intTypePromotion=3

Áp dụng pháp luật quản trị công ty đối với ngân hàng thương mại cổ phần: Thực trạng pháp luật và một số vấn đề đặt ra

Chia sẻ: ViSatori ViSatori | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
13
lượt xem
0
download

Áp dụng pháp luật quản trị công ty đối với ngân hàng thương mại cổ phần: Thực trạng pháp luật và một số vấn đề đặt ra

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết đề cập đến quá trình phát triển quan niệm về quản trị công ty tại Việt Nam, đánh giá khuôn khổ pháp luật và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực thi pháp luật về quản trị công ty đối với NHTMCP ở Việt Nam hiện nay, là cơ sở cho các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và nâng cao vai trò quản trị các NHTMCP Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Áp dụng pháp luật quản trị công ty đối với ngân hàng thương mại cổ phần: Thực trạng pháp luật và một số vấn đề đặt ra

<br /> <br /> CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH- TIỀN TỆ <br /> <br /> Áp dụng pháp luật quản trị công ty đối với<br /> ngân hàng thương mại cổ phần: Thực trạng<br /> pháp luật và một số vấn đề đặt ra<br /> Bùi Hữu Toàn<br /> Ngày nhận: 24/01/2018 <br /> <br /> Ngày nhận bản sửa: 12/02/2018 <br /> <br /> Ngày duyệt đăng: 22/03/2018<br /> <br /> Đặc thù của hoạt động quản trị ngân hàng thương mại cổ phần<br /> (NHTMCP) liên quan đến cấp độ vi mô (các ngân hàng đơn lẻ) và<br /> vĩ mô (sự ổn định hệ thống tài chính). Quản trị NHTMCP cần phải<br /> hướng tới mục tiêu tăng cường sự ổn định của thị trường tài chính<br /> thay vì chỉ quan tâm đến tối đa hóa lợi nhuận của cổ đông. Tuy<br /> nhiên, vấn đề quản trị công ty nói chung và đối với NHTMCP nói<br /> riêng còn khá mới và đặt ra nhiều vấn đề đối với Việt Nam, trong đó<br /> có khuôn khổ pháp luật về quản trị công ty. Trong phạm vi bài viết,<br /> tác giả đề cập đến quá trình phát triển quan niệm về quản trị công ty<br /> tại Việt Nam, đánh giá khuôn khổ pháp luật và những vấn đề đặt ra<br /> từ thực tiễn thực thi pháp luật về quản trị công ty đối với NHTMCP<br /> ở Việt Nam hiện nay, là cơ sở cho các giải pháp hoàn thiện khuôn<br /> khổ pháp luật và nâng cao vai trò quản trị các NHTMCP Việt Nam.<br /> Từ khóa: Pháp luật quản trị công ty, ngân hàng thương mại cổ phần<br /> <br /> 1. Đặt vấn đề<br /> <br /> chức dưới hình thức công ty cổ phần” (Khoản<br /> 1 Điều 6 Luật Các TCTD 2010). Do đó, hoạt<br /> động quản trị NHTMCP vừa phải tuân thủ quy<br /> định pháp luật quản trị công ty (luật chung) và<br /> quy định của Luật Các TCTD (luật riêng áp<br /> dụng đối với doanh nghiệp có hoạt động ngân<br /> hàng), Luật Chứng khoán (luật riêng áp dụng<br /> đối với các doanh nghiệp có cổ phần niêm yết<br /> trên thị trường chứng khoán). Hoạt động quản<br /> trị NHTMCP nhằm mục đích thiết lập cơ chế,<br /> quy trình để bảo đảm sự giám sát của cổ đông,<br /> nhà đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam<br /> <br /> Việt Nam, ngân hàng thương<br /> mại (NHTM) là loại hình ngân<br /> hàng được thực hiện tất cả các<br /> hoạt động ngân hàng và các<br /> hoạt động kinh doanh khác<br /> theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng<br /> (TCTD) nhằm mục tiêu lợi nhuận (Khoản 3<br /> Điều 4 Luật Các TCTD 2010). Về mô hình tổ<br /> chức, “NHTM trong nước được thành lập, tổ<br /> © Học viện Ngân hàng<br /> ISSN 1859 - 011X<br /> <br /> 44<br /> <br /> Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng<br /> Số 190- Tháng 3. 2018<br /> <br /> CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ <br /> <br /> (NHNN) và thị trường đối với<br /> hoạt động quản lý, điều hành<br /> của người quản lý, điều hành<br /> NHTMCP.<br /> Xuất phát từ đặc thù của<br /> hoạt động ngân hàng, hoạt<br /> động quản trị NHTMCP liên<br /> quan đến cả hai cấp độ vi mô<br /> (các ngân hàng đơn lẻ) và vĩ<br /> mô (sự ổn định hệ thống tài<br /> chính), bởi vì nó cung cấp<br /> động lực để kiểm soát ngân<br /> hàng, hiệu quả hóa việc kiểm<br /> soát và khuyến khích niềm<br /> tin của thị trường. Ngoài ra,<br /> trong thực tiễn thực hiện hoạt<br /> động quản trị công ty, các<br /> NHTMCP chịu sự can thiệp,<br /> tác động trực tiếp từ phía cơ<br /> quan giám sát ngân hàng- cơ<br /> quan có nhiệm vụ đánh giá<br /> lĩnh vực quản trị công ty của<br /> từng ngân hàng, bao gồm cả<br /> trình độ và đạo đức của các<br /> nhà quản lý cấp cao (Hội đồng<br /> quản trị, ban giám đốc) và cơ<br /> quan này phải có đủ quyền<br /> lực để can thiệp khi quản trị<br /> công ty của ngân hàng bất<br /> ổn. Do đó, quản trị NHTMCP<br /> cần phải hướng tới mục tiêu<br /> tăng cường sự ổn định của<br /> thị trường tài chính thay vì<br /> tối đa hóa lợi nhuận của cổ<br /> đông. Khi tiếp cận quản trị<br /> ngân hàng theo hướng này, cả<br /> cộng đồng cũng như cổ đông<br /> ngân hàng đều có lợi. Đối với<br /> cộng đồng, sự ổn định của<br /> thị trường tài chính mang lại<br /> những ảnh hưởng tích cực đối<br /> với nền kinh tế và sau đó là<br /> đối với toàn xã hội. Đối với cổ<br /> đông ngân hàng, việc không<br /> hướng tới mục tiêu tối đa hóa<br /> lợi nhuận đương nhiên mang<br /> lại ít lợi nhuận hơn nhưng lại<br /> tăng thêm tính an toàn cho các<br /> <br /> Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng<br /> <br /> khoản đầu tư của họ (Nguyễn<br /> Ngọc Cường, 2016). Trong<br /> phạm vi bài viết này, tác giả<br /> đề cập đến quá trình phát triển<br /> quan niệm về quản trị công ty<br /> tại Việt Nam, đánh giá khuôn<br /> khổ pháp luật và những vấn<br /> đề đặt ra từ thực tiễn thực thi<br /> pháp luật về quản trị công ty<br /> đối với NHTMCP ở Việt Nam<br /> hiện nay.<br /> 2. Quá trình phát triển<br /> quan niệm về quản trị công<br /> ty: Những nội dung cần làm<br /> rõ<br /> Trên bình diện quốc tế, các<br /> vấn đề về quản trị công ty<br /> không còn là vấn đề mới. Các<br /> học thuyết, các mô hình quản<br /> trị công ty trên thế giới không<br /> ngừng vận động và cũng<br /> từ đó, các lý thuyết mới về<br /> doanh nghiệp cũng xuất hiện<br /> nhằm phúc đáp những đòi hỏi<br /> từ thực tiễn quản lý, điều hành<br /> các doanh nghiệp. Ở khía<br /> cạnh kinh tế, các nghiên cứu<br /> về quản trị công ty tập trung<br /> hai mục tiêu chính là tối đa<br /> hoá giá trị cổ đông và bảo vệ<br /> quyền và lợi ích hợp pháp của<br /> các cổ đông nhỏ và người có<br /> quyền lợi liên quan. Quản trị<br /> công ty tốt có ý nghĩa quan<br /> trọng trong việc thúc đẩy tăng<br /> trưởng kinh tế lành mạnh, tạo<br /> nên sự hài hòa của một loạt<br /> các mối quan hệ giữa Ban<br /> Giám đốc công ty, Hội đồng<br /> quản trị, các cổ đông và các<br /> bên có quyền lợi liên quan, từ<br /> đó tạo nên định hướng và sự<br /> kiểm soát công ty. Quản trị<br /> công ty tốt sẽ thúc đẩy hoạt<br /> động và tăng cường khả năng<br /> tiếp cận của công ty với các<br /> <br /> nguồn vốn bên ngoài, góp<br /> phần tích cực vào việc tăng<br /> cường giá trị công ty, giảm<br /> thiểu rủi ro, tăng cường đầu<br /> tư và phát triển bền vững cho<br /> doanh nghiệp và nền kinh<br /> tế, từ đó góp phần thúc đẩy<br /> hoạt động và nâng cao hiệu<br /> quả kinh doanh, nâng cao khả<br /> năng tiếp cận thị trường vốn,<br /> giảm chi phí vốn và tăng giá<br /> trị tài sản, nâng cao uy tín của<br /> công ty. Ở khía cạnh pháp lý,<br /> các nghiên cứu về quản trị<br /> công ty đề cập nhiều đến việc<br /> bảo đảm quyền cho các cổ<br /> đông; trách nhiệm của người<br /> quản lý, điều hành công ty<br /> và phân định trách nhiệm của<br /> Hội đồng quản trị với Tổng<br /> Giám đốc hoặc Giám đốc,<br /> nghĩa là phân định chức năng<br /> quản lý và chức năng điều<br /> hành và sự thể chế hóa những<br /> tiêu chuẩn, điều kiện, mô hình<br /> quản trị vào trong pháp luật<br /> doanh nghiệp và nghiên cứu<br /> kinh nghiệm của một số nước<br /> trên thế giới về xây dựng và<br /> thực thi pháp luật về quản trị<br /> công ty.<br /> Tại Việt Nam, vấn đề quản trị<br /> công ty và pháp luật quản trị<br /> công ty xuất hiện muộn. Nếu<br /> lấy Luật Công ty năm 1990<br /> làm mốc đánh dấu sự xuất<br /> hiện của pháp luật quản trị<br /> công ty thì quá trình lập pháp<br /> về quản trị công ty của Việt<br /> Nam cũng đã đi được một<br /> phần tư thế kỷ với nhiều biến<br /> động, đan xen giữa cũ và mới,<br /> giữa quản lý chặt chẽ từ phía<br /> Nhà nước tới việc tăng cường<br /> tính độc lập, tự chịu trách<br /> nhiệm của người quản trị,<br /> điều hành công ty. Những thất<br /> bại về quản trị doanh nghiệp<br /> <br /> Số 190- Tháng 3. 2018<br /> <br /> 45<br /> <br /> CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ <br /> <br /> nhà nước gây thất thoát nhiều<br /> nghìn tỷ đồng cùng với những<br /> yêu cầu của tiến trình hội<br /> nhập quốc tế cũng như sự<br /> vào cuộc tích cực của các nhà<br /> nghiên cứu, người hoạt động<br /> chính sách, khuôn khổ pháp<br /> luật về quản trị công ty ở Việt<br /> Nam đã có nhiều thay đổi để<br /> đáp ứng những đòi hỏi ở trên.<br /> Các nghiên cứu về quản trị<br /> công ty ở Việt Nam được<br /> triển khai ở nhiều khía cạnh<br /> khác nhau như: Nghiên cứu<br /> các mô hình quản trị công ty<br /> và khả năng tiếp nhận ở Việt<br /> Nam (Bùi Xuân Hải, 2012);<br /> bảo đảm sự tách bạch giữa<br /> quyền sở hữu và quản lý điều<br /> hành trong quản trị công ty<br /> (Hà Thị Thanh Bình, 2015);<br /> bảo đảm sự công bằng giữa<br /> các cổ đông trong dự thảo<br /> Luật Doanh nghiệp sửa đổi<br /> (Nguyễn Thị Lan Hương,<br /> 2014); đảm bảo quyền lợi của<br /> cổ đông công ty cổ phần theo<br /> các nguyên tắc quản trị công<br /> ty của OECD (Nguyễn Thị<br /> Dung, Nguyễn Như Chính,<br /> 2009), hay bảo vệ quyền của<br /> cổ đông công ty cổ phần theo<br /> Luật Doanh nghiệp năm 2014<br /> (Phan Ngọc Hoàng, 2016);<br /> nghiên cứu pháp luật về quản<br /> trị công ty đại chúng ở Việt<br /> Nam theo quy định của Luật<br /> Doanh nghiệp 2014 (Lê Minh<br /> Toàn, 2015)… Nói chung, các<br /> nghiên cứu, đánh giá pháp<br /> luật về quản trị công ty ở Việt<br /> Nam đã đạt được những kết<br /> quả nhất định, các quy định<br /> pháp luật về quản trị công ty<br /> đã được điều chỉnh đáp ứng<br /> các tiêu chuẩn, điều kiện về<br /> quản trị công ty đã được điều<br /> chỉnh đáp ứng các tiêu chuẩn,<br /> <br /> 46 Số 190- Tháng 3. 2018<br /> <br /> điều kiện về quản trị công ty<br /> theo khuyến cáo của nhiều tổ<br /> chức quốc tế, góp phần quan<br /> trọng vào việc bảo đảm sự<br /> minh bạch, công bằng, khách<br /> quan trong thực tiễn thực hiện<br /> nhiệm vụ quản trị công ty của<br /> người quản lý, điều hành. Tuy<br /> nhiên, tổng kết những vấn đề<br /> lý luận và thực tiễn về quản<br /> trị công ty với tính chất là nền<br /> tảng cho hoạt động quản trị<br /> công ty nói chung, quản trị<br /> NHTMCP nói riêng, cho thấy:<br /> Thứ nhất, chưa có quan niệm<br /> thống nhất về nội hàm khái<br /> niệm quản trị công ty. Thực<br /> trạng này là do nguồn gốc thể<br /> chế luật pháp, đặc tính quốc<br /> gia, văn hóa và trình độ phát<br /> triển của thị trường tài chính<br /> tại mỗi nước… (Trần Hoàng<br /> Ngân, Phạm Quốc Việt, 2016)<br /> và cũng chính sự khác biệt<br /> này đã làm ảnh hưởng đáng kể<br /> đến quyền của cổ đông, quyền<br /> của chủ nợ và thực thi quyền<br /> sở hữu. Quản trị công ty là<br /> một hệ thống các mối quan hệ,<br /> được xác định bởi các cơ cấu<br /> và các quy trình, nhiều khi<br /> liên quan tới các bên có các<br /> lợi ích khác nhau, đôi khi là<br /> những lợi ích xung đột. Quản<br /> trị công ty hướng tới việc giải<br /> quyết và đảm bảo sự cân bằng<br /> giữa những lợi ích xung đột<br /> này. Điều này đặt ra đòi hỏi<br /> phân chia quyền lợi và trách<br /> nhiệm một cách phù hợp- và<br /> qua đó làm gia tăng giá trị lâu<br /> dài của các cổ đông. Chẳng<br /> hạn như làm thế nào để các cổ<br /> đông nhỏ lẻ bên ngoài có thể<br /> ngăn chặn việc một cổ đông<br /> kiểm soát nào đó tư lợi thông<br /> qua các giao dịch với các bên<br /> liên quan, giao dịch ngầm hay<br /> <br /> các thủ đoạn tương tự. Tuy<br /> nhiên, cũng cần nhấn mạnh<br /> quản trị công ty không chỉ<br /> liên quan đến cổ đông mà còn<br /> chi phối và ảnh hưởng đến<br /> các bên liên quan đến công<br /> ty. Vì vậy, các công ty (dù là<br /> niêm yết hay chưa niêm yết),<br /> khi xây dựng quy chế quản trị<br /> công ty, cần hết sức lưu ý đến<br /> những người liên quan đến<br /> công ty, bao gồm cổ đông,<br /> khách hàng, đối tác, chủ nợ,<br /> nhân viên, các cơ quan quản<br /> lý nhà nước, cộng đồng… (Tổ<br /> chức Tài chính Quốc tế, Uỷ<br /> ban Chứng khoán Nhà nước,<br /> 2010).<br /> Thứ hai, một quy chế quản<br /> trị công ty tốt, ngoài việc phải<br /> đáp ứng các yêu cầu bắt buộc<br /> trong pháp luật doanh nghiệp<br /> như Luật Doanh nghiệp, Luật<br /> Chứng khoán và các văn bản<br /> dưới luật còn phải thể hiện<br /> được cách thức quản trị công<br /> ty chuyên nghiệp, minh bạch<br /> và hiệu quả cũng như đảm<br /> bảo được sự công bằng trong<br /> cả quyền, nghĩa vụ và lợi ích<br /> của cổ đông, và sự hài hòa với<br /> lợi ích của các bên liên quan<br /> khác. Như vậy, quản trị công<br /> ty là hệ thống các cơ chế để<br /> bảo vệ nhà đầu tư bên ngoài<br /> tránh được những vấn đề phát<br /> sinh từ mâu thuẫn lợi ích giữa<br /> cổ đông và người điều hành<br /> liên quan đến các cơ cấu, quy<br /> trình và cơ chế để định hướng<br /> và quản lý công ty nhằm gia<br /> tăng giá trị cho cổ đông về<br /> lâu dài thông qua việc nâng<br /> cao trách nhiệm của người<br /> điều hành (Phạm Bảo Khánh,<br /> 2015). Cốt lõi của quản trị<br /> công ty là giải quyết mối quan<br /> hệ giữa người quản lý, điều<br /> <br /> Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng<br /> <br /> CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ <br /> <br /> hành công ty với cổ đông, là<br /> phương thức bảo đảm quyền<br /> lợi cho cổ đông và kiểm soát<br /> hiệu quả các hành vi lạm dụng<br /> của người quản lý, điều hành<br /> công ty từ đó góp phần gia<br /> tăng tính tính minh bạch trong<br /> công ty cổ phần.<br /> Thứ ba, trên thế giới đã hình<br /> thành một số mô hình quản<br /> trị công ty (Hoàng Phương<br /> Anh, 2016) như: i) Mô hình<br /> quản trị lấy cổ đông làm trung<br /> tâm (gọi là mô hình AngloSaxon hay mô hình quản trị<br /> công ty Anh- Mỹ). Mô hình<br /> này nhấn mạnh sự gia tăng<br /> giá trị cho cổ đông, tuân thủ<br /> luật pháp và quy định như là<br /> mục tiêu chính của công ty.<br /> Trong mô hình Anglo-Saxon,<br /> giám đốc điều hành có ảnh<br /> hưởng đáng kể tới các thành<br /> viên khác trong ban giám đốc,<br /> kể cả giám đốc không điều<br /> hành, những người có nhiệm<br /> vụ giám sát các giám đốc điều<br /> hành; ii) Mô hình quản trị lấy<br /> các bên liên quan làm trung<br /> tâm (Đức và một số quốc<br /> gia Châu Âu). Mô hình này<br /> nhấn mạnh hơn về tầm ảnh<br /> hưởng của các bên liên quan<br /> không phải là cổ đông, đặc<br /> biệt là công đoàn lao động và<br /> các ngân hàng quốc doanh.<br /> Đức xây dựng và thực hiện<br /> mô hình quản trị hai tầng có<br /> tách biệt rõ ràng vai trò giám<br /> sát với vai trò điều hành; iii)<br /> Mô hình Nhật Bản được xây<br /> dựng dựa trên các mối quan<br /> hệ kinh doanh với các ngân<br /> hàng, khách hàng và nhà cung<br /> cấp, tất cả đều ảnh hưởng tới<br /> các quyết định quản trị; iv)<br /> Mô hình của Hàn Quốc bắt<br /> nguồn từ cuộc chiến tranh<br /> <br /> Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng<br /> <br /> Triều Tiên, trong khi mô hình<br /> của Trung Quốc phản ánh một<br /> sự chuyển đổi từ kế hoạch<br /> hóa tập trung sang cơ chế thị<br /> trường. Mô hình của Ấn Độ bị<br /> ảnh hưởng mạnh mẽ bởi lịch<br /> sử sở hữu gia đình. Tuy nhiên,<br /> ở Việt Nam chưa hình thành<br /> được mô hình quản trị công<br /> ty, đồng thời chưa định hình<br /> mức độ ảnh hưởng của các<br /> mô hình quản trị công ty tiêu<br /> biểu. Điều này đã gây ra nhiều<br /> khó khăn cho việc thiết kế nội<br /> dung pháp luật và vận hành<br /> các mô hình quản trị trong<br /> thực tiễn.<br /> 3. Thực trạng pháp luật<br /> cho quản trị ngân hàng<br /> thương mại cổ phần: Quá<br /> trình hướng tới khuôn khổ<br /> quản trị phù hợp với thông<br /> lệ quốc tế và thực tiễn Việt<br /> Nam<br /> Khi chuyển đổi mô hình ngân<br /> hàng Việt Nam từ một cấp<br /> sang hai cấp, các định chế<br /> tài chính trên thị trường dần<br /> được chuyển đổi sang cơ chế<br /> thị trường. Khuôn khổ pháp<br /> luật về quản lý, điều hành các<br /> định chế tài chính theo đó<br /> cũng được hình thành. Các<br /> quy định pháp luật về quản trị<br /> NHTMCP ở Việt Nam được<br /> ghi nhận lần đầu tiên ở Pháp<br /> lệnh NHTM, hợp tác xã tín<br /> dụng và công ty tài chính năm<br /> 1990, trong đó có sự phân biệt<br /> về quản trị giữa TCTD quốc<br /> doanh và NHTMCP (Khoản<br /> 1, Khoản 2 Điều 15 Pháp lệnh<br /> NHTM, hợp tác xã tín dụng<br /> và công ty tài chính ngày<br /> 23/5/1990), nhưng không cụ<br /> thể và còn mang đậm dấu ấn<br /> <br /> của thời kỳ đầu chuyển đổi,<br /> các can thiệp trực tiếp của<br /> NHNN vào hoạt động quản<br /> trị, điều hành NHTMCP vẫn<br /> còn khá rõ nét.<br /> Luật Các TCTD 1997, sửa<br /> đổi, bổ sung 2004 dành Mục<br /> 3 từ Điều 36 đến Điều 40 quy<br /> định về quản trị, điều hành,<br /> kiểm soát TCTD. Chính phủ<br /> ban hành Nghị định 59/2009/<br /> NĐ-CP ngày 16/7/2009<br /> về  tổ chức và hoạt động<br /> của NHTM, trong đó dành<br /> Mục 2, Mục 3 từ Điều 16<br /> đến Điều 55 để quy định về<br /> quản trị, điều hành, kiểm soát<br /> NHTM và NHTMCP. NHNN<br /> cũng đã ban hành Thông tư<br /> 06/2010/TT-NHNN ngày<br /> 26/02/2010 Hướng dẫn về tổ<br /> chức, quản trị, điều hành, vốn<br /> điều lệ, chuyển nhượng cổ<br /> phần, bổ sung, sửa đổi Giấy<br /> phép, Điều lệ của NHTM<br /> hướng dẫn chi tiết quy định<br /> tại Nghị định số 59/2009/NĐCP ngày 16/7/2009 về tổ chức<br /> và hoạt động của NHTM.<br /> Trong điều kiện hội nhập và<br /> mở cửa hoàn toàn lĩnh vực<br /> dịch vụ ngân hàng, Luật Các<br /> TCTD 2010 được ban hành<br /> cho phù hợp hơn với những<br /> cam kết hội nhập quốc tế của<br /> Việt Nam và thông lệ quốc<br /> tế trong hoạt động ngân hàng<br /> cũng như tạo ra được một<br /> cơ sở pháp lý bảo đảm sự tự<br /> chủ trong kinh doanh của các<br /> TCTD, đồng thời bảo đảm sự<br /> chặt chẽ, thận trọng trong hoạt<br /> động ngân hàng, đặc biệt là<br /> nâng cao được khả năng kiểm<br /> soát, giám sát của NHNN đối<br /> với hoạt động của từng TCTD<br /> và sự ổn định, an toàn của hệ<br /> thống ngân hàng đặt ra đòi hỏi<br /> <br /> Số 190- Tháng 3. 2018<br /> <br /> 47<br /> <br /> CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ <br /> <br /> phải luật hóa khuôn khổ pháp<br /> luật về quản trị NHTMCP<br /> để cập nhật các chuẩn mực<br /> quản trị ngân hàng mới cũng<br /> như bảo đảm sự thống nhất<br /> với Luật Doanh nghiệp. Nói<br /> khác đi, các quy định cụ thể<br /> về quản trị NHTMCP theo các<br /> tiêu chuẩn, thông lệ của công<br /> ty cổ phần chính thức được<br /> luật hóa trong Luật Các TCTD<br /> 2010. Như vậy, trải qua hơn<br /> 20 năm chuyển đổi từ mô hình<br /> ngân hàng một cấp sang mô<br /> hình ngân hàng hai cấp, pháp<br /> luật về quản trị NHTMCP mới<br /> hình thành một cách có hệ<br /> thống.<br /> Từ những phân tích trên, có<br /> thể rút ra những nét chính<br /> trong quá trình phát triển pháp<br /> luật quản trị NHTMCP như<br /> sau:<br /> Một là, đã hình thành rõ nét<br /> tư duy “doanh nghiệp” khi<br /> quy định về TCTD. Luật Các<br /> TCTD 1997, sửa đổi 2004<br /> không có quy định rõ ràng về<br /> hình thức tổ chức của TCTD<br /> mặc dù đã quy định TCTD<br /> là doanh nghiệp. Khắc phục<br /> nhược điểm này, Luật Các<br /> TCTD 2010 quy định rõ hình<br /> thức tổ chức của TCTD, đồng<br /> thời quy định cụ thể cơ cấu tổ<br /> chức quản lý của TCTD. Theo<br /> đó, cơ cấu tổ chức quản lý của<br /> TCTD được thành lập dưới<br /> hình thức công ty cổ phần bao<br /> gồm Đại hội đồng cổ đông,<br /> Hội đồng quản trị, Ban kiểm<br /> soát, Tổng giám đốc/ Giám<br /> đốc. Cơ cấu tổ chức quản lý<br /> của TCTD được thành lập<br /> dưới hình thức công ty trách<br /> nhiệm hữu hạn một thành<br /> viên, công ty trách nhiệm hữu<br /> hạn hai thành viên trở lên bao<br /> <br /> 48 Số 190- Tháng 3. 2018<br /> <br /> gồm Hội đồng thành viên, Ban<br /> kiểm soát, Tổng giám đốc/<br /> Giám đốc. Cơ cấu tổ chức<br /> quản lý của ngân hàng hợp<br /> tác xã, quỹ tín dụng nhân dân<br /> bao gồm Đại hội thành viên,<br /> Hội đồng quản trị, Ban kiểm<br /> soát, Tổng giám đốc/ Giám<br /> đốc (Điều 32). Thành viên<br /> Hội đồng quản trị, thành viên<br /> Ban kiểm soát, Tổng giám<br /> đốc/ Giám đốc của ngân hàng<br /> hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân<br /> dân phải đáp ứng tiêu chuẩn<br /> về trình độ chuyên môn, đạo<br /> đức nghề nghiệp và am hiểu<br /> về hoạt động ngân hàng theo<br /> quy định của NHNN (Khoản 2<br /> Điều 75).<br /> Từ quy định của pháp luật<br /> hiện hành cho thấy, TCTD đã<br /> được tổ chức theo các mô hình<br /> doanh nghiệp và có cơ cấu tổ<br /> chức, quản lý, điều hành như<br /> một doanh nghiệp. Những<br /> “khác biệt” không cần thiết<br /> giữa doanh nghiệp và TCTD<br /> liên quan đến tổ chức và hoạt<br /> động dường như đã được xóa<br /> bỏ. Nói khác đi, Luật Các<br /> TCTD 2010 đã xác lập nền<br /> tảng quy tắc quản trị phù hợp<br /> với doanh nghiệp hoạt động<br /> ngân hàng- lĩnh vực kinh<br /> doanh đặc biệt có nhiều ảnh<br /> hưởng tới đời sống kinh tế xã<br /> hội quốc gia (Viên Thế Giang,<br /> Bùi Hữu Toàn, Nguyễn Trung<br /> Kiên, 2018).<br /> Hai là, nhiều quy định liên<br /> quan trực tiếp đến hoạt động<br /> quản trị NHTMCP đã được<br /> xây dựng đáp ứng các tiêu<br /> chuẩn quản trị NHTM của các<br /> tổ chức quốc tế khuyến nghị<br /> (Viên Thế Giang, Nguyễn<br /> Trung Kiên, 2017).<br /> Ba là, có hai đặc thù liên quan<br /> <br /> đến quản trị NHTM là: i)<br /> Quản trị NHTM liên quan đến<br /> cả hai cấp độ vi mô (các ngân<br /> hàng đơn lẻ) và vĩ mô (sự ổn<br /> định hệ thống tài chính), bởi<br /> vì nó cung cấp động lực để<br /> kiểm soát ngân hàng, hiệu quả<br /> hóa việc kiểm soát và khuyến<br /> khích niềm tin của thị trường;<br /> ii) Khả năng can thiệp, tác<br /> động trực tiếp từ phía cơ quan<br /> giám sát ngân hàng- cơ quan<br /> có nhiệm vụ đánh giá lĩnh vực<br /> quản trị công ty của từng ngân<br /> hàng- bao gồm cả trình độ và<br /> đạo đức của các nhà quản lý<br /> cấp cao (Hội đồng quản trị,<br /> ban giám đốc) và cơ quan này<br /> phải có đủ quyền lực để can<br /> thiệp khi quản trị công ty của<br /> ngân hàng bất ổn. Do đó, quản<br /> trị NHTM cần phải hướng tới<br /> mục tiêu tăng cường sự ổn<br /> định của thị trường tài chính<br /> thay vì tối đa hóa lợi nhuận<br /> của cổ đông. Khi tiếp cận<br /> quản trị ngân hàng theo hướng<br /> này, cả cộng đồng cũng như<br /> cổ đông ngân hàng đều có<br /> lợi. Đối với cộng đồng, sự ổn<br /> định của thị trường tài chính<br /> mang lại những ảnh hưởng<br /> tích cực đối với nền kinh tế và<br /> sau đó là đối với toàn xã hội.<br /> Đối với cổ đông ngân hàng,<br /> việc không hướng tới mục tiêu<br /> tối đa hóa lợi nhuận đương<br /> nhiên mang lại ít lợi nhuận<br /> hơn nhưng lại tăng thêm tính<br /> an toàn cho các khoản đầu tư<br /> của họ (Nguyễn Ngọc Cường,<br /> 2016).<br /> 4. Các vấn đề đặt ra trong<br /> từ thực tiễn pháp luật về<br /> quản trị ngân hàng thương<br /> mại cổ phần ở Việt Nam<br /> trong giai đoạn hiện nay<br /> <br /> Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản