intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Nguyễn Phúc Vinh

Chia sẻ: Đào Đức Mạnh | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:13

0
11
lượt xem
1
download

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Nguyễn Phúc Vinh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài dự thi "Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017" do Nguyễn Phúc Vinh trình bày một số kinh nghiệm về việc giữ gìn, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Nguyễn Phúc Vinh

  1. BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM ­ LÀO, LÀO ­ VIỆT NAM NĂM 2017 Người tham gia:  Họ và tên: Nguyễn Phúc Vinh  Đơn   vị:  Chi   đoàn  Công   an,   Đoàn  Ngày sinh: 1990 phường   Phước   Long,   Nha   Trang,  Giới tính: Nam Khánh Hoà Nghề nghiệp: Công an Nơi thường trú:  Dân tộc: Kinh Số điện thoại:  Tôn giáo: không NỘI DUNG BÀI DỰ THI Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài viết, tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm   về  việc giữ gìn, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam ­  Lào. Trước hết, xin giới thiệu một chút về  nước Lào anh em. Lào là quốc gia  Đông Nam Á trong bán, đảo Đông Dương có chung đường biên giới dài 2069 km  về phía Tây được Việt Nam ôm trọn phía biển Đông, đường biên giới giữa Việt  Nam và Lào trải dài suốt 10 tỉnh của Việt Nam tiếp giáp với 10 tỉnh phía Lào. Hai dân tộc đã luôn cùng nhau “chia ngọt sẻ  bùi”, “đồng cam cộng khổ”,  “hạt muối cắn chung, bát cơm sẻ  nửa”, cùng sát cánh chiến đấu và cùng chiến  thắng. Mối quan hệ gắn kết anh em giữa hai dân tộc đã được hình thành và hun  đúc trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của hai dân tộc trong   hơn bảy thập kỷ qua mối. Trên thế  giới từ  trước đến nay,  ở  phương Đông cũng như  phương Tây,  trong cuộc đấu tranh để sinh tồn và phát triển của các quốc gia, các dân tộc, các   tập đoàn giai cấp… đã từng xuất hiện nhiều mối quan hệ liên minh hợp tác với  những hình thức, nội dung khác nhau như  liên minh chiến lược, liên minh sách   lược, liên minh hữu cơ… Nhưng có thể nói ít có nơi nào và lúc nào có được mối   quan hệ đoàn kết, hợp tác bền vững lâu dài, mẫu mực trong sáng như mối quan   hệ  chiến lược Việt – Lào. Cùng với thời gian mối quan hệ đó đã không ngừng  được củng cố và phát triển, từ quan hệ  láng giềng gần gũi, thân thiện giữa hai  
  2. quốc gia trong thời phong kiến, tiến đến quan hệ gắn bó trong cuộc đấu tranh tự  phát của các trào lưu dân tộc và của các thân sĩ tiến bộ, khi hai nước đều bị đế  quốc thực dân xâm lược, thống trị. Đặc biệt, từ  ngày Đảng Cộng sản Đông   Dương ra đời đảm nhận sứ  mệnh lịch sử  lãnh đạo cách mạng ba nước (Cam­ pu­chia – Lào – Việt Nam), mối quan hệ Lào – Việt có sự biến đổi về chất, trở  thành mỗi quan hệ tự giác, kiểu mới, mang bản chất chủ nghĩa quốc tế vô sản.  Trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế  quốc Mỹ  xâm   lược, quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu Lào – Việt được củng cố và nâng  cao thành một quy luật tồn tại, phát triển, một nhân tố  cơ  bản bảo đảm thắng  lợi của cách mạng mỗi nước và cả hai nước. Lịch sử đã khẳng định quan hệ Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam là quan hệ  đặc biệt, là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về  sự  gắn kết   bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì   độc lập, tự do và tiến bộ xã hội. Khi cả khối Xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ,   hai Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vẫn  vững vàng. Chính thể  do Đảng lãnh đạo vẫn vững bước, hai đất nước, hai dân  tộc cùng sánh vai xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, phát triển kinh tế theo   định hướng Xã hội chủ  nghĩa, đập tan mọi âm mưu gây chia rẽ, phá hoại mối  quan hệ đoàn kết của các thế lực thù địch phản động. Tình hữu nghị, đoàn kết giữa hai Đảng, hai nước Việt­Lào và sự  gắn bó  thủy chung, keo sơn giữa dân tộc Việt Nam và nhân dân các bộ  tộc Lào được   Chủ  tịch Hồ  Chí Minh và Chủ  tịch Cay­xỏn Phom­vi­hản trực tiếp gây dựng,  được các thế  hệ  lãnh đạo kế  tục của hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai   nước quý trọng, nâng niu và dày công vun đắp. Trải qua nhiều giai đoạn và biến   cố của lịch sử, mối quan hệ Việt­Lào được tôi luyện và hun đúc bằng công sức   và xương máu của biết bao anh hùng liệt sỹ, bằng sự  hy sinh phấn đấu của  nhiều thế  hệ  người Việt Nam và Lào và đã thực sự  trở  thành mối quan hệ  truyền thống, rất   đặc biệt, rất thủy chung và trong sáng. Chủ  tịch Cay­xỏn  Phom­vi­hản đã từng nói: “Trong lịch sử  cách mạng thế  giới đã có nhiều tấm  
  3. gương sáng chói về  tinh thần quốc tế  vô sản, nhưng chưa  ở  đâu và chưa bao   giờ có sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài và toàn diện như vậy”. Năm 2017 có ý nghĩa đặc biệt với quan hệ  Việt Nam ­ Lào khi người dân  hai nước tưng bừng tổ chức hàng loạt hoạt động kỷ niệm 55 năm thiết lập quan   hệ ngoại giao (05/9/1962 ­ 05/9/2017) và 40 năm ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp   tác (18/71977 ­ 18/72017), bài viết này nhằm hưởng ứng cuộc thi “Tìm hiểu lịch  sử quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam năm 2017 ” là một hoạt  động như vậy. Ảnh tư  liệu: Tổng Bí thư  Nguyễn Phú Trọng tiếp Chủ  tịch Quốc hội Lào   Pany Yathotou. Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam Hơn nửa thế  kỷ  đã trôi qua, dù tình hình thế  giới có rất nhiều thay đổi,  song dưới sự  lãnh đạo của hai đảng, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào vẫn   chung lòng chung sức, kề  vai sát cánh trong công cuộc đấu tranh giải phóng và   thống nhất đất nước cũng như trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của mỗi  nước. Là hai nước láng giềng núi sông liền một dải, quan hệ gắn kết anh em giữa  hai dân tộc đã được hình thành và củng cố  cùng bề  dày lịch sử  dựng nước và  giữ nước. Đặc biệt, trong nhiều thập kỷ qua, mối quan hệ truyền thống tốt đẹp,   sự  gắn bó thủy chung giữa nhân dân hai nước đã được Chủ  tịch Hồ  Chí Minh,   Chủ  tịch Kaysone Phomvihane và Chủ  tịch Suphanuvong đặt nền móng, được  các thế hệ lãnh đạo của hai đảng, hai nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun  đắp, được tôi luyện qua nhiều thử  thách và được hun đúc bằng công sức và 
  4. xương máu của bao thế hệ các anh hùng liệt sĩ, để  trở thành tài sản vô giá của   hai dân tộc. 55  năm  trước,  sau  khi  Hiệp   định  Giơ­ne­vơ   về   Lào  được  ký  kết  (năm  1962), Việt Nam và Lào đã nhất trí thiết lập quan hệ  ngoại giao, mở  ra một  chương mới trong sự  nghiệp củng cố  và phát triển hơn nữa mối quan hệ  giữa   hai nước. Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giành độc lập của mỗi nước,   sự gắn bó khăng khít, sự hỗ trợ, giúp đỡ vô tư, chí tình, chí nghĩa giữa hai nước,   hai dân tộc Việt Nam và Lào, đã trở thành sức mạnh vô song và là nhân tố quan   trọng góp phần đưa cách mạng hai nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác,  tiến tới thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975. Quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt Việt Nam ­ Lào đã sớm được gây   dựng, gìn giữ và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của hai   dân tộc là tài sản chung vô giá, là nhân tố  bảo đảm thắng lợi cho sự  nghiệp,  cách mạng của mỗi nước. Để  gìn giữ, củng cố  và phát huy truyền thống hữu   nghị  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam chúng ta có những bài học học   kinh nghiệm chủ yếu về việc gìn giữ, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam.
  5. Tổng   Bí   thư   Nguyễn   Phú   Trọng   tiếp   ông Chan­xy   Phô­xi­khâm,   Bí   thư  Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lào. (Nguồn: TTXVN) Một là, phải xác định đúng đắn hệ  thống quan điểm lí luận về  mối  quan  hệ  dân tộc và quốc tế  trong th ời  đại mới giữ  vai trò quan trọng hàng đầu  trong quá trình xây dựng, phát triển quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­  Việt Nam. Cả hai dận tộc Việt Nam và Lào đều khẳng định con đường cách mạng vô  sản là con đường giải phóng và phát triển của mỗi nước  ở  Đông Dương. Quan   hệ đó đã được kiểm nghiệm trong lịch sử, trải qua nhiều thử thách, hy sinh, gian  khổ vì độc lập, tự do, hạnh phúc của hai dân tộc và nhân dân hai nước, quan hệ  Việt Nam – Lào đã trở  thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ  diệu đưa tới   nhiều thắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trong đấu tranh giải phóng dân tộc,   trong xây dựng và bảo vệ đất nước, cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ  nghĩa. Nếu một trong hai nước xa rời Chủ nghĩa Mác ­ Lê Nin, chệch hướng con  đường mà Đảng của mỗi nước đã chọn thì có nguy cơ phá vỡ mối quan hệ đặc   biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam. Do đó, tình cảm cách mạng thủy chung,  trong sáng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào là  một nhân tố trọng yếu tạo nên độ bền vững và phát triển của mối quan hệ Việt   Nam – Lào. Hai là, phải xác định nội dung, phương thức xây dựng quan hệ  đặc biệt  Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam là cụ  thể hóa hệ thống quan điểm lí luận của  chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin về quan hệ quốc gia và quốc tế trong điều kiện cụ  thể  của hai nước để  hướng dẫn hoạt động của Đảng, của hệ  thống chính trị  và  quân, dân hai nước Việt Nam, Lào nhằm đạt tới mục tiêu cách mạng do hai bên  xác lập. Theo quan điểm của chủ  nghĩa Mác ­ Lê­nin, vấn đề  dân tộc là một bộ  phận của những vấn đề chung về cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản. Do   đó, giải quyết vấn đề dân tộc phải gắn với cách mạng vô sản và trên cơ sở của  cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin cũng nhấn mạnh rằng, khi  xem xét và giải quyết vấn để  dân tộc phải đáp  ứng vững trên lập trường giai 
  6. cấp công nhân. Điều đó cũng có nghĩa là việc xem xét và giải quyết vấn đề dân  tộc phải trên cơ sở và vì lợi ích cơ bản, lâu dài của các dân tộc. Tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hai nước Việt Nam và Lào đã tạo ra  những điều kiện thuận lợi để xây dựng quan hệ dân tộc bình đẳng, hợp tác giúp  đỡ  nhau cùng tiến bộ  giữa các dân tộc. Sự  xích lại gần nhau trên cơ  sở  tự  nguyện và bình đẳng sẽ  là nhân tố  quan trọng cho từng dân tộc nhanh chóng đi  tới phồn vinh hạnh phúc. Mỗi dân tộc không những có điều kiện khai thác tối đa  tiềm năng của dân tộc minh để  phát triển mà còn nhận được sự  giúp đỡ, dựa  vào tiềm năng của dân tộc anh em để phát triển nhanh chóng. Tại cuộc hội đàm với Đoàn đại biểu cấp cao Đảng  Nhân dân Cách Mạng  Lào, ngày 9 tháng 7 năm 1961, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư  thứ  nhất Ban Chấp  hành Trung  ương Đảng Lao động Việt Nam trình bày về  nguyên tắc lớn và lề  lối làm việc giữa hai Đảng, bao gồm những nội dung: “ Mọi công việc  ở  Lào   đều do Đảng Lào phụ trách. Cách mạng Lào do đồng chí Lào lãnh đạo, Đường   lối chủ trương do Đảng Lào đề ra. Việt Nam góp ý kiến. Cũng có lúc Việt Nam   thấy vấn đề trước thì Việt Nam đề  xuất ý kiến trước, nhưng quyền quyết định   vẫn do Đảng Lào”. Ở  phạm vi quan hệ  giữa Đảng Lào với các Đảng anh em khác thì “Đảng   Lào tự mình bàn bạc  thương lượng với các Đảng anh em trong mọi vấn đề  có   liên quan. Trong phạm vi nào đó theo yêu cầu của các Đảng anh em và với sự   thỏa thuận của Đảng Lào, Việt Nam có thể làm trung gian giúp đỡ” Về quan hệ giữa hai nước, hai chính phủ, đồng chí Lê Duẩn cho rằng: “Tất   nhiên có những quan hệ  khác hơn quan hệ  hai Đảng. Những vấn đề  lớn trong   quan hệ giữa hai chính phủ  thì hai Đảng cũng cần có sự  trao đổi ý kiến trước   với nhau”. Về  phía Lào, giải thích rõ nguyên tắc độc lập, tự  chủ  và giá trị  của nó,  trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc Lào ngày 13 tháng 5 năm 1974,   Chủ  tịch Cayxỏnphomvihản nói: “Sự  nghiệp cách mạng của nhân dân ta phải  do nhân dân ta tự làm lấy. Đảng ta là một Đảng lãnh đạo cách mạng thực sự, do   đó phải giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ thì mới chứng minh một cách đầy  
  7. đủ  chủ  nghĩa yêu nước nồng nàn kết hợp với tinh thần quốc tế  vô sản trong   sáng”. Trên cơ sở nhận thức quá trình toàn cầu hóa và  sự hội nhập giữa các nước  trong khu vực Đông Nam Á. Báo cáo Chính trị  tại Đại hội lần thứ  VIII Đảng  Nhân dân Cách mạng Lào (tháng 3 năm 2006) nêu rõ: “Kiên định quan điểm chủ  động và thái độ tích cực trong  hội nhập quốc tế và khu vực bằng việc phát huy   cao độ  sức mạnh của dân tộc và tiềm năng của đất nước. Cộng hòa Dân chủ   Nhân dân Lào sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước nhằm đảm   bảo lợi ích chung và lợi ích riêng của mỗi bên”. Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Thực hiện nhất quán   đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển.” Tiếp tục  tinh thần và nguyên tắc đó, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách   mạng Lào chủ trương đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam ­   Lào phải trên cơ sở phát huy tinh thần độc lập, tự chủ và ý chí tự lực, tự cường,  hợp tác bình đẳng và cùng có lợi, trên cơ  sở  tôn trọng độc lập, chủ  quyền và   toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Thứ   ba,   tình   cảm   cách   mạng   thủy   chung,   trong   sáng   của   Đảng   Cộng  sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào là một nhân tố  trọng yếu tạo   nên độ  bền vững và phát triển của mối quan hệ  Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt   Nam. Là hai nước láng giềng rất mực thân thiết, gần gũi, quan hệ gắn kết nghĩa   tình anh em giữa hai dân tộc được hình thành và hun đúc trong lịch sử hàng nghìn  năm dựng nước và giữ nước. Đặc biệt trong hơn tám thập kỷ qua kể từ thời kỳ  Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời và lãnh đạo phong trào cách mạng chung,   mối quan hệ  truyền thống tốt đẹp, sự  gắn bó thủy chung giữa nhân dân hai  nước   Việt   Nam   ­   Lào   được   Chủ   tịch   Hồ   Chí   Minh   và   Chủ   tịch   Cayxon  Phomvihan đặt nền móng, được các thế  hệ  lãnh đạo kế  tục của hai Đảng, hai  Nhà nước và nhân dân hai nước dày công vun đắp đã trở thành tài sản vô giá của   cả hai dân tộc và là quy luật phát triển chung của cách mạng hai nước trên con  đường phát triển đất nước phồn vinh, nhân dân ấm no, hạnh phúc.
  8. Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân và đế  quốc, đấu tranh giải  phóng dân tộc và giành độc lập của mỗi nước, sự phối hợp, giúp đỡ  vô tư, chí   tình giữa hai nước, hai dân tộc chúng ta là nhân tố quan trọng làm nên thắng lợi   của cách mạng mỗi nước. Ðã có biết bao tấm gương chiến đấu, hy sinh của  hàng triệu người con Lào và Việt Nam, nhiều người ngã xuống, vì độc lập, tự  do của mỗi nước, vì tình hữu nghị, đoàn kết chiến đấu Việt Nam ­ Lào. Sự  hy   sinh cao đẹp và vô cùng to lớn đó trở thành sức mạnh vô song, nguồn động lực  lớn lao, góp phần đưa cách mạng hai nước đi từ  thắng lợi này đến thắng lợi   khác, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975. Vượt qua muôn vàn khó khăn do hậu quả  chiến tranh để  lại, bất chấp sự  bao vây, cấm vận và chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhân dân hai  nước luôn dành cho nhau sự   ủng hộ, giúp đỡ  to lớn về  mọi mặt trong những  ngày đầu mới giành chính quyền cách mạng. Mối quan hệ son sắt, thủy chung,   trong sáng đó đã hun đúc ý chí, quyết tâm của chúng ta, tạo thành nền tảng vững   chắc, để trên chặng đường mới, nhân dân hai nước Việt Nam ­ Lào lại cùng kề  vai sát cánh bên nhau, đẩy mạnh công cuộc xây dựng và phát triển mỗi nước,   vun đắp cho quan hệ  láng giềng hữu nghị  đặc biệt Việt Nam ­ Lào mãi mãi  trường tồn. Thứ  tư, khai thác, phát huy các nhân tố, điều kiện cần thiết để  xây dựng,   phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam. Để  tăng cường hợp tác toàn diện, đưa quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào,  Lào ­ Việt Nam lên tầm cao mới, hai Đảng, hai Nhà nước cần tiếp tục bổ sung,  hoàn chỉnh các cơ  chế, chính sách và tổ  chức chỉ  đạo thực hiện có hiệu quả  những thoả  thuận và những mục tiêu chiến lược đã đặt ra với tầm nhìn rộng  hơn, toàn diện và lâu dài hơn nhằm không ngừng củng cố, tăng cường và phát  triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước   Việt Nam và Lào. Cần tiếp tục đưa quan hệ  chính trị  đi vào chiều sâu; không   ngừng mở  rộng và nâng cao hiệu quả  hợp tác an ninh, quốc phòng, kinh tế,  thương mại và đầu tư, giáo dục ­ đào tạo.
  9. Hai Đảng, hai Nhà nước thường xuyên trao đổi thông tin, phối hợp chặt   chẽ,  ủng hộ  lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế, khu vực cũng như  các cơ  chế  tiểu vùng; làm sâu sắc hơn tiến trình hợp tác, liên kết của Cộng đồng ASEAN,   tăng cường đoàn kết, vai trò trung tâm của ASEAN và duy trì tiếng nói chung   của ASEAN trong các vấn đề chiến lược của khu vực, trong đó có vấn đề biển   Đông. Hiện nay, khi chúng ta hội nhập sâu sắc với thế  giới, trong bối cảnh tình  hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó dự đoán hơn bao giờ hết, hai   Đảng, hai Nhà nước phải coi việc giáo dục người dân hai nước là nhiệm vụ ưu  tiên hàng đầu, đặc biệt là thế hệ trẻ, về truyền thống lịch sử dân tộc, về sự cần   thiết, cũng như  tầm quan trọng của quan hệ  đặc biệt Lào ­Việt Nam, để  họ  hiểu được trách nhiệm của mình, nhiệm vụ của mình trong việc kế tục tài sản  vô giá mà các thế hệ cha ông hai nước đã tốn không biết bao xương máu để gây  dựng, giúp chúng ta có được cuộc sống ngày hôm nay. Một trong những điển hình của việc giữ  gìn, củng cố, phát huy truyền   thống hữu nghị  đặc biệt Việt Nam – Lào là công tác của Hội Hữu nghị  Việt ­  Lào Thừa Thiên ­ Huế. Không ngừng vun đắp xây dựng thắm tình hữu nghị giữa  hai dân tộc Việt ­ Lào là việc làm thường xuyên của Hội Hữu nghị  Việt ­ Lào  Thừa Thiên ­ Huế trong suốt thời gian qua.
  10. Bộ  Lãnh đạo Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Thừa Thiên – Huế và Ủy ban   nhân dân huyện A Lưới cắt băng khánh thành bàn giao nhà hữu nghị  cho dân   bản Sê Xáp, tỉnh Xê­kông Đã bước sang tuổi 82, nhưng mỗi lần nhắc đến đất nước Lào, ông Nguyễn   Hữu Lễ, nguyên Chủ  tịch Hội Việt ­ Lào tỉnh lại bồi hồi xúc động. Vì có quan  hệ  thắm thiết với bạn bè, đồng chí  ở  Lào nên sau khi nghỉ  công tác  ở  Công ty  Lâm nghiệp Việt ­ Lào tỉnh, năm 2004, ông Lễ tham gia vào Hội Hữu nghị Việt  ­ Lào tỉnh. Với vai trò “đầu tàu” của ông Lễ, hội có nhiều hoạt động sáng tạo,  trong đó nổi bật là công tác phối hợp đào tạo lưu học sinh Lào tại Huế, tạo  nguồn nhân lực tương lai cho đất nước bạn thông qua việc ký kết giữa Bộ Giáo  dục & Đào tạo và lãnh đạo hai địa phương. Từ  năm 2002 đến nay, bình quân mỗi năm, Thừa Thiên Huế  tiếp nhận từ  80 ­ 100 sinh viên Lào tham gia các  ngành y dược, nông lâm, khoa  học, sư  phạm... Hội đã thành lập Ban liên lạc, kết nối các trường cao đẳng, đại học trên  địa bàn, hỗ  trợ  các sinh viên Lào gặp khó khăn từ  chuyện ăn,  ở, sinh hoạt đến  
  11. việc học tập. Hội đề xuất nhiều giáo viên ở trường cao đẳng, đại học Sư phạm  Huế, các hội viên, các đồng chí trong Ban Thường vụ Hội nhận bảo trợ các học  sinh Lào làm con nuôi trong thời gian sống và học tập tại Huế. 5 năm gần đây,  Thừa Thiên Huế đào tạo cho đất nước bạn 01 tiến sĩ, 24 thạc sĩ, 263 kỹ sư và có   hàng chục sinh viên dự bị. Trường Cao đẳng Sư phạm Huế đã nhận đào tạo hơn  450 lưu học sinh Lào học tiếng Việt. Hai năm gần đây, Hội phối hợp giúp các  Trường cao đẳng Sư  phạm và Trường đại học Sư  phạm Huế  đào tạo tiếng   Việt cho 20  cán bộ là phó, chánh và giám đốc các sở, ban ngành tỉnh Salavan... Hoạt động khá quan trọng được hội quan tâm theo chủ  trương của hai  Đảng, Nhà nước từ  trước đến nay là tạo mối quan hệ  bền chặt của nhân dân  vùng biên. Trước đây, tình hình khu vực vùng biên  ở  các xã của huyện A Lưới  và 22 bản của bạn nảy sinh vấn đề mất ổn định do tình trạng săn bắn, khai thác  lâm, thổ  sản... Khi Chính phủ  có chủ  trương nâng cấp cửa khẩu A Đớt, Hồng  Vân (A Lưới) nối liền với tỉnh Xê­kông, Xa­la­van (Lào) thành cửa khẩu chính,  hội cùng Bộ đội Biên phòng tỉnh đảm trách nhiều việc như tổ chức quản lý hoạt  động xuất nhập khẩu, đoàn ra, đoàn vào, đảm bảo quy chế giữa hai bên. Hội và Bộ  đội Biên phòng giúp bà con 2 bản nghèo Ka­lo (Xa­la­van) và I­ reo (Xê­kông) xây dựng hạ  tầng dân sinh, nhà cửa, các mô hình phát triển chăn   nuôi, trồng trọt giúp hàng chục hộ  dân trong khu vực  ổn định dần cuộc sống;   đồng thời tăng cường giao lưu, hợp tác hỗ trợ việc huấn luyện đào tạo cán bộ,   xây dựng cơ sở vật chất cho lực lượng vũ trang phía bạn; phối hợp việc cất bốc  hài cốt liệt sĩ đã hy sinh  ở  chiến trường Lào. Hội còn phối hợp với huyện A   Lưới tạo mối quan hệ  chặt chẽ  với các huyện vùng biên  ở  Lào với phương  châm “Tối lửa tắt đèn có nhau”; vào các dịp lễ  và tết, hai bên tổ  chức thăm  viếng, trao đổi kinh nghiệm phát triển kinh tế ­ xã hội địa phương. Ông Hoàng Ngọc Quý, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt ­ Lào Thừa Thiên ­   Huế, cho biết: “Có rất nhiều cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam từng   công tác và chiến đấu  ở  nước bạn Lào nay đang làm việc hay nghỉ  hưu  ở  địa   phương hoặc đất nước bạn thì luôn có tình cảm tốt đẹp với đất nước Lào. Trái  
  12. tim, tình cảm suy nghĩ của họ  như một biểu tượng cho tình đoàn kết mẫu mực   giữa hai dân tộc Việt ­Lào”. Kể từ khi được Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép thành lập vào tháng 11 năm   1998, các hoạt động của Hội không ngừng được củng cố, mở rộng và ngày càng  tập hợp nhiều hội viên. Hội đã có nhiều hoạt động ý nghĩa vun đắp cho tình hữu   nghị giữa hai dân tộc, như đóng vai trò tích cực trong việc xúc tiến các mối hợp  tác giữa tỉnh nhà với các tỉnh Xê­kông, Xa­la­van, Áp­pha­tơ, Chăm­pa­sắc, Pa­ xê, Xa­van­na­khẹt...; tổ  chức theo dõi, thăm hỏi, động viên, tặng quà cho lưu  học sinh Lào học tập tại các trường cao đẳng, đại học tại Huế  vào các dịp lễ  Quốc khánh, tết cổ truyền Lào; cử hội viên tham gia các hoạt động của Hội luân   phiên tổ chức tại hai nước... Hội thường xuyên kết nối thông tin trao đổi mối quan hệ hợp tác hữu nghị  với Đại sứ quán Lào tại Hà nội, Tổng lãnh sự quán Lào tại Đà Nẵng; tham gia   cùng các đoàn của lãnh đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Hữu nghị  Việt ­ Lào Việt Nam và lãnh đạo địa phương trong các dịp gặp gỡ, làm việc tại   Lào nhằm trao đổi thông tin quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị,  văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, góp phần thắt chặt thêm tinh thần đoàn kết   hữu nghị của nhân dân hai nước. Gần đây, hội tạo điều kiện thuận lợi thành lập thêm các chi hội trực thuộc,   như  Chi hội Lâm nghiệp, Chi hội Tiếng hát đi cùng năm tháng, Ban liên lạc   Quân tình nguyện tại Lào... triển khai những hoạt động cụ  thể, làm cầu nối  nâng tầm quan hệ giữa tỉnh Thừa Thiên Huế  với các tỉnh bạn sát đúng thực tế  với yêu cầu của Đảng và Nhà nước. Ban liên lạc Tình nguyện Lào hiện có gần   100 hội viên, hàng năm tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa như gặp mặt giao lưu,   chia sẻ kinh nghiệm phát triển kinh tế; tổ chức kỷ niệm Ngày truyền thống vào   ngày 30 tháng 10 để ôn lại những năm tháng chiến đấu hào hùng chống kẻ  thù  của hai dân tộc trên đất bạn Lào. Ông Hoàng Ngọc Quý cho biết, thời gian đến, Hội sẽ triển khai thêm nhiều   hoạt động giao lưu hợp tác về  văn hóa ­ xã hội giữa hai nước, chú trọng đến  việc giáo dục cho thế hệ trẻ ở địa phương và các tỉnh bạn Lào hiểu sâu sắc hơn  
  13. về tình đoàn kết giữa hai dân tộc mà nhiều thế hệ lãnh đạo hai bên đã dày công  vun đắp trong suốt hàng chục năm qua.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản