóa giữa hai quốc gia tăng lên một đơn vị thì đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng của TNDL văn hóa sẽ tăng lên 0,128 đơn vị.
Trong trường hợp các đại lượng khác không đổi, khoảng cách của yếu tố nam tính (CDMAS) trong văn hóa giữa hai quốc gia tăng lên một đơn vị thì đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng của TNDL văn hóa ở điểm đến sẽ giảm đi 0,316 đơn vị. 4.2.3.4. Mối quan hệ 4: ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cụ thể của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TTCT = β0 +β1(CDIDV) +β2(CDMAS) + β3(CDLTO) Kết quả phân tích cho thấy: R2 = 0,207 cho thấy mô hình hồi quy tuyến tính đã xây dựng phù hợp với tập dữ liệu ở mức 20,7%. Các biến độc lập đưa vào chạy hồi quy ảnh hưởng 20,7% sự thay đổi của biến phụ thuộc, còn lại là do các biến ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên.
Collinearity Statistics
Model
t
Sig.
Standardized Coefficients Beta
Tolerance
VIF
1
Hệ số Durbin-Watson của kiểm định là 2,127 thuộc khoảng 1 đến 3 nên không có hiện tượng tương quan chuỗi bậc nhất. Giá trị Sig. của kiểm định F = 0,000b < 0,05, cho phép bác bỏ giả thuyết H0, mô hình xây dựng phù hợp với tổng thể, tập dữ liệu có thể sử dụng được. Các chỉ số VIF nhỏ hơn 3 nên không có hiện tượng đa cộng tuyến. Bảng 4.16. Kết quả phân tích hồi quy mối quan hệ thứ tư Coefficientsa
(Constant) CDIDV CDMAS CDLTO
Unstandardized Coefficients Std. E B 3,044 -0,008 -0,009 0,026
0,131 0,002 0,003 0,003
-0,178 -0,109 0,339
23,261 -4,257 -2,802 8,375
0,000 0,000 0,005 0,000
0,818 0,936 0,867
1,223 1,069 1,153
a. Dependent Variable: TTCT b. Adjusted R Square = 0,207
c. Durbin-Watson = 2,127 d. Sig. kiểm định F = 0,000b < 0,05
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả
101
Từ bảng kết quả phân tích hồi quy ta thấy cả ba yếu tố khoảng cách văn hóa gồm: khoảng cách yếu tố chủ nghĩa cá nhân (CDIDV), khoảng cách nam tính
(CDMAS), khoảng cách định hướng dài hạn (CDLTO), có mối quan hệ ảnh hưởng tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cụ thể của TNDL văn hóa
ở Việt Nam (TTCT). Mối quan hệ giữa các yếu tố được biểu diễn như sau:
– 0,178(CDIDV)
– 0,109 (CDMAS)
= TTCT (Đánh giá của khách du lịchvề sức hấp dẫn từ các thuộc tính cụ thể của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến)
+ 0,339 (CDLTO)
Hình 4.5. Mô hình kết quả hồi quy mối quan hệ thứ tư
Mô hình nói trên có ý nghĩa rằng với mức ý nghĩa 5%, các yếu tố CDIDV,
CDMAS có ảnh hưởng nghịch chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ
các thuộc tính cụ thể của TNDL văn hóa ở Việt Nam (TTCT), còn yếu tố CDLTO lại
có ảnh hưởng thuận chiều. Cụ thể như sau:
Trong trường hợp, các đại lượng khác không đổi, khoảng cách của yếu tố chủ
nghĩa cá nhân (CDIDV) tăng lên một đơn vị thì đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp
dẫn từ các thuộc tính cụ thể của TNDL văn hóa ở điểm đến sẽ giảm đi 0,178 đơn vị.
Trong trường hợp, các đại lượng khác không đổi, khoảng cách yếu tố nam tính
(CDMAS) tăng lên một đơn vị thì đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các
thuộc tính cụ thể của TNDL văn hóa ở điểm đến sẽ giảm đi 0,109 đơn vị.
Trong trường hợp các đại lượng khác không đổi, khoảng cách của yếu tố định
hướng dài hạn giữa hai nền văn hóa (CDLTO) tăng lên một đơn vị thì đánh giá của
KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cụ thể của TNDL văn hóa ở điểm đến sẽ
tăng lên 0,339 đơn vị. 4.2.3.5. Mối quan hệ 5: ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cảnh quan và bầu không khí của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TTCQ = β0 +β1(CDIDV) +β2(CDLTO) Kết quả phân tích: R2 = 0,020 cho thấy mô hình hồi quy tuyến tính đã xây dựng phù hợp với tập dữ liệu ở mức 2,0%. Đây là hệ số cho biết các biến số độc lập là
khoảng cách văn hóa gần như không có ảnh hưởng tới Hệ số Durbin-Watson của kiểm
102
Model
Sig.
T
định là 1,449 nằm trong khoảng 1,0 đến 3,0 nên không có hiện tượng tương quan chuỗi bậc nhất xảy ra.Giá trị Sig. của kiểm định F = 0,000b < 0,05, cho phép bác bỏ giả thuyết H0, mô hình đã xây dựng phù hợp với tổng thể, tập dữ liệu có thể sử dụng được. Các chỉ số VIF đều nhỏ hơn 3 nên không có hiện tượng đa cộng tuyến.
Collinearity Statistics Tolerance VIF
Unstandardized Coefficients Std. B Error
1
(Constant) CDIDV CDLTO
24,848 0,000 -2,047 0,041 2,066 0,039
-0,092 0,093
0,874 1,145 0,874 1,145
2,713 -0,003 0,006
0,109 0,002 0,003
c. Durbin-Watson = 1,449 d. Sig. kiểm định F = 0,000b < 0,05
a. Dependent Variable: TTCQ b. Adjusted R Square = 0,11
Bảng 4.17. Kết quả phân tích hồi quy mối quan hệ thứ năm Coefficientsa Standardized Coefficients Beta
Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả Từ bảng kết quả phân tích hồi quy tuyến tính mô hình thứ năm có thể thấy rằng, khoảng cách văn hóa có ảnh hưởng không đáng kể (chỉ ở mức 2%) tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cảnh quan và bầu không khí của TNDL
văn hóa ở điểm đến. Trong đó, có hai yếu tố khoảng cách văn hóa là CDIDV và
CDLTO ảnh hưởng nhưng không đáng kể. Mối quan hệ được biểu diễn như sau:
- 0.092 (CDIDV)
= TTCQ (Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cảnh quan và bầu không khí của TNDL văn hóa ở điểm đến )
+ 0.093 (CDLTO)
Hình 4.6. Mô hình kết quả hồi quy mối quan hệ thứ năm
Trong trường hợp các đại lượng khác không đổi, khoảng cách của yếu tố chủ nghĩa cá nhân (CDIDV) tăng lên một đơn vị thì đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn cảnh quan và bầu không khí của TNDL văn hóa ở điểm đến giảm đi 0,092 đơn vị. Trong trường hợp các đại lượng khác không đổi, khoảng cách của yếu tố định
hướng dài hạn (CDLTO) tăng lên một đơn vị thì đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cảnh quan và bầu không khí của TNDL văn hóa ở điểm đến sẽ tăng lên 0,093 đơn vị.
103
4.2.4. Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu 4.2.4.1. Tổng hợp các kết quả phân tích hồi quy
Tổng hợp kết quả phân tích hồi quy ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc
gia tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến:
Bảng 4.18. Tổng hợp kết quả phân tích hồi quy toàn bộ các nhân tố trong mô hình nghiên cứu
Nội dung nhân tố Ký hiệu
Mức độ ảnh hưởng tổng thể Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố
21,9% TCTT
Các yếu tố khoảng cách văn hóa CDIDV CDIND CDPDI CDMAS
0,507 -0,112 -0,128 0,155
TCCT Không chịu ảnh hưởng của các yếu tố khoảng cách văn hóa quốc gia
17,8%
TCCQ
CDIDV CDUAI CDIND CDPDI CDLTO
0,496 -0,082 0,007 -0,156 0,094
71,4%
TTTT Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí trừu tượng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí cụ thể trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí cảnh quan, bầu không khí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến Đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng của TNDL văn hóa ở điểm đến
20,7%
TTCT
CDIDV CDUAI CDPDI CDMAS CDIDV CDMAS CDLTO
-0,849 -0,186 0,128 -0,316 -0,178 -0,109 0,339
CDIDV CDLTO
-0,092 0,093
02,0%
TTCQ
Đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cụ thể của TNDL văn hóa ở điểm đến Đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cảnh quan, bầu không khí của TNDL văn hóa ở điểm đến
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả
104
4.2.4.2. Kết luận từ kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Từ kết quả phân tích hồi quy, kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu được
thể hiện như sau:
Bảng 4.19. Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Yếu tố
Đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến Đánh giá của khách du lịch quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến TCTT TCCT TCCQ TTTT TTCT TTCQ
Khoảng cách chủ nghĩa 0 + + - - - cá nhân (CDIDV)
Khoảng cách tránh sự 0 0 - - 0 0 rủi ro (CDUAI)
Khoảng cách đam mê
0 - cá nhân/kiểm soát xã + 0 0 0
hội (CDIND)
Khoảng cách quyền lực 0 - - + 0 0 (CDPDI)
Khoảng cách nam tính 0 + 0 - - 0 (CDMAS)
Khoảng cách định
0 0 hướng dài hạn + 0 + +
(CDLTO)
Mức độ ảnh hưởng của Không các yếu tố khoảng cách
17,8% 71,4% 20,7% 2,0%
21,9% ảnh văn hóa quốc gia đến hưởng nhân tố
Ghi chú: (+): ảnh hưởng thuận chiều; (-) ảnh hưởng nghịch chiều; (0): không ảnh
hưởng
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả nghiên cứu của tác giả
105
4.2.5. Kết quả phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đặc điểm cá nhân tới đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa
4.2.5.1. Kết quả phân tích tương quan
Trong mô hình nghiên cứu, các đặc điểm cá nhân của KDL quốc tế được xem như các biến kiểm soát đánh giá của KDL về sức hấp
dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến. Để xem xét sự ảnh hưởng này, tác giả sử dụng phân tích tương quan nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa các nhân tố và phân tích hồi quy đa biến nhằm kiểm định ảnh hưởng của các yếu tố đặc điểm cá nhân tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa.
Bảng 4.20. Kết quả phân tích tương quan mối quan hệ của biến kiểm soát với biến phụ thuộc
Correlations
TCTT
TCCT
TCCQ
TTTT
TTCT
TTCQ
KNDL
ĐCVH
ĐCGT
DO TUOI
-0,124**
TRINH DO 0,094*
THU NHAP -0,108*
-0,207**
1
-0,033
0,007
-0,033
0,051
0,001
0,068
0,012
0,436
0,871
0,436
0,227
0,981
0,111
0,003
0,785
0,027
0,015
0,000
TCTT
558
558
558
558
558
558
558
558
558
558
509
558
-0,105*
-0,150**
-0,181**
1
0,068
0,012
-0,026
-0,016
0,038
0,007
-0,016
0,111
0,785
0,541
0,704
0,371
0,013
0,000
0,865
0,000
0,704
TCCT
558
558
558
558
558
558
558
558
509
558 0,100*
558 -0,155**
1
-0,073
0,012
-0,033
0,029
0,007
0,007
-0,018
0,085
0,784
0,436
0,493
0,871
0,019
0,865
0,682
0,000
TCCQ
558
558
558
558
558
558
509
558 -0,188**
558 -0,186**
558 0,287**
1
0,051
0,001
0,051
0,001
0,040
0,227
0,977
0,000
0,227
0,977
0,000
0,364
0,000
TTTT
558
558
558
558
558
558
558 -0,121**
509 0,267**
558 0,219**
1
-0,073
0,044
0,019
TTCT
0,085
0,303
0,659
0,004
0,000
0,000
-0,045 0,285
PC Sig N PC Sig N PC Sig N PC Sig N PC Sig
106
Correlations
TCTT
TCCT
TCCQ
TTTT
TTCT
TTCQ
KNDL
ĐCVH
ĐCGT
TRINH DO
DO TUOI
THU NHAP
558
558
558 -0,183**
558 0,133**
558 0,151**
509 0,166**
558 0,096*
558 1
-0,056
0,000
0,002
0,000
0,186
0,000
0,024
TTCQ
558
558
558
558
558
509
558
1
-0,056
0,012
0,001
0,014
-0,021
0,186
0,784
0,981
0,750
0,623
ĐCVH
558
558
558
558
509
558
1
0,022
0,079
0,044
0,007
0,612
0,062
0,319
0,869
ĐCGT
558
558
558
509
558
1
-0,046
0,180
0,002
0,275
0,682
0,956
DO TUOI
558
558
509
558
1
0,062
-0,073
0,164
0,085
TRINH DO
558
509
558
1
0,066
0,136
THU NHAP
509
509
1
KNDL
558
N PC Sig N PC Sig N PC Sig N PC Sig N PC Sig N PC Sig N PC Sig N
**. Correlation is significant at the 0,01 level (2-tailed); *. Correlation is significant at the 0,05 level (2-tailed). Chú thích: PC = Pearson Correlation’ Sig = Sig. (2-tailed)
Nguồn:Tổng hợp từ kết quả nghiên cứu
107
4.2.5.2. Kết quả phân tích ảnh hưởng của biến kiểm soát lên biến độc lập
Trên cơ sở ma trận hệ số tương quan, tác giả tiến hành phân tích hồi quy đa bội để xác định mức độ ảnh hưởng kiểm soát của các yếu tố cá nhân tới đánh giá của KDL
quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến. Cụ thể kết quả thể hiện trong bảng 4.21 như sau:
Bảng 4.21. Kết quả phân tích ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân đến đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TT Yếu tố kiểm soát (biến kiểm soát) Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TCTT TCCT TCCQ TTTT TTCT TTCQ
0 0 - 0 - 0 1 Động cơ văn hóa
- 0 0 0 + - 2 Động cơ giải trí
Kinh nghiệm du lịch 0 0 - + + - 3 quá khứ ở điểm đến
- + 0 0 0 0 4 Độ tuổi
0 0 + - - 0 Trình độ 5
- 0 + + - Thu nhập 6
5,6% 4,7% 0,5% 13,4% 11,8% 10,3% 7
Mức độ ảnh hưởng kiểm soát của các yếu tố cá nhân
Ghi chú: (+): ảnh hưởng kiểm soát thuận chiều; (-) ảnh hưởng kiểm soát nghịch chiều; (0): không ảnh hưởng kiểm soát
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả nghiên cứu của tác giả
108
TIỂU KẾT CHƯƠNG 4
Ở chương 4, tác giả đã thực hiện kiểm định các giả thuyết nghiên cứu bằng cách phân tích số liệu thu thập được từ cuộc điều tra 750 KDL quốc tế tới Việt Nam ở 3
thành phố là Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh. Số phiếu hợp lệ để đưa vào phân
tích là 558 phiếu (chiếm 74,4% tổng số phiếu phát ra).
Các thang đo (1) động cơ du lịch của khách khi đến thăm TNDL văn hóa, (2)
Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa và (3) đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ
các thuộc tính của TNDL văn hóa đã được kiểm tra độ tin cậy bằng Cronbach Alpha
và hệ số tương quan biến tổng sau đó được đưa vào phân tích nhân tố khám phá (EFA). Kết quả cho thấy như sau:
(1) Động cơ du lịch của khách khi đến thăm TNDL văn hóa ở điểm đến: từ một biến tiềm ẩn dự kiến, phân tích EFA đã cho ra 2 biến động cơ của khách khi đến thăm TNDL văn hóa ở điểm đến gồm: động cơ văn hóa (ĐCVH) và động cơ giải trí, tham quan (ĐCGT).
(2) Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến: từ một biến tiềm ẩn dự kiến phân tích
EFA đã cho ra ba biến mới được đặt tên là: Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí trừu tượng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa (TCTT), Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí cụ thể
trong việc tạo nên sức hấp của TNDL văn hóa (TCCT) và Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí cảnh quan, bầu không khí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến(TCCQ).
(3) Đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn
hóa ở điểm đến: từ một biến tiềm ẩn dự kiến, phân tích EFA đã cho ra ba biến mới được đặt tên là: Đánh của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng
của TNDL văn hóa ở điểm đến (TCTT), Đánh của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các
thuộc tính cụ thể của TNDL văn hóa ở điểm đến (TCCT) và Đánh của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cảnh quan, bầu không khí ở khu vực TNDL văn hóa ở
điểm đến (TCCQ).
(4) Các giả thuyết về mối quan hệ của các nhân tố trong mô hình cũng đã được kiểm định và được tổng hợp trong bảng tổng hợp kết quả kiểm định mối quan hệ ảnh
hưởng của các biến độc lập và biến kiểm soát đến biến phụ thuộc.
109
CHƯƠNG 5. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ GỢI Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH DỰA VÀO TÀI NGUYÊN VĂN HÓA Ở VIỆT NAM
Chương 5 của luận án tổng hợp, thảo luận về các kết quả nghiên cứu, những
đóng góp của đề tài về mặt lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số gợi ý phù hợp đối với việc phát triển du lịch dựa vào TNDL văn hóa ở Việt Nam.
5.1. Thảo luận về các kết quả nghiên cứu lý luận
5.1.1. Việc xác định các tiêu chí và đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến là một quá trình năng động, thay đổi phụ thuộc vào điểm đến, vào đặc thù của chuyến đi
Xuất phát từ góc độ tâm lý học, các nhà nghiên cứu đã cho rằng, để nhìn nhận, đánh giá về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở một điểm đến, KDL quốc tế sẽ có xu hướng tổng hợp và hình ảnh hóa những tính chất đơn lẻ của một vài tài nguyên mà
khách biết đến hoặc đã trải nghiệm thành những thuộc tính mang tính tổng hợp và gắn nó trở thành thuộc tính chung của TNDL văn hóa ở điểm trong mối quan hệ với đặc điểm, sở thích cá nhân (Chen and Hsu, 2000; McKercher and Ho, 2004; Ark and
Richards, 2006, Miquel and Raquel, 2013; Wei and Zhu, 2014; Guan and Jones, 2015, Wu và cộng sự, 2015). Đây chính là cơ sở để tác giả tổng quan và hình thành thang đo lường đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến đã
được trình bày ở chương 3 của luận án. Từ tổng quan những nghiên cứu của Gearing và cộng sự, 1974; Chen and Hsu (2000); Formica (2000); McKercher and Ho (2004); Ark and Richards (2006), Formica and Uysal (2006); Miquel and Raquel, 2013; Wei
and Zhu, 2014; Guan and Jones, 2015, Wu và cộng sự, 2015 Lee and Chen (2016), tác giả xác định được hai biến tiềm ẩn (một biến đo lường đánh giá mức độ quan trọng của các tiêu chí và một biến đo lường đánh giá sức hấp dẫn của các thuộc tính TNDL
văn hóa ở điểm đến của KDL quốc tế) với tổng số 36 biến quan sát được đưa vào phân
tích nhân tố khám phá. Trong đó có 34 biến quan sát được tổng quan từ những nghiên cứu trước và 2 biến quan sát được phát triển từ phỏng vấn sâu có liên quan đến sự phù hợp với các nhu cầu đa dạng của KDL quốc tế của TNDL văn hóa ở điểm đến. Kết quả
phân tích Cronbach’s Alpha cho thấy, biến quan sát được bổ sung qua nghiên cứu định tính đã được chấp nhận. Điều này được giải thích bởi nhu cầu DLVH đang ngày càng gia tăng biểu hiện ở cả số lượng và chất lượng. KDL tìm tới một điểm đến và thăm các
TNDL văn hóa để thỏa mãn cùng một lúc nhiều nhu cầu khác nhau (Isaac, 2008; OECD, 2009). Chính vì thế, họ có khuynh hướng xem việc thỏa mãn được nhiều nhu
110
cầu khác nhau chính là một thuộc tính cần có tạo nên sự hấp dẫn của TNDL văn hóa ở
các điểm đến.
Các biến quan sát đã bị loại bỏ bao gồm: hiệu quả của hoạt động bảo tồn di sản
văn hóa ở điểm đến; sức chứa của TNDL văn hóa ở điểm đến; quy mô của TNDL văn hóa ở điểm đến, cấp độ được công nhận của TNDL văn hóa ở điểm đến. Kết quả này có điểm khác biệt so với những nghiên cứu xác định giá trị thuộc tính của TNDL văn
hóa của các nghiên cứu ở châu Âu của ATLAS (2007); OECD (2009). Nguyên nhân thứ nhất có thể do đối tượng được điều tra trong nghiên cứu này đến từ nhiều quốc gia
khác nhau trong đó, khách tới từ các nước Châu Á như Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc… ít quan tâm hơn tới các giá trị có liên quan đến tính bảo tồn, quy mô, sức chứa
mà thường quan tâm đến giá trị độc đáo, nổi bật, sự đa dạng của tài nguyên. Còn đối
với KDL tới từ các quốc gia Châu Âu và Châu Mỹ, khi đi tới các quốc gia ít có sự quen thuộc về văn hóa như Việt Nam thì khó có thể xác định được đầy đủ các thông tin có liên quan đến bảo tồn, quy mô, sức chứa, cấp độ công nhận của tài nguyên. Do đó, các biến quan sát này đã bị loại bỏ.
Kết quả nghiên cứu nói trên chính là một khám phá thú vị của đề tài khi một
biến quan sát mới có liên quan đến đánh giá của KDL về việc TNDL văn hóa có khả năng thỏa mãn nhu cầu đa dạng của KDL được chấp nhận. Đồng thời, một số biến quan sát vốn có ý nghĩa trong các nghiên cứu trước đây đã không được chấp nhận ở
nghiên cứu này. Điều này hàm ý rằng việc xác định các tiêu chí và sự đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa là một quá trình năng động, có thể điều chỉnh, thay đổi phụ thuộc vào đặc thù của điểm đến, của chuyến đi và phụ thuộc vào những đặc điểm của mỗi thị trường KDL quốc tế. Sự bổ sung, điều chỉnh các thuộc tính của TNDL văn hóa như kết luận nêu trên có thể được xem là một đóng góp mới của luận án bởi điều này chưa được nhắc đến trong các nghiên cứu trước. Tuy nhiên, để có thể khẳng định khám phá này cần có những nghiên cứu chuyên sâu hơn.
5.1.2. Khách du lịch quốc tế có xu hướng phân định rõ các nhân tố hấp dẫn mang tính trừu tượng – cụ thể - cảnh quan, bầu không khí khi đánh giá sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Trên cơ sở các thang đo lường đã được kiểm tra độ tin cậy, nghiên cứu phân tích nhân tố khám phá EFA từ hai biến dự kiến là “Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở
điểm đến” và “Đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến”, nghiên cứu này tố đã trích xuất thành 6 nhân tố. Cụ thể là:
111
Bảng 5.1. Tổng hợp các nhân tố đo lường Đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Ý nghĩa nhân tố
Biến quan sát đo lường nhân tố
Ký hiệu
Tên nhân tố mới
Mức độ quan trọng của tiêu chí sự
Đây là những tiêu chí
mang tính trừu tượng, việc đánh giá mức độ
thân thiện, hiếu khách của người dân địa phương xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến
quan trọng của tiêu
Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến đẹp
Mức độ quan trọng của tiêu chí
chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa phụ thuộc rất lớn vào cảm
TNDL văn hóa ở điểm đến có tính độc đáo cao
TCTT
Mức độ quan trọng của tiêu chí
Đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của các trừu tiêu chí tượng trong việc tạo nên sức của hấp dẫn TNDL văn hóa ở điểm đến
nhận, ý kiến, quan điểm của mỗi cá nhân
TNDL văn hóa ở điểm đến có tính nguyên gốc cao
Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến nổi tiếng
Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến phù
hợp với các nhu cầu của KDL quốc tế
Đây là những tiêu chí mang tính cụ thể, có
Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có số lượng TNDL văn hóa nhiều
thể được cảm nhận thông qua những giá
Mức độ quan trọng của TNDL văn hóa của tiêu chí điểm đến có sự đa dạng về loại hình TNDL văn hóa
TCCT
trị mà khách quan sát hoặc cảm nhận cụ thể
được và các tiêu chí
Mức độ quan trọng của tiêu chí tiếp cận với TNDL văn hóa ở điểm đến thuận lợi
Đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của các tiêu chí cụ thể trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến
này thường mang tính phổ quát nhiều hơn là mang tính cá nhân.
Mức độ quan trọng của tiêu chí TNDL văn hóa ở điểm đến có tính nguyên vẹn cao
112
Ý nghĩa nhân tố
Biến quan sát đo lường nhân tố
Ký hiệu
Tên nhân tố mới
Đây là những tiêu chí
nằm xung quanh hoặc
Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên cảnh quan xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến đẹp
bao quanh tài nguyên nhưng đã được tích
hợp trở thành tiêu chí
của
TCCQ
tài hấp dẫn nguyên để khách lựa
Mức độ quan trọng của tiêu chí bầu không khí tâm lý xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến dễ chịu
chọn nhằm đánh giá sức hấp dẫn của TNDL văn hóa
Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí cảnh quan và bầu không khí văn hóa ở khu vực TNDL trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả phân tích của tác giả
Bảng 5.2. Tổng hợp các nhân tố mới đo lường Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Tên nhân tố mới
Ý nghĩa nhân tố
Biến quan sát đo lường nhân tố
Ký hiệu
TTTT
Là những đánh giá về thuộc tính mang tính trừu tượng và phụ thuộc vào ý kiến, quan điểm cá nhân của mỗi KDL.
Đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng của TNDL văn hóa ở điểm đến
thể
TTCT
Đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cụ thể của TNDL văn hóa ở điểm đến
Là những đánh giá về thuộc tính mang tính cụ thông qua những giá trị cụ thể mà khách quan sát hoặc cảm nhận cụ thể được và thường mang
Sức hấp dẫn từ thuộc tính nổi tiếng của TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính vẻ đẹp của TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính sống động của TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính độc đáo của TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính nguyên vẹn của các TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính đa dạng các loại hình TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính thuận
113
tính phổ quát nhiều hơn là tính cá nhân. Là những đánh giá về cảnh quan, bầu không khí văn hóa, sự thân thiện, hiếu khách của cộng động dân cư bản địa ở khu vực TNDL văn hóa.
TTCQ
Đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cảnh quan và bầu không khí của TNDL văn hóa ở điểm đến
lợi trong tiếp cận với TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính bầu không khí tâm lý xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính vẻ đẹp cảnh quan xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính phù hợp với các nhu cầu của KDL quốc tế của TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính phong tục, lối sống của người dân địa phương xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến Nguồn: Tổng hợp từ kết quả phân tích của tác giả
Sự hình thành của những nhân tố mới đặc biệt là nhân tố đo lường đánh giá của
KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính Cảnh quan và bầu không khí của TNDL văn hóa; Sự thân thiện, hiếu khách của cộng đồng dân cư bản địa là rất phù hợp với xu hướng của DLVH thời kỳ hiện đại, khi mà nhu cầu và tiêu dùng DLVH đã chuyển từ
bị động (tham quan, tìm hiểu các giá trị văn hóa, thể hiện bản thân) sang chủ động (tìm kiếm sự hiểu biết sâu hơn về văn hóa, hòa mình vào văn hóa bản địa ở nơi đến, trở thành một thành phần của sản phẩm DLVH) (Boniface, 2003; Isaac, 2008; Richards,
2007). Người tiêu dùng có xu hướng tích hợp các thuộc tính cảnh quan, bầu không khí, sự sống động và sự thân thiện, hiếu khách của cộng đồng dân cư bản địa trở thành những thuộc tính quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của TNDL văn hóa ở một điểm đến.
Việc phân định rõ các nhóm nhân tố sức hấp dẫn mang tính trừu tượng, sức hấp
dẫn mang tính cụ thể của TNDL văn hóa và sức hấp dẫn mang tính cảnh quan, bầu không khí của TNDL văn hóa ở điểm đến tạo ra sự hiểu biết đầy đủ hơn về đặc điểm
sở thích, nhu cầu của KDL quốc tế. Kết quả này là phù hợp và rất cần thiết để có thể
giải thích sâu sắc hành vi tiêu dùng của KDL văn hóa đang có rất nhiều thay đổi so với trước kia. Đặc biệt, trong luận án này, khám phá mới về các nhân tố có liên quan đến
các nhóm thuộc tính hấp dẫn: Cụ thể – Trừu tượng – Cảnh quan, bầu không khí của TNDL văn hóa là cơ sở cần thiết để tác giả thực hiện kiểm định mối quan hệ của khoảng cách văn hóa quốc gia đến đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của
TNDL văn hóa ở điểm đến.
114
5.1.3. Các yếu tố khoảng cách văn hóa quốc gia có ảnh hưởng khác nhau tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Các nghiên cứu trước đây của các tác giả như Crott (2004); Crott and
McKetcher (2006); Leung và cộng sự (2013) đã đề cập trực tiếp đến ảnh hưởng từ khoảng cách một số yếu tố văn hóa theo lý thuyết Hofstede tới sở thích và nhận định
của KDL đối với các điểm đến du lịch quốc tế. Kết quả nghiên cứu và những lập luận
của họ đã cho thấy rằng, chỉ có khoảng cách tránh sự rủi ro (CDUAI) và khoảng cách chủ nghĩa cá nhân (CDIDV) là có ảnh hưởng tới sở thích của KDL quốc tế đối với
điểm đến còn lại các yếu tố khác như khoảng cách yếu tố thể hiện đam mê cá nhân (CDIND), khoảng cách yếu tố nam tính (CDMAS), khoảng cách quyền lực (CDPDI), khoảng cách yếu tố định hướng dài hạn (CDLTO) không có ảnh hưởng. Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu này đã cho thấy một số khía cạnh khác. Có thể nếu xét tổng hợp
các tiêu chí hấp dẫn của một điểm đến (bao gồm cả các yếu tố như cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn tài nguyên…) thì các yếu tố khoảng cách văn hóa giữa hai quốc gia có ảnh hưởng không đáng kể nhưng nếu chỉ xem xét riêng đối với yếu tố
TNDL văn hóa thì ngoài CDIDV, CDUIA, khoảng cách của các yếu tố văn hóa như CDPDI, CDMAS, CDLTO cũng có những ảnh hưởng khá đáng kể. Cụ thể là:
Ảnh hưởng của khoảng cách yếu tố chủ nghĩa cá nhân trong văn hóa giữa hai quốc gia tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu đã khẳng định, yếu tố khoảng cách chủ nghĩa cá nhân (CDIDV) có mối quan hệ ảnh hưởng tích cực và mạnh mẽ nhất tới việc xác định
các tiêu chí và đánh giá của KDL về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở một điểm đến quốc tế (ở mức +0,507 tới TCTT; +0,496 tới TCCQ; -0,849 tới TTTT, -0,117 tới TTCT và -0,092 tới TTCQ). Điều này là hoàn toàn phù hợp với thực tế, bởi lẽ, ở góc độ hành vi cá nhân, yếu tố chủ nghĩa cá nhân/tập thể trong lý thuyết của Hofstede phản
ánh mức độ con người thể hiện những cá tính, cảm nhận, chính kiến của bản thân trong cộng đồng. Khám phá mới của luận án so với những nghiên cứu trước đây chính
là đã làm rõ được mức độ và chiều ảnh hưởng của CDIDV tới từng nhân tố đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa. Khác với các nghiên cứu trước
thường cho rằng, khoảng cách CDIDV ảnh hưởng nghịch chiều tới sở thích, hành vi lựa chọn đối với điểm đến du lịch thì ở nghiên cứu này, CDIDV có ảnh hưởng thuận chiều tới việc xác định các tiêu chí hấp dẫn của tài nguyên nhưng lại ảnh hưởng nghịch
115
chiều đối với việc đánh giá mức độ hấp dẫn của TNDL văn hóa. Hơn nữa, CDIDV chỉ
ảnh hưởng tới những tiêu chí và đánh giá mang tính trừu tượng và cảnh quan hay nói cách khác là những tiêu chí phụ thuộc nhiều vào cảm nhận, tưởng tượng, ý kiến của
mỗi cá nhân (như sự nổi tiếng, sự độc đáo, vẻ đẹp, thái độ dễ chịu của cộng đồng bản
địa, sự nguyên gốc của tài nguyên, sự phù hợp với nhu cầu của KDL quốc tế) chứ không có ảnh hưởng tới những tiêu chí và đánh giá mang tính cụ thể (như số lượng, sự
đa dạng, sự thuận lợi trong tiếp cận, sự nguyên vẹn của TNDL văn hóa).
Ảnh hưởng của khoảng cách yếu tố nam tính trong văn hóa giữa hai quốc gia tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Thứ hai, kết quả phân tích cũng đã chỉ rõ sự ảnh hưởng của CDMAS tới tiêu chí
và đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến. Khác với những nhận định trước đây rằng chỉ số MAS khi nghiên cứu trong mối quan hệ với đánh giá của KDL quốc tế về chất lượng của một điểm đến, thường chỉ có ảnh hưởng
tới hành vi đánh giá chất lượng dịch vụ (vận chuyển, lưu trú, chương trình trung thành khách hàng) của KDL, kết quả nghiên cứu này đã cho thấy, chỉ số CDMAS có ảnh hưởng thuận chiều tới Đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu
chí trừu tượng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa và ảnh hưởng nghịch chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng và các thuộc tính cụ thể của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Ảnh hưởng của khoảng cách yếu tố tránh sự rủi ro trong văn hóa giữa hai quốc gia tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Thứ ba, kết quả phân tích đã cho thấy chỉ số CDUAI chỉ có ảnh hưởng nghịch chiều tới hai yếu tố đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí cảnh
quan, bầu không khí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến và đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng của TNDL văn
hóa ở điểm đến.
Ảnh hưởng của khoảng cách yếu tố quyền lực trong văn hóa giữa hai quốc gia tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Thứ tư, CDPDI có ảnh hưởng nghịch chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí cảnh quan, bầu không khí trong việc tạo nên sức hấp
116
dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến và có ảnh hưởng thuận chiều tới đánh giá của KDL
quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Ảnh hưởng của khoảng cách yếu tố định hướng dài hạn trong văn hóa giữa hai quốc gia tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Thứ năm, kết quả của đề tài đã cho thấy một phát hiện khá thú vị về ảnh hưởng
của CDLTO đến đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến. Theo đó, CDLTO có ảnh hưởng nghịch chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về
sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng của tài nguyên nhưng lại có ảnh hưởng thuận
chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cụ thể của TNDL văn hóa. Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế khi mà Việt Nam nằm trong nhóm
các nước có chỉ số LTO cao. Do đó, các nước có CDLTO xa so với Việt Nam thường là những quốc gia có chỉ số CDLTO thấp. Về mặt hành vi cá nhân, KDL ở các nước có chỉ số LTO thấp thường coi trọng những yếu tố cụ thể, những hành động ở thời điểm
hiện tại, thực hiện những mục tiêu ngắn hạn. Vì vậy mà họ đánh giá thấp các thuộc tính hấp dẫn trừu tượng và đánh giá cao các thuộc tính cụ thể.
Ảnh hưởng của khoảng cách yếu tố thể hiện đam mê cá nhân trong văn hóa giữa hai quốc gia tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Cuối cùng, khoảng cách của yếu tố thể hiện đam mê cá nhân (CDIND) - một yếu tố mới được Hofstede bổ sung vào năm 2010 – cũng đã được xem xét ở trong nghiên cứu này. Kết quả cho thấy CDIND có ảnh hưởng nhưng là ảnh hưởng không đáng kể tới việc xác định tiêu chí về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa (gồm tiêu chí cụ thể và
tiêu chí cảnh quan). Tuy nhiên, CDIND không cho thấy có mối quan hệ nào tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Những kết quả phân tích nêu trên đã cho thấy chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố khoảng cách văn hóa (CDIDV, CDUAI, CDIND, CDMAS, CDLTO,
CDPDI) tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa là rất khác
nhau. Đây chính là cơ sở để hiểu sâu hơn về đặc điểm sở thích, hành vi của KDL quốc tế và từ đó có thể lựa chọn những căn cứ phù hợp trong phân tích thị trường, xây dựng
chính sách, chiến lược phù hợp để tiếp thị điểm đến, giới thiệu sản phẩm DLVH hóa ở mỗi thị trường.
117
5.1.4. Các nhân tố đo lường đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa chịu ảnh hưởng khác nhau từ khoảng cách văn hóa quốc gia
5.1.4.1. Đánh giá của khách du lịch quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí hấp dẫn trừu tượng chịu ảnh hưởng khá đáng kể bởi khoảng cách văn hóa quốc gia
Đánh giá của khách về mức độ quan trọng của tiêu chí trừu tượng trong việc tạo
nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến (TCTT) gồm 6 biến quan sát . Đây là những tiêu chí mang tính trừu tượng như vẻ đẹp, sự độc đáo, sự nổi tiếng,… Mức độ
quan trọng tạo nên tạo nên sự hấp dẫn của những tiêu chí này phụ thuộc vào cảm nhận riêng của KDL. Do đó, việc kết quả nghiên cứu cho thấy khác biệt về khoảng cách văn hóa có ảnh hưởng tới nhân tố là khá phù hợp. Có 4 yếu tố khoảng cách của yếu tố chủ
nghĩa cá nhân (CDIDV), khoảng cách của yếu tố đam mê cá nhân (CDIND), khoảng cách của yếu tố nam tính (CDMAS) và khoảng cách của yếu tố quyền lực (CDPDI) ảnh hưởng tới nhân tố TCTT ở mức R2 = 0,219 (21,9%). Trong đó, yếu tố CDIDV có ảnh hưởng thuận chiều và mạnh nhất (+0,507) và CDIND có ảnh hưởng nghịch chiều và yếu nhất (-0,112). Còn lại, 2 yếu tố khoảng cách văn hóa quốc gia là CDUAI, CDLTO không có ảnh hưởng nào đến việc xác định mức độ quan trọng của tiêu chí trừu tượng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa. Cụ thể là:
TCTT = β0 + 0,507 CDIDV - 0,112 CDIND – 0,128 CDPDI + 0,155 CDMAS
Kết quả trên hàm ý rằng: khoảng cách văn hóa quốc gia có ảnh hưởng đến việc
KDL đánh giá mức độ quan trọng của các tiêu chí trừu tượng ở mức 21,9%. Cụ thể:
KDL tới từ các nước có khoảng cách chủ nghĩa cá nhân (CDIDV) và khoảng
cách nam tính (CDMAS) càng xa so với quốc gia điểm đến thì sẽ đặt càng cao mức độ quan trọng của các tiêu chí mang tính trừu tượng của TNDL văn hóa. Nghĩa là khách
tới từ các nước có CDIDV và CDMAS xa sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc tìm hiểu về
các tiêu chí trừu tượng của TNDL văn hóa ở điểm đến. Trong đó, chủ nghĩa cá nhân vẫn là yếu tố có ảnh hưởng đáng kể nhất.
Ngược lại đối với khoảng cách của yếu tố quyền lực (CDPDI), KDL sẽ coi
trọng các tiêu chí trừu tượng của tài nguyên hơn khi đến với các quốc gia có khoảng cách quyền lực (CDPDI) gần với quốc gia mình. Kết quả này có thể được ứng dụng trong việc xây dựng hình ảnh điểm đến DLVH. Chẳng hạn như khi thực hiện tiếp thị,
giới thiệu thông tin về hình ảnh DLVH ở các thị trường có khoảng cách chủ nghĩa cá
118
nhân xa, cần chú trọng tới những giá trị mang tính trừu tượng của TNDL văn hóa (sự
độc đáo, vẻ đẹp, tính sống động, sự nổi tiếng…) hơn là giới thiệu về những thuộc tính mang tính cụ thể (như số lượng, sự đa dạng, sự tiếp cận thuận lợi…).
5.1.4.2. Đánh giá của khách du lịch quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí hấp dẫn cụ thể không chịu ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia
Nhân tố đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí cụ thể
của TNDL văn hóa ở điểm đến (TCCT) gồm 4 biến quan sát là những yếu tố mang
tính cụ thể, khách có thể quan sát, cảm nhận được dễ dàng thông qua biểu hiện của tài nguyên. Kết quả kiểm định đã cho thấy không có giá trị khoảng cách văn hóa quốc gia
nào ảnh hưởng tới nhân tố đánh giá mức độ quan trọng của tiêu chí cụ thể trong việc
tạo ra sức hấp dẫn của TNDL văn hóa. Điều này đã khẳng định rằng không phải khoảng cách văn hóa quốc gia hay mức độ khác biệt văn hóa sẽ có ảnh hưởng như nhau đến toàn bộ sở thích và hành vi của KDL quốc tế như các nghiên cứu trước đã đề cập. Một số giá trị mang tính cụ thể của tài nguyên như số lượng, sự đa dạng, sự tiếp
cận thuận lợi và tính nguyên vẹn của tài nguyên sẽ không có mối liên hệ với sự khác biệt về văn hóa giữa hai quốc gia. Kết quả là phù hợp với thực tiễn bởi lẽ các tiêu chí về số lượng, sự đa dạng, thuận lợi, nguyên vẹn của tài nguyên thường mang tính
chung, phổ quát được xác định trước và ít thay đổi theo bối cảnh, theo điểm đến.
5.1.4.3. Đánh giá của khách du lịch quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí hấp dẫn từ cảnh quan, bầu không khí chịu ảnh hưởng khá đáng kể bởi khoảng cách văn hóa quốc gia
Nhân tố đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí cảnh
quan và bầu không khí (TCCQ) gồm 2 biến quan sát là cảnh quan xung quanh TNDL văn hóa và bầu không khí tâm lý xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến), có 5 giá trị
khoảng cách văn hóa quốc gia là khoảng cách của yếu tố chủ nghĩa cá nhân (CDIDV), khoảng cách tránh sự rủi ro (CDUAI), khoảng cách của yếu tố đam mê cá nhân
(CDIND), khoảng cách của yếu tố quyền lực (CDPDI) và khoảng cách yếu tố định hướng dài hạn (CDLTO) có ảnh hưởng tới nhân tố TCCQ ở mức R2 = 0,178 (17,8%). Trong đó, yếu tố CDIDV có ảnh hưởng thuận chiều và mạnh nhất (+ 0,496), còn yếu tố CDIND có ảnh hưởng yếu nhất (+0,007). Còn lại yếu tố CDMAS không có ảnh
hưởng đến việc xác định mức độ quan trọng của các tiêu chí cảnh quan và bầu không khí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
TCCQ = β0 + 0,496 CDIDV - 0,082 CDUAI + 0,007 CDIND – 0,156 CDPDI
+ 0,094 CDLTO
119
Kết quả này hàm ý rằng: KDL tới từ các nước có khoảng cách chủ nghĩa cá
nhân (CDIDV), khoảng cách yếu tố đam mê cá nhân (CDIND) và khoảng cách định hướng dài hạn (CDLTO) so với quốc gia điểm đến càng xa thì càng quan tâm và đặt
mức độ quan trọng của các thuộc tính cảnh quan, bầu không khí xung quanh TNDL
văn hóa càng cao. Ngược lại, KDL sẽ đặt cao mức độ quan trọng của tiêu chí cảnh quan và bầu không khí khi đến với những điểm đến là các quốc gia có CDUAI và
CDPDI gần với quốc gia mình.
5.1.4.4. Đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi khoảng cách văn hóa quốc gia.
Đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn trừu tượng của TNDL văn hóa
(TTTT) gồm 4 biến quan sát là đánh giá về sức hấp dẫn từ thuộc tính sự nổi tiếng, sự độc đáo, vẻ đẹp và sự phù hợp với nhu cầu du lịch của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Trong đó hai yếu tố khoảng cách đam mê (CDIND) và khoảng cách định hướng dài hạn (CDLTO) là không ảnh hưởng còn lại 4 giá trị khoảng cách văn hóa quốc gia là CDIDV, CDUAI, CDPDI, CDMAS đều có ảnh hưởng đáng kể tới nhân tố đánh giá
trừu tượng ở mức 71,4%. Trong đó, yếu tố CDIDV có ảnh hưởng nghịch chiều và mạnh mẽ nhất (-0,849), yếu tố CDPDI có ảnh hưởng thuận chiều và ảnh hưởng yếu nhất (+0,128).
TTTT = β0 - 0,849 CDIDV - 0,186 CDUAI – 0,316 CDMAS + 0,128 CDPDI
Kết quả này hàm ý rằng: khoảng cách văn hóa quốc gia có ảnh hưởng mạnh mẽ
và đáng kể nhất tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng của TNDL văn hóa (Sức hấp dẫn từ thuộc tính độc đáo, sự nổi tiếng, vẻ đẹp, sự phù hợp với nhu cầu KDL quốc tế của TNDL văn hóa ở Việt Nam). KDL tới từ các nước có khoảng cách CDIDV, CDUAI, CDMAS càng xa thì càng có xu hướng đánh
giá thấp sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng của TNDL văn hóa ở điểm đến. Điều
này có sự khác biệt so với nhận định thông thường rằng KDL quốc tế sẽ đánh giá cao các giá trị hấp dẫn của TNDL văn hóa khi các giá trị đó càng khác lạ so với văn hóa
nguồn gốc của họ. Kết quả này đã làm sâu sắc hơn sự hiểu biết về ảnh hưởng của
khoảng cách văn hóa quốc gia tới sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến qua đánh giá của KDL quốc tế và là cơ sở để đề xuất các giải pháp trong phát triển du lịch
dựa vào TNDL văn hóa ở Việt Nam.
5.1.4.5. Đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cụ thể chịu ảnh hưởng khá đáng kể bởi khoảng cách văn hóa quốc gia
Đánh giá cụ thể (TTCT) gồm 3 biến quan sát là đánh giá sức hấp dẫn từ sự đa dạng loại hình TNDL văn hóa, sự tiếp cận thuận lợi và tính nguyên vẹn của TNDL văn
120
hóa, có ba giá trị khoảng cách văn hóa quốc gia ảnh hưởng là CDIDV, CDMAS và
CDLTO có ảnh hưởng tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cụ thể của TNDL văn hóa ở mức 20,7% (R2 = 0,207). Trong đó, yếu tố CDLTO là có ảnh hưởng thuận chiều và mạnh mẽ nhất, còn yếu tố CDIDV, CDMAS có ảnh hưởng
nghịch chiều.
TTCT = β0 – 0,178 CDIDV - 0,109 CDMAS + 0,339 CDLTO
Kết quả nói trên hàm ý rằng, KDL tới từ các quốc gia có khoảng cách chủ nghĩa cá nhân (CDIDV) và nam tính (CDMAS) càng xa thì càng đánh giá thấp sức hấp dẫn
từ các thuộc tính cụ thể của TNDL văn hóa ở điểm đến. Còn lại hai yếu tố là CDLTO thì có ảnh hưởng thuận chiều tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các
thuộc tính cụ thể của TNDL văn hóa ở điểm đến. Điều này cũng khá phù hợp với thực
tế bởi về mặt hành vi cá nhân LTO là chỉ số đo lường việc cá nhân quan tâm đến chuẩn mực, chi tiết và mục tiêu trong ngắn hạn/dài hạn. Do đó, ở khoảng cách LTO càng xa, KDL càng quan tâm và đánh giá cao những thuộc tính mang tính cụ thể. Ngược lại, họ lại không quan tâm nhiều tới những thuộc tính mang tính trừu tượng của
TNDL văn hóa ở điểm đến.
5.1.4.6. Đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn từ thuộc tính cảnh quan và bầu không khí chịu ảnh hưởng không đáng kể bởi khoảng cách văn hóa quốc gia
Đánh giá cảnh quan (TTCQ) gồm 4 biến quan sát là đánh giá về sức hấp dẫn từ cảnh quan, bầu không khí tâm lý, lối sống, phong tục của người dân và sự thể hiện sống động của tài nguyên trong đời sống của người dân xung quanh TNDL văn hóa.
Có 2 yếu tố CDIDV và CDLTO ảnh hưởng tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cảnh quan và bầu không khí của TNDL văn hóa ở điểm đến nhưng ảnh hưởng không đáng kể ở mức 2% (R2 = 0,002).
TTCQ = β0 - 0,092 CDIDV + 0,113 CDLTO
Kết quả nói trên hàm ý rằng, khoảng cách văn hóa không có ảnh hưởng đáng kể
đến việc đánh giá mức độ hấp dẫn từ các thuộc tính cảnh quan và bầu không khí của TNDL văn hóa ở điểm đến. Điều này có thể được giải thích rằng, hai yếu tố này không
có liên quan trực tiếp tới các yếu tố văn hóa quốc gia mà cảm nhận, đánh giá về cảnh quan, bầu không khí tâm lý sẽ chủ yếu chịu ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý cá nhân của KDL quốc tế.
Những đóng góp của luận án về mặt lý luận như đã phân tích có ý nghĩa khoa học hết sức quan trọng, giúp bổ sung sự hiểu biết sâu sắc hơn về ảnh hưởng của
121
khoảng cách văn hóa quốc gia tới sở thích, nhận thức và hành vi người tiêu dùng du
lịch quốc tế. Từ việc xác định được rõ mối quan hệ của khoảng cách văn hóa quốc gia với những nhóm nhân tố khác nhau đo lường sức hấp dẫn của TNDL văn hóa qua đánh
giá của KDL quốc tế, các nhà quản lý điểm đến, kinh doanh du lịch có thể có cơ sở tốt
hơn cho việc xây dựng hình ảnh điểm đến hay quảng bá hình DLVH của quốc gia phù hợp với mỗi thị trường.
5.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
Hiện tại, những nghiên cứu nhằm xem xét những yếu tố tác động tới nhu cầu,
đặc điểm, sở thích về TNDL văn hóa Việt Nam của KDL quốc tế còn hạn chế. Vì vậy,
việc đề tài sử dụng chỉ số Hofstede và công thức của Jackson nhằm xác định ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới tiêu chí và đánh giá của KDL về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa đóng góp một kết quả nghiên cứu mới mẻ có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với sự phát triển của DLVH ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu
của luận án sẽ là một nguồn dữ liệu cần thiết hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng các chính sách, định hướng phù hợp với các thị trường KDL quốc tế là mục tiêu của du lịch Việt Nam.
Luận án đã tổng hợp và xác định được các thuộc tính nhằm đánh giá sức hấp
dẫn của TNDL văn hóa, phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Kết quả này cũng sẽ là một đóng góp có ý nghĩa rất lớn về mặt thực tiễn bởi lẽ đây là cơ sở để các nhà nghiên cứu thị trường có thể sử dụng làm căn cứ cho các nhiệm vụ nghiên cứu của mình.
Thông qua bảng xếp hạng mức độ quan trọng của các tiêu chí và đánh giá của KDL quốc tế đến Việt Nam về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở
Việt Nam, luận án đã làm sâu sắc hơn sự hiểu biết về sở thích, nhận định của KDL quốc tế về Việt Nam. Đây là cơ sở tham khảo cho các doanh nghiệp lữ hành trong xây
dựng sản phẩm DLVH và là nguồn tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước trong
định hướng, quy hoạch phát triển DLVH.
5.2.1. Đánh giá của khách du lịch quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
Kết quả phân tích thống kê xếp hạng mức độ quan trọng của các tiêu chí tạo nên sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở Việt Nam đã cho thấy: KDL đặt mối quan tâm khá cao đối với các tiêu chí tính nguyên vẹn (mean = 4,29), nguyên gốc (mean =
4,14), bầu không khí văn hóa xung quanh tài nguyên (mean = 3,73), cảnh quan xung quanh TNDL văn hóa (mean = 3,63) và sự độc đáo của TNDL văn hóa (mean =
122
3,61). Nhóm quan tâm thứ hai (nằm ở mức độ trung bình) là các tiêu chí: sự đa dạng
của các loại hình tài nguyên (mean = 3,30); thái độ của cộng đồng dân cư bản địa đối với KDL (mean = 3,16), sự thuận lợi khi tiếp cận tới khu vực TNDL văn hóa (mean
= 2,96). Nhóm cuối cùng ít quan trọng hơn đối với KDL khi đến Việt Nam đó là các
tiêu chí: số lượng của TNDL văn hóa ở điểm đến (mean = 2,86), sự đáp ứng các nhu cầu đa dạng từ KDL của TNDL văn hóa (mean = 2,84), vẻ đẹp của TNDL văn hóa
(mean = 2,78) và sự nổi tiếng của TNDL văn hóa ở Việt Nam (mean = 2,68). Cụ thể các kết quả phân tích được thể hiện trong bảng 5.3 như sau:
Bảng 5.3. Xếp hạng của khách du lịch quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
Mean
Tiêu chí được đánh giá
Std. Deviation
XẾP HẠNG
Tiêu chí TNDL văn hóa ở VN có tính nguyên vẹn cao
4,29
0,451
1
Tiêu chí TNDL văn hóa ở VN có tính nguyên gốc cao
4,14
0,499
2
3,73
0,398
3
Tiêu chí bầu không khí tâm lý xung quanh tài TNDL văn hóa ở VN dễ chịu
Tiêu chí cảnh quan xung quanh TNDL văn hóa ở VN đẹp
3,63
0,479
4
Tiêu chí TNDL văn hóa ở VN có tính độc đáo cao
0,656
3,61
5
Tiêu chí TNDL văn hóa ở VN đa dạng về loại hình
0,537
3,30
6
3,16
0,683
7
Tiêu chí sự thân thiện và hiếu khách của người dân địa phương xung quanh TNDL văn hóa ở VN
Tiêu chí TNDL văn hóa ở VN có tính sống động cao
2,97
0,713
8
2,94
0,421
9
2,88
0,845
10
Tiêu chí khả năng tiếp cận với TNDL văn hóa ở VN thuận lợi Tiêu chí phong tục, lối sống của người dân địa phương xung quanh TNDL văn hóa thú vị
11
Tiêu chí số lượng TNDL văn hóa ở VN nhiều
2,86
0,482
2,84
0,557
12
Tiêu chí sự phù hợp với các các nhu cầu của KDL quốc tế của TNDL văn hóa ở VN
Tiêu chí tài nguyên du lịch văn hóa ở VN đẹp
2,78
0,435
13
Tiêu chí TNDL văn hóa ở VN nổi tiếng
2,68
0,537
14
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả
123
Như vậy, đối với KDL quốc tế, khi đến Việt Nam, tiêu chí quan trọng mà họ đặt
lên hàng đầu để đánh giá sức hấp dẫn từ TNDL văn hóa đó chính là những tiêu chí có
liên quan đến tính nguyên vẹn, nguyên gốc và sự độc đáo của TNDL văn hóa. Kết quả
này cũng tương tự như các nghiên cứu khi cho thấy đối với KDL khi đến thăm một đất
nước khác thì di sản văn hóa của nơi đến luôn là yếu tố quan trọng thể hiện bản sắc
văn hóa, đặc trưng điểm đến và đó chính là những giá trị mà khách tìm kiếm, mong
muốn được trải nghiệm.
Tiếp theo sau các tiêu chí về tính nguyên vẹn, nguyên gốc, độc đáo có liên quan
đến TNDL văn hóa, KDL cũng rất quan tâm tới các tiêu chí bầu không khí văn hóa thú
vị, cảnh quan đẹp xung quanh khu vực TNDL văn hóa và thái độ của cộng đồng dân
cư bản địa xung quanh TNDL văn hóa. Kết quả này có sự khác biệt so với các nghiên
cứu trước, thể hiện sự thay đổi trong xu hướng tiêu dùng DLVH thời hiện đại. Việc
chuyển trải nghiệm du lịch từ tham quan, tìm hiểu các giá trị văn hóa sang tìm kiếm sự
hiểu biết sâu hơn về văn hóa, hòa mình vào văn hóa bản địa ở nơi đến đã tác động đến
việc người tiêu dùng lựa chọn các thuộc tính cảnh quan, bầu không khí, sự sống động
và sự thân thiện, hiếu khách của cộng đồng dân cư bản địa trở thành những thuộc tính
quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của TNDL văn hóa ở một điểm đến.
5.2.2. Đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính
của tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
Phân tích thống kê đánh giá của 558 KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc
tính của TNDL văn hóa ở Việt Nam đã cho thấy rằng, phần lớn các thuộc tính của
TNDL văn hóa ở Việt Nam chỉ được KDL quốc tế đánh giá sức hấp dẫn ở mức trung
bình. Trong đó có 3 thuộc tính mà KDL quốc tế đánh giá có sức hấp dẫn dưới trung
bình là: Cảnh quan xung quanh TNDL văn hóa ở Việt Nam (mean = 1,75); sự đáp ứng
các nhu cầu đa dạng từ KDL của TNDL văn hóa ở Việt Nam (mean = 2,34) và Phong
tục, lối sống của người dân bản địa xung quanh TNDL văn hóa (mean = 2,73). Kết quả
đánh giá sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở Việt Nam được thể hiện như sau:
124
Bảng 5.4. Đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
Mean
Thuộc tính được đánh giá
Std. Deviation
XẾP HẠNG
1
3,25
0,434
2
3,20
0,037
3
3,20
0,386
4
3,20
0,401
5
3,14
0,268
6
3,13
0,160
7
3,09
0,398
Sức hấp dẫn từ thuộc tính sự nổi tiếng của TNDL văn hóa ở Việt Nam Sức hấp dẫn từ thuộc tính bầu không khí tâm lý xung quanh TNDL văn hóa ở Việt Nam Sức hấp dẫn từ thuộc tính vẻ đẹp của TNDL văn hóa ở Việt Nam Sức hấp dẫn từ thuộc tính độc đáo của TNDL văn hóa ở Việt Nam Sức hấp dẫn từ thuộc tính sự đa dạng các loại hình TNDL văn hóa ở Việt Nam Sức hấp dẫn từ thuộc tính sự nguyên vẹn của TNDL văn hóa ở Việt Nam Sức hấp dẫn từ thuộc tính sống động của TNDL văn hóa ở Việt Nam
8
3,05
0,496
Sức hấp dẫn từ thuộc tính sự thuận lợi trong tiếp cận với TNDL văn hóa ở Việt Nam
9
2,83
0,321
10
2,73
0,266
11
2,34
0,445
Sức hấp dẫn từ thuộc tính số lượng TNDL văn hóa ở Việt Nam Sức hấp dẫn từ thuộc tính phong tục, lối sống người địa phương xung quanh TNDL văn hóa ở Việt Nam Sức hấp dẫn từ thuộc tính sự phù hợp với nhu cầu của KDL quốc tế của TNDL văn hóa ở Việt Nam
12
1,91
0,295
13
1,75
0,278
Sức hấp dẫn từ thuộc tính sự thân thiện, hiếu khách của người địa phương xung quanh TNDL văn hóa ở Việt Nam Sức hấp dẫn của thuộc tính vẻ đẹp cảnh quan xung quanh TNDL văn hóa ở Việt Nam
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả
Nhìn vào bảng xếp hạng trên có thể thấy các thuộc tính sự nổi tiếng, sự độc đáo, vẻ đẹp của tài nguyên và bầu không khí văn hóa xung quanh tài nguyên được KDL
quốc tế đánh giá ở mức hấp dẫn cao trong khi các thuộc tính về sự thỏa mãn nhu cầu của KDL văn hóa và cảnh quan xung quanh khu vực tài nguyên lại bị xem là ít hấp
125
dẫn. Kết quả này có một số điểm khác biệt so với khi KDL quốc tế xác định mức độ
quan trọng của các tiêu chí hấp dẫn. Trong khi ở phần đánh giá mức độ quan trọng của các tiêu chí, sự nổi tiếng và vẻ đẹp của TNDL văn hóa được xem là ít quan trọng nhất
đối với khách thì ở phần đánh giá sức hấp dẫn, hai thuộc tính này lại được khách đánh
giá ở mức hấp dẫn cao nhất. Điều này có lẽ là vì sự thiếu thông tin của KDL quốc tế về các giá trị danh tiếng, vẻ đẹp của TNDL văn hóa trước khi đến Việt Nam, do đó, KDL
đã không đặt ra những tiêu chí này khi lựa chọn điểm đến Việt Nam. Nhưng khi đã đến và đã trải nghiệm rõ hơn các giá trị hấp dẫn của TNDL văn hóa thì KDL quốc tế đã
cảm nhận được đầy đủ và có những đánh giá tích cực hơn về sức hấp dẫn của các
thuộc tính này. Ngược lại, trong khi đặt các tiêu chí về tính nguyên gốc, nguyên vẹn và cảnh quan xung quanh ở mức độ quan trọng nhất khi lựa chọn TNDL văn hóa ở Việt
Nam thì khi trải nghiệm thực tế, KDL lại đánh giá mức độ hấp dẫn của các thuộc tính này rất thấp, thậm chí, thuộc tính cảnh quan xung quanh khu vực TNDL văn hóa còn
bị đánh giá ở mức độ không hấp dẫn và thấp nhất trong bảng xếp hạng. Điều này phản ánh thực tế về sự kỳ vọng và chưa thỏa mãn sự kỳ vọng của KDL quốc tế đối với sự nguyên gốc, nguyên vẹn của TNDL văn hóa và vẻ đẹp của cảnh quan xung quanh
TNDL văn hóa ở Việt Nam.
Các kết quả nghiên cứu về xếp hạng mức độ quan trọng của tiêu chí và đánh giá của KDL quốc tế về sự hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở Việt Nam như
phân tích ở trên là một đóng góp rất quan trọng của luận án, bởi đây sẽ là cơ sở để các nhà quản lý, các doanh nghiệp du lịch hiểu rõ hơn về đặc điểm sở thích, nhu cầu, cảm nhận và đánh giá của KDL quốc tế về các chương trình DLVH, TNDL văn hóa khi đến du lịch Việt Nam. Sự hiểu biết này sẽ giúp cho việc xây dựng các nội dung quảng bá, giới thiệu về điểm đến, về tài nguyên, về sản phẩm DLVH cũng như thiết kế các chương trình trải nghiệm tại các điểm đến phù hợp với sở thích, tiêu chí của KDL.
5.3. Gợi ý đối với phát triển du lịch dựa vào tài nguyên văn hóa ở Việt Nam
5.3.1. Khái quát về du lịch văn hóa và tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
Dựa vào TNDL văn hóa để phát triển là mục tiêu quan trọng của phát triển du
lịch bền vững ở Việt Nam. Quan điểm này được thể hiện trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến 2020 và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến
2020 (do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 2473/QĐ-TTg và Quyết định số 201/QĐ-TTg). Trên cơ sở nội dung đã được nêu trong Chiến lược và Quy hoạch nói trên và phân tích các vấn đề thực tiễn, tác giả rút ra những đặc điểm cơ bản
của phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam như sau:
126
Thứ nhất, toàn cầu hóa đang là một xu thế tất yếu khách quan của thế giới đương đại và dù muốn hay không, mọi quốc gia dân tộc, mọi nền văn hóa đều chịu sự tác động của quá trình ấy. Xét về về bản chất, xu thế này tạo ra những ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực đối với sự phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam.
Về mặt tích cực, toàn cầu hóa là những nguyên nhân của sự tăng trưởng DLVH, là động lực thúc đẩy sự giao lưu, tăng cường quảng bá sản phẩm văn hóa, sản phẩm du
lịch. Sự phát triển của khoa học, cộng nghệ, kinh tế, cũng như quá trình đô thị hóa, di dân tự do đã làm gia tăng nhu cầu và khả năng tìm hiểu những giá trị truyền thống, độc
đáo, mới lạ mang tính bản sắc ở những điểm đến du lịch. Ngày càng có nhiều KDL quốc tế coi văn hóa là động lực, mục đích chính cho những chuyến du lịch của mình
tới các quốc gia. Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hóa kinh tế và cải cách xã hội trên
thế giới cũng đang làm cho các quốc gia, dân tộc xích lại gần nhau hơn. Việc thông tin, quảng bá về các giá trị, sản phẩm văn hóa đặc sắc cũng sẽ dễ dàng và nhanh chóng hơn bằng nhiều hình thức, nội dung và phương tiện truyền thông. Một khía cạnh khác, mối quan tâm của KDL văn hóa với các giá trị văn hóa truyền thống sẽ có thể kích
thích sự phục hồi của văn hóa bản địa.
Về mặt tiêu cực, toàn cầu hóa cũng đang làm cho ranh giới văn hóa giữa các quốc gia trở bị xóa nhòa, trờ nên mờ nhạt và mong manh hơn. Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại tự do, tăng trưởng và phát triển kinh tế làm cho các quốc gia phụ thuộc
lẫn nhau nhiều hơn và điều này có thể làm biến đổi lối sống, phong tục, văn hóa của một số cộng đồng . Các ảnh hưởng từ bên ngoài có thể làm xuất hiện những mô hình mới, yếu tố mới trong cơ cấu xã hội của một nền văn hóa. Chẳng hạn như xã hội nam tính trước đây có thể trở nên nữ tính hơn. Nhiều cơ hội tiếp xúc, làm việc ở bên ngoài có thể khiến cho các thế hệ trẻ không còn muốn tham gia vào các nghề nghiệp truyền thống ở địa phương. Do vậy, việc phát triển du lịch dựa vào TNDL văn hóa cần phải xác định rõ vai trò khai thác, phát huy nhưng phải gắn với bảo vệ những giá trị truyền
thống, cốt lõi, tạo ra một “biên giới mềm” của Việt Nam với các nước khác. Bởi nếu
không xác định được đúng vị trí của mình, phát triển DLVH đôi khi sẽ khiến cho những vấn đề tiêu cực càng trở nên mạnh mẽ hơn và sẽ dần khiến cho TNDL văn hóa
của Việt Nam mất đi sức hấp dẫn lâu bền.
Thứ hai, Việt Nam có hệ thống TNDL văn hóa khá đa dạng về số lượng, quy mô, thể loại, hình thức biểu hiện. Tuy nhiên, TNDL văn hóa của Việt Nam chưa có sức hấp dẫn cao về giá trị nổi bật, tính độc đáo, sự nổi tiếng, vẻ đẹp cảnh quan xung quanh các khu vực TNDL văn hóa. Đồng thời, chưa được đánh giá cao ở các giá trị hấp dẫn như: sự thân thiện của người dân đối với khách du lịch, bầu không khí văn
127
hóa ở khu vực TNDL văn hóa, sự thể hiện sống động của TNDL văn hóa trong đời sống của cộng đồng
Với bề dày lịch sử 4.000 năm, Việt Nam còn giữ được nhiều di sản văn hóa,
kiến trúc có giá trị, trở thành lợi thế để phát triển du lịch và tiềm năng để đa dạng hóa các sản phẩm, loại hình DLVH. Theo thống kê của Cục di sản văn hóa, tính đến nay, Việt Nam có 2 di sản thiên nhiên thế giới là: Vịnh Hạ Long (1994), Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (2003), 1 di sản thiên nhiên và văn hóa là Quần thể danh thắng Tràng An (2014); 14 di sản văn hóa thế giới, trong đó có 5 di sản vật thể là: Cố đô Huế (1993), Phố cổ Hội An (1999), Khu di tích Mỹ Sơn (1999), Hoàng thành Thăng Long (2010), Thành nhà Hồ (2011); 9 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO cộng nhận là di sản thế giới gồm: Nhã nhạc cung đình Huế (2003), Không gian văn hóa
cồng chiêng Tây Nguyên (2005), Quan họ Bắc Ninh (2009), Ca Trù (2009), Hội Gióng (2010), Hát Xoan (2011), Tín ngưỡng thờ Hùng Vương (2012), Đờn ca Tài tử Nam Bộ, Ví dặm Nghệ tĩnh; 03 di sản được công nhận là Di sản tư liệu của thế giới gồm: Mộc bản triều Nguyễn, Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và Bia tiến sĩ Văn Miếu (Hà Nội) và Cao nguyên đá Đồng Văn là thành viên của Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu (GGN - Global Geopark Network). Bên cạnh đó, với bề dày lịch sử và sự đa dạng về văn hóa của 54 dân tộc, chúng ta có hàng chục ngàn di sản văn hóa vật thể (62 di tích
quốc gia đặc biệt, 3.150 di tích quốc gia, 5.347 di tích cấp tỉnh), hàng triệu di vật, cổ vật có giá trị (đang được bảo quản, trưng bày tại hệ thống 125 bảo tàng) và một hệ thống dày đặc các lễ hội (7966 lễ hội, trong đó có 7039 lễ hội quốc gia), phong tục tập
quán, nghệ thuật trình diễn, làng nghề thủ công, văn hóa ẩm thực, trang phục…phân bố khá đồng đều trên khắp các vùng miền (Trung tâm thông tin du lịch, 2015 trích theo nghiên cứu của Đào Minh Ngọc và cộng sự năm 2016).
Những số liệu thống kê nói trên đã minh chứng cho giá trị hấp dẫn từ sự đa
dạng về thể loại, số lượng, hình thức biểu hiện của TNDL văn hóa ở Việt Nam. Tuy
nhiên, các kết quả nghiên cứu của luận án cũng đã cho thấy rằng KDL quốc tế đánh
giá ở mức không cao các thuộc tính thu hút của TNDL văn hóa của Việt Nam. Cả 11
thuộc tính đều chỉ được đánh giá ở mức độ trung bình. Đặc biệt, những thuộc tính như:
cảnh quan xung quanh khu vực TNDL văn hóa, sự thỏa mãn nhu cầu đa dạng của
KDL về văn hóa, sự sống động, giá trị đặc sắc, độc đáo, nổi bật của TNDL văn hóa
còn bị đánh giá ở mức dưới trung bình, nghĩa là không có sự hấp dẫn đối với KDL quốc tế (xem thêm bảng 5.2). Kết quả này đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn những giá trị
và mức độ hấp dẫn của TNDL văn hóa ở Việt Nam đối với KDL quốc tế. Đây là cơ sở
để các nhà quản lý du lịch và các bên liên quan xác định những điểm mạnh, điểm yếu
128
nhằm phát huy tốt hơn những thế mạnh và khắc phục những điểm còn hạn chế của
DLVH ở Việt Nam.
Thứ ba, tuy có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch dựa vào TNDL văn hóa nhưng năng lực quản lý, khai thác, phát triển sản phẩm văn hóa còn hạn chế. Do đó, mặc dù phát triển du lịch văn hóa luôn được xem là một nhiệm vụ trọng tâm của du lịch quốc gia nhưng sự phát triển này thực sự chưa mang lại hiệu quả tốt, thiếu tính bền vững và sức cạnh tranh của sản phẩm thấp hơn so với các nước trong khu vực.
Nguyên nhân trước tiên là do năng lực quản lý còn hạn chế, thụ động, thiếu sự
phối hợp đồng bộ dẫn đến hiệu quả quản lý thấp. Cơ quan, doanh nghiệp làm du lịch
chưa biết khai thác giá trị văn hóa để làm gia tăng giá trị cho sản phẩm du lịch. Khai
thác DLVH chưa thực sự gắn với bảo tồn di sản, phát triển tài nguyên. Việc thương
mại hóa tràn lan trong khai thác đã khiến cho nhiều di sản bị biến đổi, mất đi các giá
trị độc đáo, đặc sắc. Ở một số địa phương, người dân đã thay đổi hành vi, tập quán để
phù hợp với thị trường, dẫn đến mất đi giá trị bản sắc và trở nên không còn hấp dẫn
đối với KDL. Ngược lại cơ quan văn hóa và một số địa phương chưa thấy rõ được
những tác động tích cực từ sự phát triển du lịch đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị
văn hóa. Một số cộng đồng đã “bảo vệ” TNDL văn hóa bằng cách cố gắng hạn chế sự
tiếp cận của KDL quốc tế với TNDL văn hóa. Một vài ý kiến còn cho rằng, bảo tồn di
sản nghĩa là phải cách ly di sản với cuộc sống hiện đại và vì thế đã làm mất đi tính
sống động, sự tồn tại lâu bền của tài sản. Đây cũng là một trong những thuộc tính của
TNDL văn hóa ở Việt Nam mà KDL quốc tế đánh giá là chưa hấp dẫn.
Nguyên nhân thứ hai của sự thiếu hấp dẫn từ sản phẩm DLVH ở Việt Nam đối
với KDL quốc tế đó là do sự hạn chế của công tác nghiên cứu thị trường. Kết quả của
nghiên cứu này đã cho thấy, KDL văn hóa có những đặc điểm tâm lý, hành vi tiêu
dùng khác biệt so với KDL tham gia các hoạt động du lịch khác. Nhu cầu, đặc điểm
tiêu dùng của KDL văn hóa đa dạng, phong phú hơn, xu hướng tiêu dùng sản phẩm
DLVH cũng thay đổi nhanh chóng hơn. Do đó, nếu như không có những nghiên cứu
thường xuyên, chuyên sâu về đặc điểm hành vi và những yếu tố ảnh hưởng tới hành vi,
sở thích của các thị trường KDL văn hóa (chẳng hạn như khoảng cách văn hóa quốc
gia trong nghiên cứu này) thì rất khó để có thể xác định được các chiến lược, định
hướng phát triển, xây dựng sản phẩm DLVH phù hợp. Hiện tại, việc quy hoạch và
định hướng chiến lược phát triển DLVH thường căn cứ trên cơ sở và điều kiện tồn tại
của TNDL văn hóa chứ ít định hướng, xuất phát từ nhu cầu, đặc điểm của thị trường.
129
Nguyên nhân tiếp theo là do sự hạn chế trong khai thác TNDL văn hóa, tổ chức
các chương trình, sản phẩm DLVH. Hầu hết những giá trị hấp dẫn của TNDL văn hóa
ở Việt Nam mới chỉ được đưa vào sản phẩm theo hướng dàn trải, khai thác tối đa. Việc
phát triển các sản phẩm du lịch dựa vào TNDL văn hóa ở Việt Nam chưa có sự chọn
lọc, nghiên cứu để tạo ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của mỗi đoạn thị
trường khác nhau. Rõ ràng, không phải cứ đưa vào chương trình thật nhiều tài nguyên
có giá trị văn hóa cao là có thể thu hút được nhiều KDL. Kết quả nghiên cứu của luận
án này cũng đã cho thấy, KDL tới từ các quốc gia khác nhau sẽ có những sở thích,
nhận định khác nhau về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa. Vấn đề của các nhà làm du
lịch đó là phải làm sao hiểu được sở thích, nhận định đó để có thể xây dựng, phát triển
các chương trình phù hợp với mỗi thị trường.
Một hạn chế nữa đó là việc chưa có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa
phương trong phát triển du lịch dựa vào TNDL văn hóa. Ở nhiều khu vực, các giá trị
văn hóa bản địa được sử dụng phát triển du lịch nhưng cộng đồng địa phương không
được tham gia hoặc không được hưởng lợi phù hợp. Đời sống của người dân còn gặp
nhiều khó khăn, vì thế họ không ủng hộ cho sự phát triển của hoạt động du lịch. Thậm
chí ở nhiều nơi, để cải thiện cuộc sống, người dân sẵn sàng phá bỏ đi những công
trình, di tích có giá trị văn hóa, lịch sử vô cùng lớn và có thái độ thiếu thân thiện đối
với KDL. Đây chính là một trong những nguyên nhân của việc khách đánh giá các
thấp các thuộc tính sự thân thiện, hiếu khách của người dân đối với KDL, bầu không
khí văn hóa ở điểm đến, sự thể hiện sống động của TNDL văn hóa trong lối sống của
cộng đồng dân cư bản địa.
5.3.2. Một số gợi ý đối với sự phát triển du lịch dựa vào tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
Từ kết quả nghiên cứu và những phân tích về đặc điểm phát triển DLVH ở Việt
Nam, tác giả xin nêu ra một số gợi ý đối với sự phát triển du lịch dựa vào TNDL văn
hóa ở Việt Nam.
5.3.2.1. Gợi ý đối với các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và văn hóa
Thứ nhất, cần xác định rõ mục đích, chính sách và mục tiêu quản lý nhà nước
về du lịch văn hóa
Phân tích chuyên sâu về các góc độ khác nhau trong đặc điểm của phát triển
DLVH ở Việt Nam, tác giả thấy rằng, các mục tiêu quản lý nhà nước trong phát triển
DLVH hiện tại chưa được xác định rõ ràng dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong quy hoạch,
130
đầu tư, phát triển. Do đó, các nhà quản lý cần xác định rõ những mục đích, chính sách
và mục tiêu quản lý hoạt động du lịch dựa vào TNDL văn hóa của Việt Nam để có thể
trở thành định hướng cho toàn bộ các hoạt động từ cấp quốc gia cho đến các địa
phương. Mục đích, chính sách phù hợp và được quán triệt tuân thủ ở tất cả các bên liên
quan sẽ là cơ sở để thực hiện tốt các nhiệm vụ quản lý khác. Trên cơ sở mục đích,
chính sách có tính bao quát chung, mục tiêu quản lý lại cần cụ thể, chi tiết và phù hợp
với từng nội dung chính sách và bối cảnh quản lý. Các mục tiêu phải được lượng hóa
chi tiết để có thể đánh giá được mức độ hoàn thành. Một số đề xuất mục tiêu đó là:
+ Phát triển DLVH phải được là một định hướng trọng tâm cho sự phát triển
bền vững của du lịch ở Việt Nam.
+ Phát triển DLVH phải đảm bảo khai thác có hiệu quả, phát huy được thế
mạnh của TNDL văn hóa ở Việt Nam; mọi hoạt động khai thác, phát triển TNDL văn
hóa phải đảm bảo phù hợp với bối cảnh văn hóa, lịch sử, môi trường tự nhiên, xã hội
của khu vực.
+ Phát triển DLVH phải trên cơ sở đảm bảo quyền lợi công bằng cho tất cả các
bên tham gia. Đặc biệt quan tâm tới việc tạo dựng và duy trì việc làm, thu nhập cho
người dân và sự phát triển của địa phương.
+ Phát triển du lịch dựa vào TNDL văn hóa phải được xem là cơ hội để giới
thiệu văn hóa Việt Nam với thế giới, khuyến khích lòng tự hào dân tộc, từ hào về các
giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của Việt Nam; tôn trọng sự khác biệt về mặt văn
hóa giữa các dân tộc.
+ Phát triển DLVH là cơ hội để giáo dục du khách và các đối tượng có liên
quan hướng tới một mục đích chung là bảo tồn, giữ gìn, phát triển các giá trị đặc sắc,
độc đáo của văn hóa; tôn trọng và thỏa mãn phù hợp những nhu cầu đa dạng, khác biệt
của KDL quốc tế; tôn trọng và có ý thức bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường xã
hội và những giá trị truyền thống tốt đẹp của Việt Nam.
Thứ hai, đặt mục tiêu khôi phục, bảo tồn giá trị TNDL văn hóa là trọng tâm, hàng đầu trong các định hướng, chiến lược phát triển du lịch dựa vào TNDL văn hóa của Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã cho thấy, KDL quốc tế xác định tiêu chí về
sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở Việt Nam quan tâm đầu tiên tới các giá trị: tính
nguyên gốc của tài nguyên, sự nguyên vẹn của tài nguyên và giá trị độc đáo của TNDL
131
văn hóa. Do đó, bảo tồn, khôi phục giá trị nguyên gốc của TNDL văn hóa chính là một
việc làm cơ bản để có thể có được những sản phẩm du lịch đặc sắc, độc đáo mang bản
sắc văn hóa Việt Nam. Các gợi ý cơ bản bao gồm:
+ Hoàn chỉnh và thống nhất hệ thống các chính sách, văn bản, quy định về công
tác bảo tồn, khôi phục và quản lý các di sản văn hóa ở Việt Nam.
+ Thực hiện đồng bộ các bản chiến lược bảo tồn, quy hoạch bảo tồn nhằm đảm
bảo tính phân cấp, phù hợp với các loại hình TNDL văn hóa khác nhau.
+ Tăng cường quyền lợi, trách nhiệm của các bên tham gia hoạt động bảo tồn,
khôi phục, phát huy giá trị của TNDL văn hóa.
+ Đầu tư cho chuyên môn nhằm hướng tới việc các bên tham gia đều có hiểu
biết đúng đắn về nhiệm vụ bảo tồn, khôi phục giá trị di sản.
Thứ ba, nâng cao vai trò và trách nhiệm tham gia của các bên liên quan, đặc biệt là cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch dựa vào TNDL văn hóa theo
định hướng bền vững
Kết quả phân tích cho thấy sự hình thành của những nhân tố mới đặc biệt là
nhân tố có liên quan đến việc đánh giá sức hấp dẫn từ các thuộc tính cảnh quan, bầu
không khí văn hóa, sự thân thiện, hiếu khách của cộng đồng dân cư bản địa ở khu vực
TNDL văn hóa đối với KDL. Điều này phù hợp với sự thay đổi của tiêu dùng DLVH.
Sự gia tăng của nhu cầu tìm hiểu những giá trị bản sắc, khác biệt trong bối cảnh toàn
cầu hóa văn hóa, mong muốn trải nghiệm các giá trị văn hóa và thể hiện, thỏa mãn bản
thân đã thay thế cho nhu cầu hưởng thụ vật chất (OECD, 2009). Tiêu dùng văn hóa
cũng đã chuyển từ bị động (tham quan, tìm hiểu các giá trị văn hóa) sang chủ động
(tìm kiếm sự hiểu biết sâu hơn về văn hóa, hòa mình vào văn hóa bản địa ở nơi đến,
trở thành một thành phần của sản phẩm DLVH) (Boniface, 2003; Isaac, 2008;
Richards, 2007). Người tiêu dùng có xu hướng tích hợp các thuộc tính cảnh quan, bầu
không khí, sự sống động và sự hiếu khách của cộng đồng dân cư bản địa trở thành
những thuộc tính quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của TNDL văn hóa ở một điểm đến.Vì
vậy, việc người dân tham gia vào các hoạt động phát triển du lịch ở địa phương, tạo
dựng bầu không khí văn hóa, cảnh quan văn hóa và sự thân thiện với KDL là một
trong những điều kiện cơ bản để gia tăng giá trị hấp dẫn của TNDL văn hóa. Ở một
khía cạnh khác, hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị của TNDL văn hóa thông qua hoạt
động du lịch đòi hỏi có sự phối hợp của tất cả các bên liên quan, đặc biệt, đối với phát
triển du lịch dựa vào TNDL văn hóa nhất thiết phải có sự phối hợp của cộng đồng địa
132
phương. Bởi lẽ, cộng đồng địa phương là người có vai trò quyết định sự tồn tại sống
động, bền vững của di sản văn hóa và đây chính là cơ sở tạo nên sức hấp dẫn của
TNDL văn hóa đối với KDL quốc tế. Các gợi ý cơ bản bao gồm:
+ Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước, sự phối hợp giữa các cơ quan trong
phát triển du lịch gắn với TNDL văn hóa nhằm đảm bảo có sự điều phối, định hướng
của các tổ chức nhà nước trong phát triển du lịch và phân chia lợi ích phù hợp, đặc biệt
là lợi ích đối với cộng đồng địa phương.
+ Tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp trong bảo tồn, phát huy giá trị
TNDL văn hóa phục vụ du lịch; Xây dựng các chế tài, quy định phù hợp nhằm bắt
buộc hoặc khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm khi khai thác TNDL
văn hóa phục vụ mục tiêu kinh doanh; khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện trách
nhiệm xã hội và kinh tế đối với cộng đồng dân cư bản địa.
+ Tăng cường sự phối hợp và chia sẻ lợi ích phù hợp cho cộng đồng địa
phương; ban hành các văn bản, quy chế để đảm bảo người dân sẽ thực hiện tốt công
tác bảo tồn, khôi phục giá trị TNDL văn hóa; giữ gìn bầu không khí văn hóa tại địa
phương; Hỗ trợ người dân nâng cao năng lực thực hiện các hoạt động phát triển du lịch
tại địa phương đồng thời có thái độ phù hợp với KDL quốc tế.
Thứ tư, chú trọng công tác nghiên cứu thị trường khách du lịch văn hóa; xác định những đặc điểm cơ bản của từng thị trường từ đó xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lược, chính sách phù hợp để khai thác có hiệu quả, lâu dài các thị trường mục tiêu
Một trong những hạn chế của phát triển DLVH ở Việt Nam hiện nay đó là sự
hiểu biết chưa đầy đủ về đặc điểm của các thị trường KDL văn hóa ở cả hai nhóm đại
chúng và chuyên biệt. Chính sự hạn chế này dẫn tới việc các sản phẩm DLVH của
Việt Nam thiếu đi sức hấp dẫn đối với khách. Trong kết quả của luận án, ở phần đánh
giá mức độ hấp dẫn, thuộc tính thỏa mãn được nhu cầu đa dạng của KDL văn hóa
cũng được xếp hạng ở mức độ thấp nhất và bị đánh giá là không hấp dẫn. Điều này
phản ánh thực tế rằng, tài nguyên, sản phẩm DLVH của Việt Nam chưa đáp ứng được
nhu cầu đa dạng của KDL quốc tế.
Thông qua những phân tích của đề tài, có thể thấy rằng, đặc điểm sở thích, tiêu
chí và đánh giá của KDL quốc tế về TNDL văn hóa chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố
trong đó, khoảng cách văn hóa quốc gia là một yếu tố có ảnh hưởng rất mạnh mẽ. Tuy
nhiên, không phải khoảng cách văn hóa quốc gia có ảnh hưởng tới tất cả các tiêu chí
133
và đánh giá của KDL quốc tế. Trong nghiên cứu này, khoảng cách văn hóa quốc gia có
ảnh hưởng khá đáng kể đến các thuộc tính mang tính trừu tượng nhưng lại không có
ảnh hưởng đến những thuộc tính mang tính cụ thể của TNDL văn hóa. Điều này được
giải thích rằng đối với một số thuộc tính mang tính chất cụ thể như số lượng tài
nguyên, số lượng loại hình tài nguyên, sự dễ dàng trong tiếp cận tới tài nguyên thì
KDL hoàn toàn có thể tìm hiểu được qua các phương tiện thông tin, truyền thông, vì
thế, việc xác định các tiêu chí sức hấp dẫn từ các thuộc tính mang tính cụ thể của
TNDL văn hóa có thể được hình thành từ việc thu thập thông tin hay các yếu tố cá
nhân khác mà không chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố khoảng cách văn hóa quốc gia.
Ngược lại, đối với các thuộc tính mang tính trừu tượng như sự độc đáo, vẻ đẹp, sự nổi
tiếng, tính sống động, sự phù hợp với nhu cầu du lịch, sự thú vị của phong tục tập
quán, sự dễ chịu trong sự thân thiện, hiếu khách của người bản địa thì việc cảm nhận,
đánh giá về các giá trị thuộc tính phụ thuộc khá nhiều vào quan điểm của mỗi du
khách trong mối liên hệ với những đặc điểm về xã hội, tâm lý và văn hóa cá nhân
riêng của họ. Các yếu tố thông tin sẽ khó có thể phản ánh được đầy đủ các giá trị hấp
dẫn trừu tượng này, vì vậy mà, các yếu tố khoảng cách văn hóa quốc gia có ảnh hưởng
mạnh mẽ tới nhận thức về những tiêu chí và đánh giá về sức hấp dẫn từ các thuộc tính
trừu tượng của TNDL văn hóa ở điểm đến theo như kết quả phân tích là hoàn toàn hợp
lý. Kết quả này cung cấp gợi ý về việc thực hiện các chiến lược truyền thông, quảng bá
nhằm giới thiệu các giá trị của TNDL văn hóa phù hợp.
Sự khác biệt trong việc xác định tiêu chí và đánh giá về sức hấp dẫn từ các
thuộc tính TNDL văn hóa của KDL đến từ các quốc gia có khoảng cách văn hóa quốc
gia khác nhau đối với Việt Nam đã giúp hiểu rõ về một yếu tố có ảnh hưởng tới nhận
thức và hành vi của người tiêu dùng. Những hiểu biết này sẽ giúp chúng ta có thể tạo
ra những sản phẩm, chương trình, kế hoạch tiếp cận, quảng bá phù hợp với từng thị
trường. Do đó, cần chú trọng, đầu tư mạnh mẽ hơn cho những nghiên cứu mang tính
chuyên sâu về đặc điểm thị trường, hành vi và các yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức và
hành vi của KDL văn hóa ở các thị trường trọng điểm mà du lịch Việt Nam hướng tới.
Các nghiên cứu thị trường cần phải được thực hiện trên cơ sở phối hợp đồng bộ, thống
nhất và có phân cấp giữa các tổ chức thuộc cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, về
văn hóa và các tổ chức, doanh nghiệp có liên quan. Điều này sẽ tạo ra sự thống nhất
trong các thông tin về thị trường và tránh được sự lãng phí nguồn lực, thông tin và tài
chính. Đồng thời, các kết quả nghiên cứu phải được xem như là căn cứ quan trọng để
134
xây dựng quy hoạch, chiến lược, định hướng phát triển DLVH nhằm đảm bảo yếu tố
phù hợp với các thị trường trọng điểm của Việt Nam.
5.3.2.2. Gợi ý đối với nhà kinh doanh du lịch
Đối với các doanh nghiệp du lịch, sức hấp dẫn của TNDL văn hóa là một trong
những yếu tố cốt lõi để doanh nghiệp tạo ra sản phẩm du lịch. Kết quả của luận án đã
cho thấy những sự khác biệt nhau trong nhận thức về sức hấp dẫn của KDL tới từ các
quốc gia có đặc điểm văn hóa khác biệt nhau. Do đó, nếu không có sự hiểu biết rõ về
đặc điểm hành vi, nhu cầu, sở thích của từng nhóm đối tượng khách hàng khác nhau
nhằm cùng cấp các sản phẩm, hình thức trải nghiệm du lịch di sản văn hóa phù hợp thì
các doanh nghiệp sẽ lại tiếp tục câu chuyện sản phẩm “trùng lắp”, hình thức “đơn
điệu” và chắc chắn về lâu dài, sức hấp dẫn của du lịch văn hóa ở Việt Nam sẽ ngày
một giảm dần và doanh nghiệp cũng khó có thể phát triển bền vững. Từ kết quả nghiên
cứu của đề tài, tác giả xin đề xuất một vài gợi ý đối với các nhà kinh doanh du lịch ở
Việt Nam như sau:
Thứ nhất, bản thân các nhà kinh doanh du lịch cần chú trọng hơn tới công tác
nghiên cứu, phân đoạn thị trường KDL văn hóa để có thể hiểu biết rõ về đặc điểm,
hành vi, sở thích, mục đích của từng nhóm KDL. Đây sẽ là cơ sở căn bản để doanh
nghiệp xây dựng các chương trình quảng cáo, xúc tiến, tạo ra các các sản phẩm du lịch
văn hóa phù hợp với nhu cầu của mỗi thị trường. Có thể vận dụng các kết quả nghiên
cứu của các tác giả đã công bố để ứng dụng trong trong phân tích thị trường KDL văn
hóa đến Việt Nam.
Thứ hai, doanh nghiệp cần tìm các phương thức để đa dạng hóa hình thức tham
quan, trải nghiệm du lịch tại các điểm văn hóa; thiết kế các sản phẩm phù hợp với đặc
điểm hành vi tiêu dùng của khách hàng mục tiêu. Theo đánh giá chung, các hình thức
trải nghiệm tài nguyên văn hóa của Việt Nam còn khá đơn điệu, trùng lặp, không phát
huy được thế mạnh của mỗi vùng miền. Do đó, bên cạnh sự hỗ trợ từ phía các cơ quan
quản lý nhà nước về du lịch trong công tác quy hoạch, phát triển, đa dạng hóa sản
phẩm, bản thân mỗi doanh nghiệp cũng phải luôn tìm ra phương cách để có thể phát
huy được thế mạnh riêng, tạo ra những trải nghiệm sâu sắc, nâng cao chất lượng và đa
dạng hóa các sản phẩm du lịch, gia tăng tính hấp dẫn của các sản phẩm du lịch văn hóa
do doanh nghiệp cung cấp.
Thứ ba, doanh nghiệp cần đặt mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du
lịch là một nhiệm vụ trọng tâm, đóng góp vào việc gia tăng sức hấp dẫn của sản phẩm
135
du lịch văn hóa ở Việt Nam. Về kiến thức, doanh nghiệp cần chuẩn hóa các kiến thức
văn hóa lịch sử, giá trị của tài nguyên văn hóa cho đội ngũ những người tham gia vào
thiết kế, giới thiệu, cung cấp sản phẩm. Về kỹ năng, những bộ phận chuyên môn tại
các doanh nghiệp phải có đủ kỹ năng về quản trị, marketing, phát triển sản phẩm, thiết
kế, điều hành, hướng dẫn cung cấp cho khách du lịch những chương trình du lịch hấp
dẫn. Về nhận thức, thái độ: các doanh nghiệp cũng cần chú trọng tới việc nâng cao
nhận thức của người lao động về giá trị của tài nguyên và tuyên truyền tới người lao
động về lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, tự hào với những giá trị của văn hóa Việt Nam.
Bên cạnh đó, người lao động cần được trang bị ý thức: phục vụ văn minh, lịch thiệp,
hiếu khách, nhiệt tình… Đó là những yếu tố căn bản giúp mang đến cho KDL những
trải nghiệm hài lòng từ đó góp phần làm gia tăng sức hấp dẫn của sản phẩm du lịch,
của điểm đến du lịch Việt Nam.
Thứ tư, cần nâng cao tinh thần trách nhiệm của doanh nghiệp nhằm gắn kết mục
tiêu kinh tế với bảo tồn, phát huy giá trị của tài nguyên văn hóa hướng tới phát triển
bền vững. Bản thân doanh nghiệp phải có trách nhiệm bảo tồn và phát huy giá trị của
tài nguyên văn hóa. Cụ thể là: (1) phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ đóng
góp thuế và các quỹ bảo tồn di sản văn hóa; (2) Thường xuyên tuyên truyền trong nội
bộ doanh nghiệp về ý thức trách nhiệm đối với môi trường, với tài nguyên (3) Phối
hợp với người dân và chính quyền địa phương trong công tác bảo tồn và phát huy giá
trị tài nguyên văn hóa (4) Tạo điều kiện tối đa để người dân địa phương được tham gia
vào phát triển du lịch (5) Lồng ghép các mục tiêu tuyên truyền, kêu gọi khách du lịch
ứng xử văn hóa với các tài nguyên du lịch của Việt Nam (6) Hỗ trợ và tham vấn cho
các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch trong hoạch định các chiến lược phát triển du
lịch văn hóa.
5.4. Hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
5.4.1. Hạn chế của mô hình đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia
Văn hóa là phạm trù đa nghĩa, do đó, việc xác định khoảng cách văn hóa giữa hai quốc gia là khá phức tạp. Việc lựa chọn bất cứ một lý thuyết hay mô hình đo lường
văn hóa nào chắc chắn cũng sẽ có những mặt hạn chế nhất định. Trong đề tài này, tác
giả sử dụng lý thuyết đo lường văn hóa của Hofstede và cách xác định khoảng cách văn hóa quốc gia theo Jackson (2001). Tuy đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về ảnh hưởng của khác biệt văn hóa đến hành vi người tiêu dùng du lịch do ưu điểm của phương pháp này là đơn giản và dễ dàng có thể kết hợp với các
136
dữ liệu định lượng khác nhưng việc sử dụng các chỉ số đo lường có sẵn chắc chắn sẽ
không phản ánh được đầy đủ bối cảnh đa dạng, phức tạp cả về không gian và thời gian của các nền văn hóa, đồng thời, cũng chưa xác định được chính xác quan điểm của
nhóm người tiêu dung du lịch trong bối cảnh cụ thể. Điều này dẫn tới, các kết quả xem
xét mối quan hệ giữa khoảng cách văn hóa quốc gia và việc đánh giá sức hấp dẫn của TNDL văn hóa sẽ có một vài điểm chưa phù hợp với đặc điểm của từng thị trường cụ
thể. Từ hạn chế này, tác giả có những đề xuất cụ thể về hướng nghiên cứu tương lai:
Một là, sử dụng những lý thuyết đo lường văn hóa khác để kiểm định mối quan
hệ và sự khác biệt trong ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia (bằng các cách đo lường khác nhau) tới nhận thức và hành vi của người tiêu dùng du lịch.
Hai là, nếu sử dụng lý thuyết Hofstede thì sẽ sử dụng thang đo của Hofstede
nhưng điều tra trực tiếp ở trong bối cảnh nghiên cứu cụ thể.
5.4.2. Hạn chế khi sử dụng thang đo và phương pháp đo lường đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến khi xác định sức hấp dẫn của những loại hình tài nguyên du lịch văn hóa cụ thể
Mặc dù nghiên cứu đã tổng hợp khá đầy đủ các nghiên cứu trước đây và phỏng vấn định tính để liệt kê, phân loại, xác định các thuộc tính của TNDL văn hóa để xác định tiêu chí và thuộc tính đo lường đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của
TNDL văn hóa ở điểm đến. Tuy nhiên, do chỉ xác định các giá trị, tính chất chung của TNDL văn hóa ở một điểm đến là một quốc gia nên nếu sử dụng thang đo và phương pháp đo lường này ở những loại hình tài nguyên cụ thể thì sẽ có thể sẽ có một số điểm
chưa phù hợp. Vì thế, tác giả đề xuất những nghiên cứu trong tương lai có thể xem xét đến việc xây dựng thang đo lường và phương pháp đo lường nhằm xác định mức độ
hấp dẫn của mỗi loại hình TNDL văn hóa cụ thể để có thể áp dụng phù hợp hơn.
137
TIỂU KẾT CHƯƠNG 5
Chương 5 của đề tài đã tổng hợp và giới thiệu tóm tắt về kết quả nghiên cứu đề tài đã được phân tích ở chương 4, trên cơ sở đó thực hiện thảo luận về những điểm mới
mà luận án đã phát hiện và khẳng định những ý nghĩa thú vị về mặt lý luận và thực
tiễn của đề tài. Những thảo luận và hàm ý được phân tích xoay quanh những điểm mới cơ bản đó là:
- Những điểm mới về phương pháp và nhân tố đo lường đánh giá của KDL quốc
tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến
- Những điểm mới về ảnh hưởng của các yếu tố khoảng cách văn hóa quốc gia tới
đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Từ kết quả lý luận và thực tiễn đã được phân tích, chương 5 của luận án cũng đã thể hiện những nội dung đề xuất phù hợp với sự phát triển du lịch dựa vào TNDL văn hóa ở Việt Nam.
Cuối cùng, chương 5 cũng đã thể hiện những bàn luận của tác giả về hạn chế của luận án và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo ở chủ đề này. Trong đó, 2 nhóm hạn
chế về việc sử dụng mô hình và chỉ số đo lường khoảng cách văn hóa quốc gia và hạn chế về việc sử dụng thang đo và phương pháp đo lường sức hấp dẫn của TNDL văn hóa theo các loại hình tài nguyên cụ thể đã được đề cập. Đây là tiền đề cho những
nghiên cứu tiếp theo ở chủ đề này.
138
KẾT LUẬN
Mô hình nghiên cứu của luận án dựa trên nền tảng lý thuyết và chỉ số đo lường văn hóa quốc gia của Hofstede (2010), kết hợp với quá trình tâm lý của cá nhân khi xác định sức hấp dẫn của TNDL. Mục tiêu của luận án là khám phá ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến. Để đạt được mục tiêu trên, luận án đã thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu đó là:
Tổng hợp, điều chỉnh các nhân tố và phương pháp đo lường sức hấp dẫn của TNDL văn hóa qua tiêu chí và đánh giá của KDL làm cơ sở cho việc kiểm định mối quan hệ giữa các nhân tố trong mô hình nghiên cứu.
Kiểm định ảnh hưởng từ khoảng cách của 6 yếu tố văn hóa quốc gia theo lý thuyết Hofstede tới việc đánh giá của KDL quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí và đánh giá về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Kiểm định sự kiểm soát của các yếu tố cá nhân người tiêu dùng du lịch bao gồm độ tuổi, trình độ, thu nhập, kinh nghiệm quá khứ ở điểm đến và động cơ du lịch của khách tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
Những kết quả đóng góp của luận án Bằng việc sử dụng kết hợp nghiên cứu định tính (phương pháp phỏng vấn chuyên gia) và nghiên cứu định lượng (phương pháp điều tra bằng bảng hỏi), luận án đã cho thấy một số điểm mới và ý nghĩa về lý luận và thực tiễn như sau:
+ Kết quả đóng góp về mặt lý luận (1) Luận án đã lựa chọn được cách xác định tiêu chí và thuộc tính đo lường sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến qua đánh giá của KDL quốc tế phù hợp với mục đích nghiên cứu và bối cảnh nghiên cứu. Kết quả phân tích cho thấy khám phá thú vị về sự năng động, thay đổi phù hợp với bối cảnh, đặc trưng của điểm đến khi KDL quốc tế đánh giá sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở những điểm đến khác nhau. Kết quả về sự bổ sung, điều chỉnh tiêu chí và thuộc tính khi KDL đánh giá về sức hấp dẫn của của TNDL văn hóa chính là một đóng góp mới có ý nghĩa về mặt lý luận của luận án.
(2) Luận án đã phát triển được các nhân tố đo lường sức hấp dẫn của TNDL văn hóa qua đánh giá của KDL quốc tế. Việc phân định rõ các nhóm nhân tố sức hấp dẫn mang tính trừu tượng, sức hấp dẫn mang tính cụ thể của TNDL văn hóa và sức hấp dẫn mang tính cảnh quan, bầu không khí xung quanh TNDL văn hóa sẽ tạo ra sự hiểu biết đầy đủ hơn về đặc điểm sở thích, nhu cầu của KDL quốc tế. Kêt quả này là phù hợp và cần thiết để giải thích sâu sắc hành vi tiêu dùng của KDL văn hóa đang có rất nhiều thay đổi so với trước kia. Đặc biệt, trong luận án này, khám phá mới về các nhân tố có liên quan đến các nhóm thuộc tính hấp dẫn: Cụ thể – Trừu tượng – Cảnh quan của
139
TNDL văn hóa là cơ sở cần thiết để tác giả thực hiện kiểm định mối quan hệ của khoảng cách văn hóa quốc gia đến việc xác định tiêu chí và đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến.
(3) Luận án đã xác định được chi tiết ảnh hưởng của mỗi yếu tố khoảng cách văn hóa quốc gia theo mô hình của Hofstede (2010) tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến. Những kết quả phân tích cho thấy chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố khoảng cách văn hóa (Chủ nghĩa cá nhân - CDIDV, Tránh sự rủi ro - CDUAI, Thể hiện đam mê cá nhân - CDIND, Nam tính - CDMAS, Định hướng dài hạn - CDLTO, Khoảng cách quyền lực - CDPDI) tới đánh giá của KDL về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa là rất khác nhau và điều này có những điểm khác biệt so với các nghiên cứu trước đây. Đóng góp này có thể là cơ sở để các nhà nghiên cứu thị trường hiểu rõ hơn về đặc điểm sở thích, hành vi của KDL quốc tế và từ đó ứng dụng trong phân tích thị trường, xây dựng chính sách, chiến lược phù hợp để tiếp thị điểm đến, giới thiệu sản phẩm DLVH hóa ở mỗi thị trường khác nhau.
(4) Luận án đã xác định rõ mỗi nhân tố sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa qua đánh giá của KDL quốc tế sẽ chịu ảnh hưởng khác nhau bởi khoảng cách văn hóa quốc gia. Từ việc xác định được rõ mối quan hệ của khoảng cách văn hóa quốc gia với từng nhân tố đo lường sức hấp dẫn của TNDL văn hóa ở điểm đến, các nhà quản lý điểm đến, kinh doanh du lịch có thể có cơ sở tốt hơn cho việc xây dựng hình ảnh điểm đến hay quảng bá hình DLVH của quốc gia phù hợp với mỗi thị trường.
+ Kết quả đóng góp về mặt thực tiễn
Luận án sử dụng chỉ số Hofstede và công thức của Jackson (2001) nhằm xác định ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn của TNDL văn hóa đã đóng góp một kết quả nghiên cứu mới mẻ đối với sự phát triển thực tiễn của DLVH ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là một nguồn dữ liệu cần thiết hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước trong xây dựng các chính sách, định hướng phù hợp với các thị trường KDL.
Luận án đã tổng hợp và xác định được các thuộc tính nhằm đo lường sức hấp dẫn của TNDL văn hóa đánh giá của KDL quốc tế, phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Kết quả này cũng sẽ là một đóng góp có ý nghĩa rất lớn về mặt thực tiễn bởi lẽ đây là cơ sở để các nhà nghiên cứu thị trường có thể sử dụng làm căn cứ cho các nhiệm vụ nghiên cứu của mình.
Kết quả điều tra đã giúp tác giả xếp hạng mức độ quan trọng của các tiêu chí và đánh giá của KDL quốc tế về sức hấp dẫn từ mỗi thuộc tính của TNDL văn hóa ở Việt Nam. Điều này đã giúp hiểu rõ hơn về sở thích, nhận định của KDL quốc tế đối với sức hấp dẫn của điểm đến Việt Nam, làm cơ sở tham khảo cho các doanh nghiệp lữ hành đa dạng hóa sản phẩm DLVH, các cơ quan quản lý thực hiện quy hoạch DLVH.
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1. Đào Minh Ngọc (2015), “Mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của khác biệt văn hóa đến sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam qua đánh giá của khách du lịch quốc tế”, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế: Kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh trong bối cảnh toàn cầu hóa, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, Tập 1, tr.585-599.
2. Đào Minh Ngọc (2016), “Nghiên cứu sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam qua đánh giá của khách du lịch quốc tế”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: Phát triển du lịch bền vững: vai trò của nhà nước, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, tr.201-214.
3. Đào Minh Ngọc (Chủ nhiệm đề tài), Hoàng Thị Lan Hương, Đồng Xuân Đảm, Nguyễn Thị Quỳnh Trang, Phạm Thị Thu Phương và Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2016), “Sử dụng mô hình văn hóa của Hofstede nghiên cứu sự khác biệt trong
việc đánh giá sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa đối với khách du lịch quốc tế tới Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường ĐHKTQD, Mã KTQD/V2014.19.
4. Đào Minh Ngọc (2016), “Sức hấp dẫn của các di sản văn hóa ở Việt Nam qua đánh giá của khách du lịch quốc tế”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, Số 9 năm 2016, tr.38-39.
5. Đào Minh Ngọc (2017), “Phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, Số 8 năm 2017, tr.21-25.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ahmad, M. A., Jamaluddin, M. R., Alias, M. A., AbdJalil, A. Q. (2014), ‘Destination attractiveness of a theme park: A case study in Malaysia’, Hospitality and Tourism: Synergizing Creativity and Innovation in Research, số 12, tr. 153 - 157.
2. Ahn, M. J. and McKercher, B. (2015), ‘The Effect of Cultural Distance on Tourism: A Study of International Visitors to Hong Kong’, Asia Pacific Journal of Tourism Research, số 20, tập 1, tr. 94–113.
3. Apostolakis, A. (2003), ‘The Convergence Process In Heritage Tourism’, Annals
of Tourism Research, số 30, tr. 795 - 812.
4.
Ariya, G., Wishitemi.B. and Sitati, N. (2017), ‘Tourism Destination Attractiveness as Perceived by Tourists Visiting Lake Nakuru National Park, Kenya’ International Journal of Research in Tourism and Hospitality (IJRTH), số 3, .tr. 1-13.
5. Ark, L. A. V. D and Richards, G (2006), ‘Attractiveness Of Cultural Activities IN European Cities: A Latent Class Approach’, Tourism Management, số 27, tr. 1408 – 1413.
6. Aroch, M. P. R (1984), "Analysis of cultural sights attractiveness for tourism",
The Tourist Review, số 39, tr. 17 – 18.
7.
Bahaudin, G. (2012), ‘Cultural Value And Travel Motivation Of European Tourists’, Journal of Applied Business Research, số 28, tr. 1295–1304.
8.
Baloglu, S. and McCleary, K.W. (1999), ‘A Model of Destination Image Formation’, Annals of Tourism Research, số 35, tr. 11 – 15.
9.
Boniface, P. (2003), Managing Quality Cultural Tourism, New York: Routledge.
10. Boyacigiller, N. (1990), ‘The Role Of Expatriates In The Management Of Interdependence, Complexity, And Risk In Multinational Corporations’, Journal of International Business Studies, số 21, tr. 357–383.
11. Brida, J. G., Meleddu, M. and Pulina, M. (2012), ‘Factors influencing the intention
to revisit a cultural attraction: The case study of the Museum of Modern and Contemporary Art in Rovereto’, Journal of Cultural Heritage, số 13, tr. 167–174.
12. Buafai, T. and Khunon, S. (2016), ‘Relationship between Hofstede’s Cultural Dimensions and Tourism Product Satisfaction’, Internatinal Journal of Social, Behavioral, Educational, Economic, Business and Industrial Engineering, số 10, tr. 2988–2992.
13. Bùi Thanh Hương and Jolliff. E. L (2011), ‘Vietnamese Domestic Tourims: An
Investigation of Travel Motivations’, Aseas Austrian Journal of South – East Asian Studies, số 4, tr. 10 – 29.
14. Bùi Thị Tám và Mai Lệ Quyên (2012), ‘Đánh giá khả năng thu hút khách của
điểm đến Huế’, Tạp chí Khoa học đại học Huế, Số 72B, tr. 295 – 305.
15. Chen, C (2006), ‘Applying the Analytic Hierarchy Process (AHP) Approach to Convention Site Selection’, Journal of Travel Research, số 45, tr. 167-174.
16. Chen, X., Cai, J., Yang, z. And Webster, N. (2014), ‘Set Relationships between
Tourists’ Authentic Perceptions and Authenticity of World Heritage Resources’, Journal of Resources and Ecology, số 5, tr. 20 – 31.
17. Clark, T., and Pugh, D. S. (2001),
‘Foreign Country Priorities In The
internationalization process: a measure and an exploratory test on British firms, International Business Review, số 10, tr. 285-303.
18. Cracolici, M. F. and Nijkamp, P. (2009), ‘The attractiveness and competitiveness tourist destinations: A study of Southern Italian regions’, Tourism
of Management, số 30, tr. 336-344.
19. Crotts, J. and McKercher, B. (2006), ‘The adaptation to cultural distance and its influence on visitor satisfaction: The case of first-time visitors to Hong Kong’, Tourism Analysis, số 10, tr. 385-391.
20. Crotts, J. C. (2004), ‘The Effect of Cultural Distance on Overseas Travel
Behaviors’, Journal of Travel Research, số 43, tr. 83 - 88.
21. Crotts, J. C. and Erdmann, R. (2000),
‘Does national culture influence consumers’ evaluation of travel services? A test of Hofstede’s model of cross- cultural differences’, Managing Service Quality, số 10, tr. 410-419.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12, truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2016, tại: http://dangcongsan.vn/tu-lieu- van-kien/tu-lieu-ve-dang/sach-chinh-tri/books-4331201610454246.html.
23. Đào Minh Ngọc và nnk (2016), Sử dụng mô hình văn hóa của Hofstede nghiên cứu sự khác biệt trong việc đánh giá sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa đối với khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
24. Đào Minh Ngọc (2016), “Nghiên cứu sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam qua đánh giá của khách du lịch quốc tế”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: Phát triển du lịch bền vững: vai trò của nhà nước, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, tr.201-214.
25. Đào Minh Ngọc (2016), “Sức hấp dẫn của các di sản văn hóa ở Việt Nam qua đánh
giá của khách du lịch quốc tế”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, Số 9 năm 2016, tr.38-39.
26. Đào Minh Ngọc (2017), “Phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, Số 8 năm 2017, tr.21-25.
27. De Mooij, M. & Hofstede, G. (2002), ‘Convergence and divergence in consumer behavior: Implications for international retailing’, Journal of retailing, số 78, tr. 61-69.
28. De Mooij, M. (2013), ‘On the misuse and misinterpretation of dimensions of
national culture’, International Marketing Review, số 30, tr. 253–261.
29. De Mooij, M. and Hofstede, G. (2010), ‘The hofstede model: Applications to global branding and advertising strategy and research’, International Journal of Advertising, số 29, tr. 37–41.
30. De Mooij, M. and Hofstede, G. (2011), ‘Cross-cultural consumer behavior: A review of research findings’, Journal of International Consumer Marketing, số 23, tr. 181–192.
31. Đỗ Hữu Hải (2014), Hệ thống chỉ tiêu nhận diện văn hóa doanh nghiệp, Luận án
tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
32. Emir, O. and Bayer, R. U. (2016), ‘Evaluating the Destination Attractions from the
Point of Experts ’ View: An Application in Eskişehir’, Tourizam, số 20, tr. 92–104.
33. Esiyok, B., Çakar, M. and Kurtulmuşoğlu, F. B. (2017), ‘The effect of cultural distance on medical tourism’, Journal of Destination Marketing & Management, số 6, tr. 66–75.
34. ETC and WTO (2005), City tourism and culture the European Experience, ETC
Research Report 2005/1, Brussels.
demand
35. Formica, S. (2000), Destination attractiveness as a function ofsupply and interaction, (Unpublished doctoral dissertation), Department of Hospitality and Tourism Management, Virginia Polytechnic Institute and State
University, Blacksburg, VA.
36. Formica, S. and Uysal, M. (2006), ‘Destination Attractiveness Based on Supply and Demand Evaluations: An Analytical Framework’, Journal of Travel Research, số 44, tr. 418 - 430.
37. Gearing, C. E., Swart, W. W. and Var, T. (1974), ‘Establishing a Measure of
Touristic Attractiveness’, Journal of Travel Research, số 12, tr. 1–8.
38. Goeldner, R. (2011), Tourism Principles, Practice, Philosophies (12th ed.). John
Wiley & Sons. Inc.
39. Guan, J. and Jones, D. L. (2015), ‘The Contribution of Local Cuisine to Destination
Involving Chinese Tourists’ Heterogeneous
Attractiveness: An Analysis Preferences’, Asia Pacific Journal of Tourism Research, số 20, tr. 416–434.
40. Hair, J., Anderson, R., Tatham, R. and Black, W. (1998), Multivariate Data
Analysis, Prentice-Hall, Upper Saddle River, NJ.
41. Henderson, J. C. (2003), ‘Managing tourism and Islam in Peninsular Malaysia’,
Tourism Management, số 24, tr. 447- 456.
42. Hồ Kỳ Minh (2010), ‘Nghiên cứu hành vi và đánh giá của khách du lịch nội địa đối với điểm đến Đà Nẵng’, Tạp chí Phát triển - Kinh tế Đà Nẵng, số 2, tr. 11 - 18.
43. Ho, P. S. Y. and McKercher, B. (2004) ‘Managing heritage resources as tourism products’, Asia Pacific Journal of Tourism Research, số 9, tập 3, tr. 255–266.
44. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005), Phân tích dữ liệu nghiên cứu
với SPSS, NXB Thống kê.
45. Hofstede, G. (2011),
‘Dimensionalizing Cultures: The Hofstede Model in
Context’, Online Readings in Psychology and Culture, số 2, tr. 1–26.
46. Hofstede, G., Hofstede, G. J., Minkov, M. (2010), Cultures and Organizations:
Software of the Mind, USA: UnMcGraw-Hill Education.
47. Hsu, S. Y, Woodside, A. G. and Marshall, R. (2013), ‘Critical Tests of Multiple Theories of Cultures' Consequences: Comparing the Usefulness of Models by
Overseas Tourism Behavior Hofstede, Inglehart and Baker, Schwartz, Steenkamp, as well as GDP and Distance for Explaining’, Journal of Travel Research, số 20, tr. 1-26.
48. Hu, F. K. W. and Weber, K. (2014), ‘The Influence of Culture on the Perceived Attractiveness of Hotel Loyalty Programs: Chinese versus Japanese Customers’, Journal of China Tourism Research, số 10, tr. 186–205.
49. Hu, Y. and Ritchie, J. R. B. (1993), ‘Measuring Destination Attractiveness: A Contextual Approach’, Journal of Travel Research, số 32, tập 2, tr. 25 - 34.
50. Huang, S. and Hsu, C. H. C. (2009), ‘Effects of Travel Motivation, Past Experience, Perceived Constraint, and Attitude on Revisit Intention’, Journal of Travel Research, số 48, tr. 29–44.
51.
Iatu, C. (2011), ‘New approach in evaluating tourism attractiveness in the region of Moldavia’, International Journal of Energy and Environment, số 5, tr. 165–174.
International Cultural
52.
ICOMOS (2005), ‘International Cultural Tourism’, Tourism: management, implications and cases, tr. 80–92.
53.
Isacc, R. (2008), Understanding the Behaviour of Cultural Tourists, HTV International Higher Education Breda, Netherland.
54.
Jackson, M. (2001), ‘Cultural influences on tourist destination choices of 21 Pacific Rim countries’. In C. Pforr and B. Janeczko (Editors), Capitalising on research CAUTHE 2001, University of Canberra, tr. 166 – 176.
55.
Jani, D., Chang-Ik Jang, C. I. and Hwang, Y.H (2009), ‘Differential Effects of Tourism Resources on the Attractiveness of Destination Bundles’, International Journal of Tourism Sciences, số 9, tr. 23-36,
56.
Jansen-verbeke, M., Gerda, P. and Antonio, R. (2008), Cultural Resources for Tourism: Patterns, Processes and Policies.
57.
Juan, B. and Lehto, X. L (2017), ‘Impact of cultural distance on international destination choices: The case of Chinese outbound travelers, Int J Tourism Res, số năm 2017, tr. 1–10
58. Kastenholz, E. (2010), ‘Cultural Proximity as a Determinant of Destination
Image’, Journal of Vacation Marketing, số 16, tr. 313–322.
59. Keng, K. (1993) ‘Evaluating the attractiveness of a new theme park. A cross-
cultural comparison’, Tourism Management, số14, tr. 202–210.
60. Kim, C., & Lee, S. (2000), ‘Understanding the Cultural Differences in Tourist Motivation between Anglo American and Japanese Tourists’, Journal of Travel & Tourism Marketing, số 9, 153-170.
61. Kim, D. and Perdue, R. R. (2011), ‘The influence of image on destination attractiveness’, Journal of Travel and Tourism Marketing, số 28, tr. 225–239.
62. Kim, H., Cheng, C. K. and O’Leary, J. T. (2007), ‘Understanding participation patterns and trends in tourism cultural attractions’, Tourism Management, số 28, tr. 1366–1371.
63. Kim, S. S. and McKercher, B. (2011), ‘The collective effect of national culture and tourist culture on tourist behavior’, Journal of Travel and Tourism Marketing, số 28, tr. 145–164.
64. Kogut, B. and Singh, H. (1988), ‘The Effect of National Culture on the Choice of Entry Mode’, Journal of International Business Studies, số 19, tr. 411–432.
65. Kotler, P. and Armstrong, G. (2010), ‘Principles of Marketing’, World Wide Web
Internet And Web Information Systems, p. 785.
66. Kozak, M. (2001),
‘Comparative assessment oftourist satisfaction with
destinations across two nationalities’, Tourism Management, số 22, tr. 391-401.
67. Kozak, M. and Decrop, A. (2008), Handbook of Tourist Behavior Theory & Practice.Routledge Advances in Tourism, Edited By Stephen Page, University of Stirling, Scotland
68. Krešić, D. and Prebežac, D. (2011), ‘Index of destination attractiveness as a tool
for destination attractiveness assessment’, Tourism, số 59, tr. 1812–1827.
69. Lee, C. F. and Chen, K. Y. (2017),
‘Exploring factors determining the attractiveness of railway tourism’, Journal of Travel and Tourism Marketing, số 34, tr. 461–474.
70. Lepp, A., & Gibson, H. (2003), ‘Tourist roles, perceived risk & international
tourism’, Annals of Tourism Research, số 30, tr. 606–624.
71. Leung, D., Woo, G. J. and Ly, T. P. (2013), ‘The Effects of Physical and Cultural Distance on Tourist Satisfaction: A Case Study of Local-Based Airlines, Public Transportation, and Government Services in Hong Kong’, Journal of China Tourism Research, số 9, tr. 218-242.
72. Lew, A. A. (1987), ‘A Framework Attraction of Tourist’, Annals of Tourism
Research, số 14, tr. 553 - 575.
73. Lew, A., and McKercher, B. (2006), ‘Modeling tourist movements: A local
destination analysis’, Annals of Tourism Research, số 33, tr. 403–423.
74. Lim, C., Min, J. C. H. and McAleer, M. (2008), ‘Modelling income effects on long and short haul international travel from Japan’, Tourism Management, số 29, tr. 1099–1109.
75. Litvin, S. W. and Kar, G. H. (2004), ‘Individualism/collectivism as a moderating factor to the self-image congruity concept’, Journal of Vacation Marketing, số 10, tr. 23–32.
76. Litvin, S. W., Crotts, J. C. and Hefner, F. L. (2004), ‘Cross-cultural tourist
behaviour: a replication and extension involving Hofstede’s uncertainty avoidance dimension’, International Journal of Tourism Research, số 6, tr. 29–37.
77. Loon, R.V., Gosens, T. and Rouwendal, J. (2014), ‘Cultural heritage and the attractiveness of cities: evidence from recreation trips’, Journal of Cultural Economics, tr. 1- 33
78. Lord, K. R., Putrevu, S. and Shi, Y. Z. (2008),‘Cultural influences on cross-
border vacationing’, Journal of Business Research, số 61, tr. 183–190.
79. Manrai, L. A. and Manrai, A. K. (2011), ‘Hofstede’s cultural dimensions and Journal of review and conceptual
tourist behaviors: A
framework’,
Economics,Finance and Administrative Science, số 16, tr. 23–48.
80. March, R. (2000), ‘The Japanese Travel Life Cycle’, Journal of Travel &
Tourism Marketing, số 9, tr. 185–200.
81. Martin, B. A. S., Jin, H. S. and Trang, N. V. (2017), ‘The Entitled Tourist: The Influence of Psychological Entitlement and Cultural Distance on Tourist Judgments in a Hotel Context’, Journal of Travel and Tourism Marketing, số 34, tr. 99–112.
82. Mattila, A. S. (1999), ‘The role of culture and purchase motivation in service encounter evaluations’, Journal of Services Marketing, số 13, tr. 376–389.
83. Mayo, E.J. and Jarvis, L.P. (1981), Psychology of Leisure Travel, Boston: CB,
Publishing Co, tr. 191-223.
84. Mazursky, D. (1989), ‘Past experience and future tourism decisions’, Annals of
Tourism Research, số 16, tr. 333–344.
85. Mc Kercher, B. (2001), ‘Attitudes to a non-viable community-owned heritage
tourist attraction’, Journal of Sustainable Tourism, tập 9, tr. 29–43
86. McKercher, B. (2002),
‘Towards a classification of cultural
tourists’,
International Journal of Tourism Research, số 4, tr. 29–38.
87. McKercher, B. and du Cros, H. (2003), ‘Testing a cultural tourism typology’,
International Journal of Tourism Research, số 5, tr. 45-58.
88. McKercher, B., Ho., P. S. Y. and du Cros, H. (2004), ‘Attributes of popular cultural
attractions in Hong Kong’, Annals of Tourism Research, số 31, tr. 393–407.
89. McKercher, B., Wong, C. and Lau, G. (2006), ‘How tourists consume a
destination’, Journal of Business Research, số 59, tr. 647-652.
90. Meng, F. (2010), ‘Individualism/collectivism and group travel behavior: a cross- cultural perspective’, International Journal of Culture, Tourism and Hospitality Research, Số 4, tr. 340 - 351.
91. Mikulić, J.
, Kresic, D., Prebezac, D., Milicevic, K. and Seeric, M. (2016), ‘Identifying drivers of destination attractiveness in a competitive environment: A comparison of approaches’, Journal of Destination Marketing and Management, số 5, tr. 154–163.
92. Milman, A. and Pizam, A. (1995), ‘The Role of Awareness and Familiarity with a
Destination: The Central Florida Case’, Journal of Travel Research, số 33, tr. 21–27.
93. Miquel, A. B. S and Raquel, L. R. (2013), ‘Destination Image Analysis for
Tarragona Cultural Heritage’, Review of Economic Analysis, số 5, tr. 103 – 126.
94. Money, B., & Crotts, J. (2003), ‘The effect of uncertainty avoidance on
information search, planning, & purchases of international travel vacations’, Tourism Management, số 24, 191–202.
95. Neves, J. M. O. (2012), ‘The attractiveness of Portugal as a tourist destination, by mature domestic travelers’, World Review of Entrepreneurship, Management and Sustainable Development, số 8, tr. 37–52.
96. Ng, S. I., Lee, J. A. and Soutar, G. N. (2007), ‘Tourists’ intention to visit a country: The impact of cultural distance’, Tourism Management, số 28, tr. 1497–1506.
97. Ng, S. I., Lee, J. A. and Soutar, G. N. (2009), ‘The influence of cultural similarity and individual factors on visitation’, Team Journal of Hospitality & Tourism, số 6, tr. 68–80.
98. Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2011), Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh, thiết kế và thực hiện, NXB Lao động xã hội, Hà Nội.
99. Nguyễn Thị Tuyết Mai, Nguyễn Vũ Hùng (2015), Giáo trình Phương pháp điều tra khảo sát: nguyên lý và thực tiễn, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
100. OECD (2009), The Impact of Culture on Tourism, ISBN- 978-92-64-05648
101. Pennington-Gray, L., Schroeder, A. and Kaplanidou, K. (2011), ‘Examining the influence of past travel experience, general Web searching behaviors, and risk perceptions on future travel intentions’, Information technology and Tourism, số 1, tr. 64–89.
102. Peters, M. and Weiermair, K. (2000), ‘Tourist attractions and attracted tourists: how to satisfy today’s “fickle” tourist clientele?’, The Journal of Tourism Studies, số 11, tr. 22–29.
103. Phạm Trung Lương (2000), Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
104. Philip Kotler (2000), Quản trị Marketing, NXB Thống kê.
105. Pizam, A. and Jansen-verbeke, M. (1997), ‘Journal of International Hospitality, Leisure & Tourism Management Are All Tourists Alike , Regardless of Nationality ?’, Journal of International Hospitality, Leisure & Tourism Management, số 1(2012), tr. 19–38.
106. Pizam, A. and Sussmann, S. (1995), ‘Does nationality affect tourist behavior?’,
Annals of Tourism Research, số 22, tập 4, tr. 901–917.
107. Poria, Y., Reichel, A. and Biran, A. (2006), ‘Heritage site management:
Motivations and expectations’, Annals of Tourism Research, số 33, tr. 162–178.
108. Prebensen, N. K., Larsen, S. and Abelsen, B. (2003), ‘I’m not a typical tourist: German tourists’ self perception, activities and motivations’, Journal of Travel Research, số 41, tr. 416–420.
109. Qian, J. , Law, R. and Wei, J. (2017), ‘Effect of cultural distance on tourism: A study of pleasure visitors in Hong Kong’, Journal of Quality Assurance in Hospitality & Tourism, DOI: 10,1080/1528008X.2017.1410079
110. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2017), Luật Du lịch Việt Nam, Luật số
09/2017/QH14.
111. Rao, A., & Schmidt, S. M. (1998), ‘A Behavioral Perspective On Negotiating International Alliance’, Journal of International Business Studies, Số 29, tr. 665–689.
112. Reisinger, Y. (2009), International Tourism Cultural and behavior, Elsevier, UK
113. Reisinger, Y. and Mavondo, F. (2005), ‘Travel Anxiety and Intentions to Travel Internationally: Implications of Travel Risk Perception’, Journal of Travel Research, số 43, tr. 212–225.
114. Reisinger, Y. and Turner, L. W. (2002), ‘Cultural Differences between Asian Tourist Markets and Australian Hosts: Part 2’, Journal of Travel Research, số 40, tr. 385–395.
115. Richards, G. (1996), ‘Cultural tourism in Europe’, Journal of Travel Research,
số 35, tr. 91–107.
116. Richards, G. (2002), ‘Exploring Cultural Behavior’, Annals of Tourism Research,
số 29, tr. 1048–106
117. Richards, G. (2007), ‘ATLAS Cultural Tourism Project 2007’, ATLAS, EU.
118. Richards, G. (2010), ‘Increasing the Attractiveness of Places Through Cultural
Resources’, Tourism Culture & Communication, số 10, tr. 47 - 58.
119. Richards, G. (2010), Cultural Tourism research methods. CABI, UK.
120. Rinuastuti, H. (2014), ‘Measuring Hofstede’s Five Cultural Dimensions at
Individual Level and Its Application to Researchers in Tourists’ Behaviors’, International Business Research, số 7, tr. 143–153.
121. Risitano, M., Tutore, I., Sorrentino, A. and Quintano, M (2012), ‘Evaluating The Role Of National Culture On Tourist Perceptions: An Empirical Survey’, IACCM, tr. 1–14.
122. Ritchie, J. R. B and Zins, M. (1978), ‘An Empirical Evaluation of the role of
Culture and its components as determinants of the attractiveness of a tourism region’, Annals of Tourism Research, số 5, tr. 252 –267.
123. Ronen, S. and Shenkar, O. (1985), ‘Clustering countries on attitudinal dimensions:
A review and synthesis’, Academy of Management Review, số 10, tr. 435–454.
124. Schwartz, S. H. (2006), ‘A theory of cultural value orientations: Explication and
applications’, Comparative Sociology, số 2, tr. 137–182.
125. Shenkar, O. (2012), ‘Cultural distance revisited: Towards a more rigorous Journal of
conceptualization and measurement of cultural differences’, International Business Studies, Nature Publishing Group, số 43, tr. 1–11.
126. Snepenger, D., King, J., Marshall, E. and Uysal, M. (2006), ‘Modeling Iso- Ahola's Motivation Theory in the Tourism Context’, Journal of Travel Research, số 45, tr. 140 – 149.
127. Sousa, C. M. and Bradley, F. (2006), ‘Cultural Distance and Psychic Distance: Two Peas in a Pod?’, Journal of International Marketing, số 14, tr. 49–70.
128. Souza, A. G. De and Brito, M. P. De (2014), ‘Cultural dimensions and image: an essay on the impacts of masculinity and individualism on the interpretation of the sustainability of tourism destinations’, Revista Brasileira de Pesquisa em Turismo, số 8, tr. 238–260.
129. Steenkamp, J.-B. E. M. (2001), ‘The role of national culture in international
marketing research’, International Marketing Review, số 18, tr. 30-44.
130. Tang, L. (2012), ‘The direction of cultural distance on FDI: attractiveness or incongruity?’, Cross Cultural Management: An International Journal, số 19, tr. 233–256.
131. Tomigová, K., Mendes, J. and Pereira, L. N. (2016), ‘The Attractiveness of
Portugal as a Tourist Destination: The Perspective of Czech Tour Operators’, Journal of Travel and Tourism Marketing, số 33, tr. 197–210.
132. Tổng cục Du lịch (2012), Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020,
tầm nhìn đến năm 2030.
133. Trần Đức Thanh, Trần Thị Mai Hoa (2017), Giáo trình Địa lý Du lịch, NXB Đai
học Quốc gia, Hà Nội.
134. Trần Ngọc Thêm (2004), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Trẻ, TP. HCM.
135. Trần Quốc Vượng, Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Chí Bền, Lâm Mỹ Dung, Trần Thúy
Anh (2006), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.
136. Trần Thúy Anh, Triệu Thế Việt, Nguyễn Thu Thủy, Phạm Thị Bích Thủy, Phan Quang Anh (2011), Du lịch văn hóa – Những vấn đề lý luận và nghiệp vụ, NXB Giáo dục, Hà Nội.
137. Tsang, N. K. F. and Ap, J. (2007),‘Tourists’ Perceptions of Relational Quality Service Attributes: A Cross-Cultural Study’, Journal of Travel Research, số 45, tr. 355 - 363.
138. Turner, L. W (2002), ‘How Cultural Differences Cause Dimensions of Tourism
Satisfaction’, Journal of Travel & Tourism Marketing, số 11, tr. 79–101.
139. UNESCO (2009), Investing in Cultural Diversity and Intercultural dialogue,
UNESCO World Report.
140. UNESCO (2012), Hướng dẫn thực hiện công ước di sản thế giới, Trung tâm di
sản thế giới UNESCO.
141. Vengesayi, S., Mavondo, F. T. and Reisinger, Y. (2009), ‘Tourism Destination Attractiveness: Attractions, Facilities, and People as Predictors’, Tourism Analysis, số 14, tr. 621–636.
142. Viện Nghiên cứu phát triển du lịch (2012), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch
Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, NXB Lao động.
143. Vinh, N. Q. (2013), ‘Destination Culture and Its Influence on Tourist Motivation and Tourist Satisfaction of Homestay Visit’, Journal of The Faculty of Economics and Administration Sciences, số 3, tr. 199–222.
144. Viren Swami, M. J. T. (2005) ‘Female physical attractiveness in Britain and
Malaysia:\nA cross-cultural study’, Body Image, số 2, tr. 115–128.
145. Wei, Z. and Zhu, Z. (2014), ‘Shanghai Culture Relic Protection Site Tourist Attraction Model’, Advanced Materials Research, số 926-930, tr. 3958-3961.
146. Williamson, D. (2002), ‘Forward from a Critique of Hofstede’s Model of
National Culture’, Human Relations, số 55, tr. 1373–1395.
147. Wong, S. and Lau, E. (2001), ‘Understanding the Behavior of Hong Kong Chinese Tourists on Group Tour Packages’, Journal of Travel Research, số 40, tr. 57–67.
148. Wu, T. C. (Emily), Xie, P. F. and Tsai, M. C. (2015), ‘Perceptions of tourist perspective’, Tourism
tourism: A
attractiveness for salt heritage Management, số 51, tr. 201–209.
149. Yang, Y., & Wong, K. K. F. (2012), ‘The influence of cultural distance on China tourism flows: A panel data gravity model approach.’, Asian
inbound Geographer, số 29, tr. 21-37.
150. Yavas, U. (1987), ‘Correlates of vacation travel: Some empirical evidence’,
Journal of Professional Services Marketing, số 5, tr. 3–18.
PHỤ LỤC
Phụ lục 1. Dàn bài phỏng vấn sâu
Phần 1: Giới thiệu
Xin chào Anh/Chị Tôi là nghiên cứu sinh ngành Quản lý Kinh tế, chuyên ngành Kinh tế du lịch của
Đại học Kinh tế Quốc dân. Tôi đang thực hiện đề tài luận án nghiên cứu: “Ảnh hưởng
của khoảng cách văn hóa quốc gia đến đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức
hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa: nghiên cứu ở Việt Nam”.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Anh/Chị dành đã dành thời gian của mình để giúp tôi có thể hoàn thiện, bổ sung nghiên cứu của mình. Mọi ý kiến của anh/chị đều có ý
nghĩa đối với nghiên cứu của tôi và tôi xin cảm kết rằng những thông tin mà anh/chị
cung cấp chỉ được sử dụng để phục vụ cho mục đích khoa học. Phần 2: Khái niệm
Trước hết, xin giới thiệu với anh (chị) hai khái niệm được đề cập trong nghiên cứu:
Sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa được hiểu là các thuộc tính của tài nguyên văn hóa ở điểm đến phù hợp với những tiêu chí, sở thích của khách du lịch, có khả năng tạo ra ấn tượng, cảm nhận tích cực cho khách du lịch. Những ấn tượng, cảm nhận tích cực này thu hút sự chú ý của khách đối với tài nguyên và tác động đến mong
muốn tới du lịch hoặc tìm hiểu về các giá trị của tài nguyên văn hóa ở điểm đến của khách du lịch. Biểu hiện của sức hấp dẫn chính là những đánh giá của khách du lịch về mức độ hấp dẫn của các thuộc tính của điểm đến, của tài nguyên trong mối quan hệ
ảnh hưởng của những yếu tố văn hóa, xã hội và tâm lý cá nhân khách du lịch.
Khoảng cách văn hóa quốc gia (National Cultural Distance) được hiểu là mức độ cách biệt dựa trên một thang đo lường các giác độ văn hóa điển hình giữa các quốc gia
khác nhau (Sousa and Bradley, 2006; Shenkar, 2012). Trong du lịch quốc tế, khoảng cách văn hóa quốc gia được xác định là mức độ cách biệt giữa nền văn hóa của các quốc gia gửi khách với quốc gia nhận khách dựa trên một thang đo nhất định (Jackson, 2001; Reisinger, 2009; Ng và cộng sự, 2009).
Phần 3: Nội dung phỏng vấn Câu hỏi chính
Câu hỏi mở rộng
Vấn đề 1: Các thuộc tính xác định sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến Câu hỏi 1: Xin anh/chị hãy cho biết để đánh giá tài sức hấp dẫn của
Nếu dựa vào phân loại loại hình tài nguyên (ví dụ như: di tích lịch sử, di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, ang, di tích, …) thì khách du lịch thường căn cứ bảo
nguyên du lịch văn hóa ở
điểm đến là một quốc gia, khách du lịch sẽ dựa trên
vào những loại hình nào? Nếu dựa vào tính chất của tài nguyên (ví dụ như: tài nguyên đa dạng, độc đáo, phong phú, nổi tiếng…) thì khách du lịch sẽ thường sử dụng những tính chất, thuộc
những thuộc tính (tính chất) nào của tài nguyên?
tính nào để đánh giá sức hấp dẫn tài nguyên du lịch văn hóa ở một điểm đến. Sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở một điểm đến (quốc gia) sẽ được đánh giá thông qua:
1. Số lượng tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Câu hỏi 2. Dưới đây là một số thuộc tính dựa trên tính chất chung của tài nguyên du lịch văn
2. Sự đa dạng các loại hình tài nguyên du lịch văn hóa ở
điểm đến
3. Quy mô của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
hóa ở một quốc gia để khách du lịch làm căn cứ xác định tiêu chí và đánh giá sức hấp dẫn, theo
4. Khả năng tiếp cận với tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
5. Sức chứa của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
anh/chị những thuộc tính này đã đủ chưa? Có cần bổ sung thuộc tính nào
6. Tình trạng bảo tồn tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
7. Cấp độ được công nhận của tài nguyên du lịch văn hóa
không? Tại sao? Có cần bớt đi thuộc tính nào
ở điểm đến
không? Tại sao?
8. Tính nguyên vẹn của các tài nguyên văn hóa ở điểm đến
9. Tính nguyên gốc của tài nguyên văn hóa ở điểm đến
10. Sự nổi tiếng của tài nguyên văn hóa ở điểm đến
11. Tính độc đáo của tài nguyên văn hóa ở điểm đến
12. Vẻ đẹp của tài nguyên văn hóa ở điểm đến
13. Vẻ đẹp của cảnh quan xung quanh tài nguyên du lịch
văn hóa ở điểm đến
14. Tính sống động của tài nguyên du lịch văn hóa ở
điểm đến
15. Bầu không khí tâm lý xung quan tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
16. Phong tục tập quán, truyền thống của người dân bản
địa xung quanh tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến.
17. Thái độ đối với khách du lịch của người địa phương
xung quanh tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Vấn đề 2: Các yếu tố ảnh hưởng tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến Câu hỏi 3: Theo anh/chị, đánh giá của khách du
Theo anh/chị, những yếu tố nào sẽ ảnh hưởng tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài
nguyên văn hóa ở điểm đến quốc tế?
lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa có khác nhau
khi khách đến từ các quốc gia khác nhau hay không? Câu hỏi 4: Dưới đây là một số yếu tố được cho là có ảnh hưởng đến đánh
Đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến chịu ảnh hưởng bởi:
1. Độ tuổi của khách du lịch quốc tế
2. Trình độ văn hóa của khách du lịch quốc tế
3. Mức thu nhập của khách du lịch quốc tế
giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến, theo
4. Động cơ, mục đích chuyến đi
5. Kinh nghiệm quá khứ ở điểm đến
anh/chị, có cần bổ sung hay lược bớt đi yếu tố nào không? Tại sao?
6. Nguồn thông tin giới thiệu, quảng bá về tài nguyên văn hóa của điểm đến
7. Thời gian, chi phí của chuyến đi
8. Khoảng cách địa lý
9. Mức độ khác biệt văn hóa giữa hai quốc gia
Vấn đề 3: Ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa giữa hai quốc gia tới sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến Câu hỏi 5: Theo anh/chị mức độ khác biệt văn hóa giữa hai quốc gia có ảnh hưởng đến việc khách du lịch quốc tế đánh giá về sức hấp dẫn của tài nguyên văn hóa ở điểm đến hay không? Ảnh hưởng như thế nào?
Phụ lục 2. Questionaires
Code Number:……………
Hello!
I am a PhD candidate majoring in Tourism Economics at National Economics University in Vietnam. I am currently conducting a study to measure “Impacts of Cultural distance on tourists’ evaluation of attractiveness of cultural attractions: Case Study in Vietnam”. The results and your participation in this survey would provide me reliable data source, and is critical to the success of this study. I highly appreciate your participation in this research, and all responses will be treated
confidentially.
1. Have you ever been to Vietnam before?
Yes
No
□
□ If Yes, how many times have you visited before (Write in number)?.................................
2. Are you visiting any cultural attraction in Vietnam in current trip?
Yes
No
□
□
If Yes, are you visiting any of the following cultural attraction in Vietnam? (Please, May
be tick to more than ONE option)
Museums or Art galleries
Theatres or Cinemas
1
□ 7
□
Monuments
Theme parks or Entertainment
2
□ 8
□
centers
Religious or Historic sites
Contemporary
events/festivals
3
□ 9
□
(music, sport, mega…)
Cultural Heritage sites
(visual
art,
4
□ 10 Modern Creation
□
installation art…)
Crafts centers/villages
5
□ 11 Local culinary
□
Traditional Festivals
6
□
12 Others (details): …………………………………………………………………….
………………………………………………………………………………………
3. To what extent do you agree or disagree with the following statements?
(Please mark X on the one that is your best answer)
5- highly agree
2 – disagree
3 – Neutral
4 – agree
1 – Highly disagree
Statements
1
2
3
4
5
1
I am visiting the cultural attractions to find out more about the culture of Vietnam
I am visiting the cultural attractions to learn new things
2
about the culture of Vietnam
I am visiting the cultural attractions to experience the
3
psychological atmosphere of the culture of Vietnam
4
I am visiting the cultural attractions primarily for sightseeing
I am visiting the cultural attractions to be entertained
5
6
Others (Details): ……..……………………………………………………………. ………………………………………………………………………………………
4. Please indicate the importance of each criterion as you determine the
attractiveness of cultural attraction in destination: (Please mark X on the one that is your best answer)
1-Highly
2-unimportant
3-Neutral 4-important
5-highly important
unimportant
TT
Statements
1
2
3
4
5
The variety of cultural attractions
1
The diversity of cultural attractions types
2
The large scale of tourist cultural attractions
3
The accessibility of tourist cultural attractions
4
The carrying capacity of cultural attractions
5
The preservation of cultural attractions of the destination
6
Destinations have many world cultural heritages
7
The integrity of cultural attractions
8
The authenticity of cultural attractions
9
The popularity of cultural attractions
10
The unique of cultural attractions
11
The beauty of cultural attractions
12
1-Highly
2-unimportant
3-Neutral 4-important
5-highly important
unimportant
TT
Statements
1
2
3
4
5
13
The beauty of landscape surrounding cultural attractions
14
The liveliness of cultural attractions
15
The cultural attractions meet the visitors’ diversed needs
16
psychological
atmosphere
surrounding cultural
The attractions
17
The interesting of the way of life of local people’s
18
The pleasant attitude of local people
19 Others (Details): …………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………
5. Please evaluate the attractiveness of each attribute of cultural attractions in
Vietnam: (Please mark X on the one that is your best answer)
1-Highly non-attractive
3-Neutral 4-attractive 5-highly attractive
2-non- attractive Statements
1
2
3
4
5
TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13
14 15
16
surrounding cultural
psychological
atmosphere
The variety of cultural attractions in Vietnam The diversity of cultural attractions types in Vietnam The large scale of tourist cultural attractions in Vietnam The accessibility of tourist cultural attractions in Vietnam The carrying capacity of cultural attractions in Vietnam The preservation of cultural attractions of Vietnam Vietnam have many world cultural heritages The integrity of the cultural attractions of Vietnam The authenticity of cultural attractions in Vietnam The popularity of cultural attractions in Vietnam The unique of cultural attractions in Vietnam The beauty of cultural attractions in Vietnam The beauty of landscape surrounding cultural attractions in Vietnam The liveliness of cultural attractions in Vietnam The cultural attractions of Vietnam meet the visitors’ diversed needs The attractions in Vietnam The Interesting of the way of life of local people’s The pleasant attitude of local people
17 18 19 Others (Details): …………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………
6. PROFILE 6.1. Please indicate your nationality: ………………………………………………… 6.2. Please indicate your gender:
□ Male
□ Female
6.3. Please indicate your age: ……………………………………………………… 6.4. What is your highest level of educational qualification?
□ Less than High school □ High school
□ Bachelor degree □ Master or Doctoral degree
□ Vocational education
6.5. Please indicate your annual household gross income:
If EU: ………………………………………………………………………… EU
If USD: ………………………………………………………………………. USD If Other (Please specify the type of currency): …………………………………
THANK YOU VERY MUCH FOR YOUR COOPERATION!
Phụ lục 3. Phiếu điều tra
Mã TT:……………
Kính chào Quý vị! Tôi là nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế Du lịch, thuộc Đại học Kinh tế Quốc dân. Tôi đang thực hiện đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia đến đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa: nghiên cứu ở Việt Nam”. Để có được nguồn dữ liệu tin cậy phục vụ cho đề tài, rất mong quý vị giúp đỡ tôi bằng cách tham gia trả lời các câu hỏi trong phiếu điều tra này. Tôi xin cam kết rằng, những câu trả lời của quý vị chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học. 1. Trước đây, Quý vị đã từng đến du lịch ở Việt Nam chưa?
Rồi
□
Chưa
□
Nếu đã đến rồi thì trước chuyến đi này quý vị đã đến Việt Nam bao nhiêu lần (xin ghi số lần)? ….... 2. Quý vị có đến thăm các tài nguyên văn hóa ở Việt Nam trong chuyến đi này hay không?
Có
Không
□
□ Nếu Có: xin hãy chọn những loại điểm mà quý vị đã đến hoặc có kế hoạch đến trong chuyến đi này (Có thể lựa chọn nhiều đáp án) 1
ang hoặc bộ sưu tập
Bảo
7
□
Rạp hát hoặc trung tâm chiếu phim □ Công viên vui chơi/trung tâm giải
2 Di tích/công trình
8
□
□
trí
3 Địa điểm tôn giáo/lịch sử
9
□
□
Các sự kiện đương đại (âm nhạc, thể thao, mega…)
4 Điểm di sản văn hóa
10 Sáng tạo hiện đại (sắp đặt, thị
□
□
giác…)
Làng nghề truyền thống
11 Ẩm thực địa phương
5
□
□
6
Lễ hội truyền thống
□
12 Khác (Xin nêu chi tiết): …………………………………………………………….
………………………………………………………………………………………
3. Quý vị hãy cho biết ý kiến của mình về các phát biểu sau? (xin đánh dấu X vào phương án trả lời đúng nhất)
4 – đồng ý
5- Hoàn toàn đồng ý
3 – Trung bình
1 – Hoàn toàn không đồng ý
2 – không đồng ý
Statements
1
2
3
4
5
1
Tôi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam để tìm hiểu sâu hơn về văn hóa của đất nước này
Tôi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam để
2
học hỏi những điều mới về văn hóa của đất nước này
Tôi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam để
3
trải nghiệm bầu không khí tâm lý của các địa phương ở đất nước này
4
Tôi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam chủ yếu là để tham quan, vãn cảnh
5
Tôi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam đơn thuần chỉ để giải trí
6
Khác (xin ghi rõ): ……..…………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………
4. Xin quý vị hãy đánh giá mức độ quan trọng của mỗi tiêu chí sau đây trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở một điểm đến: (xin đánh dấu X vào phương án trả lời mà quý vị cho là đúng nhất)
4 – Quan trọng
5- Rất quan trọng
2 – Không quan trọng
3 – Bình thường
1 – Hoàn toàn không quan trọng TT
Statements
1
2
3
4
5
Điểm đến có nhiều tài nguyên văn hóa
1
Điểm đến có nhiều loại hình tài nguyên văn hóa
2
Quy mô của các tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến lớn
3
Khả năng tiếp cận với tài nguyên du lịch văn hóa thuận lợi
4
Sức chứa của tài nguyên văn hóa ở điểm đến lớn
5
Các tài nguyên văn hóa ở điểm đến được bảo tồn tốt
6
7
Điểm đến có nhiều tài nguyên văn hóa được công nhận ở cấp độ cao
Các tài nguyên văn hóa ở điểm đến có tính nguyên vẹn cao
8
Các tài nguyên văn hóa ở điểm có tính nguyên gốc cao
9
4 – Quan trọng
5- Rất quan trọng
2 – Không quan trọng
3 – Bình thường
1 – Hoàn toàn không quan trọng TT
Statements
1
2
3
4
5
10 Các tài nguyên văn hóa ở điểm đến nổi tiếng
11 Các tài nguyên văn hóa ở điểm đến có tính độc đáo cao
12 Các tài nguyên văn hóa ở điểm đến đẹp
13 Cảnh quan xung quanh tài nguyên du lịch văn hóa đẹp
14 Các giá trị văn hóa của tài nguyên được biểu hiện sinh động
trong cuộc sống của cư dân bản địa (tính sống động)
15 Tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến thỏa mãn được nhu
cầu đa dạng của khách du lịch quốc tế
16 Bầu không khí tâm lý xung quanh tài nguyên du lịch văn
hóa dễ chịu
17
Phong tục tập quán, truyền thống, lối sống của người dân địa
phương thú vị
18 Thái độ của người dân địa phương xung quanh tài nguyên
du lịch văn hóa đối với khách du lịch dễ mến
19 Khác (chi tiết): ……………………………………………………………....
5-rất hấp dẫn
4-hấp dẫn
5. Xin quý vị hãy đánh giá sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam? (xin đánh dấu X vào phương án trả lời đúng nhất) 3-Bình 1-Hoàn toàn không hấp dẫn
thường
2-không hấp dẫn Statements
1
2
3
4
5
TT
1
Số lượng tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
2
Số lượng loại hình tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
3
Quy mô của các tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
4
Khả năng tiếp cận với tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
5
Sức chứa của tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
6
Công tác bảo tồn tài nguyên văn hóa ở Việt Nam
7
Số lượng các tài nguyên văn hóa thế giới ở Việt Nam
8
Tính nguyên vẹn của tài nguyên văn hóa ở Việt Nam
9
Tính nguyên gốc của tài nguyên văn hóa ở Việt Nam
10
Sự nổi tiếng của tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
3-Bình
4-hấp dẫn
5-rất hấp dẫn
1-Hoàn toàn không hấp dẫn
thường
TT
2-không hấp dẫn Statements
1
2
3
4
5
11
Tính độc đáo của tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
12 Vẻ đẹp của tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
13 Vẻ đẹp của cảnh quan xung quanh tài nguyên du lịch văn hóa
ở Việt Nam
14
Sự thể hiện sống động của các giá trị tài nguyên văn hóa trong
cuộc sống của cộng đồng cư dân bản địa (tính sống động)
15
Sự phù hợp với nhu cầu du lịch đa dạng của khách du lịch của
tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
16
Bầu không khí tâm lý xung quanh tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
17
Phong tục tập quán, truyền thống, lối sống của người dân các địa phương xung quanh tài nguyên du lịch văn hóa ở VN
18
Thái độ của người dân địa phương xung quanh tài nguyên du lịch văn hóa đối với khách du lịch
19 Khác (chi tiết): …………………………………………………………….......
□ Nam
□ Nữ
6. THÔNG TIN CÁ NHÂN 6.1. Quốc tịch của quý vị: ………………………………………………………… 6.2. Giới tính: 6.3. Tuổi của quý vị: ……………………………………………………………… 6.4. Trình độ học vấn của quý vị?
□ Dưới trung học
□ Đại học
□ Trung học
□ Sau đại học
□ Giáo dục nghề nghiệp
6.5. Mức thu nhập trung bình/năm của quý vị: Nếu là Euro: …………………………………………………………………………… EU
Nếu là USD: ……………………………………………………………………… USD Nếu là đồng tiền khác (xin ghi rõ đơn vị tiền tệ): ……………………………………….
TRÂN TRỌNG CÁM ƠN SỰ HỢP TÁC CỦA QUÝ VỊ!
Phụ lục 4. Kết quả kiểm định thang đo
TC
α = 0,746
Thang đo đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Trung
PS thang
Tương
Ký
quan
Tên biến quan sát
Alpha nếu loại biến
hiệu
bình nếu loại biến
đo nếu loại biến
biến tổng
TC1 Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có số lượng tài nguyên du lịch văn hóa
53,10
37,339
0,440
0,586
nhiều
TC2 Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có sự đa dạng về loại hình tài nguyên du
52,65
38,285
0,516
0,829
lịch văn hóa
53,82
47,368
-0,363
0,311
TC3 Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có các tài nguyên du lịch văn hóa quy
mô lớn
TC4 Mức độ quan trọng của tiêu chí tiếp cận tới tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
53,01
38,930
0,396
0,623
thuận lợi
52,99
42,325
0,075
0,169
TC5 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến có sức chứa
du lịch lớn
53,64
50,123
-0,457
0,429
TC6 Mức độ quan trọng của tiêu chí hoạt động bảo tồn tài nguyên du lịch văn hóa ở
điểm đến có hiệu quả
53,25
44,331
-0,043
0,096
TC7 Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có nhiều tài nguyên du lịch văn hóa được
công nhận ở cấp độ cao
TC8 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến có tính
51,67
38,925
0,516
0,805
nguyên vẹn cao
TC9 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến có tính
51,82
37,601
0,621
0,657
nguyên gốc
TC10 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến nổi tiếng
53,27
40,270
0,553
0,659
TC11 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến có tính độc
52,35
36,374
0,610
0,776
đáo cao
TC12 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến đẹp
53,18
40,497
0,657
0,830
TC13 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên cảnh quan xung quanh tài nguyên du
52,33
40,658
0,308
0,375
lịch văn hóa đẹp
TC14 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến có tính sống
52,99
36,908
0,519
0,518
động cao
TC15 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến phù hợp với
53,11
39,138
0,487
0,380
các nhu cầu của khách du lịch
TC16 Mức độ quan trọng của tiêu chí bầu không khí tâm lý xung quanh tài nguyên du
52,23
40,434
0,383
0,443
lịch văn hóa ở điểm đến dễ chịu
TC17 Mức độ quan trọng của tiêu chí phong tục, lối sống của người địa phương xung
53,08
35,962
0,514
0,715
quanh tài nguyên du lịch văn hóa thú vị
TC18 Mức độ quan trọng của tiêu chí sự thân thiện, hiếu khách của người dân địa
52,79
36,810
0,629
0,707
phương ở xung quanh tài nguyên du lịch văn hóa
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả phân tích của tác giả
TT
α = 0,756
Thang đo đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Tên biến quan sát
Alpha nếu loại biến
Ký hiệu
Trung bình nếu loại biến
Tương quan biến tổng
TT1
Sức hấp dẫn từ thuộc tính số lượng tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
PS thang đo nếu loại biến 38,103
50,44
0,679
0,718
TT2
35,189
50,13
0,657
0,710
TT3
50,684
49,56
-0,415
0,811
TT4
37,467
50,22
0,591
0,721
TT5
48,836
49,35
-0,392
0,788
TT6
45,605
49,92
-0,027
0,764
TT7
50,88
42,481
0,241
0,752
Sức hấp dẫn từ thuộc tính đa dạng các loại hình tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính quy mô của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính thuận lợi trong tiếp cận với tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính sức chứa của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính hiệu quả của hoạt động bảo tồn tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính cấp độ công nhận của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TT8 TT9
35,346 44,758
50,14 50,18
0,650 0,002
0,711 0,774
Sức hấp dẫn từ thuộc tính nguyên vẹn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính nguyên gốc của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TT10 Sức hấp dẫn từ thuộc tính nổi tiếng của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
42,510
50,02
0,524
0,741
TT11 Sức hấp dẫn từ thuộc tính độc đáo của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
42,114
50,07
0,651
0,737
TT12 Sức hấp dẫn từ thuộc tính vẻ đẹp của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
41,796
50,07
0,383
0,743
TT13 Sức hấp dẫn từ thuộc tính vẻ đẹp cảnh quan xung quanh tài nguyên du lịch văn hóa
40,613
51,52
0,448
0,737
ở điểm đến
TT14 Sức hấp dẫn từ thuộc tính sống động của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
50,18
40,583
0,373
0,742
TT15 Sức hấp dẫn từ thuộc tính phù hợp với các nhu cầu của khách du lịch của tài
50,93
38,471
0,538
0,727
nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TT16 Sức hấp dẫn từ thuộc tính bầu không khí tâm lý xung quanh tài nguyên du lịch văn
50,06
39,235
0,412
0,738
hóa ở điểm đến
TT17 Sức hấp dẫn từ thuộc tính phong tục, lối sống của người dân địa phương xung
50,53
40,687
0,449
0,737
quanh tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TT18 Sức hấp dẫn từ thuộc tính thân thiện và hiếu khách của người dân địa phương xung
51,36
39,157
0,590
0,726
quanh tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả phân tích của tác giả
ĐC
α = 0,726
Thang đo động cơ du lịch của khách khi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam
Tên biến quan sát
Ký hiệu
Alpha nếu loại biến
Trung bình nếu loại biến
PS thang đo nếu loại biến
ĐC1
14,86
Tương quan biến tổng 0,563
8,408
0,649
ĐC2
14,76
8,361
0,593
0,638
ĐC3
14,79
8,541
0,563
0,650
ĐC4 ĐC5
Tôi đến thăm tài nguyên văn hóa ở Việt Nam để tìm hiểu sâu hơn về văn hóa của đất nước này Tôi đến thăm tài nguyên văn hóa ở Việt Nam để học hỏi những điều mới về văn hóa của đất nước này Tôi đến thăm tài nguyên văn hóa ở Việt Nam để trải nghiệm bầu không khí văn hóa của các địa phương ở nơi này Tôi đến thăm tài nguyên văn hóa ở Việt Nam chủ yếu là để tham quan, vãn cảnh Tôi đến thăm tài nguyên văn hóa ở Việt Nam đơn thuần chỉ để giải trí
15,37 15,67
0,339 0,398
0,736 0,715
9,430 8,938 Nguồn: Tổng hợp từ kết quả phân tích của tác giả
Phụ lục 5. Kết quả phân tích lượng biến thiên của thang đo nhân tố Đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Initial
Extraction
Tên biến quan sát
Ký hiệu TC1 Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có số lượng tài
1,000
0,726
nguyên du lịch văn hóa nhiều
TC2 Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có sự đa dạng về
1,000
0,865
loại hình tài nguyên du lịch văn hóa
TC4 Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có tài nguyên du
1,000
0,400
lịch văn hóa quy mô lớn
TC8 Mức độ quan trọng của tiêu chí tiếp cận tới tài nguyên du
1,000
0,773
lịch văn hóa ở điểm đến thuận lợi
TC9 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn hóa
1,000
0,681
có sức chứa du lịch lớn
TC10 Mức độ quan trọng của tiêu chí hoạt động bảo tồn tài
1,000
0,542
nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến có hiệu quả
1,000
0,380
TC11 Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có nhiều tài nguyên du lịch văn hóa được công nhận ở cấp độ cao TC12 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn hóa
1,000
0,823
ở điểm đến có tính nguyên vẹn cao
TC13 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn hóa
1,000
0,695
ở điểm đến có tính nguyên gốc cao
TC14 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn hóa
1,000
0,727
ở điểm đến nổi tiếng
TC15 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn hóa
1,000
0,780
ở điểm đến có tính độc đáo cao
TC16 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn hóa
1,000
0,840
ở điểm đến đẹp
TC17 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên cảnh quan xung
1,000
0,574
quanh tài nguyên du lịch văn hóa đẹp
TC18 Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn hóa
1,000
0,724
ở điểm đến có tính sống động cao
Nguồn: Tổng hợp kết quả nghiên cứu của tác giả
Phụ lục 6. Kết quả phân tích lượng biến thiên của thang đo nhân tố Đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Initial
Extraction
Tên biến quan sát
Ký hiệu TT1
Sức hấp dẫn từ thuộc tính số lượng tài nguyên du lịch văn
1,000
0,816
hóa ở điểm đến
TT2
Sức hấp dẫn từ thuộc tính đa dạng các loại hình tài nguyên
1,000
0,898
du lịch văn hóa ở điểm đến
TT4
Sức hấp dẫn từ thuộc tính thuận lợi trong tiếp cận với tài
1,000
0,687
nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TT8
Sức hấp dẫn từ thuộc tính nguyên vẹn của các tài nguyên
1,000
0,897
du lịch văn hóa ở điểm đến
TT10 Sức hấp dẫn từ thuộc tính nổi tiếng của tài nguyên du lịch
1,000
0,814
văn hóa ở điểm đến
TT11 Sức hấp dẫn từ thuộc tính độc đáo của tài nguyên du lịch
1,000
0,925
văn hóa ở điểm đến
TT12 Sức hấp dẫn từ thuộc tính vẻ đẹp của tài nguyên du lịch
1,000
0,503
văn hóa ở điểm đến
TT13 Sức hấp dẫn từ thuộc tính vẻ đẹp cảnh quan xung quanh tài
1,000
0,915
nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TT14 Sức hấp dẫn từ thuộc tính sống động của tài nguyên du lịch
1,000
0,788
văn hóa ở điểm đến
TT15 Sức hấp dẫn từ thuộc tính phù hợp với các nhu cầu của
1,000
0,828
khách du lịch của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TT16 Sức hấp dẫn từ thuộc tính bầu không khí tâm lý xung
1,000
0,735
quanh tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
TT17 Sức hấp dẫn từ thuộc tính phong tục, lối sống của người
1,000
0,912
dân địa phương xung quanh tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
1,000
0,618
TT18 Sức hấp dẫn từ thuộc tính thân thiện và hiếu khách của người dân địa phương xung quanh tài nguyên du lịch văn
hóa ở điểm đến
Nguồn: Tổng hợp kết quả nghiên cứu của tác giả
Phụ lục 7. Kết quả phân tích lượng biến thiên của thang đo nhân tố Động cơ du lịch của khách khi đến thăm tài nguyên văn hóa ở điểm đến
Initial
Extraction
Tên biến quan sát
Ký hiệu ĐC1
Tôi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam để
1,000
0,822
tìm hiểu sâu hơn về văn hóa của đất nước này
ĐC2
Tôi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam để
1,000
0,870
học hỏi những điều mới về văn hóa của đất nước
ĐC3
Tôi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam để
1,000
0,692
trải nghiệm bầu không khí văn hóa của các địa phương ở nơi này
ĐC4
1,000
0,832
Tôi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam chủ yếu là để tham quan, vãn cảnh
ĐC5
1,000
0,828
Tôi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam đơn thuần chỉ để giải trí
Nguồn: Tổng hợp kết quả nghiên cứu của tác giả
Phụ lục 8. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) thang đo đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của tiêu chí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
KMO and Bartlett's Test
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.
0,862
Approx. Chi-Square
5287,465
Bartlett's Test of Sphericity
df
91
Sig.
0,000
Total Variance Explained
Component
Initial Eigenvalues
Extraction Sums of Squared Loadings
Rotation Sums of Squared
Loadings
Total
% of
Cumulative
Total
% of
Cumulative
Total
% of
Cumulative
Variance
%
Variance
%
Varianc
%
e
5,783
41,307
41,307
4,580
32,713
32,713
1
5,783
41,307
41,307
2,799
19,990
61,297
3,193
22,804
55,517
2
2,799
19,990
61,297
1,189
8,493
69,790
1,998
14,272
69,790
3
1,189
8,493
69,790
4
0,953
6,810
76,599
5
0,606
4,327
80,926
6
0,490
3,502
84,429
7
0,415
2,964
87,393
8
0,408
2,916
90,309
9
0,360
2,571
92,880
10
0,285
2,036
94,916
11
0,271
1,935
96,851
12
0,219
1,568
98,418
13
0,119
0,853
99,272
14
0,102
0,728
100,000
Extraction Method: Principal Component Analysis.
Rotated Component Matrixa
Component 2
3
1 0,810
Ký hiệu mới TCTT1
Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn
hóa ở điểm đến có tính nguyên gốc
0,793
TCTT2
Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn
hóa ở điểm đến có tính độc đáo cao
0,779
TCTT3
Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn
hóa ở điểm đến nổi tiếng
0,770
TCTT4
Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến có tính sống động cao
0,769
TCTT5
Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn
hóa ở điểm đến đẹp
0,765
TCTT6
Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch ăn hóa ở điểm đến phù hợp với các nhu cầu của khách du lịch
0,702
TCTT7
Mức độ quan trọng của tiêu chí phong tục, lối sống của
người địa phương ở xung quanh tài nguyên du lịch văn hóa thú vị
0,533
TCTT8
Mức độ quan trọng của tiêu chí sự thân thiện, hiếu khách của người dân địa phương ở xung quanh tài nguyên văn hóa
0,914
TCCT1
Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có số lượng tài
nguyên du lịch văn hóa nhiều
0,893
TCCT2
Mức độ quan trọng của tiêu chí điểm đến có sự đa dạng
về loại hình tài nguyên du lịch văn hóa
0,867
TCCT3
Mức độ quan trọng của tiêu chí tiếp cận tới tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến thuận lợi
0,844
TCCT4
Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến có tính nguyên vẹn cao
0,789
TCCQ1
Mức độ quan trọng của tiêu chí tài nguyên cảnh quan xung quanh tài nguyên du lịch văn hóa đẹp
0,758
TCCQ2
Mức độ quan trọng của tiêu chí bầu không khí tâm lý dễ chịu ở khu vực xung quan tài nguyên du lịch văn hóa
Extraction Method: Principal Component Analysis. Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization. Rotation converged in 5 iterations.
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả
Phụ lục 9. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) thang đo đánh giá của khách du lịch về sức hấp dẫn từ các thuộc tính của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
KMO and Bartlett's Test
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.
0,798
Approx. Chi-Square
8542,838
Bartlett's Test of Sphericity
df
66
Sig.
0,000
Total Variance Explained
Component
Initial Eigenvalues
Extraction Sums of Squared Loadings Rotation Sums of Squared Loadings
Total
% of
Cumulative
Total
% of
Cumulative
Total
% of
Cumulative %
Variance
%
Variance
%
Varianc
e
5,094
42,449
42,449
3,373
28,112
28,112
1
5,094
42,449
42,449
3,131
26,092
68,541
3,347
27,895
56,006
2
3,131
26,092
68,541
1,326
11,053
79,593
2,830
23,587
79,593
3
1,326
11,053
79,593
4
0,626
5,214
84,807
5
0,550
4,585
89,392
6
0,400
3,333
92,725
7
0,347
2,889
95,614
8
0,274
2,283
97,897
9
0,183
1,524
99,421
10
0,052
0,434
99,856
11
0,010
0,085
99,941
12
0,007
0,059
100,000
Extraction Method: Principal Component Analysis.
Rotated Component Matrixa
Component 2
1
3 0,952
Ký hiệu mới TTTT1
0,951
TTTT2
0,881
TTTT3
0,852
TTTT4
0,923
TTCT1
0,922
TTCT2
0,782
TTCT3
0,891
TTCQ1
0,867
TTCQ2
0,862
TTCQ3
0,725
TTCQ4
0,593
TTCQ5
Sức hấp dẫn từ thuộc tính nổi tiếng của TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính vẻ đẹp của TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính sống động của TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính độc đáo của TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính nguyên vẹn của các TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính đa dạng các loại hình TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính thuận lợi trong tiếp cận với TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính bầu không khí tâm lý xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính vẻ đẹp cảnh quan xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính phù hợp với các nhu cầu của khách du lịch của TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính phong tục, lối sống của người dân địa phương ở xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến Sức hấp dẫn từ thuộc tính thân thiện và hiếu khách của người dân địa phương xung quanh TNDL văn hóa ở điểm đến
Extraction Method: Principal Component Analysis. Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization. a. Rotation converged in 4 iterations.
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả
Phụ lục 10. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) thang đo Động cơ du lịch của khách khi đến thăm tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
KMO and Bartlett's Test
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.
.645
Approx. Chi-Square
1261.566
Bartlett's Test of Sphericity
df
10
Sig.
.000
Total Variance Explained
Component
Initial Eigenvalues
Extraction Sums of Squared
Rotation Sums of Squared Loadings
Loadings
Total
% of
Cumulative
Total
% of
Cumulative
Total
% of
Cumulative
Variance
%
Variance
%
Variance
%
50.018
2.501
50.018
50.018
2.372
47.449
47.449
1
2.501
50.018
80.868
1.542
30.850
80.868
1.671
33.419
80.868
2
1.542
30.850
3
.439
8.774
89.642
4
.338
6.769
96.411
5
.179
3.589
100.000
Extraction Method: Principal Component Analysis.
Rotated Component Matrixa
Component
1
2
Dong co tim kiem dieu moi ve van hoa
.932
Dong co hieu sau ve van hoa
.906
Dong co trai nghiem bau khong khi van hoa
.817
Dong co tham quan cac diem van hoa
.911
Dong co giai tri don thuan
.903
Extraction Method: Principal Component Analysis.
Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization.
a. Rotation converged in 3 iterations.
Phụ lục 11. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) toàn bộ các thang đo
KMO and Bartlett's Test
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.
0,812
Approx. Chi-Square
15513,742
Bartlett's Test of Sphericity
df
378
Sig.
0,000
Total Variance Explained
Component
Initial Eigenvalues
Extraction Sums of Squared Loadings Rotation Sums of Squared Loadings
Total % of Variance Cumulative % Total
% of
Cumulative % Total
% of
Cumulative
Variance
Variance
%
27,577
7,722
27,577
27,577
4,419
15,780
15,780
1
7,722
27,577
44,001
4,599
16,424
44,001
3,382
12,079
27,860
2
4,599
16,424
53,651
2,702
9,651
53,651
3,154
11,263
39,123
3
2,702
9,651
61,100
2,086
7,449
61,100
3,001
10,718
49,841
4
2,086
7,449
66,634
1,549
5,534
66,634
2,749
9,818
59,659
5
1,549
5,534
71,600
1,390
4,966
71,600
2,406
8,593
68,252
6
1,390
4,966
75,825
1,183
4,225
75,825
1,682
6,007
74,259
7
1,183
4,225
79,411
1,004
3,586
79,411
1,442
5,151
79,411
8
1,004
3,586
9
0,828
2,959
82,370
10
0,648
2,313
84,683
11
0,524
1,871
86,554
12
0,486
1,734
88,288
13
0,444
1,586
89,874
14
0,405
1,446
91,319
15
0,388
1,385
92,704
16
0,337
1,203
93,907
17
0,304
1,085
94,992
18
0,292
1,043
96,036
19
0,226
0,808
96,844
20
0,190
0,680
97,524
21
0,171
0,612
98,136
22
0,145
0,517
98,653
23
0,128
0,459
99,112
24
0,105
0,374
99,486
25
0,089
0,319
99,805
26
0,038
0,136
99,941
27
0,010
0,034
99,975
28
0,007
0,025
100,000
Extraction Method: Principal Component Analysis.
Rotated Component Matrixa
Component
1
2
3
4
5
6
7
8
0,847
TCTT1
0,846
TCTT2
0,801
TCTT3
0,797
TCTT4
0,760
TCTT5
0,619
TCTT6
0,911
TTCQ1
0,911
TTCQ2
0,831
TTCQ3
0,794
TTCQ4
0,854
TCCT1
0,841
TCCT2
0,832
TCCT3
0,816
TCCT4
TTTT1
0,821
TTTT2
0,801
TTTT3
0,790
TTTT4
0,732
TTCT1
0,908
TTCT2
0,908
TTCT3
0,766
ĐCVH1
0,928
ĐCVH2
0,908
ĐCVH3
0,789
ĐCGT1
0,902
ĐCGT2
0,887
TCCQ1
0,848
TCCQ2
0,642
Extraction Method: Principal Component Analysis.
Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization.
a. Rotation converged in 7 iterations.
Phụ lục 12. Kết quả phân tích hồi quy ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về mức độ quan trọng của các tiêu chí trừu tượng trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Variables Entered/Removeda
Model
Variables Entered
Variables
Method
Removed
CDLTO, CDIND,
. Enter
1
CDMAS, CDIDV, CDPDIb
a. Dependent Variable: TCTT1
b. All requested variables entered.
Model Summaryb
Model
R
R Square
Adjusted R
Std. Error of the
Durbin-Watson
Square
Estimate
1
0,475a
0,226
0,219
0,53381
1,194
a. Predictors: (Constant), CDLTO, CDIND, CDMAS, CDIDV, CDPDI
b. Dependent Variable: TCTT
ANOVAa
Model
Sum of Squares
df
Mean Square
F
Sig.
32,179
0,000b
9,169
45,846
5
Regression
0,285
157,292
552
1
Residual
203,139
557
Total
a. Dependent Variable: TCTT
b. Predictors: (Constant), CDLTO, CDIND, CDMAS, CDIDV, CDPDI Coefficientsa
Model
Unstandardized
Standardized
t
Sig.
Collinearity Statistics
Coefficients
Coefficients
B
Std. Error
Beta
Tolerance
VIF
(Constant)
2,758
0,077
35,625
0,000
CDIDV
0,013
0,001
0,507
9,424
0,000
0,485
2,064
CDIND
-0,005
0,002
-0,112
-2,074
0,039
0,484
2,066
1
CDPDI
-0,006
0,003
-0,128
-2,176
0,030
0,405
2,471
CDMAS
0,007
0,002
0,155
3,503
0,000
0,718
1,392
CDLTO
-0,002
0,002
-0,037
-0,853
0,394
0,734
1,362
a. Dependent Variable: TCTT
Phụ lục 13. Kết quả phân tích hồi quy ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về mức độ quan trọng của tiêu chí cảnh quan và bầu không khí trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch văn hóa
Variables Entered/Removeda
Model
Variables Entered
Variables
Method
Removed
CDLTO, CDIND,
. Enter
1
CDUAI, CDIDV, CDPDIb
a. Dependent Variable: TCCQ
b. All requested variables entered.
Model Summaryb
Model
R
R Square
Adjusted R
Std. Error of the
Durbin-Watson
Square
Estimate
1
0,430a
0,185
0,178
0,58104
1,310
a. Predictors: (Constant), CDLTO, CDIND, CDUAI, CDIDV, CDPDI
b. Dependent Variable: TCCQ
ANOVAa
Model
Sum of Squares
df
Mean Square
F
Sig.
25,094
0,000b
8,472
42,360
5
Regression
0,338
186,359
552
1
Residual
228,719
557
Total
a. Dependent Variable: TCCQ
b. Predictors: (Constant), CDLTO, CDIND, CDUAI, CDIDV, CDPDI Coefficientsa
Model
Unstandardized Coefficients
Standardized
t
Sig.
Collinearity Statistics
Coefficients
B
Std. Error
Beta
Tolerance
VIF
(Constant)
3,218
0,112
28,719
0,000
CDIDV
0,014
0,002
8,698
0,496
0,000
0,454
2,202
CDUAI
-0,002
0,002
-1,492
-0,082
0,136
0,488
2,047
1
CDIND
0,000
0,003
0,121
0,007
0,904
0,411
2,435
CDPDI
-0,008
0,003
-2,638
-0,156
0,009
0,422
2,368
CDLTO
0,005
0,002
2,043
0,094
0,042
0,695
1,439
a. Dependent Variable: TCCQ
Phụ lục 14. Kết quả phân tích hồi quy ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính trừu tượng của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Variables Entered/Removeda
Model
Variables Entered
Variables Removed
Method
1
. Enter
CDLTO, CDIND, CDMAS, CDIDV, CDUAI, CDPDIb
a. Dependent Variable: TTTT
b. All requested variables entered.
Model Summaryb
Model
R
R Square
Adjusted R
Std. Error of the
Durbin-Watson
Square
Estimate
1
0,847a
0,717
0,714
0,28692
1,511
a. Predictors: (Constant), CDLTO, CDIND, CDMAS, CDIDV, CDUAI, CDPDI
b. Dependent Variable: TTTT
ANOVAa
Model
Sum of Squares
df
Mean Square
F
Sig.
19,127
232,338
0,000b
114,762
6
Regression
0,082
45,361
551
1
Residual
160,123
557
Total
a. Dependent Variable: TTTT
b. Predictors: (Constant), CDLTO, CDIND, CDMAS, CDIDV, CDUAI, CDPDI
Coefficientsa
Model
Unstandardized
Standardized
t
Sig.
Collinearity Statistics
Coefficients
Coefficients
B
Std. Error
Beta
Tolerance
VIF
(Constant)
4,140
0,060
69,429
0,000
CDIDV
-0,020
0,001
-0,849
-25,107
0,000
0,450
2,222
CDUAI
-0,004
0,001
-0,186
-5,515
0,000
0,453
2,207
1
CDIND
0,000
0,002
0,011
0,306
0,760
0,376
2,663
CDPDI
0,005
0,002
0,128
3,423
0,001
0,368
2,721
CDMAS
-0,013
0,001
-0,316
-11,370
0,000
0,666
1,500
CDLTO
0,000
0,001
-0,009
-0,333
0,739
0,695
1,440
a. Dependent Variable: TTTT
Phụ lục 15. Kết quả phân tích nhân tố hồi quy ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cụ thể của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Variables Entered/Removeda
Model
Variables Entered
Variables
Method
Removed
CDLTO,
. Enter
1
CDMAS, CDIDVb
a. Dependent Variable: TTCT
b. All requested variables entered.
Model Summaryb
Model
R
R Square
Adjusted R
Std. Error of the
Durbin-Watson
Square
Estimate
1
0,460a
0,211
0,207
0,90999
2,127
a. Predictors: (Constant), CDLTO, CDMAS, CDIDV
b. Dependent Variable: TTCT
ANOVAa
Model
Sum of Squares
df
Mean Square
F
Sig.
41,010
49,523
0,000b
123,029
3
Regression
0,828
458,762
554
1
Residual
581,791
557
Total
a. Dependent Variable: TTCT
b. Predictors: (Constant), CDLTO, CDMAS, CDIDV
Coefficientsa
Model
Unstandardized
Standardized
t
Sig.
Collinearity Statistics
Coefficients
Coefficients
B
Std. Error
Beta
Tolerance
VIF
(Constant)
3,044
0,131
23,261
0,000
CDIDV
-0,008
0,002
-0,178
-4,257
0,000
0,818
1,223
1
CDMAS
-0,009
0,003
-0,109
-2,802
0,005
0,936
1,069
CDLTO
0,026
0,003
0,339
8,375
0,000
0,867
1,153
a. Dependent Variable: TTCT
Phụ lục 16. Kết quả phân tích nhân tố hồi quy ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa quốc gia tới đánh giá của khách du lịch quốc tế về sức hấp dẫn từ các thuộc tính cảnh quan và bầu không khí của tài nguyên du lịch văn hóa ở điểm đến
Variables Entered/Removeda
Model
Variables Entered
Variables
Method
Removed
1
CDLTO, CDIDVb
. Enter
a. Dependent Variable: TTCQ1
b. All requested variables entered.
Model Summaryb
Model
R
R Square
Adjusted R
Std. Error of the
Durbin-Watson
Square
Estimate
1
0,152a
0,023
0,020
0,78208
1,449
a. Predictors: (Constant), CDLTO, CDIDV
b. Dependent Variable: TTCQ
ANOVAa
Model
Sum of Squares
df
Mean Square
F
Sig.
6,563
0,002b
4,015
Regression
8,029
2
0,612
1
Residual
339,464
555
Total
347,493
557
a. Dependent Variable: TTCQ1
b. Predictors: (Constant), CDLTO, CDIDV
Coefficientsa
Model
Unstandardized
Standardized
t
Sig.
Collinearity Statistics
Coefficients
Coefficients
B
Std. Error
Beta
Tolerance
VIF
(Constant)
2,713
0,109
24,848
0,000
1
CDIDV
-0,003
0,002
-0,092
-2,047
0,041
0,874
1,145
CDLTO
0,006
0,003
0,093
2,066
0,039
0,874
1,145
a. Dependent Variable: TTCQ

