intTypePromotion=3

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Lê Hoàng Việt

Chia sẻ: Đào Đức Mạnh | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:10

0
17
lượt xem
1
download

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Lê Hoàng Việt

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài dự thi "Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017" do Lê Hoàng Việt trình bày về quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam từ năm 1976 đến nay và ý nghĩa Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào ngày 18 tháng 7 năm 1977.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Lê Hoàng Việt

  1. BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM ­ LÀO, LÀO ­ VIỆT NAM NĂM 2017 Người tham gia:  Họ và tên: Lê Hoàng Việt Đơn   vị:  Chi   đoàn  Công   an,   Đoàn  Ngày sinh: 1983 phường   Phước   Long,   Nha   Trang,  Giới tính: Nam Khánh Hoà Nghề nghiệp: Công an Nơi thường trú:  Dân tộc: Kinh Số điện thoại: 0989.394.039 Tôn giáo: không NỘI DUNG BÀI DỰ THI Trong khuôn khổ  bài viết tham gia cuộc thi “ Tìm hiểu lịch sử  quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam năm 2017 , tôi xin trình bày về quan  hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam từ năm 1976 đến  nay và ý nghĩa Hiệp  ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam ­ Lào ngày 18 tháng 7  năm 1977. Trước hết, xin giới thiệu một chút về  nước Lào anh em. Lào là quốc gia  Đông Nam Á trong bán đảo Đông Dương có chung đường biên giới dài 2069 km  trải dài suốt 10 tỉnh của Việt Nam tiếp giáp với 10 tỉnh phía Lào. Lịch sử đã khẳng định quan hệ Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam là quan hệ  đặc biệt, là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về  sự  gắn kết   bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì   độc lập, tự do và tiến bộ xã hội. Khi cả khối Xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ,   hai Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vẫn  vững vàng. Chính thể  do Đảng lãnh đạo vẫn vững bước, hai đất nước, hai dân  tộc cùng sánh vai xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, phát triển kinh tế theo   định hướng Xã hội chủ  nghĩa, đập tan mọi âm mưu gây chia rẽ, phá hoại mối  quan hệ đoàn kết của các thế lực thù địch phản động. Tình hữu nghị, đoàn kết giữa hai Đảng, hai nước Việt­Lào và sự  gắn bó  thủy chung, keo sơn giữa dân tộc Việt Nam và nhân dân các bộ  tộc Lào được   Chủ  tịch Hồ  Chí Minh và Chủ  tịch Cay­xỏn Phom­vi­hản trực tiếp gây dựng, 
  2. được các thế  hệ  lãnh đạo kế  tục của hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai   nước quý trọng, nâng niu và dày công vun đắp. Trải qua nhiều giai đoạn và biến   cố của lịch sử, mối quan hệ Việt­Lào được tôi luyện và hun đúc bằng công sức   và xương máu của biết bao anh hùng liệt sỹ, bằng sự  hy sinh phấn đấu của  nhiều thế  hệ  người Việt Nam và Lào và đã thực sự  trở  thành mối quan hệ  truyền thống, rất   đặc biệt, rất thủy chung và trong sáng. Chủ  tịch Cay­xỏn  Phom­vi­hản đã từng nói: “Trong lịch sử  cách mạng thế  giới đã có nhiều tấm  gương sáng chói về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ  có sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài và toàn diện như vậy”. Là hai nước láng giềng rất mực thân thiết, gần gũi, quan hệ gắn kết nghĩa   tình anh em giữa hai dân tộc được hình thành và hun đúc trong lịch sử hàng nghìn  năm dựng nước và giữ nước. Đặc biệt trong hơn tám thập kỷ qua kể từ thời kỳ  Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời và lãnh đạo phong trào cách mạng chung,   mối quan hệ  truyền thống tốt đẹp, sự  gắn bó thủy chung giữa nhân dân hai  nước Việt Nam ­ Lào được Chủ  tịch Hồ Chí Minh và Chủ  tịch Cay­xỏn Phôm­ vi­hản đặt nền móng, được các thế  hệ  lãnh đạo kế  tục của hai Đảng, hai Nhà  nước và nhân dân hai nước dày công vun đắp đã trở thành tài sản vô giá của cả  hai dân tộc và là quy luật phát triển chung của cách mạng hai nước trên con  đường phát triển đất nước phồn vinh, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc là giai đoạn mà quan hệ  chính trị  ngoại giao giữa Việt Nam và Lào có những nét độc đáo rất hiếm thấy trong lịch  sử  phong trào cách mạng thế  giới. Để  chiến đấu chống ách thống trị  của chủ  nghĩa thực dân cũ, hai nước đã thành lập Liên quân Việt ­ Lào; những chiến sĩ   quân tình nguyện Việt Nam đã sang Lào sát cánh chiến đấu bên lực lượng vũ   trang Pathet Lào. Tinh thần chiến đấu ngoan cường, sự  hy sinh xương máu và   phối hợp chặt chẽ giữa những người con ưu tú của hai dân tộc đã góp phần đưa   sự  nghiệp kháng chiến chống thực dân cũ của hai nước đi đến thắng lợi vẻ  vang, với việc ký Hiệp định Giơ­ne­vơ năm 1954 về Đông Dương. Thời kỳ  sau đó, tinh thần đoàn kết Việt Nam ­ Lào tiếp tục được hun đúc  và tôi luyện hơn khi hai nước không ngừng hỗ  trợ nhau trên các mặt trận quân  
  3. sự  và đối ngoại, làm thất bại mọi âm mưu phá hoại và tiến hành chiến tranh   của chủ nghĩa thực dân mới. Ngày 5 tháng 9 năm 1962, Việt Nam và Lào chính   thức thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử quan  hệ  hai nước. Liên minh chiến đấu của quân và dân hai nước Việt ­ Lào ngày  càng được tăng cường. Dãy Trường Sơn hùng vĩ với hai nửa Trường Sơn Đông ­  Trường Sơn Tây đã trở  thành biểu tượng sinh động của mối quan hệ  keo sơn   “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ  nửa” trong những năm tháng gian khổ  nhưng  đầy vinh quang, cùng góp phần to lớn giúp nhân dân và các lực lượng vũ trang  hai nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác mà đỉnh cao là Đại thắng Mùa  Xuân 1975 tại Việt Nam và Chiến thắng ngày 2 tháng 12 năm 1975 tại Lào. Bước vào thời kỳ mới, thời kỳ xây dựng đất nước trong hòa bình và quá độ  đi lên  chủ  nghĩa xã hội, quan hệ  hai nước chuyển từ  quan hệ  đoàn kết trong  chiến đấu chống kẻ thù chung sang quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp   tác toàn diện dưới sự  lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân  dân Cách mạng Lào. Ngày 18 tháng 7 năm 1977, hai nước ký Hiệp ước Hữu nghị  và Hợp tác. Hiệp ước có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là cơ sở pháp lý vững chắc   cho việc tăng cường và mở  rộng mối quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào trong   thời kỳ  mới; tạo cơ  sở  để  hai nước thúc đẩy ký kết hàng loạt các thỏa thuận  hợp tác sau này. Trong quá trình hợp tác và giúp đỡ  lẫn nhau sau chiến tranh,   Việt Nam đã cử nhiều đoàn chuyên gia sang giúp Lào bảo đảm an ninh, ổn định  đời sống, khôi phục sản xuất và phát triển kinh tế. Quan hệ  hợp tác đó được  thực hiện trên cơ  sở  tôn trọng độc lập, chủ  quyền và toàn vẹn lãnh thổ  của  nhau; đề cao ý chí tự lực, tự cường, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi. Trong công cuộc đổi mới của mỗi nước hơn 30 năm qua, Việt Nam và Lào  đều giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Quan hệ hợp tác gắn   bó giữa hai nước Việt ­ Lào được đẩy mạnh và mở  rộng trên nhiều lĩnh vực.  Quan hệ chính trị giữa hai nước đã, đang phát triển trên một nền tảng sâu rộng  và ngày càng gắn bó, tin cậy. Hai bên thường xuyên tiếp xúc cấp cao giữa lãnh  đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ  và địa phương;  Ủy ban liên Chính  phủ  thường niên được duy trì và củng cố. Giao lưu giữa các tổ  chức, các tầng  
  4. lớp nhân dân được đẩy mạnh với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Đặc biệt,  gần đây nhất là các chuyến thăm chính thức nước ngoài đầu tiên trên cương vị  mới nhiệm kỳ  2016 ­ 2020 của Tổng Bí thư  Đảng Nhân dân cách mạng Lào   Bun­nhăng Vô­la­chit tới Việt Nam và Tổng Bí thư  Đảng Cộng sản Việt Nam  Nguyễn Phú Trọng tới Lào; các chuyến thăm của các đồng chí Bộ Chính trị hai   bên đã góp phần đưa quan hệ hai Đảng, hai nước lên một tầm cao mới. Về  phương diện kinh tế, hai nước đã thiết lập cơ  chế   Ủy ban Liên Chính  phủ  để  cụ  thể  hóa chỉ  đạo của lãnh đạo cấp cao về  hợp tác kinh tế, văn hóa,   khoa học ­ kỹ thuật… thông qua việc xây dựng nội dung hợp tác của từng thời   kỳ, từng giai đoạn và hàng năm. Cho tới nay (2017), Ủy ban Liên Chính phủ Việt  Nam ­ Lào đã tiến hành được 39 kỳ  họp định kỳ  hàng năm luân phiên tại mỗi   nước. Tại kỳ  họp lần thứ 39 tổ chức vào hai ngày 7­8/2/2017 tại Hà Nội dưới  sự  chủ  trì của Thủ  tướng Việt Nam Nguyên Xuân Phúc và Thủ  tướng Lào   Thongloun Sisoulith, hai bên đánh giá cao kết quả  hợp tác giữa hai nước và   thống nhất nâng cao hơn nữa hiệu quả  hợp tác trên tất cả  các lĩnh vực, thống  nhất tập trung thực hiện tốt chỉ  đạo của hai Bộ  Chính trị, thúc đẩy quan hệ  chính trị  ­ đối ngoại ­ an ninh quốc phòng, đầu tư, thương mại, du lịch…, mở  rộng hợp tác đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư  các dự  án hạ  tầng giao thông kết  nối hai nước, hợp tác quản lý sử  dụng bền vững nguồn nước và các nguồn tài  nguyên thiên nhiên, v.v. Nhờ các chính sách ưu tiên, ưu đãi hợp lý của cả hai bên nên thương mại và  đầu tư  Việt Nam ­ Lào tăng trưởng khá nhanh trong những năm gần đây, tạo  nền tảng vật chất để  liên kết và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước.   Từ  năm 1989 đến nay, đầu tư  của Việt Nam vào Lào đã đạt giá trị  gần 4 tỷ  USD. Năm 2016, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam ­ Lào đạt 801 triệu   USD; trong đó, nhập khẩu của Việt Nam từ  Lào đạt 342 triệu USD và xuất   khẩu từ Việt Nam sang Lào đạt 459 triệu USD. Các dự án đầu tư của Việt Nam  vào Lào tập trung có hiệu quả  trong các lĩnh vực thủy điện, khai khoáng, giao   thông vận tải, trồng cây công nghiệp… Không chỉ  giới hạn trong hợp tác kinh  tế, hợp tác trên các lĩnh vực khác cũng được quan tâm thúc đẩy. Hợp tác giáo  
  5. dục, đào tạo đã và đang là lĩnh vực được hai bên ưu tiên và được nâng lên cả về  số lượng và chất lượng. Hai bên cũng hợp tác chặt chẽ trong các lĩnh vực y tế,  nông nghiệp và phát triển nông thôn. Hợp tác giữa các địa phương giáp biên  được chú trọng thúc đẩy, với việc hình thành các khu kinh tế  và giao lưu buôn  bán qua các cửa khẩu quốc tế  và quốc gia. Hợp tác an ninh ­ quốc phòng tiếp  tục duy trì tốt với mức độ tin cậy cao. Cùng với sự  hợp tác trong khuôn khổ  song phương, tình đoàn kết anh em  giữa Việt Nam và Lào còn được thể  hiện rõ nét tại các diễn đàn khu vực và  quốc tế như LHQ, Hiệp hội các quốc gia Đông ­ Nam Á (ASEAN), Tổ chức hợp   tác kinh tế  chiến lược ba dòng sông (ACMECS), Tiểu vùng Mê Công mở  rộng  (GMS), hợp tác bốn nước Campuchia ­ Lào ­Myanmar ­ Việt Nam (CLMV), tam   giác phát triển Việt Nam ­ Lào ­ Camp­chia, góp phần nâng cao uy tín và vị  thế  của mỗi nước ở khu vực và trên thế giới. Trải qua 55 năm thử thách, mối quan hệ  Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam   càng thêm khẳng định là mối quan hệ mẫu mực, trong sáng, rất mực thủy chung,  vừa là thành quả  cách mạng, vừa là tài sản chung vô giá được xây dựng bằng  máu và mồ  hôi của nhiều thế  hệ  nhân dân hai nước, là minh chứng cho mối   quan hệ  đặc biệt hiếm có giữa hai dân tộc như  lời Chủ  tịch Cay­xỏn Phôm­vi­ hản đã từng nói “Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào ­ Việt sẽ   mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông”, hay như  Chủ  tịch Hồ  Chí Minh đã phác  họa “Việt ­ Lào hai nước chúng ta, tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, mối quan hệ hợp   tác quan hệ Việt Nam ­ Lào đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức   gay gắt từ sự phát triển của bản thân mỗi nước và từ môi trường quốc tế, khu  vực. Hiệu quả  của một số  chương trình hợp tác chưa thực sự  tương xứng với   mong muốn, nỗ  lực của Chính phủ  và nhân dân các nước; chưa phát huy thật  hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của mỗi quốc gia và những cơ hội, thuận lợi mà   xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa mang lại. Việc xử lý mối quan hệ lợi ích giữa   các quốc gia và lợi ích quốc tế  vẫn luôn là vấn đề  lớn,  ẩn chứa nhiều yếu tố  phức tạp và chi phối mối quan hệ hợp tác giữa hai nước. Bên cạnh đó, cũng cần 
  6. phải thẳng thắn thừa nhận mối quan hệ  Việt Nam ­ Lào còn bị  chi phối bởi   những động thái tranh giành  ảnh hưởng của các nước lớn tác động tới khiến  việc duy trì quan hệ và sự gắn kết, đặc biệt là tầm ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai  nước gặp không ít khó khăn, thách thức. Một số  khía cạnh trên những vấn đề  về  dân tộc, tôn giáo, di cư  xuyên biên giới,... đang thực sự  là những trở  ngại,  thậm chí ẩn chứa những nguy cơ làm rạn nứt mối quan hệ Việt Nam ­ Lào hiện   tại và tương lai. Trong thời gian tới, trước những biến động phức tạp và khó lường của tình  hình thế giới và yêu cầu phát triển của mỗi nước, hai nước đặt ưu tiên cao nhất  là cùng phấn đấu tập trung mọi nỗ  lực nhằm nâng quan hệ  hữu nghị  truyền  thống tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện Việt ­ Lào lên tầm cao mới,   với phương châm thực chất, chất lượng và hiệu quả, góp phần giữ  vững  ổn   định an ninh chính trị, phát triển kinh tế bền vững, hội nhập ngày càng sâu rộng  và có vị  thế  xứng đáng trên trường quốc tế. Để  đạt được mục tiêu này, Lãnh   đạo cấp cao hai nước đã nhất trí quyết tâm chỉ đạo các cấp, các ngành từ Trung   ương đến địa phương hai nước phấn đấu phối hợp làm tốt những trọng tâm sau: Một là, không ngừng củng cố, giáo dục, phát triển và làm sâu sắc hơn nữa   mối quan hệ  chính trị đặc biệt hiếm có không chỉ  ở  lãnh đạo cấp cao mà thấm  sâu xuống các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ; để thế hệ trẻ hai nước   ­ những người sẽ viết tiếp trang sử quan hệ hai nước ­ hiểu và trân trọng những  năm tháng lịch sử  hào hùng của hai dân tộc, hiểu được tình đoàn kết đặc biệt   Việt ­ Lào, Lào ­ Việt là bài học lịch sử thiêng liêng, là tài sản vô giá mà thế hệ  trẻ hai nước phải có trách nhiệm duy trì, bảo vệ và phát huy vì sự trường tồn và   phát triển của hai dân tộc Hai là, nâng cao hiệu quả  hợp tác kinh tế  song phương tương xứng với   quan hệ chính trị tốt đẹp sẵn có. Phát triển hợp tác giữa các vùng, miền, các địa   phương có biên giới liên kề giữa hai nước và hoàn thiện hơn nữa các chính sách  ưu tiên, ưu đãi đã dành cho nhau. Chủ động thúc đẩy hợp tác ở cả ba cấp: Chính   phủ  với Chính phủ, địa phương với địa phương và doanh nghiệp với doanh  nghiệp nhằm tạo sự  gắn kết và hỗ  trợ  lẫn nhau giữa hai nền kinh tế. Trong  
  7. từng thời kỳ, xác định một số trọng tâm hợp tác kinh tế cụ thể, phù hợp với khả  năng, nhu cầu của mỗi nước và mang lại lợi ích cho cả  hai phía; tập trung tổ  chức thực hiện triệt để, đồng thời thường xuyên theo dõi giám sát để  tháo gỡ  kịp thời các vướng mắc phát sinh. Ba là, tiếp tục tăng cường sự  hợp tác trong các lĩnh vực quốc phòng, an   ninh và cùng phối hợp nhằm chống lại âm mưu chống phá của các thế  lực thù  địch đối với sự nghiệp cách mạng của mỗi nước, chia rẽ quan hệ hai nước. Bốn là, tích cực trao đổi thông tin về tình hình quốc tế và sự phối hợp chặt   chẽ  tại các diễn đàn quốc tế  và khu vực, nhất là trong khuôn khổ  các tổ  chức  mà hai bên cùng là thành viên. Năm là, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh   đạo quản lý; đồng thời tăng cường trao đổi học thuật, lý luận và khoa học xã  hội giữa hai nước. Là nước láng giềng anh em gần gũi, nhân dân Việt Nam luôn tự  hào có  nhân dân Lào là người bạn thủy chung, son sắt, trong sáng trong suốt thời kỳ  đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như  trong công cuộc đổi mới, xây  dựng và phát triển đất nước ngày nay. Mỗi người dân Việt Nam đều vui mừng   chứng kiến các thành tựu, những đổi thay nhanh chóng đang diễn ra hằng ngày,  hằng giờ trên đất nước Triệu Voi tươi đẹp và chân thành mong muốn nhân dân  các bộ  tộc Lào anh em, dưới sự  lãnh đạo sáng suốt của Đảng Nhân dân Cách   mạng Lào sẽ  xây dựng thành công một nước Lào phồn vinh và vững mạnh, có   quan hệ đối ngoại rộng mở, có vai trò và vị thế không ngừng được nâng cao trên  trường quốc tế. Kỷ  niệm 55 năm ngày thiết lập quan hệ  ngoại giao và 40 năm ngày ký  Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt – Lào, chúng ta cùng khẳng định quyết tâm   phấn đấu, kế  thừa và vun đắp tình đoàn kết đặc biệt, quan hệ  hữu nghị  thủy   chung gắn bó và sự hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân  hai nước Việt – Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững, góp phần tích cực   vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước, cũng  như vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
  8. Đã gần nửa thế kỷ trôi qua nhưng trong ký ức những cựu chiến binh quân  tình nguyện, thời gian sống, chiến đấu, công tác trên đất bạn Lào vẫn luôn là  khoảng thời gian vô cùng đáng nhớ. Sau đây là ký ức của cựu chiến binh Phạm  Văn Khiêm và Đỗ Quang Hịch.  Mỗi dịp được gặp nhau, trò chuyện về những năm tháng cùng chia ngọt sẻ  bùi trong sự đùm bọc của nhân dân các bộ tộc Lào, mỗi cựu chiến binh quân tình  nguyện như được sống lại một thời gian khổ nhưng đầy tự  hào về  cuộc chiến  chính nghĩa, về  tình cảm gắn bó máu thịt, thủy chung giữa quân đội, nhân dân  hai nước! Trong chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, ngay từ khi   Cách mạng tháng Tám thành công, lực lượng quân sự và chuyên gia thuộc nhiều  ngành của Việt Nam đã có mặt thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả tại đất nước   Lào anh em. Tháng 10 năm 1949 Ban thường vụ  Trung  ương Đảng Cộng sản  Đông Dương quyết định các lực lượng quân sự của Việt Nam thực hiện nhiệm   vụ  Quốc tế  tại Lào được tổ  chức thành hệ  thống riêng và lấy danh nghĩa là   Quân tình nguyện. Việc giúp nước bạn Lào được xác định như  là “ giúp chính  mình”, do vậy hàng chục vạn chuyên gia, cán bộ, chiến sỹ  quân tình nguyện  Việt Nam đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, chiến đấu dũng cảm, sẵn  sàng hy sinh chống kẻ  thù chung, giành và bảo vệ  vững chắc nền độc lập của  hai dân tộc. Trải qua các thời kỳ, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam đã phát  huy truyền thống quân đội anh hùng, vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ,   cùng nhân dân và các lực lượng vũ trang Lào chiến đấu, chiến thắng kẻ  thù   chung. Qua thống kê, cả  nước có hơn 5 vạn cán bộ  chiến sỹ  bị  thương, hơn 4   vạn cán bộ  chiến sỹ  hy sinh trên đất bạn Lào. Riêng Hà Nam có hàng ngàn   người con đứng trong hàng ngũ các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân  sự trực tiếp góp sức giúp cách mạng Lào. Các đồng chí đã dũng cảm chiến đấu,   công tác, lập công xuất sắc, nhiều người đã ngã xuống trên đất bạn.  Là một trong những người từng tham gia "Chiến dịch Z"­ Chiế n d ịch gi ải   phóng Cánh Đồng Chum ­ Xiêng Khoảng mùa khô năm 1971, cựu chiến binh   Phạm Văn Khiêm, xã Thanh Phong (Thanh Liêm), Trưởng Ban Liên lạc Quân  tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào tỉnh Hà Nam kể:
  9.  “Tháng 5 năm 1971, tôi nhập ngũ vào đơn vị thuộc tiểu đoàn 371, Quân khu   Tây Bắc. Tháng tám năm  ấy, sau đợt huấn luyện đặc biệt, tôi được điều động   bổ sung vào Trung đoàn 335, Quân khu Tây Bắc chuyên thực hiện nhiệm vụ giúp   cách mạng Lào. Nhận lệnh, đơn vị tôi hăm hở  lên đường hành quân sang nước   bạn, bắt đầu những năm tháng sống chiến đấu, công tác trên đất nước Triệu   Voi. Trong chiến tranh gian khổ  ác liệt, giành giật từng tấc đất, từng quả  đồi   với quân địch, sống trong chốn “rừng thiêng, nước độc” nhưng điều ấn tượng   với tôi và các đồng đội thời kỳ  đó là tình cảm chân thành, nồng hậu của nhân   dân Lào đối với bộ  đội tình nguyện Việt Nam. Mỗi khi có dịp hành quân qua   làng bản, bà con các bộ  tộc Lào chào đón bộ  đội tình nguyện Việt Nam như   những người con thân thiết trở về gia đình, luôn giành cho các anh những điều   kiện ăn  ở  tốt nhất. Chính điều đó đã tiếp thêm nghị  lực, là nguồn cổ  vũ động   viên những người lính quân tình nguyện Việt Nam khắc phục khó khăn, gian   khổ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ  đặc biệt mà Đảng, nhà nước, quân đội tin   tưởng giao phó”. Trong câu chuyện sôi nổi đong đầy cảm xúc hoài niệm của  những cựu chiến binh quân tình nguyện Việt nam trong cuộc gặp mặt gần đây  có nhiều chi tiết thật  ấn tượng, xúc động. Với cựu chiến binh Đỗ  Quang Hịch  (thôn Sông, xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam), hình ảnh mà ông  nhớ mãi và còn lưu lại gần như vẹn nguyên tới tận bây giờ là tấm ảnh thời trai   trẻ  của mình tại chiến trường Lào do các nhà báo quân đội thực hiện sau một  trận chiến đấu ác liệt. Trận chiến đó diễn ra vào đêm mồng hai Tết Mậu Ngọ  1978, đơn vị ông được giao nhiệm vụ phối hợp giải phóng Nậm Pênh (một vị trí   quan trọng thuộc tỉnh Xiêng Khoảng). Đại đội ông phụ  trách mũi tấn công chủ  yếu đánh Đồi Xanh, cao điểm 1690, hai chốt phòng thủ quan trọng bảo vệ Nậm   Pênh. Khoảng 5 giờ  sáng, bộ  đội ta triển khai xong đội hình và được lệnh nổ  súng, tạo đòn phủ đầu bất ngờ với quân địch. Mũi tấn công phát triển thuận lợi,  các đơn vị quân tình nguyện phối hợp đánh tan đội hình địch, một số  quân địch  còn lại chạy tán loạn. Thừa thắng, đơn vị cơ động nhanh đánh tiếp vào Mường  Om, thọc sâu vào Thẳm Lô chiếm điểm cao 1822 và tổ  chức chốt chặn quân  địch tại đây. Gần sáng hôm sau địch tổ  chức quân phản kích hòng chiếm lại 
  10. Điểm cao 1822. Giằng co gần hai giờ, cuối cùng địch không những không đạt   được ý đồ  mà còn tổn thất nặng nề, buộc chúng phải rút lui, quân ta giữ  vững   chốt. Sau trận đánh ấy, đơn vị ông Hịch được tuyên dương khen thưởng, các nhà  báo trên mặt trận lập tức lên chốt thu thập thông tin kết quả  trận đánh, ghi lại  hình ảnh cán bộ chiến sỹ đại đội 11, tiểu đoàn 3, trung đoàn 335 trong niềm vui  chiến thắng (nhà báo tên Đồng). Trong tấm  ảnh còn được trân trọng lưu giữ  đến tận bây giờ, ông Hịch cùng những đồng đội thân yêu của mình rạng ngời  với nét mặt hân hoan bởi niềm vui lập công xuất sắc. Những chiến công đó góp  phần vào thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và bảo vệ Tổ quốc của  hai dân tộc Việt ­ Lào anh em. Với cựu chiến binh Phạm Văn Khiêm, Đỗ Quang   Hịch và nhiều đồng đội đã từng là quân tình nguyện và chuyên gia quân sự giúp  cách mạng Lào, quãng thời gian cầm súng trên xứ  sở  Triệu Voi dường như  không hề  cảm thấy khoảng cách địa lý xa xôi giữa hai đất nước mà như  được   sống, công tác, chiến đấu trên chính quê hương, đất nước mình. Bởi thế  , tới   tận bây giờ mỗi tên núi, tên bản, mỗi căn cứ, mỗi điểm cao...trên đất nước bạn  Lào anh em vẫn còn in đậm trong tâm trí những người cựu chiến binh quân tình   nguyện Việt nam. Những kỉ niệm trong cuộc đời quân ngũ ấy sẽ maìla niềm tự  hào đối với mỗi cựu chiến binh quân tình nguyện, góp phần tô thắm truyền  thống tốt đẹp láng giềng hữu nghị  Việt ­ Lào “Mãi mãi xanh tươi, đời đời  bền vững”.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản