
Trần Quốc Việt ảnh hưởng của việc bổ sung probiotic ...
1
Ảnh hưởng của việc bổ sung probiotic vào khẩu phần đến khả năng tiêu hóa thức ăn,
tốc độ sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy của lợn con
và lợn thịt.
Trần Quốc Việt*; Bùi Thị Thu Huyền; Ninh Thị Len; Nguyễn Thị Phụng
Lê Văn Huyên và Đào Đức Kiên.
Bộ môn Dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi - Viện Chăn nuôi.
*Tác giả liên hệ: Trần Quốc Việt
ĐT: (04)8.386.126/ 0982.011.584 ; Fax : (04) 8.389.775: Email: vietvcn@yahoo.com
ABSTRACT
Effect of probiotic supplementation into diets on digestibility, growth performants, feed
efficiency and diarrhea rate in piglets and growing pigs
Three experiments were conducted to evaluate efficiency of supplementation of probiotics to diets of pigs.
There were five treatments, in which three treatments (1, 2 and 3) were diets supplemented with probiotic1
(Enterococcus faecium-6H2, Lactobacillus acidophilus-C3, Bacillus subtilis-H4) probiotic2 (Pediococcus
pentosaceus -D7, Lactobacillus plantarum-1K8, Bacillus subtilis- H4) and probiotic3 (Lactobacillus
plantarum-3K2, Lactobacillus rhamnosus-5M2, Bacillus licheniformis-H3), respectively; one treatment (4)
with antibiotic and without probiotics (positive control) and one treatment (5) with neither antibiotic nor
probiotics (negative control). The probiotics contained 10
8
cfu of bacteria per g and added to the diets at level
of 2 kg/tone.
The first experiment was carried out on 5 castrated male pigs with body weight of 13-15 kg according to 5 x
5 Latin Square design to measure coefficient of apparent total tract digestibility (CATTD) of dietary
nutrients. The CATTD of dry matter (DM) was not affected by treatment (P>0.05). CATTD of organic
matter (OM) was highest for treatment 1, followed by treatment 4 (P<0.05) and lowest values were for other
treatments. There was a similar tendency of CATTD of crude protein (CP); ether extract (EE), crude fibre
and NDF. The second experiment was conducted with 180 piglets weaned at 21 days old according to
randomized block design. The experiment consisted of 5 treatments (as above) and 3 replicates. There was no
significant difference in feed intake between the treatments (P>0.05). Average daily gain (ADG) of treatment
1 and 4 was similar and higher than that of treatment 5 (P<0.05). The rate of diarrhea in treatment 4 and 1
was similar and lower than that of other treatments (P<0.05). At the age of 60 days, concentration of bacillus
bacteria was lowest and of Ecoli was highest in ileal digesta of pigs in treatment 5. In caecal digesta,
concentration of Latic bacteria was highest for treatment 1, while of bacillus bacteria was highest for
treatment 4 and of Ecoli was lowest for treatment 3 (P<0.05). The third experiment was done with 195
growing pigs at the age of 70 days according to completely randomized block design. The experiment
consisted of 5 treatments (as above) and 3 replicates. There was no effect of diet on feed intake. ADG of pigs
in treatment 1 and 4 was similar and higher than that of other treatments (P<0.05). Feed conversion ratio
(FCR) was highest in treatment 5 and lowest in treatment 1 and 4. The diarrhea rate in all the treatments was
lower than that in weaned piglets and lowest in treatment 4, then by treatment 1 and the highest value was for
treatment 5 (P<0.05). It can be concluded that supplementation of probiotic1 to diet improved digestibility,
growth performance and health status of pigs.
Key words: Probiotics, Lactobacillus, Bacillus, Piglets, fattening pigs, digestibility, ADG and FCR.
Đặt vấn đề.
Hiện nay, mặc dù đang tồn tại những quan điểm khác nhau về việc sử dụng kháng sinh liều
thấp như chất kích thích sinh trưởng trong thức ăn (Tă) chăn nuôi, giảm tối đa và tiến tới
hoàn toàn không sử dụng kháng sinh đang là một xu thế chung của Thế giới. Theo báo cáo
của Uỷ ban sử dụng dược phẩm trong Tă chăn nuôi trực thuộc Hội đồng NC Quốc gia
(NRC - Mỹ), thiệt hại do lệnh cấm sử dụng kháng sinh trong Tă chăn nuôi có thể lên tới
2,5 tỷ USD mỗi năm (Donna U. Vogt. 1999). Bởi vậy, NC tìm ra các chất thay thế đang
thực sự trở thành một nhu cầu cấp bách. Trong số các chất thay thế, Probiotic hiện được
quan tâm NC nhiều, do có đặc điểm ưu việt: (i) an toàn đối với vật nuôi và con người; (ii)

Viện Chăn nuôi - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi -
Số 11-Tháng 4-2008
2
cải thiện các chức năng tiêu hoá; (iii) ức chế vi khuẩn (VK) gây bênh và tăng cường khả
năng miễn dịch ở gia súc; (iv) không để lại tồn dư, đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm
(Jans, 2005).
Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của việc sử một số chế phẩm Probiotic (do Viện
Chăn nuôi phối hợp với Trung tâm Công nghệ sinh học - Đại học Quốc gia Hà nội NC sản
xuất) trên lợn con và lợn nuôi thịt.
Nội dung và Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp bố trí thí nghiệm tiêu hóa
Bảng 1: Khẩu phần cơ sở cho lợn thí nghiệm.
Khẩu phần cho lợn thịt
Nguyên liệu Khẩu
phần cho
lợn con
Giai đoạn từ 20-50 kg Giai đoạn Trên 50
Ngô nghiền - 43,41 41,76
Ngô ép đùn 46,49 - -
Cám gạo tẻ - 15,35 17,55
Sắn khô - 10,00 15,00
Khô dầu đậu tương 46% Pr 23,69 26,01 20,56
Hạt đậu tương ép đùn 10,00 - -
Bột thịt xương 50% Pr - 2,13 3,00
Bột thay thế sữa (milk replacer) 5,00 - -
Bột sữa gầy (whey 11% protein) 10,00 - -
Dầu thực vật 1,45 - -
Premix vitamin-khoáng 0,25 0,25 0,25
Lysine 0,13 0,27 0,17
Methionine 0,08 0,09 0,03
Threonine 0,08 0,07 0,02
Bột đá 1,02 0,70 0,51
Dicanxi phốt phát 18% P 1,52 1,22 0,75
Muối 0,30 0,50 0,50
Thành phần dinh dưỡng/kg
Vật chất khô (%) 91,06 88,01 87,50
Năng lượng trao đổi (kcal/kg) 3265 3000 3000
Protein thô (%) 21,54 18,00 16,00
Lysine (%) 1,35 1,15 0,95
Canxi (%) 0,95 0,90 0,80
Phốt pho dễ hấp thu (%) 0,45 0,40 0,35
Thí nghiệm (TN) được tiến hành trên 5 lợn đực thiến giống Yorkshire bắt đầu từ 45 ngày
tuổi có khối lượng (KL) từ 13-15 kg bố trí theo kiểu ô vuông Latin (5x5).
Lợn được chia ngẫu nhiên thành 5 lô và nuôi riêng rẽ trong 5 cũi tiêu hoá có khay hứng
phân và nước tiểu riêng biệt, mỗi lợn trong một cũi tương ứng với 1 lô TN : các lô I; II và
III, lợn được ăn khẩu phần (KP) cơ sở (bảng 1) có bổ sung chế phẩm Probiotic 1 gồm 3
chủng vi khuẩn (Enterococcus faecium- 6H2; Lactobacillus acidophilus-C3 và Bacillus
subtilis-H4), chế phẩm probiotic 2 gồm 3 chủng (Pediococcus pentosaceus -Đ7;
Lactobacillus plantarum-1K8 và Bacillus subtilis- H4) và chế phẩm Probiotic 3 gồm 3
chủng (Lactobacillus plantarum-3K2; Lactobacillus rhamnosus-5M2; Bacillus
licheniformis-H3) tương ứng. Mật độ vi sinh vật (VSV) trong mỗi chế phẩm là 10
8
cfu/g.

Trần Quốc Việt ảnh hưởng của việc bổ sung probiotic ...
3
Liều bổ sung: 2 kg/tấn. Lợn ở lô IV- Lô đối chứng tích cực (possitive coltrrol) được ăn
khẩu phần (KP) cơ sở có bổ sung Colistin 98% với liều 100 ppm). Lợn ở lô V – Lô đối
chứng tiêu cực (negative coltrol) ăn KP cơ sở không BS chế phẩm probiotic và kháng sinh.
Mỗi cũi tiêu hoá, bố trí máng ăn và vòi uống tự động. Mỗi giai đoạn TN kéo dài 12 ngày
(7ngày thích nghi, 5ngày thu mẫu phân và nước tiểu). Trong thời kỳ thích nghi lợn cho ăn
tự do (ad lib). Trong thời kỳ thu mẫu lợn ăn 80% so với khả năng ăn trong giai đoạn thích
nghi nhằm hạn chế Tă bị bị dư thừa. Tă cung cấp 2 lần/ngày (8 giờ sáng và 3 giờ chiều).
Việc thu mẫu (phân và nước tiểu) tiến hành ngay sau mỗi bữa ăn. Toàn bộ phân của mỗi
lần thu, cân toàn bộ, trộn đều và lấy 10% KL cho vào túi ni lông buộc kín, đánh dấu và bảo
quản trong tủ lạnh ở -4
0
C. Việc thu mẫu nước tiểu cũng tiến hành tương tự. Để bảo tồn
lượng nitơ trong nước tiểu không bị thoát ra môi trường, mỗi xô hứng nước tiểu có sẵn
50ml H
2
SO
4
5%. Kết thúc mỗi giai đoạn thu mẫu, toàn bộ mẫu trộn đều và lấy mẫu đại
diện (300g phân và 300 ml nước tiểu) để phân tích. Nước uống cung cấp hoàn toàn tự do
trong suốt thời kỳ TN bằng núm uống tự động. Tă đưa vào hàng ngày và Tă thừa được ghi
chép hàng ngày.
Phân tích hoá học
Mẫu phân và mẫu Tă phân tích các chỉ tiêu: Vât chất khô (VCK) (TCVN. 4326-86),
protein tổng số (Nx 6,25) (TCVN. 4328-86), xơ thô (CF) (TCVN.4329-86), mỡ thô (EE)
(TCVN-4327-86), xơ hoà tan trong môi trường trung tính (NDF) (Goering và Van Soest,
1970). Mẫu nước tiểu được phân tích nitơ tổng số. Việc phân tích các chỉ tiêu tiến hành tại
Phòng phân tích Viện Chăn nuôi.
Phương pháp bố trí thí nghiệm nuôi dưỡng
Thí nghiệm tiến hành trên hai đối tượng: Lợn con giai đoạn sau cai sữa 21 ngày đến 60
ngày tuổi và lợn nuôi thịt giai đoạn từ 20-80 kg.
Thí nghiệm trên lợn con sau cai sữa
TN được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn toàn với 5 lô, 3 lần lặp lại/lô, 12 con (đồng
đều giới tính)/lần lặp lại, tổng số (5 x 3 x 12) 180 con. Tương tự như TN tiêu hóa, lợn ở
các lô I, II, III ăn KP cơ sở (bảng 1) có bổ sung chế phẩm Probiotic 1; 2 và 3 tương ứng.
Mật độ VSV trong mỗi chế phẩm 10
8
cfu/g. Liều bổ sung: 2 kg/tấn. Lợn ở lô IV- Lô đối
chứng tích cực (possitive coltrrol) ăn KP cơ sở có bổ sung Colistin 98% với liều 100 ppm).
Lợn ở lô V- Lô đối chứng tiêu cực (negative coltrol) ăn KP cơ sở không bổ sung chế phẩm
Probiotic và kháng sinh. Lợn con ở mỗi lần lặp lại được nuôi trên chuồng sàn nhựa, Tă và
nước uống sạch cung cấp theo chế độ ăn tự do. Tă cho vào và Tă thừa được ghi chép hàng
ngày để tính toán lượng Tă ăn vào và tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng.
Lợn con bị bệnh tiêu chảy được theo dõi và ghi chép hàng ngày, mức độ tiêu chảy phân
thành 2 cấp độ (mức A - tiêu chảy nhẹ, phân nhão, không thành khuôn và mức B tiêu chảy
nặng, phân lỏng, nhiều nước). Sau khi kết thúc TN, mỗi lô chọn 3 lợn có KL trung bình,
khoẻ mạnh (1 lợn con/lần lặp lại) với tổng số 15 lợn con để giết mổ, chất chứa trong ruột
non và ruột già được lấy mẫu để để khảo sát cơ cấu quần thể VSV thể hiện trên mật độ
(cfu/g) các vi khuẩn hiếu khí (VKHK), vi khuẩn kị khí (VKKK), VK Lactic, Bacillus, nấm
men và E. Coli. Việc định loại và đếm các vi sinh vật đường ruột được thực hiện theo các
phương pháp NC vi sinh vật thông thường.
Thí nghiệm trên lợn thịt.
Thí nghiệm thực hiện trên lợn thịt có KL ban đầu TB là 22 ± 0,5 kg, bố trí theo phương
pháp (PP) khối ngẫu nhiên hoàn toàn, với 5 lô, 3 lần lặp lại/lô, 13 con (đồng đều giới
tính)/lần lặp lại, tổng số (5 x 3 x 13) 195 lợn. Tương tự như TN trên lợn con, lợn ở các lô I,

Viện Chăn nuôi - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi -
Số 11-Tháng 4-2008
4
II, III ăn KP cơ sở (Bảng 1) có bổ sung chế phẩm Probiotic 1; 2 và 3 tương ứng. Mật độ
VSV trong mỗi chế phẩm đạt 10
8
cfu/g. Liều bổ sung: 2 kg/tấn. Lợn ở lô IV- Lô đối chứng
tích cực (possitive coltrrol) ăn KP cơ sở có bổ sung chlotetracyclin 10% dạng viên bọc với
liều 0.8 kg/tấn, tương ứng với 80 ppm Chlotetracycline hoạt tính. Lợn ở lô V - Lô đối
chứng tiêu cực (negative coltrol) ăn KP cơ sở không bổ sung chế phẩm Probiotic và kháng
sinh.
Lợn thí nghiệm được nuôi trong chuồng kiểu thông thoáng tự nhiên, nền xi măng, Tă và
nước sạch được cung cấp theo chế độ ăn tự do. Khi lợn đạt KL trung bình 50 kg, toàn đàn
lợn cân để tính tốc độ sinh trưởng. Tă cho vào và Tă thừa cân và ghi chép hàng ngày để
tính lượng Tă ăn vào và tiêu tốn TA/kg tăng trọng. Lợn bị bệnh tiêu chảy theo dõi và ghi
chép hàng ngày. Mức độ tiêu chảy của lợn cũng đánh giá theo hai cấp độ tương tự như TN
trên lợn con.
Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được được xử lý thống kê ANOVA- GLM bằng phần mềm
Minitab13.0 trên máy tính.
Kết quả và thảo luận
ảnh hưởng của việc bổ sung probiotic trong khẩu phần đến khả năng tiêu hoá thức ăn
của lợn con.
Bảng 2: ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm probiotic vào thức ăn đến tỷ lệ
tiêu hóa thức ăn của lợn (%).
Chỉ tiêu Lô thí nghiệm
Lô I
(CP1)
Lô II
(CP2)
Lô III
(CP3)
Lô IV
(ĐC+)
Lô V
(ĐC-)
SE P
Vật chất khô 87,4 84,8 84,4 85,8 83,9 0,8 0,055
Chất hữu cơ
89,7
b
85,4
ab
84,6
a
87,9
ab
85,4
ab
1,0 0,015
Protein thô
88,9
b
86,1
ab
86,0
ab
88,6
b
85,0
a
0,8 0,011
Mỡ thô
66,2
b
63,4
a
64,2
ab
66,3
b
64,0
ab
0,8 0,044
Xơ thô
62,8
bc
57,7
a
58,3
ab
62,7
c
58,4
a
1,1 0,010
NDF
74,7
b
70,3
a
70,7
ab
74,3
ab
70,8
a
1,1 0,023
Các giá trị trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê
Kết quả về tỷ lệ tiêu hóa (TLTH) một số thành phần của KP được trình bày ở Bảng 2.
Không có sự khác nhau rõ rệt giữa các lô về TLTH VCK (P = 0,055), nhưng có sự khác
nhau khá rõ rệt giữa các lô về TLTH chất hữu cơ, protein thô, xơ thô, mỡ thô và NDF.
TLTH chất hữu cơ ở lợn lô III là thấp nhất (84,6%), cao nhất ở lô I (89,7%) và lô đối
chứng tích cực (87,9%). TLTH protein thô thấp nhất quan sát thấy ở lô V, cao nhất ở lô I
và IV. TLTH xơ thô và NDF cao rõ rệt ở các lô I và IV, thấp nhất quan sát thấy ở lô II và
lô đối chứng tiêu cực.
Nhìn chung, khả năng tiêu hoá các chất dinh dưỡng trong TĂ cải thiện rất nhiều ở lô lợn
được ăn KP có bổ sung chế phẩm probiotic I và kháng sinh. Bổ sung kháng sinh cải thiện
được khả năng tiêu hoá ở vật nuôi không còn là vấn đề mới, nhưng nâng cao TLTH của
TĂ thông qua bổ sung các sản phẩm probiotic cũng còn có nhiều kết quả NC trái ngược
nhau. Theo Scheuemann (1993); Tossenberger và ctv (1995) bổ sung probiotic trong TĂ
cải thiện được TLTH protein 5-6%. Nhưng kết quả NC của Galassi và ctv (2001) cho thấy,
không thấy có sự khác biệt về TLTH thức ăn giữa lợn ăn KP có và không bổ sung
Probiotic. Như vậy là do, đáp ứng của vật nuôi đối với việc bổ sung các sản phẩm probiotic
trong TĂ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, đặc biệt là vào chủng và cơ cấu các chủng vi

Trần Quốc Việt ảnh hưởng của việc bổ sung probiotic ...
5
khuẩn (VK) probiotic được sử dụng, bản chất của KP và hoàn cảnh chăn nuôi cụ thể
(Damgaard và ctv, 2006). Kết quả NC này cho thấy chế phẩm probiotic I gồm các chủng
VK Lactic (Enterococcus faecium- 6H2; Lactobacillus acidophilus-C3) và Bacillus
(Bacillus subtilis-H4) có tác dụng cải thiện được khả năng tiêu hóa TĂ của lợn.
nh hưởng của việc bổ sung các chế phẩm probiotic trong KP đến sinh trưởng, hiệu
quả sử dụng TĂ và tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy của lợn con và lợn nuôi thịt.
Tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng TĂ của lợn con và lợn thịt trong NC này trình bày
ở các Bảng 3 và 4. Tốc độ sinh trưởng của lợn con ở lô V là thấp nhất (276g/con/ngày), ở
các lô II và III tốc độ tăng trọng cao hơn so với lô V từ 3,9 đến 4,7%, sự sai khác này là
không rõ rệt (P> 0,05). Lợn ở lô I và lô IV có tốc độ sinh trưởng tương đương (309 và
308g/con/ngày) nhưng cao hơn rõ rệt (11,6%) so với lô đối chứng tiêu cực và sai khác này
có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Điều đó cho thấy, bổ sung kháng sinh và chế phẩm
probiotic I đã cải thiện tốc độ sinh trưởng ở lợn con, hiệu quả này có được là do khả năng
tiêu hóa TĂ của các lô này được cải thiện (như đã trình bày ở trên).
Bảng 3: ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm probiotic vào thức ăn đến sinh trưởng, hiệu
quả sử dụng TĂ và tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy của lợn con từ cai sữa đến 60 ngày tuổi.
Lô thí nghiệm
Chỉ tiêu
Lô I
(CP1)
Lô II
(CP2)
Lô III
(CP3)
Lô IV
(ĐC+)
Lô V
(ĐC-)
SE P
KL ban đầu (kg) 6,4 6,3 6,4 6,4 6,5 0,13 0,941
KL kết thúc (kg) 19,0
b
18,1
ab
18,3
ab
19,0
ab
17,8
a
0,31 0,020
Tăng trọng (g/c/ng) 309
b
287
ab
289
ab
308
b
276
a
8,0 0,015
TĂ ăn vào (g/c/ng) 500 490 489 503 473 0,02 0,814
TTTĂ (kg/kg TT) 1,62 1,69 1,69 1,62 1,71 0,03 0,095
Tỷ lệ Tiêu chảy (%)
Mức A 1,66
a
2,40
ab
2,67
b
1,67
a
2,47
ab
0,22 0,020
Mức B 2,57
b
3,10
ab
2,90
b
2,13
b
4,17
a
0,26 0,003
Chung 2 mức 4,27
b
5,56
a
5,62
a
3,86
b
6,64
a
0,26 0,001
Các giá trị trung bình trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau thì khác nhau ở mức P<0.0
5
Kết quả ở bảng 3 cho thấy, không có sự khác biệt giữa các lô về khả năng ăn vào và hiệu
quả chuyển hóa TĂ. Lượng TĂ ăn vào hàng ngày của lợn con ở các lô từ 470 - 500g/con.
Mức tiêu tốn TĂ từ 1,62 - 1,71 kg/kg tăng trọng và sai khác này không đáng kể (P > 0,05).
Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy lợn con sau cai sữa ở TN này từ 3,8 đến 6,6%, thấp nhất ở lô lợn
ăn KP có bổ sung kháng sinh (3,86%) và chế phẩm probiotic 1 (4,27%), trong đó tỷ lệ cá
thể mắc bệnh tiêu chảy nặng (mức B) ở 2 lô này rất thấp (từ 2,13-2,57%), trong khi đó ở
các lô khác, đặc biệt là lô lợn ăn KP không bổ sung kháng sinh và probiotic, tỷ lệ lợn con
bị tiêu chảy nặng là 4,17%.
Kết quả NC trên Thế giới lĩnh vực này rất khác nhau. Đồng thuận với kết quả NC này có:
Lessard và Brisson (1987) (tăng tiêu thụ TĂ, cải thiện sinh trưởng, không ảnh hưởng đến
hiệu quả chuyển hóa TĂ); Kyriakis và ctv (1999)(tăng tốc độ sinh trưởng); Collinder và
ctv (2000) (tăng tốc độ sinh trưởng). Không đồng thuận với kết quả NC này có: Navas-
Sanchez và ctv (1995) (không có đáp ứng rõ rệt so với đối chứng về sinh trưởng và hiệu
quả TĂ); Fedalto và ctv (2002) (không có đáp ứng rõ rệt so với đối chứng về sinh trưởng
và hiệu quả TĂ). Từ kết quả trên cho thấy, từ các chủng VK Lactic và Bacillus có các đặc
tính probiotic, khi tổ hợp lại với nhau thành một chế phẩm probiotic đa chủng thì hiệu quả
của chúng không giống nhau và chế phẩm probiotic 1 tỏ ra có hiệu quả nhất. Các kết quả
theo dõi những đáp ứng tương tự trên lợn thịt được trình bày ở bảng 4.

