intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Nguyễn Thế Lĩnh

Chia sẻ: Đào Đức Mạnh | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:20

0
29
lượt xem
3
download

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Nguyễn Thế Lĩnh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài dự thi "Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017" do Nguyễn Thế Lĩnh trình bày tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong lịch sử của hai dân tộc và trên những chặng đường phát triển mới.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Nguyễn Thế Lĩnh

  1. BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM ­ LÀO, LÀO ­ VIỆT NAM NĂM 2017 Người tham gia:  Họ và tên: Nguyễn Thế Lĩnh Đơn  vị:  Bí  thư  Chi   đoàn  Công  an,  Ngày sinh: 26/7/1987 Đoàn phường Phước Long, Nha Trang,  Giới tính: Nam Khánh Hoà Nghề nghiệp: Công an Nơi   thường   trú:   29/12   Tuệ   Tĩnh,  Dân tộc: Kinh Lộc Thọ, Nha Trang, Khánh Hoà Tôn giáo: không Số điện thoại: 0997.995.785 NỘI DUNG BÀI DỰ THI Trong khuôn khổ  có hạn của bài viết, tôi xin trình bày tầm quan trọng của  việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam   trong lịch sử của hai dân tộc và trên những chặng đường phát triển mới. Trước hết, xin giới thiệu một chút về  nước Lào anh em. Lào là quốc gia  Đông Nam Á trong bán đảo Đông Dương có chung đường biên giới dài 2069 km  về phía Tây, được Việt Nam ôm trọn phía biển Đông, đường biên giới giữa Việt  Nam và Lào trải dài suốt 10 tỉnh của Việt Nam tiếp giáp với 10 tỉnh phía Lào.  Quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào có nhiều cơ sở thực tiễn quan trọng. Hai dân tộc đã luôn cùng nhau “chia ngọt sẻ  bùi”, “đồng cam cộng khổ”,  “hạt muối cắn chung, bát cơm sẻ  nửa”, cùng sát cánh chiến đấu và cùng chiến  thắng. Mối quan hệ gắn kết anh em giữa hai dân tộc đã được hình thành và hun  đúc trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của hai dân tộc trong   hơn bảy thập kỷ qua mối. Trên thế  giới từ  trước đến nay,  ở  phương Đông cũng như  phương Tây,  trong cuộc đấu tranh để sinh tồn và phát triển của các quốc gia, các dân tộc, các   tập đoàn giai cấp… đã từng xuất hiện nhiều mối quan hệ liên minh hợp tác với  những hình thức, nội dung khác nhau như  liên minh chiến lược, liên minh sách   lược, liên minh hữu cơ… Nhưng có thể nói ít có nơi nào và lúc nào có được mối   quan hệ đoàn kết, hợp tác bền vững lâu dài, mẫu mực trong sáng như mối quan   hệ  chiến lược Việt – Lào. Cùng với thời gian mối quan hệ đó đã không ngừng 
  2. được củng cố và phát triển, từ quan hệ  láng giềng gần gũi, thân thiện giữa hai   quốc gia trong thời phong kiến, tiến đến quan hệ gắn bó trong cuộc đấu tranh tự  phát của các trào lưu dân tộc và của các thân sĩ tiến bộ, khi hai nước đều bị đế  quốc thực dân xâm lược, thống trị. Đặc biệt, từ  ngày Đảng Cộng sản Đông   Dương ra đời đảm nhận sứ  mệnh lịch sử  lãnh đạo cách mạng ba nước (Cam­ pu­chia – Lào – Việt Nam), mối quan hệ Lào – Việt có sự biến đổi về chất, trở  thành mỗi quan hệ tự giác, kiểu mới, mang bản chất chủ nghĩa quốc tế vô sản.  Trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế  quốc Mỹ  xâm   lược, quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu Lào – Việt được củng cố và nâng  cao thành một quy luật tồn tại, phát triển, một nhân tố  cơ  bản bảo đảm thắng  lợi của cách mạng mỗi nước và cả hai nước. Lịch sử đã khẳng định quan hệ Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam là quan hệ  đặc biệt, là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về  sự  gắn kết   bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì   độc lập, tự do và tiến bộ xã hội. Khi cả khối Xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ,   hai Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vẫn  vững vàng. Chính thể  do Đảng lãnh đạo vẫn vững bước, hai đất nước, hai dân  tộc cùng sánh vai xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, phát triển kinh tế theo   định hướng Xã hội chủ  nghĩa, đập tan mọi âm mưu gây chia rẽ, phá hoại mối  quan hệ đoàn kết của các thế lực thù địch phản động. Tình hữu nghị, đoàn kết giữa hai Đảng, hai nước Việt­Lào và sự  gắn bó  thủy chung, keo sơn giữa dân tộc Việt Nam và nhân dân các bộ  tộc Lào được   Chủ  tịch Hồ  Chí Minh và Chủ  tịch Cay­xỏn Phom­vi­hản trực tiếp gây dựng,  được các thế  hệ  lãnh đạo kế  tục của hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai   nước quý trọng, nâng niu và dày công vun đắp. Trải qua nhiều giai đoạn và biến   cố của lịch sử, mối quan hệ Việt­Lào được tôi luyện và hun đúc bằng công sức   và xương máu của biết bao anh hùng liệt sỹ, bằng sự  hy sinh phấn đấu của  nhiều thế  hệ  người Việt Nam và Lào và đã thực sự  trở  thành mối quan hệ  truyền thống, rất   đặc biệt, rất thủy chung và trong sáng. Chủ  tịch Cay­xỏn  Phom­vi­hản đã từng nói: “Trong lịch sử  cách mạng thế  giới đã có nhiều tấm  
  3. gương sáng chói về  tinh thần quốc tế  vô sản, nhưng chưa  ở  đâu và chưa bao   giờ có sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài và toàn diện như vậy”. Năm 2017 có ý nghĩa đặc biệt với quan hệ  Việt Nam ­ Lào khi người dân  hai nước tưng bừng tổ chức hàng loạt hoạt động kỷ niệm 55 năm thiết lập quan   hệ ngoại giao (05/9/1962 ­ 05/9/2017) và 40 năm ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp   tác (18/71977 ­ 18/72017), bài viết này nhằm hưởng ứng cuộc thi “Tìm hiểu lịch  sử quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam năm 2017 ” là một hoạt  động như vậy. Quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt Việt Nam ­ Lào đã sớm được gây   dựng, gìn giữ và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của hai   dân tộc chúng ta. Hơn tám thập kỷ qua, kể từ khi Ðảng Cộng sản Ðông Dương  ra đời, tình hữu nghị và mối quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào đã được các lãnh  tụ  của hai dân tộc là Chủ  tịch Hồ  Chí Minh và Chủ  tịch Cay­xỏn Phôm­vi­hản   trực tiếp đặt nền móng và tiếp tục được các thế  hệ  lãnh đạo và nhân dân hai   nước dày công vun đắp, trải qua bao biến cố  lịch sử, vượt lên mọi chông gai,   thử thách, trở thành mối quan hệ mẫu mực, thủy chung hiếm có. Mối quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam là nhân tố  quyết  định thắng lợi của sự  nghiệp cách mạng mỗi nước; là quy luật tồn tại và phát  triển của cả hai nước ở hiện tại và tương lai. Quan hệ Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam là quan hệ đặc biệt quy định sự  sống, còn của hai dân tộc trong lịch sử cũng như  trên những chặng đường phát  triển mới. Các điều kiện tự  nhiên, địa ­ chiến lược, địa ­ quân sự  là một trong   những yếu tố chi phối quan hệ Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam. Các  yếu tố đó  đặt ra yêu cầu tất yếu về sự hợp tác và hỗ  trợ  lẫn nhau giữa hai dân tộc trong  
  4. lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ đất nước. Việt Nam và Lào nằm   ở trung tâm bán đảo Ấn ­ Trung, thuộc vùng Đông Nam Á lục địa. Trong phạm vi  bán đảo Đông Dương Việt Nam nằm ở phía đông Trường Sơn như một bao lơn  nhìn ra biển. Dãy Trường Sơn được ví như  cột sống của hai nước, tạo thành   biên giới tự nhiên trên đất liền giữa Việt Nam và Lào. Địa hình tự nhiên đã quy   định hệ thống giao thông ở Việt Nam và Lào cùng chạy dài theo trục Bắc ­ Nam;  ở Việt Nam là trục quốc lộ 1A và ở Lào là trục quốc lộ 13. Về mặt tự nhiên bên   cạnh con đường 13 nối Pạc Xê ­ Thành Phố  Hồ  Chí Minh. Lào có thể  thông  thương ra biển gần nhất bằng hệ thống đường xương cá chạy ngang trên lãnh   thổ hai nước. Dựa vào địa hình hiểm trở, nhất là với dãy Trường Sơn ­ một “ lá chắn   chiến tranh” hùng vĩ, một lợi thế  tự  nhiên che chắn cho cả  Việt Nam và Lào,   nên chẳng những hai nước có thể khắc phục được những điểm yếu “ hở sườn”  ở phía đông mà còn phát huy được sự cần thiết dựa lưng vào nhau tạo ra vô vàn  cách đánh của chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân bảo vệ  tổ  quốc. Nhân  dân hai nước có thể  lấy ít đánh nhiều, lấy yếu chống mạnh, giành thắng lợi  từng bước, tiến lên đánh bại mọi kẻ thù xâm lược. Về địa ­ quân sự, Cánh đồng  Chum ­ Xiêng Khoảng, hay cao nguyên Bô­la­vên của Lào và Tây Nguyên của  Việt Nam, vùng rừng núi Tây Bắc Việt Nam và Đông Bắc Lào....đều là những vị  trí có tầm chiến lược hàng đầu trên bán đảo Đông Dương. Nhiều nhà chiến   lược và quân sự  cho rằng: Ai nắm được địa bàn chiến lược trên, người đó sẽ  làm chủ  toàn bộ  chiến trường Đông Dương.   Điều đó cắt nghĩa về  tầm quan  trọng phải giũ gìn và phát huy  mối quan hệ đặc biệt Việt Lào lên tầm cao mới Gìn giữ và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam   chính là gìn giữ thành quả cách mạng mà biết bao thế  hệ quân dân hai nước đã  hy sinh vì nền độc lập, tự do của hai nước. Quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt    Nam đã được khẳng định  trong lịch sử, in đậm những mốc son sáng chói về  tình nghĩa    ruột, thịt, thủy  chung trong sáng, nương tựa lẫn nhau, sống chết có nhau: Nhân dân Lào đã cùng  Việt Kiều tích cực đấu tranh chống chế độ  thuộc địa, phối hợp và ủng hộ cách 
  5. mạng Việt Nam giai đoạn 1930 – 1939 và  tiến hành cuộc vận động  khởi nghĩa  vũ trang giành chính quyền giai đoạn 1939­  1945. Hợp tác giúp nhau chống thực  dân Pháp xâm lược; phối hợp đấu tranh thực hiện Hiệp định Giơ­ne­vơ, chống  Chiến lược chiến tranh đặc biệt của Đế quốc Mỹ, thiết lập quan hệ ngoại giao   (1954 ­ 1962); phát triển liên minh chiến đấu, đánh thắng các chiến lược chiến  tranh của Đế  quốc Mỹ, giành thắng lợi hoàn toàn (1973 ­ 1975); Quan hệ  đặc  biệt Việt Nam – Lào, Lào ­ Việt Nam trong giai đoạn khảo nghiệm, mở đường   đổi mới ( 1976 – 1986) Quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam ­  Lào, Lào ­ Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (1986 – nay). Quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam trải qua nhiều thử thách  khắc nghiệt, đầy hy sinh gian khổ vì độc lập tự  do, hạnh phúc của hai dân tộc  và nhân dân hai nước đã trở  thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa  tới những thắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trong đấu tranh giành chính  quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế  quốc Mỹ  xâm lược; tiến hành  thành công sự nghiệp đổi mới đưa hai nước cùng phát triển theo con đường xã   hội chủ nghĩa. Gìn giữ và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam   chính là gìn giữ  truyền thống và bản sắc tốt đẹp của nhân dân hai nước được   lưu truyền qua nhiều thế  hệ; gìn giữ  công cuộc xây dựng đất nước và cuộc  sống  ấm no mà nhân dân hai nước đang thụ  hưởng. Là hai nước láng giềng có  nhiều nét tương đồng về văn hóa, Việt Nam và Lào đã chung tay viết nên những   trang sử hào hùng của hai dân tộc. Đất nước, con người và nền văn hoá của mỗi  nước đang mang trong mình nguốn sức mạnh vô biên, ẩn chứa biết bao điều kỳ  diệu, đó chính là tiềm năng và là nguồn nội lực to lớn. Tiềm năng và nguồn lực   to lớn đó đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân hai Đảng, hai Nhà nước trân   trọng, giữ gìn, bồi đắp và phát huy trong thời đại mới, thời đại hội nhập và phát  triển, góp phần giữ gìn, phát huy và tôn vinh bản sắc văn hóa mỗi dân tộc.  Trách nhiệm và cũng là mối quan tâm lớn, thường xuyên của công tác đối  ngoại là tổ  chức các hoạt động giao lưu văn hóa sinh động, phong phú nhằm   giúp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ Việt­Lào, trong khi đang sống với thực tại của 
  6. hai đất nước Việt và Lào đang mỗi ngày một vươn xa hơn ra thế giới, hội nhập   sâu rộng vào đời sống khu vực và quốc tế, có thêm nhiều đối tác làm ăn và   nhiều lợi ích mới, tiếp thu thêm nhiều giá trị  mới, vẫn biết đến quá khứ, biết  trân trọng, nâng niu mối quan hệ đặc biệt Việt ­ Lào ­ thứ  tài sản vô giá được   xây đắp bằng giác ngộ  chính trị, xương máu, công sức của biết bao thế hệ cán  bộ, chiến sỹ, nhân dân hai nước; khẳng định sâu sắc hơn tình đoàn kết hữu nghị  truyền thống lâu đời, sự hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam ­ Lào. Gìn giữ, phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam là  mong muốn và nguyện vọng chính đáng của nhân dân hai nước vì sự phát triển  bền vững; là góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù   địch, phản động hòng xuyên tạc, chia rẽ mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, hai   dân tộc. Nhân dân hai nước Việt ­ Lào có mối quan hệ hữu nghị lâu đời. Từ khi cách   mạng hai nước được Đảng Cộng sản Đông Dương, tiếp đó là Đảng Lao động  Việt Nam (sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam) và Đảng Nhân dân Cách mạng   Lào trực tiếp tổ chức và chỉ đạo, quan hệ nhân dân Việt­Lào cũng được tổ chức  và triển khai theo tinh thần của quan hệ đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước,  được hai Đảng, hai Nhà nước quan tâm sát sao và chỉ đạo chặt chẽ. Trong suốt  cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho hai nước, đổi mới,  xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập khu vực và quốc tế của cả Việt Nam và   Lào, quan hệ giữa các tổ chức nhân dân của hai nước cũng như sự phối hợp của  các tổ chức nhân dân hai nước trên trường quốc tế  đã đóng góp quan trọng vào   thành quả  chung của cách mạng Việt Nam và Lào, góp phần nâng cao vị  thế  quốc tế của cả hai nước trên thế giới. Đối với thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của hai nước, gìn giữ và phát  huy mối quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam là một nhiệm vụ  chính trị đặc biệt quan trọng, nó gắn liền và quyết định tới mọi thành công của   mỗi người trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước của thế hệ trẻ. Hai Đảng, hai Nhà nước không ngừng củng cố, giáo dục, phát triển và làm   sâu sắc hơn nữa mối quan hệ  chính trị  đặc biệt hiếm có không chỉ   ở  lãnh đạo 
  7. cấp cao mà thấm sâu xuống các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế  hệ  trẻ; để  thế hệ trẻ hai nước ­ những người sẽ viết tiếp trang sử quan hệ hai nước ­ hiểu   và trân trọng những năm tháng lịch sử hào hùng của hai dân tộc, hiểu được tình   đoàn kết đặc biệt Việt ­ Lào, Lào ­ Việt là bài học lịch sử thiêng liêng, là tài sản  vô giá mà thế hệ trẻ hai nước phải có trách nhiệm duy trì, bảo vệ và phát huy vì   sự trường tồn và phát triển của hai dân tộc. Năm 1930, khi sự  nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam và  Lào được tiến hành theo con đường cách mạng do lãnh tụ  Nguyễn Ái Quốc  vạch ra, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng chân chính. Bản chất của quan hệ  đặc biệt đó bắt nguồn từ  lòng yêu nước nồng nàn   kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng; tình đoàn kết thủy chung và niềm tin   về lòng chân thành, trong sáng mà hai dân tộc Việt Nam, Lào dành cho nhau; sự  giúp đỡ  đến mức cao nhất nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ  cách mạng   và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển tương lai của hai dân tộc. Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam không giống bất cứ  mối quan hệ  nào trong lịch sử  thế  giới đương đại, được xây đắp, nuôi dưỡng   bằng công sức, của cải, xương máu của nhiều thế  hệ  cách mạng người Việt   Nam và Lào. Trải qua rất nhiều gian nan, thử thách khắc nghiệt, quan hệ đó vẫn  vẹn nguyên, không hề  bị  rạn nứt và phá vỡ  cho dù các thế  lực thù địch dùng  nhiều thủ đoạn chống phá, chia rẽ. Tính đặc biệt của quan hệ Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam được tạo dựng   trên nền tảng quan điểm, nguyên tắc, phương pháp và cơ chế phù hợp với điều  kiện cụ thể của hai dân tộc Việt Nam ­ Lào. Bản chất của quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam, được nuôi   dưỡng, phát triển bằng sức cảm hóa sâu sắc của quan điểm “giúp bạn là mình  tự giúp mình” do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn. Đây là câu nói cô đọng, giàu ý   nghĩa chính trị, nhân văn, mở ra phương hướng xử lý hài hòa lợi ích của hai dân  tộc; là vũ khí sắc bén chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ban ơn. Dựa trên luận điểm về  quyền dân tộc tự  quyết, cơ  quan lãnh đạo cấp cao  Việt Nam, Lào đã nhất trí tiến hành liên minh, hợp tác theo  nguyên tắc tôn trọng 
  8. độc lập tự chủ của bạn như Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “Cán bộ Việt Nam   sang công tác  ở  Lào phải hoàn toàn  ở  dưới sự  lãnh đạo của Chính phủ  Trung   ương Lào, nhất là của Thủ  tướng Xu­pha­nu­vông. Tuyệt đối không được tự   cao, tự đại, không được bao biện...”. Về phía Lào, Chủ tịch Cay­xỏn Phôm­vi­hản nhấn mạnh: “Sự nghiệp cách   mạng của nhân dân ta phải do nhân dân ta tự  làm lấy. Đảng ta là một Đảng   lãnh đạo cách mạng thực sự, do đó phải giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ”. Quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam còn đòi hỏi cả  hai bên   thực hiện tự phê bình và phê bình như Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “ Mong  cán bộ  Việt Nam làm việc  ở  Lào thành khẩn, thật thà tự  phê bình và mong các   đồng chí Lào cũng phê bình anh em Việt Nam thật thà không nể  nả... Vì cách   mạng, vì đoàn kết ba dân tộc mà phê bình”. Xuất phát từ  sự  tôn trọng quyền độc lập tự  chủ  và tình nghĩa anh em, tại   cuộc Hội đàm ngày 9 tháng 7 năm 1961, hai đoàn đại biểu cấp cao của Đảng Lao  động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào bàn thảo và nhất trí với phương pháp  quan hệ công tác của hai Đảng do đồng chí Lê Duẩn đề  xuất: “ Cách mạng Lào   do đồng chí Lào lãnh đạo. Đường lối, chủ trương do Đảng Lào đề ra, Việt Nam   góp ý kiến. Cũng có lúc Việt Nam thấy vấn đề trước thì Việt Nam sẽ đề  xuất ý   kiến trước nhưng quyền quyết định vẫn do Đảng Lào”. Về  quan hệ  giữa hai nước, hai Chính phủ, đồng chí Lê Duẩn cho rằng:   “Những vấn đề lớn trong quan hệ giữa hai Chính phủ thì hai Đảng cũng cần có   sự trao đổi ý kiến trước với nhau”. Nhiệm vụ  giúp đỡ  nhau giữa hai dân tộc đã được tiến hành  theo phương   pháp giúp bạn nâng cao năng lực để tự giải quyết các nhiệm vụ cách mạng của   dân tộc mình, không áp đặt, dập khuôn. Quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam có sức nhanh nhạy, đáp  ứng kịp thời các nhiệm vụ  chiến lược và cả  các tình huống bất ngờ, do hai  Đảng, hai Nhà nước Việt Nam, Lào áp dụng cơ  chế điều hành linh hoạt các  hoạt động liên minh, hợp tác trong đấu tranh chống ngoại xâm và hòa bình xây   dựng đất nước.
  9. Quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào Việt Nam có những đặc điểm sau  đây: ­ Quan hệ  Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam phát triển từ  quan hệ  truyền   thống lên quan hệ đặc biệt Quan hệ  truyền thống thân thiết của nhân dân hai nước Việt Nam ­ Lào  được chủ  nghĩa Mác ­ Lê­nin, tư  tưởng Hồ  Chí Minh chỉ  hướng, soi đường đi  tới độc lập tự  do, đã biến thành quan hệ  đặc biệt và sức mạnh vĩ đại, đưa tới   nhiều thắng lợi lịch sử của Việt Nam và Lào trong đấu tranh giành chính quyền,  kháng chiến chống đế  quốc Pháp, Mỹ  xâm lược và tiến hành thành công sự  nghiệp đổi mới đưa hai nước cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. ­ Quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền   móng và chính Người cùng đồng chí Cay­xỏn Phôm­vi­hản, đồng chí Xu­pha­nu­ vông và các thế  hệ  lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước dày công vun đắp; đặt   dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân cách mạng   Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam Lãnh tụ  Nguyễn Ái Quốc ­ Hồ  Chí Minh là người vạch đường, cho sự  nghiệp giải phóng và phát triển của hai dân tộc Việt Nam, Lào, cũng là người   trực tiếp chỉ  đạo xây dựng, phát triển quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­   Việt Nam và tự mình nêu tấm gương sáng về đạo đức cần kiệm liêm chính, chí  công vô tư  trong xử  lý mối quan hệ  quốc gia, quốc tế  Việt Nam ­ Lào, Lào ­   Việt Nam. Các thế hệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân, dân hai nước do thấm nhuần  và thực hiện lời dạy của Người mà vượt qua mọi gian nguy để  giành nhiều  thắng lợi, kết  thúc vẻ  vang các chặng  đường cách mạng và đang vươn tới  những thắng lợi mới. ­ Xây dựng, bảo vệ và phát huy quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào Lào ­ Việt   Nam là sự nghiệp của nhân dân Việt Nam, Lào Mục tiêu phấn đấu của quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam   bao quát những nguyện vọng tha thiết nhất của nhân dân Việt Nam, Lào, là đoàn  
  10. kết, giúp đỡ  nhau cùng chống kẻ  thù chung, xây dựng quan hệ  bình đẳng, tự  chủ, hữu nghị, hợp tác giữa hai quốc gia. Trong gần một thế  kỷ  qua, họ  chung sức, chung lòng, vừa xây dựng lực   lượng, vừa anh dũng, sáng tạo, giữ vững mục tiêu cách mạng, đánh thắng nhiều   kẻ thù hùng mạnh mà không tính thiệt hơn, chỉ dành cho nhau sự quý mến, trân  trọng và biết ơn sâu nặng. Truyền thống tốt đẹp đó tiếp tục được phát huy trên trận tuyến bảo vệ và  xây dựng Tổ quốc trên con đường đổi mới của hai nước. ­ Quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào mang tính xuyên suốt, toàn diện và bền   vững Trong sự  nghiệp đấu tranh lâu dài của hai dân tộc, quan hệ  đặc biệt Việt   Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam là nhân tố xuyên suốt các chặng đường và bước  trước chuẩn bị cho bước sau nối tiếp phát triển. Mỗi thời kỳ  lịch sử  tương  ứng với một nhiệm vụ chiến lược cách mạng  của hai nước và gắn liền với sự vận động của quan hệ  Việt Nam ­ Lào, Lào ­  Việt Nam trên các lĩnh vực tư tưởng, chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, xã  hội, văn hoá. Tuy mỗi thời kỳ có những nhiệm vụ trọng tâm, song nhìn tổng thể,   vẫn nhận rõ tính toàn diện, phong phú mang bản chất cách mạng, nhân văn trong   tư tưởng và hoạt động thực tiễn. Tất cả nhân tố trên đều lắng đọng, kết tinh và qua kiểm nghiệm trên nhiều   bước đường gian khó, hiểm nghèo đã biến quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào,   Lào ­ Việt Nam thành giá trị văn hoá nhân văn trường tồn và phát triển cùng thời   gian. Thành quả cơ bản: Một là, quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam là quy luật giành   thắng lợi và nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng Việt Nam, Lào; là di sản   văn hóa của hai dân tộc Việt Nam, Lào Trước hết, quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam là quy luật   giành thắng lợi của hai dân tộc Việt Nam, Lào.
  11. Từ  bước khởi đầu thiết lập quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt   Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các cấp lãnh đạo tối cao của hai nước đã thấu   hiểu tính tất yếu khách quan gắn bó vận mệnh của hai dân tộc Việt Nam, Lào  trên cùng trận tuyến đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô  sản. Cả hai bên đều chung sức, chung lòng tận dụng được lợi thế tự nhiên hiếm  có của dãy Trường Sơn hùng vĩ, kết hợp với biển cả, đất đai, tài nguyên thiên  nhiên quý giá khác; khơi dậy tối  đa tinh thần gan góc, ý chí đấu tranh quật  cường, sáng tạo của hai cộng đồng dân tộc trong một khối thống nhất bền chặt,   đấu tranh vì độc lập, tự  do và thịnh vượng của đất nước dưới ánh sáng soi  đường của chủ  nghĩa Mác ­ Lênin, tư  tưởng Hồ  Chí Minh và sự  lãnh đạo của  Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng   sản Việt Nam. Các nhân tố  đó kết tụ  thành quy luật giành thắng lợi của cách  mạng Việt Nam, Lào. Quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam thể hiện rõ tính quy luật  giành thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Lào được phản ánh ở hiệu quả to lớn   trên các chặng đường liên minh, hợp tác, giúp đỡ  qua lại giữa hai dân tộc trong  giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ, xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ  trang, tạo lập địa bàn chiến lược cho hai bên hoạt động, nương tựa, bảo vệ lẫn  nhau. Đồng thời, mỗi bên đều sẵn sàng đáp ứng yêu cầu giúp bạn, phối hợp với  bạn trên các lĩnh vực hoạt động. Tất cả đã diễn ra theo quy trình phát triển lực   lượng từ  yếu đến mạnh, từ  nhỏ  đến lớn, từ  phá vỡ  thế  bị  bao vây, cấm vận   đến hội nhập khu vực và quốc tế. Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam ghi lại nhiều kỳ  tích của hai dân tộc, xuất hiện hầu như  cùng thời điểm từ  khởi nghĩa giành  chính quyền đến phát hiện con đường đổi mới phù hợp với quy luật phát triển   theo định hướng xã hội chủ nghĩa của hai nước Việt Nam ­ Lào. Các hiện tượng   đó xác nhận sức mạnh tổng hợp đưa tới những thắng lợi lịch sử tất yếu của hai   dân tộc. Quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam là nguồn lực vô tận quý   giá nhất của hai dân tộc Việt Nam, Lào. Đó là thành quả lý luận cách mạng của  
  12. lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, được các thế hệ lãnh đạo kế tiếp của Đảng Cộng sản  Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam kế  thừa, phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của hai nước Việt Nam, Lào, trở  thành ngọn cờ  dẫn đường cho hai dân tộc kề  vai sát cánh đi tới thắng lợi của   cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước phát triển theo định hướng   xã hội chủ nghĩa. ­ Nét  ưu việt đặc sắc của lý luận đó là  ở  khả  năng khắc phục sự  biệt   lập của các dân tộc phương Đông khi phải đối địch với họa xâm lược của nhiều   nước tư bản phương Tây. Theo nhận định của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sự biệt  lập đó chính là “nguyên nhân đầu tiên gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương  Đông... Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở nước láng giềng gần   gũi nhất của họ, do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và   sự cổ vũ lẫn nhau”. ­ Quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam là động lực nhân lên  gấp bội sức mạnh của hai dân tộc do mỗi bên đều tự giác phát huy tinh thần tự  lực, tự cường kết hợp với sự giúp đỡ vô tư của phía bạn. Mặt khác, nó còn tạo   ra  ảnh hưởng qua lại tích cực thuận chiều cho sự  phát triển của cả  hai nước  trên các chặng đường lịch sử  từ  cách mạng giải phóng dân tộc đến sự  nghiệp   đổi mới. Đó cũng là di sản văn hóa thiêng liêng của hai dân tộc Việt Nam, Lào, nơi  hội tụ  biết bao giá trị  cao đẹp và sâu sắc mà trí tuệ  và tình cảm của nhân loại  hằng ngưỡng mộ, tôn vinh, rất phù hợp với cách diễn đạt của Chủ tịch Xu­pha­ nu­vông “Tình hữu nghị anh em giữa nhân dân Lào và nhân dân Việt Nam thật là   vĩ đại mà bất cứ bài ca, bản nhạc nào, bất cứ bài thơ nào hay nhất cũng không   sao diễn tả  trọn vẹn được. Tình hữu nghị  đó cao hơn núi, dài hơn sông, rộng   hơn biển cả, đẹp hơn trăng rằm, ngát hương thơm hơn bất cứ  đóa hoa nào   thơm nhất. Tình hữu nghị cao đẹp đó đã được vun trồng, xây đắp với tất cả tấm   lòng thành thật của chúng ta. Do đó, không thể có hung thần nào, không thể có   kẻ thù nào phá vỡ nổi”.
  13. Hai là, quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam đưa cách mạng   Việt Nam, Lào đi tới nhiều kỳ tích lịch sử ­ Hai dân tộc Việt Nam, Lào sát cánh bên nhau giành độc lập dân tộc Sau khi chiến tranh thế  giới thứ  hai bùng nổ, ách thống trị  của thực dân   Pháp và phát xít Nhật đã đẩy mâu thuẫn giữa những kẻ cướp nước với nhân dân  Đông Dương đến cực điểm, khiến ai cũng chán ghét cuộc đời nô lệ và sẵn sàng  tham gia công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong tình thế đó, lãnh tụ Hồ  Chí Minh và Ban Chấp hành Trung  ương Đảng Cộng sản Đông Dương đưa  ra nhiều quyết định độc lập, sáng tạo: đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc ở vị trí  hàng đầu và cho rằng, sau lúc lật đổ  chế  độ  thuộc địa, mỗi dân tộc đều có  quyền tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình; mặt khác, ba dân tộc cần đoàn   kết chặt chẽ  mới có thể  chiến thắng kẻ  thù xâm lược và xây dựng đất nước   phồn vinh. Đối với các dân tộc Lào và Campuchia, dân tộc Việt Nam có nghĩa   vụ giúp đỡ trên con đường đấu tranh vì độc lập, tự do. Hướng tới các mục tiêu trên, công tác xây dựng Đảng, đào tạo cán bộ và tổ  chức các lực lượng chính trị, vũ trang được khẩn trương tiến hành. Trong đó,   Trung ương Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng Đảng tại Lào, Campuchia và  phân công Đảng bộ  Trung Kỳ  đảm nhiệm công tác xây dựng Đảng tại Lào,  Đảng bộ Nam Kỳ thực hiện nhiệm vụ đó ở Campuchia. Nhiệm   vụ   thành   lập   Mặt   trận   dân   tộc   thống   nhất   tại   Việt   Nam,   Lào,   Campuchia rất được coi trọng theo chủ trương thu hút rộng rãi nhất các giai cấp   và tầng lớp yêu nước bằng cách thi hành các chính sách ích nước, lợi dân. Đồng  thời, Trung  ương Đảng Cộng sản Đông Dương chỉ  đạo các cấp bộ  Đảng tổ  chức đoàn thể cứu quốc, lực lượng vũ trang, lập căn cứ địa ở Việt Nam và Lào   làm chỗ dựa để tập hợp và phát triển lực lượng cách mạng. Cũng vào lúc này, Trung  ương Đảng xác định quy trình khởi nghĩa từng  phần ở từng địa phương tiến tới tổng khởi nghĩa. Trung tuần tháng 8 năm 1945, thời cơ giành độc lập cho Đông Dương xuất  hiện, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông  Dương quyết định Tổng khởi nghĩa và tiến hành Hội nghị  toàn Đảng tại Tân 
  14. Trào, Tuyên Quang (ngày 14, 15 tháng 8 năm 1945). Vào thời điểm này, lãnh tụ  Hồ  Chí Minh gặp các đồng chí đại biểu Xứ  uỷ  Lào, Người dặn: thời cơ  rất  thuận lợi cho nhân dân Đông Dương, ở đâu có điều kiện, phải giành được chính  quyền trước khi Đồng minh vào. Nhân dân hai nước Việt, Lào chớp thời cơ, tiến hành khởi nghĩa thành công   tháng 8 năm 1945. Đó là kỳ  tích đầu tiên của hai nước Việt Nam, Lào, của quan hệ  đặc biệt  Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam. Thành công của Tổng khởi nghĩa tại Việt Nam và khởi nghĩa tại Lào bắt  nguồn từ  sáng tạo lý luận và chỉ  đạo thực tiễn của lãnh tụ  Hồ  Chí Minh và  Đảng Cộng sản Đông Dương về cách mạng giải phóng dân tộc và vấn đề  dân   tộc  ở  Đông Dương, về  huy động tối đa sức mạnh đoàn kết các tầng lớp nhân  dân, các lực lượng yêu nước nổi dậy giành chính quyền khi thời cơ khởi nghĩa   xuất hiện. ­ Hai dân tộc Việt Nam, Lào kề  vai, sát cánh, xây dựng thực lực, kiên   cường chiến đấu, đưa cuộc chiến tranh cách mạng kéo dài 30 năm (1945­1975)   đi tới thắng lợi hoàn toàn Trong khó khăn, gian khổ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, sức   mạnh cơ bản của thắng lợi đã được tạo lập. Một là, bốn năm đầu cuộc kháng chiến (1945­1949), chiến trường Đông  Dương bị kẻ  thù bao vây, cô lập. Nhưng chúng vẫn không thể  ngăn chặn quân  dân hai nước vạch rừng, băng qua sông, suối mở đường từ Việt Nam xuyên qua  đất Lào tới Thái Lan, Miến Điện, rồi tỏa rộng ra nhiều nước  Á, Âu, tuyên  truyền cho cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Đông Dương; thu hút sự  ủng hộ, chi viện của bạn bè quốc tế; chuyển về Lào và Việt Nam nhiều cán bộ,   chiến sĩ Việt kiều, bổ sung lực lượng kháng chiến. Hai là, xây dựng đội ngũ lãnh đạo chủ chốt đầu tiên của quan hệ đặc biệt   Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam.
  15. Đội ngũ cán bộ  chủ  chốt đầu tiên của quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào,   Lào ­ Việt Nam vốn đã được chuẩn bị từ trước tháng 8­1945; đến kháng chiến  chống thực dân Pháp, bao gồm các nhà lãnh đạo xuất sắc của cách mạng Việt  Nam và cách mạng Lào. Phía Việt Nam, đó là nhiều cán bộ  cấp cao của Trung  ương Đảng Cộng   sản Đông Dương. Phía Lào, những nhà cách mạng tiêu biểu như đồng chí Cay­xỏn Phôm­vi­ hản, đồng chí Xu­pha­nu­vông và nhiều đồng chí lãnh đạo khác đều đứng trong   đội ngũ này. Trong thời gian học tại trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An) và   trường Đại học Luật Hà Nội (1935­1945), cũng là lúc đồng chí Cay­xỏn Phôm­ vi­hản tiếp xúc với những người bạn cùng chí hướng cách mạng và tiếp nhận   chủ  nghĩa Mác­Lênin, tư  tưởng cách mạng của lãnh tụ  Nguyễn Ái Quốc. Đến   cuối năm 1944, đồng chí được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc. Trên các chặng đường cách mạng tiếp theo, với trọng trách của người lãnh   đạo cách mạng Lào và chung sức với các đồng chí lãnh đạo cách mạng Việt   Nam vun đắp, phát triển quan hệ  Lào ­ Việt Nam, Việt Nam ­ Lào, đồng chí   Cay­xỏn Phôm­vi­hản đã đảm đương xuất sắc hai sứ mệnh đó. Thay lời kết, tôi xin chia sẻ  câu chuyện  làm người nghe không khỏi rơi  nước mắt về  vị tướng quân đội Lào 30 năm đi tìm ân nhân cứu mạng chỉ bằng  thông tin về… mái tóc.
  16. Bà Ngọc trong một lần sang thăm người em kết nghĩa.   Một nữ y tá Việt Nam nhỏ nhắn, nhiệt tình đã cứu sống một chiến sĩ quân  đội Pha­thét Lào khi anh đang nằm trong “nhà vĩnh biệt”. Họ  đã làm nên câu chuyện cảm động về  tình hữu nghị  Việt ­ Lào. Nhưng   điều khiến câu chuyện đó được ví như cổ tích hiện đại là hành trình dài 30 năm  lặn lội đi tìm ân nhân đã cứu sống mình của Khăm Xỉ  chỉ  với một đặc điểm   nhận dạng duy nhất: Mái tóc dài… Trong căn nhà 3 gian nằm ngay sát bờ đê, đập vào mắt chúng tôi là hình ảnh   người đàn bà nhỏ thó Nguyễn Thị Ngọc (Sinh năm 1944, trú tại xóm 11, xã Xuân   Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ  An). Trong suốt buổi nói chuyện, điều  khiến chúng tôi ấn tượng nhất về bà là nụ cười rạng rỡ và mái tóc dài quá lưng.   Không những vậy, bà luôn dành tình cảm tốt đẹp nhất cho người em trai kết   nghĩa. Lần lại quá khứ, bà kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện thời xưa rất   đỗi ý nghĩa của mình. Năm   1964,   bà   theo   học   ngành   Y   ở   huyện   Thanh   Chương,   chuyên   khoa  truyền máu. Hai năm sau đó, bà được cử đến công tác tại bệnh viện huyện Anh   Sơn (Nghệ  An). Năm 1972, cuộc chiến tranh chống Mỹ  cứu nước diễn ra ác  liệt, trạm T20 (đóng tại huyện Anh Sơn, Nghệ  An) được thành lập với nhiệm   vụ tiếp nhận và cứu chữa các chiến sỹ bị thương, trong đó có lực lượng bộ đội  Pha­thét (Lào). Tháng 3 năm 1972, nữ y tá Ngọc nhận thông tin từ cấp trên cho   biết có một chiến sĩ Lào bị  sốt rét ác tính, cần xét nghiệm máu gấp. Vừa nhận   được tin, chị vội vàng đi bộ hơn 8 cây số từ bệnh viện đến Trạm T20. Vừa đến  nơi, chị  hốt hoảng khi biết chiến sĩ đó đã được chuyển xuống nhà xác bởi   “bệnh nhân đã chết rồi”. Nhưng linh tính mách bảo, chị  đã một mình đi thẳng  xuống “nhà vĩnh biệt” để lấy máu. Căn nhà lạnh lẽo không một bóng người. Chị nhẹ  nhàng tiến lại bên “ xác  chết” đang phủ tấm khăn trắng. “Lật chiếc khăn phủ mặt người chiến sĩ ra, tôi   sững người. Đồng chí còn trẻ lắm, trên khuôn mặt tái xám lạnh ngắt ấy mới lún   phún những sợi râu măng. Theo quy định bắt buộc, tôi vẫn kiểm tra đồng tử của   cậu ấy dù thân thể đã lạnh ngắt. Đồng tử chưa giãn hết! Tôi vội xốc cậu ấy lên  
  17. vai, chạy thẳng vào phòng cấp cứu gần đó. 19 tuổi, nhưng vì bị  những cơn sốt   rét hành hạ, cậu ấy chỉ còn da bọc xương, nặng vẻn vẹn 36kg’’, bà Ngọc kể. Trong căn phòng làm việc nhỏ, chỉ  một mình y tá Ngọc với người lính xa  lạ. Chị  đã làm tất cả  sức mình chỉ  để  cứu sống người chiến sĩ này. Phần đầu  của bệnh nhân được chị  cẩn thận đặt lên đùi mình để  tiện cho việc đút những  thìa cháo, nước chanh vào miệng, vừa bắt mạch và tiêm thuốc. Như  một phép  màu, đến 2h sáng hôm sau, chị  nhận thấy người chiến sĩ bắt đầu có dấu hiệu   qua cơn nguy kịch. Đến 10h sáng, anh bộ đội Lào đã tỉnh lại. Người lính được chị Ngọc cứu sống chính là ông Khăm Xỉ (Sinh năm 1954),  sang Việt Nam chiến đấu khi mới 18 tuổi. Sau này, ông nhớ  lại: “Trong đêm  được y tá Ngọc chăm sóc và trở  về  từ  cõi chết, tôi đã nghe hai tiếng “ chị   Ngọc” từ  những người xung quanh. Tôi đã cố  gắng in sâu trong trí nhớ  hai   tiếng  ấy”. Sau khi sức khỏe dần bình phục, Khăm Xỉ  được chuyển về  phòng  bệnh. Tại đây, anh được hai bệnh nhân cùng phòng kể lại sự việc anh thoát khỏi  cái chết nhờ một nữ y tá Việt Nam có dáng người nhỏ nhắn, nước da đen ngăm  và đặc biệt là mái tóc dài. Khăm Xỉ đã cố gắng ghi nhớ những đặc điểm của vị  ân nhân. Đối với chàng chiến sĩ Lào này, chi tiết khiến anh ghi nhớ nhất là mái  tóc dài. Đó cũng là đặc điểm duy nhất anh căn cứ để tìm ân nhân của mình suốt  30 năm sau đó. Vào năm 1974, trong một lần xuống Vinh xin thuốc cho   Bệnh viện Anh  Sơn, lúc qua phà Đô Lương, chị Ngọc đã vô tình gặp lại người lính năm nào mà  mình đã cứu sống. Lúc vừa nhận ra nhau, Khăm Xỉ liền chạy đến xác minh bằng  câu hỏi: Chị có phải là chị Ngọc không? Thế nhưng, cuộc nói chuyện của họ bị  ngắt đoạn bởi phà đã cập bến. Đến lúc chia tay nhau Khăm Xỉ  cũng chưa kịp   hỏi thăm chị  Ngọc  ở  đơn vị  nào, quê quán  ở  đâu. Theo dòng chuyển thương,  Khăm Xỉ được về an dưỡng ở Bệnh viên Quân khu 4 rồi quay về tiếp tục chiến   đấu ở Lào. Còn nữ y tá Ngọc sau khi kết thúc đợt tiếp viện lại quay về làm việc  tại Bệnh viện Anh Sơn, sau đó chị chuyển công tác về Viện Điều dưỡng ở Cửa  Lò. Đến năm 1996, chị xin nghỉ mất sức, để có điều kiện chăm sóc gia đình.
  18. Câu chuyện tưởng đã kết thúc  ở  đó như  hàng vạn câu chuyện khác trong   những năm tháng chiến tranh. Người cứu nạn nhân thậm chí chẳng nhớ, nhưng  người chịu  ơn thì cứ  mãi đi tìm. Sau cơn thập tử  nhất sinh  ấy, chiến tranh dài  đằng đẵng nhiều năm, chàng trai trẻ  19 tuổi không nghĩ đến một ngày lại tìm  được người đã cứu sống mình. Bà Ngọc kể lại câu chuyện cảm động. Còn sau đây là hành trình đi tìm ân nhân của vị tướng quân đội Lào Hòa bình lập lại, ông Khăm Xỉ  đã sang Việt Nam nhiều lần để  đi tìm ân  nhân, nhưng Trạm T20  ở  huyện Anh Sơn một thời  đã giải tán từ  năm 1973,  người con gái tóc dài đã chuyển công tác. Năm 1988, ông nhận được thông tin từ  một đồng nghiệp từng công tác trong bệnh viện cho biết: “Chị Ngọc đã về miền   biển rồi”. Cầm bản đồ  các huyện miền biển của Nghệ An trên tay, ông Khăm   Xỉ đã đi khắp nơi như Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Cửa Lò để tìm. Nhiều  lần tìm kiếm trong vô vọng, nhưng vì nặng nghĩa với ân nhân, những năm sau   đó, Khăm Xỉ  đã cố  tìm hiểu thông tin về  chị  Ngọc nhưng không thành. Sau đó,   Khăm Xỉ  lên đường sang Nga học, rồi lại về học  ở Hà Nội nên không có điều  
  19. kiện đi tìm. Đến năm 2000, khi công việc ở Bộ Quốc phòng Lào đi vào ổn định,  Khăm Xỉ mới bắt đầu lại hành trình đi tìm ân nhân của mình. Hàng chục lần, Khăm Xỉ  bỏ  thời gian tự  lái ô­tô sang Việt Nam tìm chị  Ngọc. Mỗi lần đặt chân lên mảnh đất xứ  Nghệ, Khăm Xỉ  thường nghỉ  tại nhà  khách Bưu Điện Nghệ  An. Năm 2001, sau chuyến đi tìm không có kết quả, trở  về  nhà khách, Khăm Xỉ  rất buồn. Thấy vậy, chị  nhân viên nhà nghỉ  liền hỏi   thăm. Sau khi biết sự  việc, người phụ  nữ này đã hướng dẫn ông đăng tin trên  truyền hình. Thời điểm đó, nhà bà Ngọc chỉ có một chiếc ti­vi đen trắng nhưng   lại bị hỏng nên không đọc được bản tin. “Một lần, người hàng xóm đến nhà tôi   thông báo, có người đăng báo tìm cô y tá tên Ngọc, đã từng công tác tại Trạm   T20 ­ Anh Sơn. Họ  quả quyết thông tin trong thông báo giống tôi lắm nên đến   báo cho gia đình. Lúc đó, tôi rất ngạc nhiên, không biết người đang tìm mình là   ai”, bà Ngọc hồi nhớ. Nghĩ việc cứu người là chuyện bình thường nên bà Ngọc   không muốn lên tiếng. Được chồng con động viên, ba ngày sau, bà Ngọc bắt xe  từ  quê xuống thành phố  Vinh. Thế  nhưng, khi vừa đến cổng Đài Truyền hình   Nghệ An, bà mới biết Khăm Xỉ đã về Lào trước đó vài giờ đồng hồ. Bà đành để  lại địa chỉ  liên lạc của mình lại nhưng lòng không khỏi phân vân về  “người   thân” bí ẩn. Sau đó một tuần, vào một buổi chiều, một chiếc xe ô tô đỗ  trước nhà bà  Ngọc. Đoàn khách lạ  đi vào nhà bà, có cả  người Việt và người Lào. Bà Ngọc  nhớ  lại: “Lúc đó tôi rất ngỡ  ngàng. Người chiến sĩ quân đội Pha­thét Lào tôi   cứu năm xưa chỉ  gầy 36 kg, còn người đàn ông đứng trước mặt tôi hôm đó có   ngoại hình to gấp 3 lần”. Trong khi người phụ nữ tóc hoa râm đang ngơ ngác thì  vị tướng quân đội Lào đã chạy vội tới, ôm lấy bờ vai gầy guộc của bà mà lắc:   “Chị  không nhớ  em à? Khăm Xỉ  đây! Khăm Xỉ  suýt chết vì sốt rét ác tính được   chị cứu sống ở Trạm T20 đây”. Vừa ngước mắt lên nhìn, ấn tượng giúp bà nhận  ra cậu lính trẻ năm xưa là đôi mắt khi bà đang chữa bệnh. Lúc này bà mới kịp à  một tiếng. Cậu lính trẻ  xanh rớt như tàu lá, tưởng đã chết nay trở thành một vị  tướng bệ  vệ, oai phong. Câu chuyện của mấy mươi năm trước ùa về. Ngay  trong lần gặp đó, tướng Khăm Xỉ đã xin nhận bà Ngọc là chị kết nghĩa.
  20. Sau đó, ông Khăm Xỉ đã đưa vợ con ở Lào sang Việt Nam thăm gia đình chị  Ngọc. Trong hành trình 30 năm tìm ân nhân của vị  tướng quân đội Lào này là  Khăm Xỉ đã có sự đồng thuận, ủng hộ nhiệt tình của người vợ sau khi biết toàn   bộ câu chuyện của chồng mình. Tháng 4 năm 2011, bà Ngọc đã sang Viên ­ Chăn  (Lào) dự đám cưới con trai đầu lòng của ông Khăm Xỉ và thực hiện nghi lễ buộc  cổ chỉ tay cho đôi uyên ương.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản