1
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Cua biển (Scylla spp.) một trong những nguồn hải sản quan trọng khu
vực Đông Nam Á, giá trị kinh tế cao góp phần tăng sản lượng nuôi trồng
thủy sản nhiều quốc gia như Trung Quốc, Philippines, Việt Nam (Shelley &
Lovatelli, 2011). Loài cua biển (Scylla paramamosain) đối ợng thủy sản
nước lợ quan trọng nước ta nói chung, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
(ĐBSCL) nói riêng do loài này kích thước lớn, tăng trưởng nhanh rộng
muối nên thích ứng tốt với vùng nuôi bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn (Petersen
et al., 2013; Trần Ngọc Hải Quốc Việt, 2017). Những năm gần đây, với sự
rủi ro cao trong nuôi tôm tôm thẻ chân trắng do dịch bệnh, các hình
nuôi cua biển kết hợp với tôm trong các ao nuôi quảng canh cải tiến (Nguyễn Thị
Ngọc Anh ctv., 2019) hoặc cua biển luân canh với tôm nh tôm-cua-
rừng đang được áp dụng phổ biến các tỉnh ven biển ĐBSCL như Sóc Trăng,
Bạc Liêu, Mau, Trà Vinh (Bộ NN&PTNT, 2015). Theo quy hoạch của Bộ
NN&PTNT (2009), đến năm 2020 diện tích nuôi cua ớc mặn, lợ nước ta đạt
620.000 ha, nhu cầu con giống để cung cấp cho nuôi cua thương phẩm 572
triệu con. Điều này cho thấy số lượng cua giống để phát triển nghề nuôi cua
thương phẩm rất lớn. Vì thế, sản xuất giống nhân tạo cua biển phát triển nhanh
ĐBSCL từ nhiều năm qua để chủ động cung cấp cua giống cho nuôi thương
phẩm (Trần Ngọc Hải Nguyễn Thanh Phương, 2009 ; Trần Ngọc Hải ctv.,
2018).
Trong ương nuôi ấu trùng cua biển, thức ăn tươi sống (Rotifer Artemia)
đóng vai trò rất quan trọng, được sử dụng trong suốt đợt ương nuôi. Tuy nhiên,
thức ăn ơi sống thiếu một số acid béo thiết yếu cần phải được giàu hóa trước
khi cho ăn (Truong Trong Nghia, et al., 2007) và có khả năng truyền bệnh cho ấu
trùng cua (Homle, 2006), đồng thời chi phí thức ăn tươi sống (Artemia) giá
cao, chiếm n 50% tổng chi phí sản xuất (Trần Ngọc Hải Nguyễn Thanh
2
Phương 2009 ; Shelley and Lovatelli, 2011). thế, đã có một vài nghiên cứu về
sử dụng thức ăn nhân tạo thay thế một phần thức ăn tươi sống trong ương ấu
trùng cua biển được thực hiện nhằm giảm sự phụ thuộc nguồn thức ăn tươi sống
để ứng dụng vào quy thương mại góp phần giảm giá thành sản xuất (Holme
et al., 2009; Hassan, et al., 2011; Shelley and Lovatelli, 2011). Việt Nam, sản
xuất giống nhân tạo cua biển loài (S. paramamosain) đã thành công thương
mại hóa từ nhiều năm qua, trong đó sử dụng ấu trùng Artemia làm nguồn thức ăn
tươi sống kết hợp với thức ăn nhân tạo (Lansy, Frippak) trong suốt chu kỳ ương
nuôi (Trần Ngọc Hải Nguyễn Thanh Phương, 2009; Trần Ngọc Hải ctv.,
2018). Tuy nhiên, thức ăn nhân tạo chất ợng cao được sử dụng cho ấu trùng
cua biển là loại thức ăn có sẵn trên thị trường chuyên dùng cho ấu trùng tôm biển
như Lansy, Frippak thể không phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng cho ấu trùng
cua biển. Nhiều nghiên cứu khẳng định nhu cầu dinh dưỡng của động vật thủy
sản khác nhau theo loài giai đoạn phát triển (Smith et al., 2003; Trần Thị
Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009).
Đối với thức ăn chế biến, hàm lượng lipid, nguồn lipid, phospholipid
cholesterol là chất dinh dưỡng thiết yếu trong thức ăn, đóng vai trò rất quan trọng
đối với sự phát triển của giáp xác (Coutteau et al., 1997; Trần Thị Thanh
Hiền Nguyễn Anh Tuấn, 2009). Nghiên cứu trước nhận thấy loài cua biển (S.
serrata) giai đoạn ấu trùng cua con sử dụng tốt thức ăn chế biến, tuy nhiên
nếu thức ăn chế biến hàm lượng lipid thành phần lipid (nguồn lipid,
lecithin, cholesterol) không đáp ứng nhu cầu hoặc vượt nhu cầu đều ảnh hưởng
tiêu cực đến sự phát triển của ấu trùng cua như sự biến thái không đồng đều, cua
con bị bẫy lột xác (lột xác không hoàn toàn), giảm tăng trưởng tỉ lệ sống dẫn
đến giảm hiệu quả sản xuất (Sheen and Wu 1999; Catacutan 2002; Holme et al.,
2009; Suprayudi, et al., 2012a,b), Tương tự, đối với loài ghẹ xanh (Portunus
pelagicus) giai đoạn giống (Noordin, et al., 2020). Cho đến nay, các nghiên cứu
chỉ thực hiện một giai đoạn phát triển của ấu trùng cua với sự bổ sung một số
chất dinh ỡng đơn thuần trên loài cua S. serrata. Xuất phát từ thực tế, đề tài
‟Ảnh ởng của lipid trong thức ăn chế biến lên sinh trưởng tỉ lệ sống của ấu
trùng cua biển (Scylla paramamosain)ˮ được thực hiện.
3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm xác định được hàm lượng lipid và nguồn lipid thích hợp
bổ sung vào thức ăn chế biến, chế độ cho ăn phù hợp ương ấu trùng cua biển từ
giai đoạn zoea 3 đến cua 1. Từ đó làm sở phát triển công thức thức ăn chế
biến ứng dụng vào thực tế sản xuất để ương cua S. paramamosain từ zoea 3 đến
cua giống, chủ động nguồn thức ăn trong sản xuất giống
1.3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Khảo sát khía cạnh kỹ thuật và sử dụng thức ăn trong sản xuất giống
cua S. paramamosain ở Đồng bằng sông Cửu Long
Nội dung 2: Ảnh hưởng của việc bổ sung Lipid vào thức ăn chế biến ương ấu
trùng cua S. paramamosain từ giai đoạn zoea 3 đến cua 1.
(i) Ảnh hưởng của việc bổ sung lipid vào thức ăn ương ấu trùng cua biển.
(ii) Ảnh ởng của việc bsung các nguồn dầu trong thức ăn ương ấu trùng
cua biển.
(iii) Ảnh hưởng của việc bổ sung lecithin trong thức ăn ương ấu trùng cua
biển.
(iv) Ảnh hưởng của việc bsung cholesterol trong thức ăn ương ấu trùng cua
biển.
Nội dung 3: Khả năng thay thế u trùng Artemia bằng thức ăn chế biến ương ấu
trùng cua biển S. paramamosain từ giai đoạn zoea 3 đến cua 1.
Nội dung 4: Ứng dụng kết quả nghiên cứu thức ăn chế biến ương ấu trùng cua
biển S. paramamosain ở qui mô sản xuất.
1.4. Ý nghĩa của nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu cung cấp những dẫn liệu khoa học về
hàm ợng lipid, nguồn lipid, hàm ợng cholesterol lecithin thích hợp được
sử dụng trong chế biến thức ăn cho cho ấu trùng cua biển (S. paramamosain).
4
Ý nghĩa thực tiễn: Với mục tiêu nghiên cứu tập trung theo hướng ứng dụng nên
kết quả nghiên cứu rất ý nghĩa về ứng dụng thực tiễn. Kết quả nghiên cứu về
nguồn lipid cholesterol lecithin phù hợp trong y dựng phát triển công
thức thức ăn cho ấu trùng cua biển (S. paramamosain) giúp làm sở để nhà sản
xuất thể làm thức ăn ương cua, từ đó chủ động nguồn thức ăn trong sản xuất
giống. Kết quả xác định tỉ lệ thay thế thức ăn chế biến Artemia phù hợp giúp
các trại sản xuất giống ứng dụng vào quá trình sản xuất giống, góp phần hoàn
thiện qui trình sản xuất giống cua biển đạt hiệu quả kinh tế cao.
1.5 Điểm mới của luận án
- Đánh giá khía cạnh kỹ thuật, đặc biệt hiện trạng sử dụng thức ăn trong
ương ấu trùng cua biển S. paramamosain ở đồng bằng sông Cửu Long.
- Xác định được hàm lượng nguồn dầu phù hợp để làm thức ăn cho ấu
trùng cua biển S. paramamosain từ giai đoạn zoea 3 đến cua 1.
- Xác định được lượng lecithin cholesterol phù hợp bổ sung vào thức
ăn ương ấu trùng cua biển S. paramamosain từ giai đoạn zoea 3 đến cua 1.
- Lần đầu tiên xây dựng được công thức thức ăn chế biến đáp ng nhu
cầu lipid ương ấu trùng cua, giảm được lượng Artemia. Ứng dụng thành công vào
sản xuất thực tế, nâng cao tỉ lệ sống ấu trùng cua biển S. paramamosain cao hơn
so với thực tế sản xuất hiện nay.
5
Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Hiện trạng sản xuất giống cua biển
Cua biển thuộc giống Scylla ớc ta chỉ có 2 loài S. paramamosain
(cua sen) S. olivacea (cua lửa) (Keenan, 1999). Đây những đối tượng giáp
xác quan trọng trong nuôi trồng thủy sản các nước vùng Ấn Độ - Tây Thái
Bình ơng nước ta. Từ nhiều năm qua, nghề sản xuất giống nuôi cua
biển thương phẩm phát triển khá nhanh nước ta, đặc biệt vùng Đồng Bằng
Sông Cửu Long. Tỉnh Mau khoảng 100 trại sản xuất giống cua biển (Trần
Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009).
Kết quả khảo sát của Trần Ngọc Hải Quốc Việt (2018) cho biết số
lượng trại sản xuất giống cua biển của tỉnh Bạc Liêu tổng số 40 trại, sản ợng
năm 2016 đạt 500 triệu con. Các trại Bạc Liêu sản xuất quy lớn tính
chuyên môn hóa cao. Trong khi tỉnh Mau, số lượng trại nhiều nhất
tăng khá nhanh: 372 trại năm 2014, 394 trại năm 2015 438 trại năm 2016,
Sản lượng cua giống cũng tăng tương ứng, từ 618,4 triệu năm 2014 lên 802,6
triệu m 2015 935,8 triệu năm 2016. Tại tỉnh Kiên Giang, slượng trại
136 trại, sản lượng cua giống 157,5 triệu con năm 2016. Các tác giả cũng đánh
giá từ năm 2014- 2016 tình hình sản xuất cua giống của ĐBSCL phát triển tương
đối ổn định trong thời gian qua, đã cung cấp nguồn giống khá lớn góp phần
thúc đẩy nghề nuôi cua thương phẩm phát triển.
Về kỹ thuật sản xuất: trung bình mỗi trại sản xuất được 6±2 đợt/năm, mỗi
đợt sử dụng khoảng 9±18 con cua mẹ. Cua mẹ khối lượng trung bình 433±40
g/con (dao động 350-500 g/cua mẹ) trung nh 32,4% số trại tự nuôi vcua
mẹ, còn lại 67,6% số trại mua cua trứng từ các trại chuyên nuôi vỗ cua mẹ để cho
nở và ương ấu trùng.
Kết quả điều tra tỉnh Mau: Các bể hầu hết đều bằng bể ximăng, hình
vuông. Kích cỡ trung bình của các bể trong khoảng 4,4 m3 dùng cho ương ấu
trùng zoea, ấu trùng megalopa cua con. Bể nuôi cua mẹ nuôi cua mang
trứng (bể ấp) có thể đơn giản bể nhựa 20- 50 lít để nuôi riêng từng con hay bể