intTypePromotion=1
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 143
            [banner_name] => KM - Normal
            [banner_picture] => 316_1568104393.jpg
            [banner_picture2] => 413_1568104393.jpg
            [banner_picture3] => 967_1568104393.jpg
            [banner_picture4] => 918_1568188289.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 6
            [banner_link] => https://alada.vn/uu-dai/nhom-khoa-hoc-toi-thanh-cong-sao-ban-lai-khong-the.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-11 14:51:45
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Lưu Thị Hòa

Chia sẻ: Đào Đức Mạnh | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:15

0
25
lượt xem
1
download

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Lưu Thị Hòa

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài dự thi "Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017" do Lưu Thị Hòa trình bày một số nguyên nhân, cơ sở hai dân tộc Việt Nam - Lào cần phải luôn yêu thương gắn bó chặt chẽ với nhau cũng như những việc cần làm để giữ gìn, phát huy tình cảm hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, phấn đấu đưa lên một tầm cao mới.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Lưu Thị Hòa

  1. BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM ­ LÀO, LÀO ­ VIỆT NAM NĂM 2017 Người tham gia:  Họ và tên: Lưu Thị Hòa Đơn   vị:   Bí   thư   Chi   đoàn   1   Phước  Ngày sinh:  Thành,   Đoàn   phường   Phước   Long,  Giới tính: Nữ Nha Trang, Khánh Hoà Nghề nghiệp: Cán bộ đoàn Nơi thường trú:  Dân tộc: Kinh Số điện thoại:  Tôn giáo: không NỘI DUNG BÀI DỰ THI Trong khuôn khổ có hạn của bài dự thi này, tôi xin trình bày một số nguyên  nhân, cơ sở hai dân tộc Việt Nam ­ Lào cần phải luôn yêu thương gắn bó chặt  chẽ  với nhau cũng như  những việc cần làm để  giữ  gìn, phát huy tình cảm hữu  nghị đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam, phấn đấu đưa lên một tầm cao   mới. Trước hết, xin giới thiệu một chút về  nước Lào anh em. Lào có diện tích  236.800 km2, dân số   ước lượng năm 2015 là  6.803.699 người, mật độ  dân số  29,6 người/km2. Quốc gia Lào hiện tại có nguồn gốc lịch sử  và văn hoá từ  Vương quốc Lan Xang tồn tại trong bốn thế kỷ, là một vương quốc có diện tích  lớn tại Đông Nam Á. Sau một giai đoạn xung đột nội bộ, Lan Xang phân chia  thành   ba   vương   quốc   riêng   biệt: Luông   Pha­bang, Viên­chăn và Chăm­pa­sắc.  Năm 1893, ba vương quốc hợp thành một lãnh thổ bảo hộ thuộc Pháp, tiền thân   của quốc gia Lào hiện nay. Năm 1945, Lào giành độc lập sau khi Nhật Bản  chiếm đóng, song người Pháp sau đó áp đặt lại quyền cai trị  cho đến khi Lào  được tự trị vào năm 1949. Lào độc lập vào năm 1953 với chính thể quân chủ lập   hiến dưới quyền Xi­sa­vang Vông. Một cuộc nội chiến trường kỳ đến năm 1975  với kết quả  là chấm dứt chế  độ  quân chủ, phong trào Pha­thét Lào  theo chủ  nghĩa cộng sản lên nắm quyền. Lào có chung đường biên giới dài 2069 km về phía Tây, được Việt Nam ôm  trọn phía biển Đông, đường biên giới giữa Việt Nam và Lào trải dài suốt 10 tỉnh  
  2. của Việt Nam là: Điện Biên, Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ  An, Hà Tĩnh, Quảng  Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên ­ Huế, Quảng Nam và Kon Tum cũng thật trùng  hợp tiếp giáp với 10 tỉnh phía Lào là: Phông­xa­lỳ, Luông­pha­bang, Hủa­phăn,  Xiêng­khoảng, Bô­ly­khăm­xay, Khăm­muồng, Xa­van­na­khẹt, Xa­la­văn, Xê­ kông và Ắt­tạ­phư. Quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào có nhiều cơ  sở  thực tiễn   quan trọng. Là hai nước láng giềng có nhiều nét tương đồng về văn hóa, Việt Nam và  Lào đã chung tay viết nên những trang sử  hào hùng của hai dân tộc. Tình hữu  nghị, đoàn kết giữa hai Đảng, hai nước Việt ­ Lào và sự  gắn bó keo sơn giữa   dân tộc Việt Nam và nhân dân các bộ  tộc Lào được Chủ  tịch Hồ  Chí Minh và   Chủ tịch Cay­xỏn Phôm­vi­hản trực tiếp gây dựng nền móng, được các thế  hệ  lãnh đạo kế  tục của hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai nước quý trọng,  nâng niu và dày công vun đắp. Trải qua nhiều giai đoạn và biến cố của lịch sử, hai nước Việt Nam ­ Lào  cùng tựa lưng vào dải Trường Sơn hùng vĩ, sát cánh bên nhau, xây đắp quan hệ  đoàn kết đặc biệt Việt Nam ­ Lào cao đẹp, mẫu mực, thủy chung, hiếm có trong   lịch sử quan hệ quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Việt ­ Lào hai nước chúng ta Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long” Chủ  tịch Cay­xỏn Phôm­vi­hản cũng từng nói: “Trong lịch sử  cách mạng   thế  giới đã có nhiều tấm gương sáng chói về  tinh thần quốc tế  vô sản, nhưng   chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài   và toàn diện như vậy”. Sau khi Việt Nam hoàn thành sự  nghiệp thống nhất  đất nước và nước  Cộng hòa Dân chủ  Nhân dân Lào ra đời vào năm 1975, quan hệ  Việt ­ Lào đã  chuyển sang giai đoạn mới. Đó là mối quan hệ  hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và  hợp tác toàn diện giữa hai Đảng và hai Nhà nước mà bằng chứng sinh động là  Hiệp  ước Hữu nghị  và Hợp tác Việt Nam ­ Lào được ký ngày 18 tháng 7 năm  1977.
  3. Tình đoàn kết đặc biệt giữa hai nước đã góp phần quan trọng vào việc  củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa   Việt Nam và Lào trong thời kỳ  mới. Trong các chuyến thăm của lãnh đạo hai  nước, hai bên luôn khẳng định quan điểm nhất quán, tiếp tục coi trọng và dành  mọi  ưu tiên cho việc củng cố  và tăng cường quan hệ  hữu nghị  truyền thống,   đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam ­ Lào, coi đây là tài sản vô giá  cần gìn giữ và truyền lại cho muôn đời sau. Những thành tựu to lớn về kinh tế ­ xã hội sau hơn 20 năm tiến hành công  cuộc đổi mới và những chuyển biến quan trọng trong quan hệ hợp tác toàn diện  Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam trong những năm qua đã tạo nên những điều  kiện vật chất to lớn thúc đẩy việc tiếp tục tăng cường hợp tác toàn diện Việt  Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam ­   Lào, Lào ­ Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về  sự  gắn kết bền chặt, thủy chung, trong sáng và đầy hiệu quả  giữa hai dân tộc,   đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội. Hai nước Việt Nam ­ Lào có lịch sử gắn bó rất lâu đời với nhau trong suốt   chiều dài dựng nước và giữ nước của mỗi dân tộc. Trong chiều dài lịch sử ấy,  nhân dân hai nước đã “chung lưng đấu cật” để  xây dựng mỗi nước phát triển.  Là hai nước láng giềng có nhiều nét tương đồng về  văn hóa, Việt Nam và Lào  đã chung tay viết nên những trang sử hào hùng của hai dân tộc. Mối quan hệ hữu   nghị truyền thống lâu đời Việt Nam ­ Lào bắt nguồn từ tình cảm láng giềng thân   thiết, sự gắn bó keo sơn giữa dân tộc Việt Nam và nhân dân các bộ  tộc Lào đã  trải qua muôn vàn thử thách, được nhiều thế hệ lãnh đạo hai Đảng và nhân dân  hai nước, đặc biệt là Chủ  tịch Hồ  Chí Minh vĩ đại và Chủ  tịch Cay­xỏn Phôm­ vi­hản kính mến trực tiếp gây dựng nền móng, được các thế hệ lãnh đạo kế tục   của hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai nước quý trọng, nâng niu và dày công   vun đắp, không ngừng phát triển và trở thành mối quan hệ đặc biệt, thủy chung,   trong sáng và là mẫu mực hiếm có trong quan hệ quốc tế hiện nay.
  4. Nhìn lại lịch sử, quan hệ thân thiện lâu đời giữa hai dân tộc Việt Nam, Lào   phát triển đột biến thành quan hệ  đặc biệt vào năm 1930, khi sự  nghiệp cách   mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam và Lào được tiến hành theo con đường   cách mạng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vạch ra, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng   chân chính. Để  tăng cường hợp tác toàn diện, đưa quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào,  Lào ­Việt Nam lên tầm cao mới cần bổ sung và điều chỉnh cơ  chế, chính sách,   chương trình và tổ  chức chỉ đạo hợp tác cho phù hợp với thực tế  và những đòi  hỏi mới của sự hợp tác toàn diện giữa hai nước. Đặc biệt là trong bối cảnh hội   nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay và những năm tới, càng cần phải đẩy   nhanh việc điều chỉnh kịp thời, linh hoạt các nội dung đã thỏa thuận bằng các  văn bản hợp tác nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, đơn vị  hợp tác thực hiện   có hiệu quả những mục tiêu chiến lược hợp tác đã đặt ra. Trong quá trình tăng cường quan hệ  hợp tác toàn diện, hai bên cần luôn   luôn tôn trọng đường lối đối ngoại độc lập, tự  chủ  và chủ  trương đa phương   hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại của nhau. Trong quan hệ  hợp tác kinh tế  sắp tới cần phải chú trọng tính thực chất,  hiệu quả  và chất lượng. Có nghĩa là, các chương trình hợp tác, nhất là từ  phía   Việt Nam (các dự án của Việt Nam đầu tư  vào Lào) phải phù hợp với yêu cầu  của công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia   của Lào. Việt Nam cần ưu tiên các dự án hợp tác với Lào phù hợp với qui hoạch  và kế hoạch phát triển của Lào đã được vạch ra tại các kế hoạch 5 năm 2006 ­  2010 và tầm nhìn đến 2020 của Lào. Đó là các dự án hợp tác về  phát triển thủy   điện với Lào, dự án xây dựng đường giao thông ra biển; các dự án hợp tác trong  lĩnh vực giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Việt Nam và Lào cần phải phát huy quan hệ  hữu nghị  truyền thống, tình   đoàn kết đặc biệt trở thành động lực thúc đẩy ngày càng mạnh mẽ hợp tác toàn  diện, đặc biệt là hợp tác kinh tế phục vụ mục tiêu phát triển của mỗi nước, đưa   hợp tác toàn diện Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam trong thời gian tới ngang tầm   với quan hệ truyền thống đặc biệt giữa hai nước chúng ta.
  5. Tính chất đặc biệt của quan hệ  Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam khác căn  bản với các quan hệ đối tác thông thường ở chỗ nó là quan hệ hợp tác toàn diện   bao gồm cả chính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa... và ưu tiên, ưu đãi cho nhau cao   hơn cả  các quan hệ  song phương khác. Cần có một nhận thức thống nhất của   cán bộ và nhân dân hai nước về  tính chất đặc biệt này. Cả  hai bên cần có tầm   nhìn rộng hơn, toàn diện và lâu dài hơn chứ không chỉ ở các lợi ích kinh tế thuần  túy và ngắn hạn. Để tăng cường quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam   trong giai đoạn mới, cần tập trung tiếp tục thực hiện những định hướng lớn đã   được thỏa thuận giữa hai Bộ Chính trị tháng 01 năm 2008 tại Viêng Chăn và tiếp  tục thực hiện 6 chương trình mục tiêu đã được thỏa thuận tại Hiệp định hợp tác  giữa hai Chính phủ giai đoạn 2006 ­ 2010. Thực hiện thắng lợi chương trình hợp  tác giai đoạn 2006­2010 sẽ  tạo những tiền đề  vật chất cần thiết cho việc xây   dựng chiến lược hợp tác Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam giai đoạn 2011 ­ 2015   và tầm nhìn đến năm 2020. Định hướng cơ  bản của chiến lược hợp tác Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt   Nam giai đoạn 2011 ­ 2020 là: “Phát huy truyền thống quan hệ  đặc biệt Việt   Nam ­ Lào, Lào ­Việt Nam trở thành động lực tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ   trong hợp tác kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế­xã hội và   hội nhập của mỗi nước”. Trong đó, không ngừng nâng cao nhận thức và làm sâu sắc thêm quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam trong hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa  học, kỹ thuật tạo sự chuyển biến mạnh mẽ thúc đẩy hợp tác kinh tế ngang tầm  với quan hệ truyền thống giữa hai nước. Thấm nhuần tư tưởng chỉ đạo: Coi trọng, phát triển và củng cố  mối quan   hệ  hữu nghị  truyền thống, đoàn kết đặc biệt và sự  hợp tác toàn diện giữa hai   nước và coi đây là nhiệm vụ  có tầm chiến lược to lớn, thiết thực phục vụ lợi   ích đảm bảo  ổn định an ninh chính trị  và phát triển của mỗi nước. Coi hợp tác   và nâng cao chất lượng giáo dục­đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là nhiệm   vụ chiến lược lâu dài giữa hai nước nhằm hình thành một thế hệ mới kế cận có  
  6. đầy đủ  năng lực và nhận thức một cách sâu sắc về  mối quan hệ  hữu nghị  truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước, tạo   lòng tin vững chắc, lâu dài lẫn nhau, góp phần tăng cường bền vững mối quan  hệ giữa hai Đảng và hai Nhà nước. Đặc biệt coi trọng đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ  chính trị, nhất là  đội ngũ cán bộ  các cấp của các địa phương Lào, cán bộ  làm việc  ở  các dự  án   giữa hai nước; kết hợp hài hòa giữa đào tạo và bồi dưỡng, giữa số  lượng và  chất lượng, giữa đào tạo chính qui các bậc học với đào tạo nghề. Thường xuyên phối hợp và cụ thể hóa quan điểm về quan hệ đặc biệt Việt  Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam trên tinh thần các tuyên bố chung và thỏa thuận cấp   cao giữa lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước vào các nội dung hợp tác kinh tế, văn  hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai nước. Từng bước nâng cao chất lượng và hiệu   quả hợp tác trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và tinh thần quan hệ đặc biệt  theo luật pháp của mỗi nước trên cơ sở năm nội dung cụ thể sau: Một là, tiếp tục đầu tư và phát huy những tiềm năng, lợi thế của hai nước  nhằm bổ  sung nguồn lực cho nhau, phù hợp với mục tiêu, kế  hoạch phát triển   kinh tế ­ xã hội của mỗi nước theo từng giai đoạn, góp phần thực hiện mục tiêu   công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Lào trong 10 năm tới, đưa nước Lào thoát   khỏi nước kém phát triển vào năm 2020. Hai là, phấn đấu tăng kim ngạch xuất nhập khẩu hai nước đạt 2 tỷ  USD   vào năm 2015 và 5 tỷ USD vào năm 2020. Quan tâm đặc biệt tới việc bảo đảm   kết nối giao thông đường bộ trên các trục huyết mạch và các tuyến kết nối qua   biên giới với các cảng biển của Việt Nam để  phục vụ  đầu tư, thương mại và   hội nhập giữa hai nước trên nguyên tắc đầu tư  đồng bộ  và đồng thời giữa hai   bên. Ba là, tăng cường và nâng cao vai trò hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các bộ,   ngành, tổ chức, địa phương và doanh nghiệp hai nước. Gắn phát triển kinh tế ­   xã hội với quốc phòng, an ninh, đặc biệt là các địa phương có chung đường biên  giới nhằm phát triển các địa phương khu vực biên giới trở  thành hậu phương 
  7. chiến lược vững chắc,  ổn định, hòa bình, hữu nghị, hợp tác lâu dài, tạo sự  gắn   bó, tin tưởng lẫn nhau lâu dài. Bốn là, hai bên phối hợp chặt chẽ việc rà soát, bổ sung sửa đổi các văn bản   thỏa thuận, phối hợp xây dựng cơ chế, chính sách mới phù hợp với luật pháp và   tình hình thực tế  mỗi nước, thể  hiện mối quan hệ  đặc biệt giữa hai nước và   thông lệ  quốc tế, tạo sự chuyển biến trong hợp tác kinh tế  cũng như  hội nhập  quốc tế và khu vực của mỗi nước. Năm là, phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện các cam kết và có sự đồng  thuận trong các khuôn khổ  hợp tác đa phương đối với những vấn đề  có liên  quan đến hai nước. Trên cơ sở những kết quả to lớn của sự hợp tác toàn diện Việt Nam ­ Lào,   Lào ­Việt Nam những năm qua, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước thống  nhất đặt ưu tiên cao nhất cùng phấn đấu nâng quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào,  Lào ­ Việt Nam lên tầm cao mới, theo phương châm chất lượng và hiệu quả,   góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, tăng trưởng kinh tế bền vững, hội  nhập ngày càng sâu rộng và có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế. Để đạt được mục tiêu này, lãnh đạo cấp cao hai nước đã nhất trí trước hết  tiếp tục củng cố, tăng cường sự gắn bó, tin cậy và phối hợp chặt chẽ, thường  xuyên trong những vấn đề  có tính chiến lược giữa hai Đảng, hai nước; duy trì  các cuộc gặp cấp cao truyền thống. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục bằng  nhiều hình thức phong phú, hiệu quả  và thiết thực về  mối quan hệ  hữu nghị  truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam­Lào, Lào­ Việt Nam cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân hai nước, đặc biệt là thế  hệ thanh thiếu niên hôm nay và mai sau. Và bài dự thi của tôi hưởng ứng phong   trào cũng là một hoạt động cụ thể hướng đến mục tiêu đó. Để  kết thúc bài viết này, tôi xin chia sẻ  một số câu chuyện được nghe tại  bản Lao Khô (xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La), nơi có Khu di  tích lịch sử cách mạng Việt Nam ­ Lào đã được công nhận là Di tích lịch sử cách   mạng cấp Quốc gia, cũng là nơi lưu giữ  nhiều kỷ  niệm về  tình đồng chí, tình   anh em, tình bằng hữu Việt – Lào. Bản Lao Khô được biết đến là nơi đã nuôi 
  8. dấu Chủ  tịch Cay­xỏn Phôm­vi­hản trong thời kỳ  hoạt động cách mạng. Năm  2009, để ghi nhận những đóng góp của đồng bào Mông ở bản Lao Khô, đặc biệt  là gia đình cụ Tráng Lao Khô trong việc có công giúp đỡ, nuôi giấu Chủ  tịch  Cay­xỏn Phôm­vi­hản, Chính phủ  nước Cộng hòa Dân chủ  Nhân dân Lào đã  tặng Huân chương Tự do cho gia đình cụ Tráng Lao Khô và Huân chương Hạng  Ba cho nhân dân bản Lao Khô. Ngược dòng lịch sử, vào năm 1948, Ban xung phong Lào – Bắc gồm 14   đồng chí Việt Nam và Lào  được thành lập, trên  đường hành quân  để  tuyên  truyền, mở  rộng lực lượng đã dừng chân tại Phiêng Sa, nay là bản Lao Khô.  Trong thời gian hoạt động tại đây (từ  năm 1948 đến cuối năm 1949), đồng chí  Cay­xỏn Phôm­vi­hản đã được bố trí đến ở nhà ông Tráng Lao Khô, người dân  tộc Mông. Hai người đã cắt máu ăn thề, sống chết có nhau. Đồng chí Cay­xỏn Phôm­vi­hản và Ban xung phong Lào – Bắc đã được  đồng bào bản Phiêng Sa nuôi giấu và cho mượn đất để  xây dựng cơ  sở  trong   thời gian hoạt động bí mật tại đây. Đặc biệt, ông Tráng Lao Khô ­ một người  Mông trong bản đã trực tiếp dẫn đường, đưa Ban xung phong Lào – Bắc vào  rừng hoạt động. Hàng ngày, ông Lao Khô mang lương thực, thực phẩm vào hang  Thẩm Mế để nuôi cán bộ Việt Minh và cán bộ nước bạn Lào cũng như Chủ tịch  Cay­xỏn Phôm­vi­hản. Đến Lao Khô lần này, chúng tôi may mắn được gặp ông Tráng Lao Lử, con   trai của ông Tráng Lao Khô. Năm nay đã gần 90 tuổi nhưng ông Tráng Lao Lử  vẫn còn rất khỏe mạnh, minh mẫn. Trò chuyện với chúng tôi, ông bồi hồi nhắc   lại những câu chuyện đã được cha mình kể cho nghe về thời kỳ hoạt động của   Chủ  tịch Cay­xỏn Phôm­vi­hản tại bản Lao Khô. Ông kể, năm đó, ông đã 10  tuổi rồi và nhiều lần đã được theo cha mình mang cơm vào rừng cho Chủ  tịch  Cay­xỏn Phôm­vi­hản. Những kỷ niệm về tình bạn đặc biệt với Chủ  tịch Cay­ xỏn Phôm­vi­hản luôn được cha trân trọng, coi đó là niềm vinh hạnh nhất trong   cuộc đời ông. Cha ông thường xuyên kể lại những câu chuyện này cho con cháu   nghe và nhắc nhở  mọi người luôn phải giữ  gìn sự  đoàn kết, tình cảm sâu sắc   giữa nhân dân Việt Nam và Lào.
  9. Du khách tham quan Khu di tích Lao Khô. Trong cuộc trò chuyện, ông Tráng Lao Lử  đã chia sẻ  một kỷ  niệm mà đã   từng được nghe cha kể lại nhiều lần, đó là vào khoảng năm 1949, thực dân Pháp  biết Chủ tịch Cay­xỏn Phôm­vi­hản và bộ đội Việt Minh đang ở tại hang Thẩm  Mế, thế  là chúng liền từ Lào sang nhà ông Tráng Lao Khô để  hỏi về  việc này.  Lúc đó, cha ông đã trả lời là trước thì có ở nhưng giờ họ đi đâu hết rồi. Sau đó  gần 3 tháng, nghe tin quân cách mạng vẫn  ở  khu vực này, chúng tiếp tục quay   lại, gặp ông Lao Khô. Lần này, ông Lao Khô nói với thực dân Pháp là chỉ có một  con đường vào hang, mà nhỏ  lắm, con lợn cũng không đi được, hai bên vách đá   dựng đứng. Lực lượng kháng chiến đặt bẫy  ở  đấy, nếu các ông đi qua, họ  sẽ  thả đá, thả cây xuống để đè chết. Nghe thế, quân Pháp liền quay trở về Lào và   không quay lại nữa. Nhờ đó, lực lượng cách mạng ở đây vẫn an toàn. Lật giở  những bức  ảnh, tấm bằng khen của Nhà nước Cộng hòa Xã hội   chủ  nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ  Nhân dân Lào dành tặng cha   mình, ông Tráng Lao Lử  xúc động nhớ  lại một trong những câu chuyện đáng  nhớ nhất từng được cha kể lại. Đó là vào năm 1951, Chủ tịch Cay­xỏn Phôm­vi­ hản đã cho người liên lạc đến gặp ông Lao Khô. Ông Lao Khô đã đưa 50 đồng  bạc trắng cho Chủ  tịch để  mua súng chống lại quân xâm lược. Sau đó 3 tháng,   Chủ tịch Cay­xỏn Phôm­vi­hản đã viết một lá thư gửi lại cho ông Lao Khô, với  nội dung xác nhận là đã mua được một khẩu súng cùng với 30 viên đạn. Chủ 
  10. tịch nói thêm, sau này kháng chiến thành công, đất nước Lào hòa bình, Chủ  tịch  sẽ trở lại thăm ông Lao Khô. Qua những câu chuyện được ông Tráng Lao Lử  kể  về  cha mình, có thể  thấy dù điều kiện  ở  bản biên giới này lúc đó còn nhiều khó khăn về  kinh tế,  nhưng với tinh thần “hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”, đồng bảo ở đây đã hết  lòng giúp đỡ, cung cấp lương thực, thực phẩm, cũng như  tiền của giúp Ban  xung phong Lào – Bắc mua sắm vũ khí phục vụ  chiến đấu. Đó là những hình   ảnh ghi đậm tình đoàn kết, chiến đấu đặc biệt của đồng bào bản Lao Khô nói  riêng và nhân dân Sơn La nói chung đối với Cách mạng Lào. Với ý nghĩa và giá trị  lịch sử  to lớn, năm 2012, di tích lịch sử  cách mạng  Việt Nam – Lào tại bản Lao Khô đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp  hạng di tích cấp Quốc gia. Lao Khô trở  thành một di tích có vai trò quan trọng,  gắn kết chặt chẽ với các giá trị văn hóa và truyền thống đoàn kết đặc biệt giữa  hai dân tộc Việt Nam – Lào. Đi thăm khu di tích, ông Tráng Lao Lử bồi hồi nói, chúng tôi là con cháu của   ông Lao Khô rất cảm  ơn Đảng và Nhà nước đã xây dựng khu di tích được to   đẹp như ngày hôm nay. Đặc biệt, trong khu di tích còn trưng bày rất nhiều hình  ảnh và hiện vật quý, đây là minh chứng cụ thể cho việc tình cảm gắn bó trước   đây giữa ông Lao Khô và Chủ tịch Cay­xỏn Phôm­vi­hản. Điều này thể hiện sự  đoàn kết, hữu nghị  của nhân dân hai nước Việt Nam và Lào dù trải qua khó  khăn, gian khổ  vẫn luôn sát cánh bên nhau. Với chúng tôi, là những người con,   người cháu sẽ  tiếp tục giáo dục, tuyên truyền cho nhân dân để  tình hữu nghị  giữa hai nước ngày càng sâu đậm, bền vững hơn. Ông Đặng Văn Cương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phiêng Khoài cho biết,  Khu di tích lịch sử  cách mạng Việt Nam – Lào được xây dựng là niềm tự  hào   của nhân dân các dân tộc trong xã. Khu di tích này mang ý nghĩa trong việc giáo   dục các thế  hệ, nhất là lớp trẻ  luôn nhớ  về  cội nguồn, tích cực học tập, sản   xuất và tăng cường mối quan hệ giữa hai bên biên giới. Đây cũng là minh chứng  cho sự  đoàn kết, gắn bó keo sơn giữa quân dân hai dân tộc, luôn đồng lòng dù   trong lúc chiến tranh hay hòa bình.
  11. Vào ngày 06 tháng 7 năm 2017, tại bản Lao Khô, xã Phiêng Khoài, huyện   Yên Châu, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức Lễ khánh thành Khu di tích lịch  sử  cách mạng Việt Nam ­ Lào. Đây là sự  kiện quan trọng nằm trong chuỗi sự  kiện kỷ niệm 55 năm Ngày thiết lập quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam ­ Lào   và 40 năm Ngày ký Hiệp ước hữu nghị, hợp tác Việt Nam ­ Lào. Nơi đây gần 70   năm trước, vào những năm 1948 ­ 1951, đồng chí Cay­xỏn Phôm­vi­hản, Trưởng  ban xung phong Lào Bắc và các thành viên của Ban hoạt động bí mật. Đồng chí  Cay­xỏn Phôm­vi­hản sau này là Tổng Bí thư, Chủ  tịch Ban Chấp hành Trung  ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ  tịch Hội đồng Bộ  trưởng và Chủ  tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Chúng tôi vào bản Lao Khô đúng vào dịp ngày hội phiên chợ  vùng cao. Từ  thành phố Sơn La ngược quốc lộ 6, đến ngã ba Cò Nòi rẽ  phải vào quốc lộ 6C  đi chừng 50 km nữa sẽ tới bản Lao Khô. Cách đây một năm, con đường này còn   là tỉnh lộ  103 gập ghềnh rất khó đi, nay đã được chuyển đổi thành quốc lộ  nhằm mở đường vào Khu di tích lịch sử  cách mạng Việt Nam ­ Lào. Việc đầu  tư  nâng cấp con đường mang ý nghĩa to lớn trong phát triển kinh tế, văn hóa,  vận chuyển hàng hóa cho nhân dân vùng cao biên giới hai huyện Yên Châu và   Mai Sơn. Dù đã ba lần đến đây, nhưng lần này tâm trạng thật khó tả. Một cảm nhận  mới về cảnh quan, cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng biên giới   đang đổi thay, bình yên và no ấm. Giám đốc Bảo tàng tỉnh Sơn La Vũ Thị  Linh  ngồi cùng xe cho biết, không còn nhớ  đã đi trên con đường này bao lần, nhiều  đến mức nhớ từng khúc cua, ổ gà. Chị đến bản Lao Khô như đi về nhà. Bởi chị  gắn bó với nơi đây từ  những ngày đầu cùng bà con đi khảo sát tìm kiếm dấu  tích, phải dùng dao phát cây rừng mới vào được khu di tích và hang Thẩm Mế.   Với những người làm bảo tồn, bảo tàng thì việc tìm được hiện vật là niềm vui,   hạnh phúc, nhiều khi còn quý hơn vàng.
  12. Ảnh: Bản Lao Khô, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Chị Linh kể: Cái tên bản Lao Khô là một phần lịch sử của Khu di tích lịch  sử  cách mạng này. Xa xưa vùng biên giới hoang vu, hẻo lánh, như  không có  người  ở, chỉ lác đác vài ba bản nhỏ  của đồng bào dân tộc Mông, Xinh Mun tút  hút trong rừng sâu. Những năm 1930, gia đình cụ Tráng Lao Khô, dân tộc Mông,  khi ấy ở Vân Hồ (Mộc Châu) cùng một số người thân đến đây lập bản, định cư  lấy tên là bản Phiêng Sa. Năm 1962, để ghi nhớ  người có công lập bản, bà con  bản Phiêng Sa đã lấy tên cụ Tráng Lao Khô để đặt tên là bản Lao Khô như ngày   nay. So với tập quán của đồng bào Mông xưa kia sống du canh du cư, đây là  chuyện hiếm, cho thấy, người dân bản Lao Khô đã chọn được đất sống cho  mình, chọn đây làm quê hương định cư lâu dài, thành “cột mốc” vững chắc cho  vùng biên giới Việt Nam ­ Lào.
  13. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Trung ương Đảng ta chủ  trương phối hợp với cách mạng Lào xây dựng căn cứ  kháng chiến. Năm 1948,   Ban xung phong Lào Bắc gồm cả ta và bạn được thành lập tại tỉnh Sơn La, do  đồng chí Cay­xỏn Phôm­vi­hản làm Trưởng ban. Đội quân ấy đã di chuyển đến  khu vực biên giới Việt Nam ­ Lào để  hoạt động. Từ  đây, cách mạng Lào phát   triển đến vùng Lào Hùng, Phiêng Xả, Moong Nam, Thà Luông, rồi lan rộng ra   các tỉnh đông bắc Lào. Những năm tháng hoạt động bí mật, gian khổ, đồng chí  Cay­xỏn Phôm­vi­hản cùng các chiến sĩ Ban xung phong Lào Bắc đã được cụ  Tráng Lao Khô cùng người dân nơi đây cưu mang, che chở, giúp đỡ. Trong ngôi nhà gỗ  lợp ngói theo kiến trúc người Mông khang trang, sạch  đẹp, ông Tráng Lao Lử, 78 tuổi, là con trai cả  của cụ  Tráng Lao Khô kể  lại  nhiều câu chuyện xúc động. Ông bảo: “Lúc ấy tôi mới 9 ­ 10 tuổi... Hai lần tôi  cùng bố  đưa cơm vào hang Thẩm Mế  cho đồng chí Cay­xỏn. Có lần Pháp đến  lùng sục, bố  tôi dặn mọi người: Khi giặc hỏi, chỉ  nói “Không biết!”. Bố  tìm   cách lấy lòng tin của địch để đánh lạc hướng. Tôi nhớ, có lần bố đưa cho đồng  chí Cay­xỏn 20 đồng bạc trắng loại 2 hào, sau này mua được một khẩu súng, 30   viên đạn”. Ông Lử  cho biết, năm 1986, lúc sửa nhà, trên mái gianh lộ  ra  ống tre, bên  trong còn tờ giấy biên nhận việc đưa tiền giúp bạn đã úa vàng, mủn không đọc  được chữ. Giờ đây, nơi trang trọng chính giữa căn phòng khách của ngôi nhà ấy  được treo tấm ảnh lớn chụp cảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt tay Chủ  tịch Cay­ xỏn Phôm­vi­hản. Bên cạnh là tấm  ảnh đen trắng chân dung cụ  Tráng Lao Khô, với gương   mặt cương trực, nhìn thẳng, bản lĩnh, nhưng rất hiền từ. Bên dưới bức ảnh còn  đề rõ: Cụ Tráng Lao Khô (1890 ­ 1990). Ông Tráng Lao Lử kể, ngày cụ Lao Khô  mất, Chủ  tịch Cay­xỏn nghe tin nhưng không sang được, đã cho người mang   vải, tiền đến phúng viếng. Cuộc đời của cụ  nếu nói bằng lời, bằng chữ  chỉ  ngắn gọn vậy, nhưng thật bi tráng, trở thành biểu tượng sống mãi với thời gian,   một câu chuyện ân tình xúc động trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung giữa   hai dân tộc Việt Nam ­ Lào.
  14. Bộ đội Biên phòng hai nước Việt Nam ­ Lào tại khu vực cửa khẩu Nà Cài,   xã Chiềng On, huyện Yên Châu (Sơn La). Ông Hà Văn Đức, Trưởng ban Liên lạc quân tình nguyện và chuyên gia  quân sự giúp Lào tỉnh Sơn La, cho biết: Ban được thành lập năm 2014, sau khi rà   soát, thống kê, hiện tỉnh Sơn La có gần 6.000 hội viên từng tham gia chiến đấu   và để  lại tuổi thanh xuân trên đất nước Triệu Voi. Ban liên lạc có nhiều hoạt  động thiết thực kết nối với nước bạn Lào, như: Tìm mộ  liệt sĩ, hoạt động đối  ngoại nhân dân, giúp đỡ con, em Lào đang học tập tại Sơn La,... Từ  khi thành lập, Ban liên lạc đã có năm chuyến thăm, làm việc với Hội   Cựu chiến binh Hoàng gia Lào tại các tỉnh. Quá trình giao lưu, tiếp xúc, không  cần phiên dịch, nhiều cựu chiến binh Việt Nam nói được tiếng Lào, một số  từ  tiếng Thái (Sơn La) cũng gần với tiếng Lào, làm cho mối thân tình thêm mặn  nồng, tin cậy, gắn bó. Từ  năm 1969, tỉnh Sơn La ký hợp tác toàn diện với tỉnh Hủa Phăn. Năm   1985, thực hiện chủ trương của Đảng, Sơn La ký hợp tác toàn diện với tỉnh Bò  Kẹo, và cho đến hôm nay đã ký kết với tám tỉnh Bắc Lào gồm: Hủa Phăn, Bò 
  15. Kẹo,   Luông   Pha   Bang,   U   Đôm   Xay,   Luông   Nậm   Thà,   Phông   Sa   Lỳ,   Xiêng  Khoảng và Xay Nha Bu Ly. Giám đốc Sở  Ngoại vụ  tỉnh Sơn La Cầm Văn   Phương tâm sự: Sự giúp đỡ  của Sơn La rất hiệu quả. Đây không phải tự mình  đánh giá mà là từ bạn. Bạn hiểu Sơn La còn nhiều khó khăn, nhưng những việc Sơn La chọn giúp   đều rất thiết thực. Cho nên về  mặt kinh phí tuy không nhiều, nhưng đã làm  được nhiều việc, góp phần làm thay đổi bộ  mặt đời sống của nhân dân Lào.  Sơn La thực hiện hợp tác trên các lĩnh vực: y tế, giáo dục, văn hóa ­ xã hội, nông   nghiệp, thương mại ­ dịch vụ, an ninh ­ quốc phòng đều rất hiệu quả. Nhưng   ấn tượng nhất phải kể đến việc giúp bạn đào tạo cán bộ, tạo nguồn nhân lực.   Phần lớn cán bộ chủ chốt của các tỉnh Bắc Lào đã từng tham gia học tập, nghiên  cứu tại Sơn La. Tại tỉnh hiện có khoảng hơn 1.000 lưu học sinh Lào đang học   tập tại các trường cao đẳng, đại học. Mỗi năm có thêm khoảng 160 học sinh   được nước bạn tuyển chọn gửi tới Sơn La đào tạo. Tổng kết 10 năm giai đoạn 2003 ­ 2012, nguồn vốn Sơn La tr ực tiếp hỗ tr ợ  giúp nước bạn Lào là 258 tỷ  đồng, trong đó vốn ngân sách tỉnh là 115 tỷ  đồng,  ngân sách Trung ương là 143 tỷ đồng. Những năm gần đây, bình quân mỗi năm,  tỉnh Sơn La tự  bỏ  ngân sách hỗ  trợ, giúp bạn khoảng 20 tỷ  đồng. Nhiều công  trình trường học, nhà văn hóa, công trình thủy lợi, trụ sở được xây dựng khang   trang là những món quà thiết thực với nước bạn Lào. Công trình Khu di tích lịch sử cách mạng Việt Nam ­ Lào tại bản Lao Khô  là điểm nhấn quan trọng, biểu tượng cho mối tình đoàn kết hữu nghị  đặc biệt,  trong sáng thủy chung, hợp tác toàn diện Việt Nam ­ Lào.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản