intTypePromotion=1
ADSENSE

Áp dụng kỹ thuật sinh học phân tử để định danh vi khuẩn gây bệnh thường gặp

Chia sẻ: Trần Thị Hạnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

70
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài "Áp dụng kỹ thuật sinh học phân tử để định danh vi khuẩn gây bệnh thường gặp" được thực hiện với mục tiêu nhằm khảo sát thêm một phương pháp có khả năng định danh các vi khuẩn gây bệnh thường gặp.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Áp dụng kỹ thuật sinh học phân tử để định danh vi khuẩn gây bệnh thường gặp

Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011<br /> <br /> ÁP DỤNG KỸ THUẬT SINH HỌC PHÂN TỬ<br /> ĐỂ ĐỊNH DANH VI KHUẨN GÂY BỆNH THƯỜNG GẶP<br /> Nguyễn Thị Ngọc Thu*, Nguyễn Trọng Hiệp*, Bùi Tùng Hiệp**<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mở đầu: Việc định danh nhanh chóng vi khuẩn là điều cốt yếu trong việc điều trị bệnh nhân, đặc biệt trong<br /> những nhiễm trùng nặng. Trong những phương pháp hiện đang sử dụng tại các phòng xét nghiệm vi sinh lâm<br /> sàng để chẩn đoán bệnh nhiễm khuẩn, nuôi cấy vi khuẩn là phương pháp thường sử dụng nhất. Tuy nhiên, nuôi<br /> cấy đòi hỏi thời gian ít nhất từ 18-24 giờ cho vi khuẩn mọc và phải thêm nhiều thời gian nữa cho những thử<br /> nghiệm tính chất sinh-hóa để để định danh.<br /> Mục tiêu: Khảo sát thêm một phương pháp có khả năng định danh các vi khuẩn gây bệnh thường gặp.<br /> Phương pháp: Mười một vi khuẩn gây bệnh thường gặp, bao gồm 6 vi khuẩn Gram âm (Escherichia<br /> coli, Klebsiella pneumoniae, Salmonella typhi, Shigella flexneri, Proteus mirabilis, và Pseudomonas<br /> aeruginosa) và 5 vi khuẩn Gram dương (Staphylococcus aureus ATCC 25923, Methicillin-Resistant<br /> Staphylococcus aureus ATCC 43300, Streptococcus faecalis ATCC 51299, Bacillus subtilis ATCC 6633,<br /> Corynebacterium diphtheriae ATCC 51696) đã được khuếch đại vùng nối nội của gen mã hóa cho RNA<br /> ribosom của tiểu đơn vị nhỏ và lớn, với những mồi P1(5’-TTG TAC ACA CCG CCC GTC A-3’) và P2 (5’GGT ACT TAG ATG TTT CAG TTC-3’).<br /> Kết quả: Mỗi loài vi khuẩn khảo sát cho được một mẫu riêng biệt. Các mẫu này gồm nhiều vạch DNA<br /> khuếch đại tạo ra, có tính khác biệt rõ ràng giữa các loài.<br /> Kết luận: Các số liệu cho thấy tính hữu dụng của phương pháp này, có thể sử dụng, mang tính hiệu qủa và<br /> chuyên biệt cao, giúp phân biệt giữa những loài vi khuẩn gây bệnh thường gặp.<br /> Từ khóa: Vi khuẩn gây bệnh thường gặp, họ Enterobacteriaceae, vùng nối nội của gen mã hóa cho RNA<br /> ribosom (rRNA) của tiểu đơn vị nhỏ và lớn, PCR, Staphylococcus aureus kháng methicillin<br /> <br /> ABSTRACT<br /> APPLYING THE MOLECULAR BIOLOGY TECHNIQUE<br /> FOR IDENTIFICATION OF COMMON PATHOGENIC BACTERIA<br /> Nguyen Thi Ngoc Thu, Nguyen Trong Hiep, Bui Tung Hiep<br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 15 - Supplement of No 1 - 2011: 252 - 257<br /> Background: Rapid identification of bacteria is crucial in patient therapeutics, especially in severe<br /> infections. Among the various methods currently used in clinical laboratories for detection of bacterial infections,<br /> culture is the most frequent one. However, culture method requires at least 18-24 h of incubation, additional time<br /> is needed to perform biochemical tests to identify the bacteria.<br /> Objectives: To develop an alternative method for identification of common pathogenic bacteria.<br /> Method: Eleven common pathogenic bacteria, including six Gram-negative bacteria (Escherichia coli,<br /> Klebsiella pneumoniae, Salmonella typhi, Shigella flexneri, Proteus mirabilis, and Pseudomonas aeruginosa), and<br /> five Gram-positive bacteria (Staphylococcus aureus, Methicillin-Resistant Staphylococcus aureus, Streptococcus<br /> faecalis, Bacillus subtilis, Corynebacterium diphtheriae) were amplified in the intergenic 16S-23S spacer regions<br /> **Bệnh viện cấp cứu Trưng Vương, TP. HCM<br /> *Khoa Dược- ĐH Y Dược TP HCM, TP. HCM<br /> Tác giả liên hệ: TS. Nguyễn Trọng Hiệp<br /> ĐT: 0907429991<br /> Email: ntronghiep@yahoo.com<br /> <br /> 252<br /> <br /> Chuyên Đề Dược Khoa<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> of bacterial rRNA genes by using the PCR with primers P1(5’-TTG TAC ACA CCG CCC GTC A-3’) and P2<br /> (5’-GGT ACT TAG ATG TTT CAG TTC-3’).<br /> Results: Each studied species gave a specific ribotyping pattern. The pattern of DNA multiple bands is<br /> produced which is very discriminatory.<br /> Conclusion: These data demonstrated the utility of this method can very efficiently and specifically<br /> differentiate between the common pathogenic bacteria.<br /> Keywords: Common pathogenic bacteria, Enterobacteriaceae, the intergenic 16S-23S spacer regions of<br /> bacterial rRNA genes, PCR, methicillin-resistant Staphylococcus aureus<br /> ribosom (rRNA) cho tiểu đơn vị nhỏ và lớn (16S<br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> và 23S rRNA), gọi chung là phương pháp định<br /> Việc định danh chính xác vi khuẩn gây<br /> týp ribosom (ribotyping). Số lượng và kích<br /> bệnh trong mẫu bệnh phẩm là yêu cầu quan<br /> thước những vùng DNA khuếch đại mang tính<br /> trọng, thiết yếu của một phòng xét nghiệm vi<br /> đặc trưng cho từng loài sẽ giúp định danh các vi<br /> sinh lâm sàng. Một số vi khuẩn mọc chậm<br /> khuẩn gây bệnh(3,6,7,8,9,10). Chưa có nhiều nghiên<br /> hoặc/ và yêu cầu nuôi cấy khó khăn thì các<br /> cứu định danh các vi khuẩn gây bệnh bằng kỹ<br /> phương pháp nuôi cấy cổ điển thường qui gặp<br /> thuật này tại Việt nam. Đề tài nhằm khảo sát<br /> nhiều khó khăn hay mất nhiều thời gian nhiều<br /> thêm một phương pháp áp dụng kỹ thuật sinh<br /> tuần, đôi khi nhầm lẫn. Nhiều nghiên cứu cho<br /> học phân tử, có khả năng định danh các vi<br /> thấy các phương pháp định danh cổ điển dựa<br /> khuẩn gây bệnh thường gặp.<br /> trên hình thể học và phản ứng sinh hóa của<br /> VẬTLIỆU - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> những bộ kit thương mại thông dụng, phổ<br /> biến trên thế giới như API hoặc hệ thống định<br /> Chủng vi khuẩn<br /> danh tự động VITEK 2 (automated<br /> 11 chủng đại diện được cung cấp bởi phòng<br /> identification system) khá đắt tiền dành cho vi<br /> thí nghiệm Vi sinh – Ký sinh gồm 6 vi khuẩn<br /> khuẩn gây bệnh cũng có một tỉ lệ không định<br /> Gram âm (Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae,<br /> danh được hoặc nhầm lẫn(1).<br /> Salmonella typhi, Shigella flexneri, Proteus mirabilis,<br /> Các phương pháp sinh học phân tử với ưu<br /> Pseudomonas aeruginosa) và 5 chủng vi khuẩn<br /> thế cho kết qủa định danh nhanh chóng (khoảng<br /> Gram dương (Staphylococcus aureus ATCC 25923,<br /> 1 ngày so với trung bình 3 ngày của phương<br /> Methicillin-Resistant Staphylococcus aureus ATCC<br /> pháp cổ điển), chính xác vi khuẩn gây bệnh là<br /> 43300, Streptococcus faecalis ATCC 51299, Bacillus<br /> hết sức cần thiết trong những bệnh nhiễm nặng<br /> subtilis ATCC 6633, Corynebacterium diphtheriae<br /> (nhiễm trùng huyết, viêm màng não v…v…), để<br /> ATCC 51696).<br /> từ đó có kết qủa kháng sinh đồ phù hợp, phác<br /> Định danh vi khuẩn<br /> đồ điều trị kháng sinh hiệu qủa góp phần trong<br /> Trước hết, những chủng vi khuẩn đại diện<br /> chiến lược sử dụng kháng sinh tốt trong bệnh<br /> Gram<br /> âm và Gram dương, được định danh bằng<br /> viện. Tất cả sẽ ảnh hưởng đến việc làm giảm<br /> bộ kit API 20E (BioMerieux®) hoặc bằng<br /> thời gian và chi phí điều trị, tỉ lệ tử vong cũng<br /> phương pháp thường qui.<br /> như kiểm soát việc gia tăng tính đề kháng kháng<br /> sinh(2,4).<br /> Kỹ thuật sinh học phân tử<br /> Trong vòng 10 năm qua, kỹ thuật sinh học<br /> phân tử đã được sử dụng rộng rãi xác định tính<br /> đa hình hoặc/và để định danh vi khuẩn tới loài,<br /> dựa trên việc khuếch đại những vùng bảo thủ<br /> trong vùng nối nội của gen mã hóa cho RNA<br /> <br /> Chuyên Đề Dược Khoa<br /> <br /> Sau đó tất cả những chủng đại diện này<br /> được thực hiện bằng kỹ thuật PCR khuếch đại<br /> vùng nối nội của gen mã hóa cho RNA ribosom<br /> của tiểu đơn vị nhỏ và lớn (16S và 23S rRNA)<br /> với những mồi P1 (5’-TTG TAC ACA CCG CCC<br /> <br /> 253<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011<br /> <br /> GTC A-3’) và P2 (5’- GGT ACT TAG ATG TTT<br /> CAG TTC-3’), được thiết kế bổ sung với những<br /> đoạn có trình tự bảo thủ gần đầu 3’ của vùng<br /> 16S và đầu 5’ của vùng 23S trên gen mã hóa cho<br /> RNA ribosom.<br /> <br /> Chiết DNA vi khuẩn<br /> Hoạt hóa vi khuẩn trên môi trường<br /> Trypticase soy broth, sau đó thực hiện chiết<br /> DNA bộ gen vi khuẩn bằng bộ kit Wisard® SV<br /> genomic DNA purification system (A2361Promega) theo qui trình của nhà cung cấp.<br /> <br /> Thực hiện phản ứng PCR<br /> Sử dụng cặp mồi P1 và P2, phản ứng được<br /> thực hiện trên máy luân nhiệt (ATC401 model;<br /> Apollo-CLP). Thông số chạy PCR gồm biến tính<br /> ban đầu 1 phút ở 940C; 30 chu kỳ (1 phút ở 940C,<br /> 1 phút ở 500C, 1 phút 30 giây ở 720C); 5 phút ở<br /> 720C) với GoTaq® Flexi DNA polymerase<br /> (M8295- Promega). Sản phẩm khuếch đại được<br /> điện di trong điện trường 100V trong 2 giờ trên<br /> gel agarose 2.5 % có chứa ethidium bromide.<br /> Sản phẩm được phát hiện dưới tia UV 254 nm,<br /> chụp hình bằng hệ thống chụp gel (UV<br /> Transilluminator- Wealtec), phân tích bằng phần<br /> mềm Cross checker 2.91.<br /> <br /> khuếch đại ảnh hưởng nhiều bởi thông số thành<br /> phẩn MgCl2 và enzyme Taq polymerase của<br /> phản ứng, cụ thể trong nghiên cứu này thì<br /> MgCl2 (1.5mM) và enzyme Taq polymerase<br /> (2.5U) cho kết qủa tốt nhất.<br /> Kỹ thuật định týp ribosom giúp định danh<br /> một cách nhanh chóng những vi khuẩn gây<br /> bệnh thường gặp Gram âm và Gram dương vì<br /> số lượng và kích thước những vùng DNA<br /> khuếch đại mang tính đặc trưng cho từng<br /> loài(3,6,7,8,9,10). Kết qủa cho thấy, với những vi<br /> khuẩn Gram âm: Shigella flexneri được quan sát<br /> có ba sản phẩm khuếch đại ở vị trí 1100, 800 và<br /> 700 bp. Salmonella typhi cũng cho ba băng kích<br /> thước 1200, 900 và 700 bp. Proteus mirabilis cho<br /> bốn băng với kích thước 1100, 900, 850 và 750<br /> bp. Riêng Pseudomonas aeruginosa chỉ có duy nhất<br /> một băng ở vị trí 850 bp (Hình 1). K. pneumoniae<br /> thì cho ba băng ở những vị trí kích thước 850,<br /> 700, 550 bp. Với E. coli, chúng tôi nhận thấy vi<br /> khuẩn này cho bốn băng với kích thước 1200,<br /> 850, 800 và 700 bp (Hình 2).<br /> A<br /> <br /> B<br /> <br /> C<br /> <br /> D<br /> <br /> M<br /> <br /> KẾT QUÁ VÀ BÀN LUẬN<br /> Những chủng đại diện vi khuẩn Gram âm<br /> (E. coli, K. pneumoniae, Salmonella typhi, Shigella<br /> flexneri, Proteus mirabilis, Pseudomonas aeruginosa)<br /> những chủng lâm sàng ESBL E. coli, Klebsiella<br /> pneumoniae đã được định danh bằng bộ kit API<br /> 20E (BioMerieux®), tất cả đều cho kết qủa định<br /> danh với tỉ lệ % Id từ 73.2 đến 99.9%. Những<br /> chủng đại diện vi khuẩn Gram dương<br /> (Staphylococcus<br /> aureus,<br /> Methicillin-resistant<br /> Staphylococcus aureus, Streptococcus faecalis,<br /> Bacillus subtilis, Corynebacterium diphtheriae) đều<br /> cho kết qủa định danh phù hợp bằng phương<br /> pháp thường qui. Với kỹ thuật PCR định týp<br /> ribosom, chúng tôi nhận thấy các băng DNA<br /> <br /> 254<br /> <br /> 1.5 kb<br /> 1 kb<br /> 700 bp<br /> Hình 1. Kết qủa điện di sản phẩm khuếch đại PCR<br /> trên vi khuẩn Shigella flexneri; Salmonella typhi;<br /> Proteus mirabilis; Pseudomonas aeruginosa<br /> A: Shigella flexneri. B: Salmonella typhi. C: Proteus<br /> mirabilis. D: Pseudomonas aeruginosa. M: Marker 100 bp.<br /> <br /> Chuyên Đề Dược Khoa<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011<br /> MF<br /> <br /> EM<br /> <br /> 1.2 kb<br /> 1 kb<br /> <br /> 500 bp<br /> <br /> Hình 2. Kết qủa điện di sản phẩm khuếch đại PCR<br /> trên vi khuẩn K. pneumoniae và E. coli<br /> E: Klebsiella pneumoniae. F: E. coli. M: Marker 100 bp<br /> M G H I J K M2<br /> <br /> 1 kb<br /> <br /> 500 bp<br /> <br /> Hình 3. Kết qủa điện di sản phẩm khuếch đại PCR<br /> trên vi khuẩn Gram dương<br /> G: Methicillin-resistant Staphylococcus aureus. H:<br /> Staphylococcus aureus. I: Corynebacterium diphtheriae. J:<br /> Streptococcus faecalis. K: Bacillus subtilis. M: Marker 100<br /> bp. M2: Marker 1 kb<br /> <br /> Trên những vi khuẩn đại diện Gram dương<br /> cũng cho kết qủa tương tự, các băng DNA<br /> khuếch đại thu được đều có sự khác biệt, giúp<br /> <br /> Chuyên Đề Dược Khoa<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> nhận diện tới loài nhờ vào số lượng và kích<br /> thước của những băng khác nhau như:<br /> Methicillin-resistant Staphylococcus aureus và<br /> Staphylococcus aureus đều cho ba băng kích thước<br /> 800, 750, 550 bp. Vi khuẩn Corynebacterium<br /> diphtheriae cho ba băng kích thước 750, 700, 550<br /> bp. Streptococcus faecalis cho bốn băng kích thước<br /> 730, 700, 600, 550 bp và Bacillus subtilis thì có<br /> được ba băng ở những vị trí 730, 700, 550 bp<br /> (Hình 3).<br /> Ở Việt Nam, để định danh những vi khuẩn<br /> gây bệnh, phần lớn các bệnh viện áp dụng<br /> phương pháp cổ điển gồm nuôi cấy vi khuẩn kết<br /> hợp với những thử nghiệm đặc tính sinh hóa.<br /> Với những bệnh viện lớn có điều kiện thì có thể<br /> dùng bộ kit nhóm API (20E, 20NE...), đây là bộ<br /> kit sử dụng rất thông dụng ở những nước phát<br /> triển. Theo một nghiên cứu năm 1981, Kenneth<br /> E. Aldridge và cộng sự(5), đã so sánh khả năng<br /> định danh của bộ kit này với những phương<br /> pháp thông thường như những phản ứng sinh<br /> hóa khi nghiên cứu 505 vi khuẩn thuộc Họ<br /> Enterobacteriaceae gồm 202 chủng lâm sàng và<br /> 303 chủng đã được lưu trữ từ trước. Nghiên cứu<br /> này cho thấy bộ kit API 20E thì chính xác và<br /> nhanh hơn những thử nghiệm đặc tính sinh hóa<br /> cổ điển. Tuy nhiên, bộ kit này cũng hiện diện<br /> những hạn chế với sai sót khi định danh hoặc tỉ<br /> lệ chính xác định danh yếu trên những loài vi<br /> khuẩn khó nuôi cấy hoặc không nuôi cấy được.<br /> Thực vậy, với việc sử dụng kit API 20E, 9 trường<br /> hợp của Shigella sonnei được định danh là<br /> Citrobacter freundii và trong 7 trường hợp của<br /> Serratia marcescens được định danh là Serratia<br /> liquefaciens, phần lớn những sai sót liên quan<br /> những chủng tồn trữ nhưng cũng có một số<br /> lượng có ý nghĩa chủng lâm sàng mới phân lập<br /> bị nhầm lẫn. Mặt khác, theo một nghiên cứu gần<br /> đây của Awong-Taylor J và cộng sự(1), để định<br /> danh những vi khuẩn Gram dương không lên<br /> men glucose bằng cách sử dụng bộ kit API<br /> 20NE, chỉ có 54% loài được nhận diện tới giống<br /> và để định danh đến loài thì chỉ được 7% các<br /> chủng. Bên cạnh đó, có tới 39% những chủng<br /> thử nghiệm không định danh được. Với hệ<br /> <br /> 255<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011<br /> <br /> thống định danh tự động VITEK 2, các tỉ lệ<br /> tương ứng là 53%, 1%, và 46%. Trong nghiên<br /> cứu của chúng tôi, với số loài thử nghiệm còn ít<br /> nhưng với 11 loài thử nghiệm bằng kỹ thuật<br /> sinh học phân tử, tất cả đều có thể nhận định<br /> đến loài.<br /> Với kỹ thuật định type ribosom, chúng tôi<br /> thấy những thuận lợi của phương pháp này như<br /> độ chính xác cao và nhanh chóng (chỉ mất từ 5-7<br /> giờ thao tác thay vì từ 1-2 ngày như phương<br /> pháp cổ điển). Nghiên cứu của Fu Jun-fen năm<br /> 2002(3) thực hiện trên 27 loài vi khuẩn gồm<br /> những vi khuẩn Gram dương thường gây<br /> nhiễm trùng máu như Listeria monocytgenes,<br /> Staphylococcus aureus, Staphylococcus epidermidis,<br /> Enterococcus durans...và vi khuẩn Gram âm<br /> thường gây nhiễm trùng máu như Salmonella<br /> typhi, Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae,<br /> <br /> Shigella flexneri, Proteus vulgaris, Pseudomonas<br /> aeruginosa..., tất cả đều cho thấy khác biệt số<br /> lượng, kích thước các băng khuếch đại, giúp<br /> nhận định nhanh chóng loài (Bảng 1).<br /> Một nghiên cứu khác của Mehwish Jamil và<br /> cộng sự năm 2007(7), chỉ thực hiện trên vi khuẩn<br /> Gram âm, gồm năm loài vi khuẩn gây bệnh<br /> thuộc Họ Enterobacteriaceae (Escherichia coli,<br /> Salmonella enterica serovar typhi (Salmonella typhi),<br /> Proteus vulgaris, Klebsiella aerogenes và Cirtobacter<br /> freundii) cũng như một vi khuẩn Gram âm khác<br /> thường xuyên gây bệnh là Pseudomonas<br /> aeruginosa. Tất cả đều được định danh một cách<br /> nhanh chóng và dễ dàng tuy kích thước và số<br /> lượng các băng khuếch đại có một số khác biệt<br /> so với nghiên cứu chúng tôi, điều này do các tác<br /> giả sử dụng những cặp mồi khác (Bảng 1).<br /> <br /> Bảng 1. So sánh kết qủa nghiên cứu với tác giả khác<br /> Vi khuẩn thử nghiệm<br /> Escherichia coli<br /> Salmonella typhi<br /> Gram<br /> âm<br /> <br /> Gram<br /> dương<br /> <br /> Pseudomonas aeruginosa<br /> Klebsiella aerogenes<br /> Klebsiella pneumoniae<br /> Proteus vulgaris<br /> Proteus mirabilis<br /> Citrobacter freundii<br /> Shigella flexneri<br /> Staphylococcus aureus<br /> Meticillin-resistant<br /> Staphylococcus aureus<br /> Staphylococcus epidermidids<br /> Streptococcus β-hemdyticus<br /> Streptococcus faecalis<br /> Enterococcus durans<br /> Bacillus subtilis<br /> Corynebacterium diphtheriae<br /> Listeria monocytogenes<br /> <br /> Kích thước của sản phẩm khuếch đại (bp)<br /> Fu Jun-fen và cộng sự Mehwish Jamil và cộng sự Nghiên cứu của chúng tôi<br /> 4 băng (không nêu kích<br /> 1200, 850, 800, 700<br /> 1200, 850, 800, 700<br /> thước)<br /> 1200, 900, 700<br /> 5 băng (không nêu kích<br /> 3000, 1200, 900, 850, 700<br /> thước)<br /> 3150, 700<br /> Không thực hiện<br /> 3100, 900<br /> 320<br /> Không thực hiện<br /> Không thực hiện<br /> 2500, 800<br /> 1200, 600<br /> <br /> 850<br /> 3000, 870, 700, 520<br /> Không thực hiện<br /> 900, 800, 750, 700<br /> Không thực hiện<br /> 3000, 850, 700, 580<br /> Không thực hiện<br /> Không thực hiện<br /> <br /> 850<br /> Không thực hiện<br /> 850, 700, 550<br /> Không thực hiện<br /> 1100, 900, 850, 750<br /> Không thực hiện<br /> 1100, 800, 700<br /> 800, 750, 550<br /> <br /> Không thực hiện<br /> <br /> “<br /> <br /> 800, 750, 550<br /> <br /> 1200, 600<br /> 4 băng (không nêu kích<br /> thước)<br /> Không thực hiện<br /> 3100, 900<br /> 3 băng (không nêu kích<br /> thước)<br /> Không thực hiện<br /> 1500<br /> <br /> “<br /> <br /> Không thực hiện<br /> <br /> “<br /> <br /> Không thực hiện<br /> <br /> “<br /> <br /> 730, 700, 600, 550<br /> Không thực hiện<br /> <br /> “<br /> <br /> 730, 700, 550<br /> <br /> “<br /> “<br /> <br /> 750, 700, 550<br /> Không thực hiện<br /> <br /> Để kết luận, trước hết thuận lợi của phương<br /> pháp này là nhanh hơn những phương pháp<br /> nuôi cấy và thử nghiệm các đặc tính sinh hóa<br /> hoặc sử dụng bộ kit định danh nhiều vì có thể<br /> <br /> 256<br /> <br /> đưa ra kết quả trong 5-7 giờ thay vì mất 36- 48<br /> giờ. Hơn nữa, những phương pháp cổ điển có<br /> thể cho ra một tỉ lệ sai sót cao trong khi định<br /> danh vi khuẩn. Mặt khác, kỹ thuật định týp<br /> <br /> Chuyên Đề Dược Khoa<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2