intTypePromotion=2
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 141
            [banner_name] => KM2 - Tặng đến 100%
            [banner_picture] => 986_1568345559.jpg
            [banner_picture2] => 823_1568345559.jpg
            [banner_picture3] => 278_1568345559.jpg
            [banner_picture4] => 449_1568779935.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 7
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:45
            [banner_startdate] => 2019-09-13 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-13 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam - Lê Thị Bích Ngọc

Chia sẻ: Bachma46 Bachma46 | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:11

0
16
lượt xem
2
download

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam - Lê Thị Bích Ngọc

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam do Lê Thị Bích Ngọc trình bày Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam là mối quan hệ bền vững gắn bó sâu đậm trong suốt chiều dài lịch sử từ trước tới nay, mối quan hệ đó thể hiện rõ trong vần thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việt - Lào hai nước chúng ta - Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam - Lê Thị Bích Ngọc

  1. Bài dự thi “ Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam” Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam là mối quan hệ  bền vững gắn   bó sâu đậm trong suốt chiều dài lịch sử từ trước tới nay, mối quan hệ đó thể hiện rõ trong   vần thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh:                    “Việt ­ Lào hai nước chúng ta ­ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”. I. CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM ­ LÀO, LÀO ­ VIỆT NAM Trải qua bao đời, Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng gần gũi bên nhau như  làng trên   xóm dưới. Quan hệ Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam là mối quan hệ nhân hòa, nảy sinh từ  đời sống thích ứng với tự nhiên và dựng xây xã hội của biết bao thế hệ cộng đồng dân cư  hai nước có nhiều lợi ích tương đồng, cao hơn hết là vận mệnh hai dân tộc gắn bó với nhau  rất khăng khít và được phát triển thành quan hệ đặc biệt chưa từng có trong lịch sử quan hệ  quốc tế. Quan hệ  đoàn kết đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam hình thành không phải do ý  muốn chủ quan của bất kỳ bên nào, cũng không phải là một hiện tượng nhất thời, mà bắt  nguồn từ  vị  trí địa ­ chiến lược của hai nước, từ  bản chất nhân văn, nương tựa lẫn nhau   của hai dân tộc có cùng lợi ích cơ bản về độc lập, tự chủ và nguyện vọng chính đáng thiết   tha về  hòa bình và phát triển. Quan hệ  truyền thống hữu nghị  Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt   Nam được nâng lên thành quan hệ đặc biệt kể từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (tức Chủ tịch   Hồ Chí Minh) thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930 và sau đó (tháng 10   năm 1930), đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt   Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào sau này. */ Nhân dân hai nước có truyền thống bang giao hòa hiếu, cưu mang đùm bọc lẫn nhau   từ lâu đời, cuối thế kỷ XIX cùng bị thực dân Pháp xâm lược và đặt ách cai trị tàn bạo Dưới thời kỳ phong kiến, mối bang giao giữa các triều đại là thân thiện, hữu hảo, nhân dân   hai nước từng có cả  ngàn năm giúp đỡ, che chở  lẫn nhau, là láng giềng chí cốt của nhau.  Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp tiến hành xâm lược và đặt ách đô hộ lên Việt Nam (1883),   Campuchia (1863) và Lào (1893).  tìm mọi cách thực hiện âm mưu “chia để trị” trong nội bộ  từng nước và giữa ba nước Đông Dương với nhau; gây thù hằn và chống đối giữa Việt   Nam với Lào, Lào với Việt Nam, hòng xuyên tạc và phá hoại tình hữu nghị  truyền thống   Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam, nhung nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia dễ  dàng đồng cảm, liên kết tự  nhiên với nhau và tự  nguyện phối hợp với nhau trong một sứ  mệnh chung đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập, tự do. Lớp: Văn liên thông K2                                                                               Lê Thị Bích  1 Ngọc
  2. Bài dự thi “ Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam” */Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm xác định con đường giải phóng dân tộc Việt Nam và dân tộc   Lào Trong những thập niên đầu thế kỷ XX, chính Nguyễn Ái Quốc .Trong quá trình tìm đường  cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến tình hình Lào.voi su ra doi cua Hội  Việt Nam Cách mạng Thanh niên vào tháng 6 năm 1925. Thông qua hoạt động của Hội Việt  Nam Cách mạng Thanh niên  ở  Lào, Nguyễn Ái Quốc thấy đây là điều kiện thuận lợi để  người Việt Nam vừa tham gia cuộc vận động cứu nước tại Lào, vừa sát cánh cùng nhân dân  Lào xây dựng mối quan hệ đoàn kết khăng khít giữa Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam. Hội   Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã lập Hội Ái hữu, Hội Việt kiều yêu nước, mở các lớp  huấn luyện cách mạng trên đất Lào.  Như  vậy, Lào trở  thành một trong những địa điểm đầu tiên trên hành trình trở  về  Đông   Dương của Nguyễn Ái Quốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chính trị,  tư tưởng và tổ chức của Người về phong trào giải phóng dân tộc ở ba nước Đông Dương.   Quá trình Nguyễn Ái Quốc đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt  Nam báo hiệu bước ngoặt lịch sử  trọng đại sắp tới của cách mạng Việt Nam cũng như  cách   mạng   Lào. II. ĐOÀN KẾT ĐẤU TRANH CHỐNG CHẾ ĐỘ THUỘC ĐỊA (1930­1939)  Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lậpHai nước Việt Nam và  Lào có cùng hoàn cảnh lịch sử  bị  thực dân Pháp thống trị, có cùng mục tiêu và khát vọng  độc lập, tự do, nên con đường giải phóng và phát triển của dân tộc Việt Nam theo tư tưởng   Nguyễn Ái Quốc được Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua, cũng là con  đường giai phóng dân tộc Lào. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ­ tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương  ­ mở  đầu những trang sử vẻ vang của quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt   Nam Tháng 10 năm 1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết   nghị đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị đã đặt  phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng  Cộng sản Đông Dương Trong suốt quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng, Đảng Cộng sản Đông Dương còn đề  ra những chủ trương và giải pháp cụ thể nham  tăng cường mối quan hệ mật thiết, nương  tựa lẫn nhau của hai dân tộc Việt Nam và Lào trên hành trình đấu tranh giành tự do, độc lập  cho mỗi dân tộc. Lớp: Văn liên thông K2                                                                               Lê Thị Bích  2 Ngọc
  3. Bài dự thi “ Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam” Từ  giữa năm 1930, phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam bùng lan trong cả  nước,  đỉnh cao là Xôviết Nghệ ­ Tĩnh. Do sự cận kề về mặt địa lý, phong trào đấu tranh của nhân   dân Việt Nam nhanh chóng tác động và ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh của nhân dân  các bộ tộc Lào. Các chi bộ đảng và đoàn thể quần chúng ở  Lào đã tiến hành các cuộc đấu  tranh với nhiều hình thức: đòi tăng lương, giảm giờ làm đòi giảm thuế ,ủng hộ phong trào   cách mạng Việt Nam, chống âm mưu địch gây thù hằn và kỳ thị giữa người Việt và người   Lào,… Trong các cuộc đấu tranh đó, những người Việt sinh sống  ở  Lào đã tích cực tham  gia, sát cánh cùng nhân dân Lào. Trên cơ  sở  sự  phát triển của tổ  chức đảng  ở  Lào, Ban Chấp hành Đảng bộ  lâm thời Ai   Lao (tức Xứ uỷ lâm thời Ai Lao) được thành lập vào tháng 9 năm 1934. Sự ra đời của Xứ  uỷ Ai Lao đánh dấu một bước phát triển mới trong quan hệ giữa phong trào cách mạng hai  nước Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam. Tháng 3 năm 1935, Đại hội lần thứ I Đảng Cộng sản Đông Dương diễn ra. Đại hội lần thứ  I Đảng Cộng sản Đông Dương thúc đẩy nhân dân hai nước Việt Nam ­ Lào đoàn kết đấu  tranh chống chế độ thuộc địa. Sau Đại hội Đảng, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam và nhân dân   Lào mang một sức sống mới và ngày càng gắn bó chặt chẽ. Mặc dù gặp nhiều khó khăn  công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động Lào vẫn  ủng hộ  phong trào cách mạng Việt  Nam bằng những việc làm thiết thực, cụ thể,. Trong các cuộc đấu tranh công nhân mỏ, học   sinh và binh lính người Việt đã đoàn kết, sát cánh cùng công nhân, học sinh và binh lính   người Lào là những hình ảnh đẹp về mối liên hệ mật thiết giữa những người lao động của   hai dân tộc. Có thể nói, trong những năm 1930­1939, các cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và Lào   đã ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng mỗi nước phát  triển Tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế  giới thứ  hai bùng nổ.Hội nghị  lần thứ  tám Ban Chấp  hành Trung  ương Đảng, tháng 5 năm 1941, diễn ra  ở  tỉnh Cao Bằng (Việt Nam đã dẫn  đường cho nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào phát huy mạnh mẽ  tinh thần độc lập, tự  chủ, phát huy sức mạnh của mỗi dân tộc, đồng thời tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa  nhân dân hai nước cùng tiến lên trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật. ngày   9   tháng   3   năm   1945,   phát   xít   Nhật   tiến   hành   đảo   chính   Pháp,   độc   chiếm   Đông   Dương.Cao trào kháng Nhật, ở Việt Nam đã tác động và hỗ  trợ tích cực các lực lượng yêu   Lớp: Văn liên thông K2                                                                               Lê Thị Bích  3 Ngọc
  4. Bài dự thi “ Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam” nước Lào đấu tranh giành độc lập.Tại Lào, sau ngày đảo chính lật Pháp, phát xít Nhật vẫn   duy trì bộ máy thống trị cũ của thực dân Pháp, chỉ thay thế vị trí các quan chức người Pháp  trước đây bằng các võ quan Nhật.. Các tầng lớp nhân dân Lào ngày càng nhận rõ bộ  mặt  thật của phát xít Nhật, muốn vùng lên đánh đổ chúng, giành lại độc lập dân tộc Giữa lúc cao trào kháng Nhật của nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào đang phát triển vô  cùng mạnh mẽ thì một sự kiện quan trọng diễn ra: Nhật Bản đầu hàng Đồng minh vô điều  kiện vào ngày 14 tháng 8 năm 1945 tạo cơ hội ngàn năm có một cho nhân dân Đông Dương  vùng lên giành độc lập.Trong thời điểm lịch sử  đó, Hội nghị  của Đảng Cộng sản Đông  Dương họp từ  ngày 14 đến 15 tháng 8 năm 1945 tại tỉnh Tuyên Quang (Việt Nam) phát   động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945  ở  Việt Nam đã  tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân   Lào. Cuộc mít tinh ngày 23 tháng 8 năm 1945 đánh dấu cuộc khởi nghĩa Viêng Chăn giành   được thắng lợi mà không tốn xương máu Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 ở Việt Nam và khởi nghĩa giành chính quyền ở  Lào thể hiện rõ tính hiệu quả của tình đoàn kết đấu tranh của nhân dân Việt Nam và nhân   dân Lào, mở ra kỷ nguyên mới về quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam cùng  đoàn kết giúp đỡ nhau vì những mục tiêu chung của cả hai dân tộc. Nhận rõ tầm quan trọng của mối quan hệ giữa hai dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử đại  diện của Chính phủ  Việt Nam Dân chủ  Cộng hoà sang thiết lập quan hệ  với Chính phủ  Lào.  Sự ra đời của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (ngày 2 tháng 9 năm 1945) và  Chính phủ Lào Ítxalạ (ngày 12 tháng 10 năm 1945) là một trong những cơ sở đưa tình đoàn  kết, giúp đỡ nhau lên tầm liên minh chiến đấu  I. LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM ­ LÀO,  LÀO ­ VIỆT NAM CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945­1954) Sau khi giành lại được chính quyền, Chính phủ  hai nước đã ký Hiệp  ước tương trợ Lào ­   Việt[1] vàHiệp định về tổ chức liên quân Lào ­ Việt [2], đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự hợp   tác giúp đỡ và liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc Việt Nam ­ Lào. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm thành phố Sài Gòn. Tiếp đó,  chúng mo rong ra  toàn cõi Đông Dương. Lớp: Văn liên thông K2                                                                               Lê Thị Bích  4 Ngọc
  5. Bài dự thi “ Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam” Trước nguy cơ do ngày 25 tháng 11 năm 1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản   Đông Dương ra Chỉ  thị Kháng chiến kiến quốc để  chỉ  đạo sự  nghiệp giải phóng dân tộc   của ba nước Đông Dương. Chỉ  thị  chủ  trương: “Thống nhất mặt trận Việt ­ Mên ­ Lào  chống Pháp xâm lược Tiêu biểu cho tình đoàn kết và liên minh chiến đấu của liên quân Lào ­ Việt trong năm đầu  của cuộc kháng chiến là trận chiến đấu bảo vệ Thà Khẹc, ngày 21 tháng 3 năm 1946. Đầu  năm 1947, Khu uỷ  và Uỷ  ban Kháng chiến hành chính Chiến khu 4 thành lập Phòng Biên  chính làm nhiệm vụ  giúp Uỷ  ban giải phóng Đông Lào củng cố, phát triển các lực lượng   cách mạng và yêu nước Lào , trong những năm 1945­1948, liên minh chiến đấu Việt Nam ­ Lào từng bước được hình   thành, phát triển và thu được nhiều kết quả, góp phần thúc đẩy quan hệ đoàn kết chiến đấu   Việt Nam ­ Lào gắn bó mật thiết hơn. Ngày 20 tháng 1 năm 1949, Đội Látxavôngđược thành lập tại vùng căn cứ Xiềng Khọ (Hủa  Phăn), do đồng chí Cayxỏn Phômvihản làm tổng chỉ  huy.Sự  kiện này đánh dấu một bước  trưởng thành của lực lượng kháng chiến Lào, đồng thời khẳng định tính đúng đắn của   phương châm đoàn kết, hợp tác giữa cách mạng hai nước Việt Nam và Lào. ngày 30 tháng 10 năm 1949, Ban Thường vụ  Trung  ương Đảng Cộng sản Đông Dương   quyết định các lực lượng quân sự của Việt Nam được cử làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào tổ  chức thành hệ thống riêng và lấy danh nghĩa là Quân tình nguyệnViệc xác định danh nghĩa  quân tình nguyện Việt Nam tại Lào đã đánh dấu bước phát triển và trưởng thành của các   lực lượng quân sự  Việt Nam chiến đấu trên chiến trường Lào; đồng thời tạo cơ  sở  quan   trọng để tăng cường quan hệ đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa quân đội hai nước Việt Nam  và Lào trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung. Bước sang năm 1951, cục diện chiến tranh biến chuyển ngày càng có lợi cho cách mạng   Việt Nam, Lào và Campuchia, tạo điều kiện đưa quan hệ  đoàn kết, phối hợp chiến đấu   giữa nhân dân ba nước Đông Dương sang một giai đoạn mới Trước tình hình đó, Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp từ ngày 11 đến  19 tháng 2 năm 1951, tại xã Vinh Quang (nay là xã Kim Bình), huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên  Quang (Việt Nam). Đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Trưởng Đoàn đại biểu Lào tham gia   Đoàn Chủ tịch Đại hội. Đại hội khẳng định: Việt Nam có nhiệm vụ giúp đỡ  nhân dân Lào   và nhân dân Campuchia cả  về  vật chất và tinh thần, nhất là giúp đào tạo cán bộ, kinh  Lớp: Văn liên thông K2                                                                               Lê Thị Bích  5 Ngọc
  6. Bài dự thi “ Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam” nghiệm tổ chức đấu tranh, phát triển chiến tranh du kích, xây dựng lực lượng vũ trang, xây   dựng căn cứ địa. Nối tiếp  Đại hội II Đảng Cộng sản Đông Dương, cũng tại Việt Bắc, diễn ra Hội nghị  thành lập Mặt trận liên minh Việt ­ Miên ­ Lào. Nghị  quyết Hội nghị  biểu thị  ý chí thống  nhất của nhân dân ba nước đoàn kết đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ,  làm cho ba nước Việt Nam, Campuchia, Lào hoàn toàn độc lập, nhân dân ba nước được tự  do, sung sướng và tiến bộ. Việc thành lập khối liên minh nhân dân Việt Nam ­ Lào ­   Campuchia là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, tạo cơ sở nâng cao quan hệ đoàn kết Đầu năm 1953, sau thất bại ở mặt trận Tây Bắc (Việt Nam), thực dân Pháp tăng cường lực  lượng ở Sầm Nưa để bảo vệ khu vực Thượng Lào.. Khi phải đối đầu với mưu đồ  và hành   động xâm lược của thực dân Pháp, Trung  ương Đảng Cộng sản Đông Dương đưa ra một  quyết định quan trọng: “Về  quân sự, Việt Nam, Cao Miên, Ai Lao là một chiến trường,   phải đánh theo một chiến lược chung”[12]. Tháng 4 năm 1953, liên quân Lào ­ Việt mở chiến dịch Thượng Lào. Trong vòng một tháng,   liên quân giải phóng một vùng rộng lớn với trung tâm là Sầm Nưa, tạo ra một địa bàn đứng   chân vững chắc của cách mạng Lào.Với thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào, góp phần  đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương tiến lên một bước mới. Bước vào Đông ­ Xuân 1953­1954, quân và dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia tiếp tục   đẩy mạnh tiến công trên khắp các chiến trường làm phá sản kế hoạch tập trung quân của   Nava, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó trên nhiều chiến trường, tạo điều kiện   củng cố, phát triển thế  phối hợp chiến lược giữa hai nước Việt Nam và Lào.Cuối năm   1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định mở  chiến dịch Điện   Biên Phủ nhằm giải phóng hoàn toàn vùng Tây Bắc Việt Nam, tạo điều kiện cho quân và   dân Lào giải phóng vùng cực Bắc LàoTrải qua 55 ngày đêm chiến đấu gian khổ, quyết liệt  và anh dũng, ngày 7 tháng 5 năm 1954, tập đoàn cứ  điểm Điện Biên Phủ  bị  tiêu diệt hoàn   toàn. Đó là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam và cũng là thắng lợi của khối đoàn kết,   liên minh chiến đấu giữa quân đội và nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, mà  Việt Nam là trụ  cột trong sự  nghiệp kháng chiến chống kẻ  thù chung. Từ  đây, cục diện  chiến tranh Đông Dương chuyển sang thế có lợi cho cuộc đấu tranh của nhân dân ba nước  Việt Nam, Lào, Campuchia tại Hội nghị Giơnevơ. Do những thắng lợi vang dội của quân và dân ba nc ngày 21 tháng 7 năm 1954, đối phương   phải ký tuyên bố chung và các hiệp định về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương tôn trọng   độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia. Đó là   Lớp: Văn liên thông K2                                                                               Lê Thị Bích  6 Ngọc
  7. Bài dự thi “ Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam” cơ sở pháp lý quốc tế rất quan trọng để nhân dân ba nước Đông Dương tiến lên giành độc  lập, hoàn thành thống nhất đất nước ở mỗi nước.Thắng lợi đó thể hiện nghị lực, quyết tâm  của Việt Nam và Lào trong cuộc chiến đấu chống kẻ  thù chung, kết tinh sức mạnh đoàn   kết đặc biệt, liên minh chiến đấu giữa nhân dân và quân đội hai nước, tạo nền móng vững  chắc cho sự phối hợp, liên minh chiến đấu giữa Việt Nam và Lào ngày càng nâng cao trong   cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954­1975). Sau Hiệp định Giơnevơ 1954, đế quốc Mỹ vẫn nuôi tham vọng xâm lược, ra sức can thiệp  vào miền Nam Việt Nam và Lào. Vì vậy, nhân dân hai nước Việt Nam và Lào tiếp tục phối   hợp đấu tranh để  bảo vệ  thành quả  cách mạng vừa giành dc. Sự  phối hợp chặt chẽ  giữa   Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào là động lực quan trọng thúc đẩy cách   mạng Lào phát triển, góp phần quan trọng vào việc củng cố và phát triển mối quan hệ đoàn  kết chiến đấu giữa cách mạng hai nước Việt Nam và Lào. Để đáp ứng yêu cầu chi viện ngày càng lớn cho chiến trường miền Nam và cách mạng Lào,   Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào đã thảo luận, thống nhất chủ  trương mở  đường vận chuyển chiến lược sang phía tây Trường Sơn.Việc chuyển hướng  vận chuyển chiến lược sang Tây Trường Sơn không chỉ  tạo ra thế  và lực mới cho cách   mạng hai nước Việt Nam ­ Lào, mà còn thể hiện ý chí quyết tâm cao của hai Đảng và nhân   dân hai nước Việt Nam ­ Lào trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung, giành độc lập, tự  do. Do bị  thất bại nặng nề  và liên tiếp trên các mặt trận, đế  quốc Mỹ  và chính quyền Viêng   Chăn phải thành lập Chính phủ liên hiệp dân tộc lần thứ hai, có lực lượng Pathết Lào tham   gia (ngày 12 tháng 6 năm 1962) và ký kết Hiệp định Giơnevơ (ngày 23 tháng 7 năm 1962),  công nhận nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Lào.Sau Hiệp định  Giơnevơ 1962 về Lào, ngày 5 tháng 9 năm 1962, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng  hoà và Chính phủ Vương quốc Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại  từ  cuối năm 1963 đầu năm 1964, Việt Nam cử  hơn 2.000 chuyên gia quân sự  sang làm  nhiệm vụ quốc tế ở Lào.. Đồng thời, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với   bộ  đội Pathết Lào mở  nhiều chiến dịch, chủ  yếu  ở  khu vực đường 9 ­ Trung Lào, Cánh  đồng Chum ­ Xiêng Khoảng, đập tan các cuộc tấn công lấn chiếm của địch, bảo vệ  vững  chắc vùng giải phóng Lào Do yêu cầu tăng cường đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung là đế  quốc Mỹ xâm lược,  ngày 22 tháng 6 năm 1965, Đảng Lao động Việt Nam hội đàm với Đảng Nhân dân Lào   Lớp: Văn liên thông K2                                                                               Lê Thị Bích  7 Ngọc
  8. Bài dự thi “ Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam” thống nhất các nội dung phối hợp và giúp đỡ  lẫn nhau, trong đó tập trung giúp Lào xây   dựng vùng giải phóng về mọi mặt với quy mô một quốc gia, xây dựng lực lượng vũ trang Thực hiện chủ  trương giúp đỡ  lẫn nhau đã được hai Đảng thống nhất, từ  cuối năm 1965  trở đi, Việt Nam cử một số đơn vị quân tình nguyện và các đoàn chuyên gia quân sự, chính   trị, kinh tế và văn hóa sang làm nhiệm vụ  quốc tế  ở  Lào với số  lượng ngày càng lớn theo  yêu cầu của cách mạng Lào Mặc dù bị  thất bại, từ năm 1969, đế  quốc Mỹ  vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh, trước   âm mưu và thủ  đoạn chiến tranh mới của đế  quốc Mỹ, Trung  ương Đảng Lao động Việt   Nam và Trung ương Đảng Nhân dân Lào đã ra chỉ thị khẳng định tăng cường tình đoàn kết  giữa nhân dân hai nước, quyết tâm đánh bại đế  quốc Mỹ  và bè lũ tay sai trong bất cứ tình   huống nào.Thực hiện chủ trương trên, từ năm 1969, hai nước Việt Nam ­ Lào càng tích cực  đẩy mạnh các hoạt động phối hợp và giúp đỡ  lẫn nhau về mọi mặt nhu quan su, chinh tri,  ngoai giao,kinh te, van hoa, quan su… Trước thắng lợi dồn dập, to lớn của nhân dân Việt Nam và Campuchia trong tháng 4 năm  1975, nhất là chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam (ngày 30 tháng 4 năm 1975) của   nhân dân Việt Nam.Việc nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ra đời (tháng 12 năm 1975)  là thắng lợi to lớn, triệt để của nhân dân các bộ tộc Lào, đồng thời cũng  là thắng lợi quan   trọng của mối quan hệ đặc biệt, liên minh đoàn kết chiến đấu thủy chung, son sắt giữa hai   dân tộc Việt Nam và Lào.Thắng lợi đó tạo nền móng vững chắc nhằm tăng cường, phát  triển quan hệ  hữu nghị, đoàn kết đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam trong thời kỳ  lịch sử mới.  quan hệ Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam tiếp tục phát triển trong sự nghiệp xây dựng   và bảo vệ Tổ quốc của hai dân tộc Việt Nam, Lào (1976­2007) Trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao, quốc phòng ­ an ninh: ­ Sau khi thu được thắng lợi hoàn toàn, hai nước Việt Nam, Lào ký kết Hiệp ước hữu nghị  và hợp tác giữa Cộng hoà xã hội chủ  nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Dân chủ  Nhân dân   Lào, ngày 18 tháng 7 năm 1977 thúc đẩy sự phát triển quan hệ đặc biệt cua 2 nuoc. Trong 30  năm qua, Hiệp ước ấy luôn khơi dậy nhiều sáng tạo, đưa tới những giải pháp hữu hiệu mà  Đảng, Nhà nước Việt Nam và Lào phối hợp thực hiện Việc ký kết Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia Việt Nam ­ Lào, ngày 18 tháng 7 năm  1977 và hoàn thành hoạch định, cắm mốc trên toàn tuyến biên giới cùng với hoạt động hợp   Lớp: Văn liên thông K2                                                                               Lê Thị Bích  8 Ngọc
  9. Bài dự thi “ Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam” tác về  an ninh ­ quốc phòng, kinh tế, giao lưu văn hoá đã xây dựng nên một biên giới hoà   bình, hữu nghị hợp tác và phát triển Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam. Trước những khó khăn gay gắt của tình trạng khủng hoảng kinh tế ­ xã hội ở Việt Nam và   Lào từ cuối thập niên 1970 và thập niên 1980, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân   cách mạng quyết định tiến hành công cuộc đổi mới ở  hai nước. Hai Đảng cùng phối hợp  chặt chẽ trong quá trình nghiên cứu, vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác ­ Lênin, tư  tưởng   Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và áp dụng vào điều   kiện cụ  thể  của hai nước, công cuộc đổi mới đã đưa lại hiệu quả  bước đầu rõ rệt trong   sản xuất và đời sống, gây được niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng   Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào cùng con đường phát triển đất nước   theo định hướng xã hội chủ nghĩa. ­ Từ  năm 1976 đến đầu thế  kỷ  XXI, Việt Nam và Lào bị  nhiều thế  lực thù địch từ  bên   ngoài chong pha .nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đặt ra cho ngành quốc phòng ­ an ninh và nhân  dân Việt Nam, Lào nhiều nhiệm vụ mới. Theo chủ trương, kế hoạch hợp tác giữa hai Đảng và Chính phủ, lực lượng vũ trang và lực   lượng an ninh Lào, Việt Nam phối hợp chặt chẽ thực hiện các nhiệm vụ chống ngoại xâm,   chống phỉ, dẹp bạo loạn, trừ diệt bọn phản động vượt qua lãnh thổ Lào xâm nhập lãnh thổ  Việt Nam… Mặt khác, hai bên giúp nhau đào tạo, bồi dưỡng cán bộ  và trang bị  kỹ  thuật   hậu cần. Hợp tác phát triển kinh tế, giáo dục và đào tạo cán bộ: ­ Trên lĩnh vực kinh tế, hai bên cùng chấp hành nguyên tắc hợp tác là bình đẳng, tôn trọng  chủ  quyền quốc gia, cùng có lợi và hết lòng giúp đỡ  nhau; mặt khác còn căn cứ  vào tình   hình cụ thể của mỗi nước mà dành ưu tiên, ưu đãi cho nhau. Phương thức hợp tác ngày càng được mở rộng và nâng cao về quy mô, chất lượng và hiệu  quả. Trên thực tế, sự hợp tác của hai nước diễn ra từ trung ương đến tỉnh, thành phố  , trên   các lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng, công thương, nông nghiệp,… ban đầu là viện trợ, cho vay, tiến đến hợp tác sản xuất, kinh doanh, từ năm 1996 trở  đi là   hợp tác hai bên cùng có lợi theo thông lệ quốc tế, ưu tiên, ưu đãi hợp lý cho nhau. ­ Sự hợp tác giáo dục và đào tạo cán bộ Lào ­ Việt Nam được lãnh đạo hai Đảng và hai Nhà  nước đặt  ở  tầm chiến lược, mở  đầu từ  thời kỳ  chống đế  quốc Mỹ  và liên tục phát triển   Lớp: Văn liên thông K2                                                                               Lê Thị Bích  9 Ngọc
  10. Bài dự thi “ Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam” cho dù phải vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ của chiến tranh và những biến động hiểm   nghèo của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Sau năm 1975, hợp tác giáo dục và đào tạo cán bộ giữa Việt Nam ­ Lào phát triển khá toàn   diện cả về cấp độ  và loại hình chuyên môn, nghiệp vụ, với trọng tâm là đại học, trên đại   học. Phía Lào cũng giúp đỡ  Việt Nam đào tạo đội ngũ cán bộ  nghiên cứu khoa học xã hội  và nhân văn về Lào và phiên dịch tiếng Lào II. PHẤN ĐẤU ĐƯA QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM ­ LÀO, LÀO ­ VIỆT NAM LÊN  TẦM CAO MỚI Để  tăng cường hợp tác toàn diện, đưa quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam   lên tầm cao mới, cần bổ sung và điều chỉnh cơ chế, chính sách, chương trình và tổ chức chỉ  đạo hợp tác cho phù hợp với thực tế và những đòi hỏi mới của sự hợp tác toàn diện giữa   hai nước. Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế, khu vực hiện nay và những năm tới,   càng cần phải đẩy nhanh việc điều chỉnh kịp thời, linh hoạt các nội dung đã thỏa thuận  bằng các văn bản hợp tác nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, đơn vị hợp tác thực hiện có   hiệu quả những mục tiêu chiến lược đã đặt ra. Trong quá trình tăng cường quan hệ  hợp tác toàn diện, hai bên cần luôn luôn tôn trọng   đường lối đối ngoại độc lập, tự  chủ  và chủ  trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan   hệ đối ngoại của nhau. Việt Nam và Lào cần phải phát huy quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt   trở thành động lực thúc đẩy ngày càng mạnh mẽ hợp tác toàn diện Trên cơ sở những kết quả to lớn của sự hợp tác toàn diện Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam   những năm qua, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước thống nhất đặt ưu tiên cao nhất   cùng phấn đấu nâng quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam lên  tầm cao mới,  theo phương châm chất lượng và hiệu quả, góp phần giữ  vững  ổn định an ninh chính trị,  tăng trưởng kinh tế  bền vững, hội nhập ngày càng sâu rộng và có vị  thế  xứng đáng trên  trường quốc tế. Để đạt được mục tiêu này, lãnh đạo cấp cao hai nước đã nhất trí trước hết   tiếp tục củng cố, tăng cường sự gắn bó, tin cậy và phối hợp chặt chẽ, thường xuyên trong  những vấn đề  có tính chiến lược giữa hai Đảng, hai Nhà nước; duy trì các cuộc gặp cấp   cao truyền thống. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình thức phong phú, hiệu  quả và thiết thực về mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác   toàn diện Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân hai  nước. Lớp: Văn liên thông K2                                                                               Lê Thị Bích  10 Ngọc
  11. Bài dự thi “ Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam”  Trong không khí tưng bừng kỷ niệm Năm Đoàn kết Hữu nghị Việt Nam – Lào 2012, chúng   ta cùng khẳng định quyết tâm phấn đấu kế thừa và vun đắp tình đoàn kết đặc biệt, quan hệ   hữu nghị thủy chung gắn bó và sự hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân   dân hai nước Việt ­ Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững, góp phần tích cực vào sự   nghiệp xây dựng và bảo vệ  đất nước Việt Nam và Lào, cũng như  vào hoà bình,  ổn định,   hợp tác và phát triển ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới. Lớp: Văn liên thông K2                                                                               Lê Thị Bích  11 Ngọc

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản