intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Đỗ Nam Khánh

Chia sẻ: Đào Đức Mạnh | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:18

0
27
lượt xem
1
download

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Đỗ Nam Khánh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài dự thi "Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017" do Đỗ Nam Khánh trình bày cảm nhận của mình về những việc cần làm để giữ gìn, phát huy tình cảm hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Đỗ Nam Khánh

  1. BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM ­ LÀO, LÀO ­ VIỆT NAM NĂM 2017 Người tham gia:  Họ và tên: Đỗ Nam Khánh Đơn vị  công tác: Bí thư  Chi đoàn 1  Ngày sinh: 1990 Phước   Bình,   Đoàn   phường   Phước  Giới tính: Nam Long, Nha Trang, Khánh Hoà Nghề nghiệp: Giáo viên Nơi thường trú:  Dân tộc: Kinh Số điện thoại:  Tôn giáo: không NỘI DUNG BÀI DỰ THI Trong khuôn khổ có hạn bài viết này, tôi xin chia sẻ cảm nhận của mình về  những việc cần làm để giữ gìn, phát huy tình cảm hữu nghị đặc biệt Việt Nam ­   Lào. Trước hết, xin giới thiệu một chút về  nước Lào anh em. Lào có diện tích  236.800  km2,  dân   số   ước   lượng   năm  2015   là  6.803.699  người,   mật  độ   29,6  người/km2. Lào (tiếng Lào: ລາວ, phát âm tiếng Lào: [láːw], Lāo), tên chính thức  là   nước Cộng   hoà   Dân   chủ   Nhân   dân   Lào, (tiếng   Lào:  ສາທາລະນະລັດ  ປະຊາທິປະໄຕ  ປະຊາຊົນລາວ, Sathalanalat   Paxathipatai   Paxaxon   Lao)   là  một quốc gia nội lục tại Đông Nam Á, phía tây bắc giáp với My­an­ma và Trung  Quốc, phía đông giáp Việt Nam, phía tây nam giáp Campuchia, phía tây và tây  nam giáp Thái Lan.  Quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào có nhiều cơ sở khách quan, tất yếu. Về các điều kiện tự nhiên, Việt Nam và Lào nằm ở trung tâm bán đảo Ấn   ­Trung, thuộc vùng Đông Nam Á lục địa. Trong phạm vi của bán đảo Đông  Dương, Việt Nam nằm  ở phía đông dãy Trường Sơn, như  một bao lơn nhìn ra  biển; Lào nằm  ở  sườn tây dãy Trường Sơn, lọt sâu vào vùng đất liền của bán   đảo. Như vậy, dãy Trường Sơn có thể ví như cột sống của hai nước, tạo thành  biên giới tự nhiên trên đất liền giữa Việt Nam và Lào. Với địa hình tự nhiên này,  về đường bộ cả Việt Nam và Lào đều theo trục Bắc­Nam. Còn về đường biển,  con đường gần nhất để  Lào có thể  thông thương ra biển đó là từ  Sầm Nưa 
  2. thuộc tỉnh Hủa Phăn (Lào) qua Thanh Hoá; Xiêng khoảng (Lào) qua Nghệ  An;   Khăm Muộn (Lào) qua Hà Tĩnh; Xa­van­na­khẹt (Lào) qua Quảng Trị  và Khăm  Muộn (Lào) qua Quảng Bình. Do điều kiện tự nhiên nên sự  phát triển kinh tế ­  xã hội của Việt Nam và Lào có nhiều điểm tương đồng, lại vừa có những nét  khác biệt. Dãy Trường Sơn, biên giới tự  nhiên giữa Việt Nam và Lào được ví  như  bức tường thành hiểm yếu, để  hai nước tựa lưng vào nhau, phối hợp giúp   đỡ lẫn nhau tạo ra thế chiến lược khống chế những địa bàn then chốt về kinh tế  và quốc phòng, trở  thành điểm tựa vững chắc cho Việt Nam và Lào trong sự  nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Về các nhân tố dân cư, xã hội: Việt Nam và Lào đều là những quốc gia đa  dân tộc, đa ngôn ngữ. Hiện tượng một tộc người sống xuyên biên giới quốc gia   của hai nước, hoặc nhiều nước là đặc điểm tự nhiên của sự phân bố tộc người   ở khu vực Đông Nam Á nói chung, ở Việt Nam và Lào nói riêng. Đặc điểm này,  đến nay vẫn tiếp tục chi phối mạnh mẽ các mối quan hệ khác trên đường biên   giới quốc gia Việt Nam­Lào. Chính quá trình cộng cư, hoặc sinh sống xen cài   của những cư dân Việt Nam và cư  dân Lào trên địa bàn biên giới của hai nước   đã dẫn đến việc cùng khai thác và chia sẻ nguồn lợi tự nhiên, đặc biệt là nguồn   lợi sinh thuỷ. Điều này, thêm một lần nữa khẳng định các quan hệ cội nguồn và   quan hệ  tiếp xúc chính là những điều kiện lịch sử  và xã hội đầu tiên, tạo ra   những mối dây liên hệ và sự  giao thoa văn hoá nhiều tầng nấc giữa cư dân hai  nước. Về  nhân tố  văn hoá và lịch sử, do quan hệ  gần gũi và lâu đời nên người  Việt và người Lào đặc biệt là người dân ở vùng biên giới am hiểu về nhau khá   tường tận. Trong cuốn “Dư địa chí”  của Nguyễn Trãi đã mô tả khá ấn tượng về  nền văn hoá độc đáo và phong tục thuần phác của dân tộc Lào, cũng như  hiện   tượng giao thoa văn hoá nở  rộ  giữa Đại Việt với các nước láng giềng Đông   Nam Á, trong đó có Lào Lạn Xạng. Sự  giao thương của người dân Lào với   người dân Việt nhất là với người dân các tỉnh biên giới của Việt Nam cũng khá   nhộn nhịp. Điều đáng chú ý là trong quan hệ giao thương với Đại Việt, Lào Lạn   Xạng đã không ít lần bộc lộ mối quan tâm của mình muốn hướng ra biển, trong  
  3. khi Đại Việt lại tìm cơ hội để mở rộng buôn bán vào sâu lục địa. Mặc dầu Việt   Nam và Lào có tiếng nói, văn tự không giống nhau, sáng tạo và lựa chọn các nền   văn hóa cũng như  các hình thức tổ  chức chính trị  ­xã hội khác nhau, nhưng   những nét tương đồng thì vẫn thấy phổ  biến trong muôn mặt đời sống hàng  ngày của cư dân Việt Nam và Lào. Sự tương đồng giữa văn hóa làng – nước của  người Việt và văn hóa bản ­ mường của người Lào xuất phát từ cội nguồn cùng  nền văn minh nông nghiệp lúa nước ở Đông Nam Á. Đồng thời, lòng nhân ái bao   la và đời sống tâm linh phong phú, trong đó có những  ảnh hưởng sâu đậm của   đạo Phật mà trong cách đối nhân xử thế của mình, nhân dân Việt Nam và nhân  dân   Lào   bao   giờ   cũng   nêu   cao   những   phẩm   chất   yêu   thương   và   hướng  thiện. Trong tiến trình lịch sử cả hai dân tộc đều phải ngoan cường chống ngoại  xâm để  bảo vệ  nền độc lập dân tộc. Trải qua những biến cố  thăng trầm của   lịch sử, hai nước Đại Việt ­ Lạn Xạng, Lạn Xạng ­ Đại Việt mặc dù không  phải không có những thời khắc gặp nguy nan nhưng với tinh thần lấy hoà hiếu  làm trọng nên đã sáng suốt và công bằng, có ý thức đề cao không thù hận, quan  hệ nương tựa vào nhau giữa nhân dân hai nước vẫn tiếp tục được nuôi dưỡng,   đồng thời biết chủ  động vun đắp tình thân ái và hữu nghị  lâu dài giữa hai dân  tộc. Về kinh tế, hai nước có thể bổ sung cho nhau thế lợi về biển cả của Việt   Nam, đường bộ  của Lào đi sâu vào lục địa châu Á, cùng các nguồn tài nguyên  phong phú do mỗi nước quản lý. Ngoài những điều kiện trên, hai nước Việt Nam, Lào có một  ưu thế  nổi   trội vô cùng quý giá là quan hệ đặc biệt Việt Nam  –  Lào, Lào  –  Việt Nam mà  hai Đảng, hai dân tộc cần luôn luôn vun đắp, bảo vệ và phát huy trong mọi hoạt  động chính trị, tư tưởng, kinh tế, quốc phòng an ninh, ngoại giao, văn hoá, giáo  dục đào tạo nhân lực, nhân tài. Sau khi Việt Nam hoàn thành sự  nghiệp thống nhất  đất nước và nước  Cộng hòa Dân chủ  Nhân dân Lào ra đời vào năm 1975, quan hệ  Việt ­ Lào đã  chuyển sang giai đoạn mới. Đó là mối quan hệ  hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và  hợp tác toàn diện giữa hai Đảng và hai Nhà nước mà bằng chứng sinh động là 
  4. Hiệp  ước Hữu nghị  và Hợp tác Việt Nam ­ Lào được ký ngày 18 tháng 7 năm  1977. Tình đoàn kết đặc biệt giữa hai nước đã góp phần quan trọng vào việc  củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa   Việt Nam và Lào trong thời kỳ  mới. Trong các chuyến thăm của lãnh đạo hai  nước, hai bên luôn khẳng định quan điểm nhất quán, tiếp tục coi trọng và dành  mọi  ưu tiên cho việc củng cố  và tăng cường quan hệ  hữu nghị  truyền thống,   đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam ­ Lào, coi đây là tài sản vô giá  cần gìn giữ và truyền lại cho muôn đời con cháu mai sau Những thành tựu to lớn về kinh tế ­ xã hội sau hơn 20 năm tiến hành công  cuộc đổi mới và những chuyển biến quan trọng trong quan hệ hợp tác toàn diện  Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam trong những năm qua đã tạo nên những điều  kiện vật chất to lớn thúc đẩy việc tiếp tục tăng cường hợp tác toàn diện Việt  Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam trong giai đoạn mới. Để  tăng cường hợp tác toàn diện, đưa quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào,  Lào ­Việt Nam lên tầm cao mới cần bổ sung và điều chỉnh cơ  chế, chính sách,   chương trình và tổ  chức chỉ đạo hợp tác cho phù hợp với thực tế  và những đòi  hỏi mới của sự hợp tác toàn diện giữa hai nước. Đặc biệt là trong bối cảnh hội   nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay và những năm tới, càng cần phải đẩy   nhanh việc điều chỉnh kịp thời, linh hoạt các nội dung đã thỏa thuận bằng các  văn bản hợp tác nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, đơn vị  hợp tác thực hiện   có hiệu quả những mục tiêu chiến lược hợp tác đã đặt ra. Trong quá trình tăng cường quan hệ  hợp tác toàn diện, hai bên cần luôn   luôn tôn trọng đường lối đối ngoại độc lập, tự  chủ  và chủ  trương đa phương   hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại của nhau. Trong quan hệ  hợp tác kinh tế  sắp tới cần phải chú trọng tính thực chất,  hiệu quả  và chất lượng. Có nghĩa là, các chương trình hợp tác, nhất là từ  phía   Việt Nam (các dự án của Việt Nam đầu tư  vào Lào) phải phù hợp với yêu cầu  của công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia   của Lào. Việt Nam cần ưu tiên các dự án hợp tác với Lào phù hợp với qui hoạch 
  5. và kế hoạch phát triển của Lào đã được vạch ra tại các kế hoạch 5 năm 2006 ­  2010 và tầm nhìn đến 2020 của Lào. Đó là các dự án hợp tác về  phát triển thủy   điện với Lào, dự án xây dựng đường giao thông ra biển; các dự án hợp tác trong  lĩnh vực giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Việt Nam và Lào cần phải phát huy quan hệ  hữu nghị  truyền thống, tình   đoàn kết đặc biệt trở thành động lực thúc đẩy ngày càng mạnh mẽ hợp tác toàn  diện, đặc biệt là hợp tác kinh tế phục vụ mục tiêu phát triển của mỗi nước, đưa   hợp tác toàn diện Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam trong thời gian tới ngang tầm   với quan hệ truyền thống đặc biệt giữa hai nước chúng ta. Tính chất đặc biệt của quan hệ  Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam khác căn  bản với các quan hệ đối tác thông thường ở chỗ nó là quan hệ hợp tác toàn diện   bao gồm cả chính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa... và ưu tiên, ưu đãi cho nhau cao   hơn cả  các quan hệ  song phương khác. Cần có một nhận thức thống nhất của   cán bộ và nhân dân hai nước về  tính chất đặc biệt này. Cả  hai bên cần có tầm   nhìn rộng hơn, toàn diện và lâu dài hơn chứ không chỉ ở các lợi ích kinh tế thuần  túy và ngắn hạn. Để tăng cường quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam   trong giai đoạn mới, cần tập trung tiếp tục thực hiện những định hướng lớn đã   được thỏa thuận giữa hai Bộ Chính trị tháng 1 năm 2008 tại Viêng Chăn và tiếp  tục thực hiện 6 chương trình mục tiêu đã được thỏa thuận tại Hiệp định hợp tác  giữa hai Chính phủ giai đoạn 2006 ­2010. Thực hiện thắng lợi chương trình hợp   tác giai đoạn 2006 ­ 2010 sẽ tạo những tiền đề  vật chất cần thiết cho việc xây  dựng chiến lược hợp tác Việt Nam ­ Lào, Lào­Việt Nam giai đoạn 2011 ­ 2015  và tầm nhìn đến 2020. Định hướng cơ  bản của chiến lược hợp tác Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt   Nam giai đoạn 2011 ­ 2020 là: “Phát huy truyền thống quan hệ đặc biệt Việt  Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam trở  thành động lực tạo ra sự  chuyển biến  mạnh mẽ  trong hợp tác kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển  kinh tế­xã hội và hội nhập của mỗi nước ”. Trong đó, không ngừng nâng cao  nhận thức và làm sâu sắc thêm quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt  
  6. Nam trong hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ  thuật tạo sự  chuyển biến   mạnh mẽ thúc đẩy hợp tác kinh tế ngang tầm với quan hệ truyền thống giữa hai   nước. Thấm nhuần tư tưởng chỉ đạo: coi trọng, phát triển và củng cố mối quan  hệ  hữu nghị  truyền thống, đoàn kết đặc biệt và sự  hợp tác toàn diện giữa hai   nước và coi đây là nhiệm vụ  có tầm chiến lược to lớn, thiết thực phục vụ lợi   ích đảm bảo  ổn định an ninh chính trị  và phát triển của mỗi nước. Coi hợp tác   và nâng cao chất lượng giáo dục­đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là nhiệm   vụ chiến lược lâu dài giữa hai nước nhằm hình thành một thế hệ mới kế cận có   đầy đủ  năng lực và nhận thức một cách sâu sắc về  mối quan hệ  hữu nghị  truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước, tạo   lòng tin vững chắc, lâu dài lẫn nhau, góp phần tăng cường bền vững mối quan  hệ giữa hai Đảng và hai Nhà nước. Đặc biệt coi trọng đào tạo và bồi dưỡng đội   ngũ cán bộ chính trị, nhất là đội ngũ cán bộ các cấp của các địa phương Lào, cán  bộ  làm việc  ở  các dự  án giữa hai nước; kết hợp hài hòa giữa đào tạo và bồi  dưỡng, giữa số lượng và chất lượng, giữa đào tạo chính qui các bậc học với đào  tạo nghề. Thường xuyên phối hợp và cụ thể hóa quan điểm về quan hệ đặc biệt Việt  Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam trên tinh thần các tuyên bố chung và thỏa thuận cấp   cao giữa lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước vào các nội dung hợp tác kinh tế, văn  hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai nước. Từng bước nâng cao chất lượng và hiệu   quả hợp tác trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và tinh thần quan hệ đặc biệt  theo luật pháp của mỗi nước trên cơ sở những nội dung sau: ­ Tiếp tục đầu tư và phát huy những tiềm năng, lợi thế của hai nước nhằm   bổ sung nguồn lực cho nhau, phù hợp với mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế ­   xã hội của mỗi nước theo từng giai đoạn, góp phần thực hiện mục tiêu công  nghiệp hóa, hiện đại hóa của Lào trong 10 năm tới, đưa nước Lào thoát khỏi   nước kém phát triển vào năm 2020. ­ Phấn đấu tăng kim ngạch xuất nhập khẩu hai nước đạt 2 tỷ  USD vào  năm 2015 và 5 tỷ USD vào năm 2020. Quan tâm đặc biệt tới việc bảo đảm kết   nối giao thông đường bộ trên các trục huyết mạch và các tuyến kết nối qua biên 
  7. giới với các cảng biển của Việt Nam để  phục vụ  đầu tư, thương mại và hội   nhập giữa hai nước trên nguyên tắc đầu tư đồng bộ và đồng thời giữa hai bên. ­ Tăng cường và nâng cao vai trò hợp tác giúp đỡ  lẫn nhau giữa các bộ,   ngành, tổ chức, địa phương và doanh nghiệp hai nước. Gắn phát triển kinh tế ­   xã hội với quốc phòng, an ninh, đặc biệt là các địa phương có chung đường biên  giới nhằm phát triển các địa phương khu vực biên giới trở  thành hậu phương  chiến lược vững chắc,  ổn định, hòa bình, hữu nghị, hợp tác lâu dài, tạo sự  gắn   bó, tin tưởng lẫn nhau lâu dài. ­ Hai bên phối hợp chặt chẽ việc rà soát, bổ sung sửa đổi các văn bản thỏa   thuận, phối hợp xây dựng cơ chế, chính sách mới phù hợp với luật pháp và tình  hình thực tế  mỗi nước, thể hiện mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước và thông  lệ quốc tế, tạo sự chuyển biến trong hợp tác kinh tế cũng như hội nhập quốc tế  và khu vực của mỗi nước. ­ Phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện các cam kết và có sự đồng thuận  trong các khuôn khổ hợp tác đa phương đối với những vấn đề  có liên quan đến  hai nước. Để  trả  lời câu hỏi “Cần làm gì để  gìn giữ, phát huy tình cảm hữu nghị   đặc biệt Việt Nam – Lào?”, theo tôi có một số vấn đề cần chú ý sau: Trước hết chúng ta nhìn nhận lại những thành quả  cơ  bản và sâu sắc của   quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào ­ Việt Nam.  Qua nghiên cứu, tham khảo tài liệu tìm hiểu lịch sử  về  quan hệ  đặc biệt   Việt Nam – Lào, Lào ­ Việt Nam, được biết: Quan hệ  giữa hai dân tộc Việt  Nam – Lào, Lào – Việt Nam phát triển đột biến thành quan hệ  đặc biệt từ  khi   Nguyễn Ái Quốc tiếp nhận và vận dụng sáng tạo chủ  nghĩa Mác – Lê­nin để  xác định con đường giải phóng các dân tộc Việt Nam, Lào theo con đường cách   mạng vô sản. Đồng thời, chính Người đã cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản,   đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân  hai nước dày công vun đắp đưa sự  nghiệp đấu tranh cách mạng của Việt Nam   và Lào ngày càng hoà quyện vào nhau, nương tựa lẫn nhau, mở ra một trang mới   trong quan hệ giữa nhân dân hai nước, cùng hướng tới mục tiêu chung là độc lập 
  8. dân tộc và tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa là nhân tố  quyết định mối quan   hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào ­ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng  sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng cộng sản Việt Nam. Thực tiễn chứng minh nhân dân Lào đã cùng Việt kiều tích cực đấu tranh   chống chế  độ  thuộc địa, phối hợp và  ủng hộ  cách mạng Việt Nam giai đoạn   1930 – 1939 và hợp tác, giúp nhau chống thực dân Pháp xâm lược; tiến hành  cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền giai đoạn 1939 – 1945;   phối hợp đấu tranh thực hiện Hiệp định Giơ­ne­vơ. Quân và dân hai nước đã  phối hợp tạo nên những chiến công lớn, như: Tháng 4 năm 1953, liên quân Lào ­  Việt mở chiến dịch Thượng Lào giải phóng một vùng rộng lớn với trung tâm là  Sầm Nưa tạo ra một địa bàn đứng chân vững chắc của cách mạng Lào. Tiếp đó,  trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 ­ 1954, thắng lợi của các chiến dịch Trung  Lào, Hạ  Lào đã củng cố  và mở  rộng căn cứ   ở  vùng trọng yếu này, buộc đối   phương phải đưa quân tới đây để  đối phó với liên quân Lào ­ Việt. Hạ  tuần   tháng 1 năm 1954, bộ đội Việt Nam phối hợp với quân giải phóng Lào và được  nhân dân Lào chi viện vật chất, tấn công khu vực sông Nậm U, tiến sát kinh đô  Luổng Phabăng, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch đẩy tập đoàn cứ điểm Điện  Biên Phủ của đối phương vào thế hoàn toàn cô lập. Ngày 13 tháng 3 năm 1954,   quân và dân Việt Nam mở màn cuộc quyết chiến chiến lược  ở Điện Biên Phủ.   Quân, dân Lào đã anh dũng chiến đấu, chặt đứt con đường chiến lược của địch  chi viện cho Điện Biên Phủ từ phía Lào; góp phần xứng đáng vào thắng lợi của  chiến dịch Điện Biên Phủ, đưa tới sự  kiện ký kết Hiệp định Giơnevơ  công   nhận độc lập, chủ  quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ  của ba nước Việt   Nam, Lào, Campuchia. Việt Nam và Lào đã sát cánh bên nhau chống chiến lược chiến tranh đặc  biệt của đế quốc Mỹ, thiết lập quan hệ ngoại giao (1954 ­ 1962); phát triển liên  minh chiến đấu, đánh thắng các chiến lược chiến tranh của đế  quốc Mỹ, giành   thắng lợi hoàn toàn (1973 ­ 1975). Trong 21 năm chống Mỹ là một chặng đường   kế  tục, phát triển quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam phát triển   vượt bậc tạo nên sức mạnh kỳ  diệu mới, đưa cách mạng giải phóng dân tộc 
  9. của hai nước tới thắng lợi hoàn toàn. trong đó, nổi bật lên những hoạt động tiêu   biểu, điển hình: Sự  phối hợp giữa lãnh đạo, quân dân hai nước Việt Nam, Lào  phá vỡ mưu đồ  tiêu diệt lực lượng vũ trang nòng cốt Pathét Lào và hãm hại bộ  phận đầu não cơ quan lãnh đạo cách mạng Lào do đế  quốc Mỹ  và bè lũ tay sai  tiến hành (1957 ­ 1960). Sự hợp lực giữa lãnh đạo Đảng Nhân dân Lào và Đảng  Lao động Việt Nam để xác định phương pháp đấu tranh vũ trang là chủ yếu, kết   hợp với đấu tranh chính trị  chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế  quốc Mỹ ở Lào (1959). Nhằm đáp ứng nhu cầu chi viện sức người, sức của cho   các chiến trường miền Nam Việt Nam. Theo đề  nghị  của Việt Nam, tại cuộc  hội đàm cấp cao giữa lãnh đạo Đảng Nhân dân Lào và Đảng Lao động Việt   Nam cuối năm 1960, phía Lào hoàn toàn  ủng hộ  chủ  trương mở  đường Tây  Trường Sơn . Đây là cống hiến vô cùng quý giá của nhân dân Lào cho thắng lợi   của Việt Nam, là một công trình vĩ đại, biểu tượng cao đẹp của quan hệ  đặc  biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam. Sau khi khi giành được thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống  ngoại xâm, hai nước Việt Nam, Lào, tiếp tục giữ mối quan hệ hợp tác trên lĩnh  vực chính trị, ngoại giao, quốc phòng, an ninh: Hai nước ký kết Hiệp ước hoạch  định biên giới quốc gia Việt Nam ­ Lào ngày 18 tháng 7 năm 1977 và hoàn thành   hoạch định, cắm mốc trên toàn tuyến biên giới cùng với hoạt động hợp tác về  an ninh ­ quốc phòng, kinh tế, giao lưu văn hoá đã xây dựng nên một biên giới   hoà bình, hữu nghị hợp tác và phát triển Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam. Trong giai đoạn cuối thập kỷ  70 và đầu thập kỷ  90 thể  kỷ  XX, hai nước  đứng trước khó khăn về khủng hoảng kinh tế ­ xã hội. Cộng vào đó Liên Xô và  các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu lâm vào tình trạng khủng hoảng dẫn tới sụp   đổ  chế  độ  xã hội chủ  nghĩa do thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.  Nhưng hai Đảng cùng phối hợp chặc chẽ trong quá trình nghiên cứu, vận dụng  phát triển chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về  chủ  nghĩa xã hội,  con đường đi lên chủ  nghĩa xã hội và áp dụng vào điều kiện cụ  thể  của hai  nước; đồng thời, tìm tòi thử  nghiệm trong thực tiễn để  mở  ra con đường đổi  mới và hội nhập quốc tế, đưa cách mạng hai nước thoát khỏi tình trạng khủng 
  10. hoảng kinh tế ­ xã hội, giữ vững vai trò lãnh đạo của mình và ổn định chính trị  của đất nước. và tiến bước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Một điểm khác, trong quá trình xây dựng đất nước, hai nước cũng bị nhiều  thế lực thù địch từ bên ngoài vừa tấn công, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, vừa   sử dụng những phần tử phản động lưu vong quay trở về phá hoại an ninh quốc   gia. Để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, hai Đảng và Chính phủ, lực lượng vũ trang và  lực lượng an ninh Lào, Việt Nam phối hợp chặt chẽ  thực hiện các nhiệm vụ  chống ngoại xâm, chống phỉ, dẹp bạo loạn, trừ  diệt bọn phản động vượt qua  lãnh thổ  Lào xâm nhập lãnh thổ  Việt Nam. Bên cạnh giữ  mối quan hệ  hợp tác   trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao, quốc phòng, an ninh, hai nước hợp tác phát  triển kinh tế, giáo dục, đào tạo cán bộ: Trên lĩnh vực kinh tế, với tinh thần bình đẳng, hai bên cùng có lợi, tôn trọng   chủ  quyền quốc gia đã hết lòng giúp đỡ  nhau khi gặp khó khăn không thể  tự  giải quyết được. Không những giúp đỡ ngày càng mở rộng, nâng cao về quy mô,  chất lượng, hiệu quả  mà còn nghiên cứu chống lạm phát và ổn định kinh tế  vĩ  mô của mối nước. Trên lĩnh vực hợp tác giáo dục và đào tạo, cán bộ  Lào ­ Việt Nam được  lãnh đạo hai Đảng và Nhà nước đặt ở tầm chiến lược. Mở đầu từ thời kỳ chiến   tranh, Việt Nam giúp Lào về  giáo dục dành cho giáo dục phổ  thông, cử  nhiều  chuyên gia để  hợp tác nghiên cứu lập phương án giải quyết các nhiệm vụ  của   sự nghiệp cách mạng Lào. Sau năm 1975, tiếp tục hợp tác giáo dục, đào tạo cán  bộ Lào có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, chuyên sâu, chứa đựng nhiều kết   quả nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn trên các chặng đường cách mạng,  nhất là công cuộc đổi mới, đó là những kiến thức bổ  ích cho đội ngũ cán bộ  Lào. Ngược lại, Lào cũng giúp đỡ Việt Nam đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu  khoa học xã hội và nhân văn về  Lào và phiên dịch tiếng Lào. Nhìn chung quá   trình hợp tác Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo  cán bộ  đã góp phần quan trọng và to lớn tao nên nguồn lực cơ  bản, bền vững  cho sự phát triển của quan hệ Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam.
  11. Bước sang thế  kỷ  XXI, trong xu thế  khách quan về  toàn cầu hóa và hội   nhập kinh tế  quốc tế  diễn ra ngày càng mạnh mẽ, sâu sắc trên tất cả  các lĩnh   vực, đặc biệt là kinh tế, khoa học, công nghệ, thương mại... Từ đó, sẽ  có hiện  tượng vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu  tranh.Đòi hỏi không một quốc gia nào riêng lẻ  có thể  tự  giải quyết nếu không  hợp tác đa phương. Mặt khác vị trí chiến lược của Đông Nam Á ở khu vực châu  Á Thái Bình Dương từ lâu đã trở thành địa bàn tranh chấp ảnh hưởng và quyền   lực giữa các nước lớn trên thế  giới. Chính vì vậy, Đại hội XI của Đảng Cộng   sản Việt Nam và Đại hội IX của Đảng Nhân dân cách mạng Lào tiếp tục khẳng  định đường lối, chính sách coi trọng, không ngừng củng cố và tăng cường quan  hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện Việt Nam –  Lào, coi đó là di sản vô giá của hai dân tộc và là quy luật phát triển, là một trong   những nhân tố đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở  mỗi nước. Tóm lại, trong tiến trình cách mạng đó, mỗi bước phát triển của cách mạng  Lào tạo hậu thuẫn cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi và ngược lại,  thắng lợi của cách mạng Việt Nam tạo điều kiện cho cách mạng Lào phát triển.   Đứng  ở  vị  trí chiến lược của vùng Đông Nam Á, nơi đối đầu quyết liệt giữa  phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, hoà bình và tiến bộ xã hội với các thế  lực xâm lược, khối đại đoàn kết Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam trở thành lực  lượng vững mạnh, chặn đứng, làm thất bại những mưu đồ và hành động của kẻ  thù, góp phần quan trọng tạo dựng môi trường hoà bình, hợp tác, hữu nghị giữa  các quốc gia Đông Nam Á. Quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam là   một tấm gương mẫu mực, thuỷ chung, trong sáng, vững bền, chưa từng có trong   quan hệ giữa các dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do, hoà bình và tiến bộ xã hội. Mối quan hệ đó xuất phát từ yêu cầu khách quan của công cuộc đấu tranh  giải phóng mang bản chất quốc tế  vô sản, mạng hiệu quả  rõ rệt. Trong sự  nghiệp chung đó, Lào và Việt Nam đã trở  thành những người bạn, người đồng   chí, người anh em máu thịt, thân thiết, trước sau như  một, dù gian nan nguy  hiểm đến chừng nào cũng không thể chia tách được. Như sinh thời Bác Hồ kính 
  12. yêu của chúng ta đã nói: “Thương nhau mấy núi cũng trèo, Mấy sông cũng lội,   mấy đèo cũng qua. Việt ­ Lào hai nước chúng ta, Tình sâu như  nước Hồng Hà,   Cửu Long” và Chủ  tịch Cayxỏn Phômvihản khẳng định: “Trong lịch sử  cách   mạng thế giới cũng đã có những tấm gương sáng chói về  tinh thần quốc tế  vô   sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc   biệt, lâu dài và toàn diện như quan hệ Lào ­ Việt Nam”; “Núi có thể mòn, sông   có thể  cạn, song tình nghĩa Lào ­ Việt Nam mãi mãi vững bền hơn núi, hơn   sông”.  Qua mối quan hệ đặc biệt đó, hai Đảng, Nhà nước và nhân dân đã rút ra bài  học lịch sử, dó là: Tình cảm cách mạng thủy chung, trong sáng của Đảng Cộng  sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào là một nhân tố  trọng yếu tạo   nên độ  bền vững và phát triển của mối quan hệ  Việt Nam – Lào, Lào – Việt  Nam. Xác định đúng đắn hệ thống quan điểm lý luận về mối quan hệ dân tộc và   quốc tế  trong thời đại mới giữ  vai trò quan trọng hàng đầu trong quá trình xây  dựng, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam. Xác định nội   dung, phương thức xây dựng quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam   là cơ  sở  thực hiện các nhiệm vụ  cách mạng do hai bên xác lập. Khai thác, phát  huy các nhân tố, điều kiện cần thiết để  xây dựng, phát triển quan hệ  đặc biệt   Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam.  Qua nghiên cứu, chúng ta cũng cần xác định sự  cần thiết và xem đây là  nhiệm vụ hết sức quan trọng: Khi đã khẳng định được bản chất tốt đẹp, ý nghĩa  lịch sử của quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, lào – Việt Nam như nêu ở  phần  trên. Mặt khác, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, quan hệ  hữu nghị truyền  thống đặc biệt giữa Việt Nam – Lào, Lào ­ Việt Nam cùng với những cơ  hội   vẫn còn không ít thách thức. Vì vậy, việc duy trì, củng cố  và tăng cường mối   quan hệ  đặc biệt trong sáng, thuỷ  chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân  dân hai nước Việt Nam – Lào là nhiệm vụ hết sức quan trọng của Đảng, chính   quyền và nhân dân hai nước Việt Nam­ Lào, Lào­Việt Nam. Về  xác định tư  tưởng của chiến lược hợp tác Việt Nam ­ Lào: Phải coi   trọng, phát triển và củng cố  mối quan hệ  hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc 
  13. biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai nước và coi đây là nhiệm vụ có tầm chiến  lược to lớn, thiết thực phục vụ lợi ích đảm bảo ổn định an ninh chính trị và phát  triển của mỗi nước. Coi hợp tác và nâng cao chất lượng giáo dục­đào tạo và   phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ  chiến lược lâu dài giữa hai nước nhằm  hình thành một thế  hệ  mới kế cận có đầy đủ  năng lực và nhận thức một cách  sâu sắc về  mối quan hệ  hữu nghị  truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt và hợp  tác toàn diện giữa hai nước, tạo lòng tin vững chắc, lâu dài lẫn nhau, góp phần  tăng cường bền vững mối quan hệ giữa hai Đảng và hai Nhà nước. Đặc biệt coi   trọng đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính trị, nhất là đội ngũ cán bộ các   cấp của các địa phương Lào, cán bộ  làm việc  ở  các dự  án giữa hai nước; kết   hợp hài hòa giữa đào tạo và bồi dưỡng, giữa số lượng và chất lượng, giữa đào  tạo chính quy các bậc học với đào tạo nghề. Từng bước nâng cao chất lượng và  hiệu quả  hợp tác trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và tinh thần quan hệ  đặc biệt theo luật pháp của mỗi nước. Thường xuyên phối hợp và cụ thể hóa quan điểm về quan hệ đặc biệt Việt  Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam trên tinh thần các tuyên bố chung và thỏa thuận cấp   cao giữa lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước vào các nội dung hợp tác kinh tế, văn  hóa, khoa học kỷ thuật giữa hai nước.Cụ thể trong thời gian đến để giữ vững và  tăng cường quan hệ  hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, hai   nước cần tập trung thực hiện những định hướng lớn đã được thỏa thuận giữa  hai Bộ Chính trị tháng 1/2008 tại Viên Chăn và tiếp tục thực hiện 6 chương trình   mục tiêu đã được thỏa thuận tại Hiệp định hợp tác giữa hai Chính phủ giai đoạn  2006 – 2010 và định hướng cơ  bản chiến lược hợp tác của giai đoạn 2010 –   2020: Tiếp tục đầu tư và phát huy những tiềm năng, lợi thế của hai nước nhằm   bổ sung nguồn lực cho nhau, phù hợp với mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế   ­ xã hội của mỗi nước theo từng giai đoạn, góp phần thực hiện mục tiêu công   nghiệp hóa, hiện đại hóa của Lào. Phấn đấu tăng kim ngạch xuất nhập khẩu   hai nước. Quan tâm đặc biệt tới việc bảo đảm kết nối giao thông đường bộ   trên các trục huyết mạch và các tuyến kết nối qua biên giới với các cảng biển  
  14. của Việt Nam để phục vụ  đầu tư, thương mại và hội nhập giữa hai nước trên   nguyên tắc đầu tư đồng bộ và đồng thời giữa hai bên.  Tăng cường và nâng cao vai trò hợp tác giúp đỡ  lẫn nhau giữa các bộ,   ngành, tổ chức, địa phương và doanh nghiệp hai nước. Gắn phát triển kinh tế ­   xã hội với quốc phòng ­ an ninh, đặc biệt là các địa phương có chung đường  biên   giới   nhằm   phát   triển   các   địa   phương   khu   vực   biên   giới   trở   thành   hậu   phương chiến lược vững chắc,  ổn định, hòa bình, hữu nghị, hợp tác lâu dài, tạo  sự gắn bó, tin tưởng lẫn nhau lâu dài. Hai bên phối hợp chặt chẽ  việc rà soát, bổ  sung sửa đổi các văn bản thỏa  thuận, phối hợp xây dựng cơ chế, chính sách mới phù hợp với luật pháp và tình  hình thực tế  mỗi nước, thể hiện mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước và thông  lệ quốc tế, tạo sự chuyển biến trong hợp tác kinh tế cũng như hội nhập quốc tế  và khu vực của mỗi nước. Phối hợp chặt chẽ trong việc th ực hiện các cam kết   và có sự đồng thuận trong các khuôn khổ hợp tác đa phương đối với những vấn   đề có liên quan đến hai nước. Một điểm nữa không kém tầm quan trọng, đó là:   Trên cơ sở những kết quả to lớn của sự hợp tác toàn diện Việt Nam ­ Lào, Lào ­   Việt Nam những năm qua, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước thống nhất  đặt ưu tiên cao nhất cùng phấn đấu nâng quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào  ­ Việt Nam lên tầm cao mới, theo phương châm chất lượng và hiệu quả, góp   phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, tăng trưởng kinh tế bền vững, hội nhập   ngày càng sâu rộng và có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế. Trên cơ sở những kết quả to lớn của sự hợp tác toàn diện Việt Nam ­ Lào,   Lào ­Việt Nam những năm qua, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước thống  nhất đặt ưu tiên cao nhất cùng phấn đấu nâng quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào,  Lào ­ Việt Nam lên tầm cao mới, theo phương châm chất lượng và hiệu quả,  góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, tăng trưởng kinh tế bền vững, hội  nhập ngày càng sâu rộng và có vị  thế  xứng đáng trên trường quốc tế. Để  đạt   được mục tiêu này, lãnh đạo cấp cao hai nước đã nhất trí trước hết tiếp tục   củng cố, tăng cường sự  gắn bó, tin cậy và phối hợp chặt chẽ, thường xuyên   trong những vấn đề có tính chiến lược giữa hai Đảng, hai nước; duy trì các cuộc 
  15. gặp cấp cao truyền thống. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình  thức phong phú, hiệu quả và thiết thực về mối quan hệ hữu nghị truyền thống,   tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam­Lào, Lào­Việt Nam cho  toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân hai nước, đặc biệt là thế hệ thanh thiếu  niên hôm nay và mai sau. Thay lời kết cho bài viết, tôi xin gửi đến mọi người câu chuyện cảm động  về cậu bé Lào dũng cảm chống chọi bệnh ung thư Và Lào Phống ­ cậu bé Lào  dũng cảm chống chọi với căn bệnh ung thư hạ họng xâm lấn miệng thực quản  được điều trị tại khoa Tai ­ Mũi ­ Họng, Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An. Và Lào Phống những ngày điều trị  tại bệnh viện hữu nghị  đa khoa Nghệ  An. Câu chuyện của Phống không chỉ là chuyện về một bệnh nhân mang trong   mình căn bệnh ung thư, mà còn là câu chuyện cảm động về tình người, về lòng   nhân ái, trắc  ẩn, về  sự  đùm bọc, đoàn kết của những con người đến từ  2 dân   tộc Việt ­ Lào.
  16. Cậu bé Và Lào Phống đến từ huyện Sầm Nưa, tỉnh Hủa Phăn . Phống sinh  ra trong gia đình đông con, nghèo khó. Ở tuổi 15, cậu bé con áp út trong gia đình   nông dân Lào ­ Phống lớn lên khỏe mạnh, rắn rỏi. Đến một ngày, tai họa  ập   đến khi em phát hiện họng mình đau, đầu nhức dai dẳng, và thực sự có vấn đề  về sức khỏe khi cơ thể ngày càng gầy yếu, sụt cân. Rong ruổi tại một số  bệnh viện  ở Lào, nhưng Phống vẫn không thể  phát  hiện ra bệnh chính xác để điều trị. Nghe nhiều lời khuyên chuyên môn, Và Lào  Phống được gia đình quyết định cho “xuất ngoại” sang Việt Nam để chữa trị. Bố em Phống được những người chăm sóc bệnh nhân tại BVHNĐK Nghệ  An giúp đỡ, chia sẻ... và ông đã bật khóc. Ngày   Phống  được   gia   đình  đưa   qua  cửa   khẩu  Thông  Thụ   (huyện  Quế  Phong, tỉnh Nghệ  An) và bệnh viện đầu tiên tìm đến là xuống Bệnh viện Hữu  nghị đa khoa Nghệ An để khám và chữa bệnh. Bán vội 3 con bò làm hành trang lên đường, ngày 24 tháng 7, bố  mẹ  đưa  Phống tới đây khám. Qua thăm khám, giải phẫu bệnh cẩn thận, các bác sĩ đã  phát hiện ra căn bệnh khiến Phống đau ốm lâu nay. Tin buồn như sét đánh ngang  tai: Phống bị căn bệnh ung thư hạ họng xâm lấn miệng thực quản.
  17. Do gia đình  ở  vùng sâu, vùng xa của Lào, thiếu thốn thông tin và cơ  sở  khám bệnh kỹ  thuật cao nên khi phát hiện bệnh đã muộn, từ  đó dẫn tới khó  khăn cho điều trị. Bác sỹ khuyên gia đình nên cho Phống chuyển tuyến trên, tới   bệnh viện chuyên ngành ung thư để được tiến hành xạ trị, hóa trị. Tuy nhiên số tiền mang theo để chữa bệnh và chi trả sinh hoạt phí cho em   đã cạn kiệt. Để bám trụ lại bệnh viện những ngày qua là sự cố gắng rất lớn từ  gia đình em và những tấm lòng nhân ái xung quanh. Vấn đề  chuyển tuyến điều  trị tiếp là điều không thể. Qua quan sát và nhờ được người phiên dịch, hoàn cảnh khó khăn của Phống  đã được các y, bác sỹ  và bệnh nhân ­ người nhà bệnh nhân khoa Tai ­ Mũi ­   Họng nắm bắt và kêu gọi hỗ trợ kịp thời trong thời gian tại bệnh viện. Ảnh: Ban trợ giúp xã hội của Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An chia sẻ  thêm gia đình Phống. Mỗi ngày Phống được Ban trợ  giúp xã hội Bệnh viện Hữu nghị  đa khoa  Nghệ An hỗ trợ các suất cháo đầy đủ dinh dưỡng ăn qua sonde để cố gắng duy  trì sự sống. Còn bố mẹ em được chính những người cùng chung cảnh ngộ chăm   bệnh đùm bọc, sẻ chia.
  18. Và mỗi lần được những người Việt Nam gửi chút quà, bố  Phống lại bật  khóc vì cảm động. “Cảm ơn” có lẽ là từ  Tiếng Việt duy nhất ông (bố  Phống)  học được trong những ngày chăm con nơi đây. Đi kèm đó luôn là câu tiếng Lào  “Người Việt tốt quá!”. Và chuyến xe miễn phí đưa cả gia đình Phống về nước bạn Lào. Các y, bác sỹ của khoa, mỗi người một ít góp được cho em số tiền gần 2,5  triệu để trao cho bố mẹ lo cho em dọc đường. Và cả cán bộ Ban trợ giúp xã hội   Bệnh viện Hữu nghị đa khoa lên thăm, quyết định hỗ  trợ  1 chuyến xe cấp cứu  cùng cán bộ y tế hộ tống, để đưa em trở về Lào an toàn, trị giá gần 5 triệu đồng   nữa. Với người dân Lào sang điều trị, việc chi trả viện phí 100% sẽ vô cùng khó  khăn và nặng nề  cho gia đình thuần nông nghiệp như  gia đình em. Dẫu biết là  rất khó, nhưng bao người đã từng gặp và thương em vẫn thầm  ước như  vậy.  Tình thương của những người từng không quen biết, nhưng chỉ  sau mấy ngày  nằm viện mà đã đậm đà, sâu nặng như  bao đời nay 2 dân tộc Việt ­ Lào dành   trọn cho nhau.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản