intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Võ Văn Giáp

Chia sẻ: Đào Đức Mạnh | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:16

0
22
lượt xem
2
download

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Võ Văn Giáp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài dự thi "Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017" do Võ Văn Giáp trình bày cảm nhận có phần sâu sắc của mình về vấn đề nguyên nhân các thế lực thù địch xuyên tạc.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Võ Văn Giáp

  1. BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM ­ LÀO, LÀO ­ VIỆT NAM NĂM 2017 Người tham gia:  Họ và tên: Võ Văn Giáp Đơn   vị:  Chi   đoàn  Công   an,   Đoàn  Ngày sinh: 19/8/1994 phường   Phước   Long,   Nha   Trang,  Giới tính: Nam Khánh Hoà Nghề nghiệp: Công an Nơi thường trú:  Dân tộc: Kinh Số điện thoại: 0905.396.069 Tôn giáo: không NỘI DUNG BÀI DỰ THI Trong khuôn khổ  hạn hẹp bài viết, tôi xin chia sẻ  cảm nhận có phần sâu  sắc của mình về vấn đề nguyên nhân các thế lực thù địch xuyên tạc. Trước hết, xin giới thiệu một chút về  nước Lào anh em. Lào có diện tích  236.800  km2,  dân   số   ước   lượng   năm  2015   là  6.803.699  người,   mật  độ   29,6  người/km2. Lào (tiếng Lào: ລາວ, phát âm tiếng Lào: [láːw], Lāo), tên chính thức  là   nước Cộng   hoà   Dân   chủ   Nhân   dân   Lào, (tiếng   Lào:  ສາທາລະນະລັດ ປະຊາທິປະໄຕ  ປະຊາຊົນລາວ, Sathalanalat   Paxathipatai   Paxaxon   Lao)   là  một quốc gia nội lục tại Đông Nam Á, phía tây bắc giáp với My­an­ma và Trung  Quốc, phía đông giáp Việt Nam, phía tây nam giáp Campuchia, phía tây và tây  nam giáp Thái Lan.  Quốc gia Lào hiện tại có nguồn gốc lịch sử và văn hoá từ Vương quốc  Lạn  Xạng tồn tại trong bốn thế  kỷ, là một vương quốc có diện tích lớn tại Đông  Nam   Á. Sau  một   giai   đoạn  xung   đột   nội   bộ,   Lạn   Xạng  phân   chia   thành  ba   vương quốc riêng biệt: Luông Pha­bang, Viên­chăn và Chăm­pa­sắc. Năm 1893,  ba vương quốc hợp thành một lãnh thổ  bảo hộ  thuộc Pháp, tiền thân của quốc  gia Lào hiện nay. Lào là nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa đơn nguyên, theo chủ nghĩa Mác và  do Đảng Nhân dân Cách mạng Lào cầm quyền. Thủ  đô của Lào là Viêng­chăn,  các thành thị  lớn khác là Luông Pha­bang, Xa­van­na­khẹt. Lào là một quốc gia  đa dân tộc, người Lào chiếm khoảng 60% dân số, họ  chủ  yếu cư  trú tại vùng 
  2. thấp và chiếm  ưu thế  về  chính trị  và văn hoá. Các  nhóm dân tộc Môn­Khmer,  Mông, và dân tộc bản địa vùng cao khác chiếm khoảng 40% dân số và sống tại  khu vực đồi núi. Chiến lược phát triển của Lào dựa trên sản xuất thuỷ  điện và bán điện  năng sang các quốc gia láng giềng, cũng như trở thành một quốc gia liên kết giao  thương lục địa. Ngoài ra, lĩnh vực khai mỏ của Lào cũng phát triển, khiến quốc   gia này được đánh giá là nằm trong các nền kinh tế  tăng trưởng nhanh nhất  Đông Á và Thái Bình Dương. Lào là một thành viên của Hiệp hội các quốc gia  Đông Nam Á (ASEAN), Hội nghị cấp cao Đông Á và Cộng đồng Pháp ngữ. Lào  được nhận làm thành viên đầy đủ  của Tổ  chức Thương mại Thế  giới (WTO)  vào năm 2013. Quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào có nhiều cơ sở khách quan, tất yếu. Về các điều kiện tự nhiên, Việt Nam và Lào nằm ở trung tâm bán đảo Ấn­ Trung, thuộc vùng  Đông Nam  Á lục  địa. Trong phạm vi của bán  đảo  Đông  Dương, Việt Nam nằm  ở phía đông dãy Trường Sơn, như  một bao lơn nhìn ra  biển; Lào nằm  ở  sườn tây dãy Trường Sơn, lọt sâu vào vùng đất liền của bán   đảo. Như vậy, dãy Trường Sơn có thể ví như cột sống của hai nước, tạo thành  biên giới tự nhiên trên đất liền giữa Việt Nam và Lào. Với địa hình tự nhiên này,  về đường bộ cả Việt Nam và Lào đều theo trục Bắc­Nam. Còn về đường biển,  con đường gần nhất để  Lào có thể  thông thương ra biển đó là từ  Sầm Nưa  thuộc tỉnh Hủa Phăn (Lào) qua Thanh Hoá; Xiêng khoảng (Lào) qua Nghệ  An;   Khăm Muộn (Lào) qua Hà Tĩnh; Xa­van­na­khẹt (Lào) qua Quảng Trị  và Khăm  Muộn (Lào) qua Quảng Bình. Do điều kiện tự nhiên nên sự  phát triển kinh tế ­  xã hội của Việt Nam và Lào có nhiều điểm tương đồng, lại vừa có những nét  khác biệt. Dãy Trường Sơn, biên giới tự  nhiên giữa Việt Nam và Lào được ví  như  bức tường thành hiểm yếu, để  hai nước tựa lưng vào nhau, phối hợp giúp   đỡ lẫn nhau tạo ra thế chiến lược khống chế những địa bàn then chốt về kinh tế  và quốc phòng, trở  thành điểm tựa vững chắc cho Việt Nam và Lào trong sự  nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
  3. Về các nhân tố dân cư, xã hội, Việt Nam và Lào đều là những quốc gia đa  dân tộc, đa ngôn ngữ. Hiện tượng một tộc người sống xuyên biên giới quốc gia   của hai nước, hoặc nhiều nước là đặc điểm tự nhiên của sự phân bố tộc người   ở khu vực Đông Nam Á nói chung, ở Việt Nam và Lào nói riêng. Đặc điểm này,  đến nay vẫn tiếp tục chi phối mạnh mẽ các mối quan hệ khác trên đường biên   giới quốc gia Việt Nam – Lào. Chính quá trình cộng cư, hoặc sinh sống xen cài  của những cư dân Việt Nam và cư  dân Lào trên địa bàn biên giới của hai nước   đã dẫn đến việc cùng khai thác và chia sẻ nguồn lợi tự nhiên, đặc biệt là nguồn   lợi sinh thuỷ. Điều này, thêm một lần nữa khẳng định các quan hệ cội nguồn và   quan hệ  tiếp xúc chính là những điều kiện lịch sử  và xã hội đầu tiên, tạo ra   những mối dây liên hệ và sự  giao thoa văn hoá nhiều tầng nấc giữa cư dân hai  nước. Về  nhân tố  văn hoá và lịch sử, do quan hệ  gần gũi và lâu đời nên người  Việt và người Lào đặc biệt là người dân ở vùng biên giới am hiểu về nhau khá   tường tận. Trong cuốn “Dư địa chí”  của Nguyễn Trãi đã mô tả khá ấn tượng về  nền văn hoá độc đáo và phong tục thuần phác của dân tộc Lào, cũng như  hiện   tượng giao thoa văn hoá nở  rộ  giữa Đại Việt với các nước láng giềng Đông   Nam Á, trong đó có Lào Lạn Xạng. Sự  giao thương của người dân Lào với   người dân Việt nhất là với người dân các tỉnh biên giới của Việt Nam cũng khá   nhộn nhịp. Điều đáng chú ý là trong quan hệ giao thương với Đại Việt, Lào Lạn   Xạng đã không ít lần bộc lộ mối quan tâm của mình muốn hướng ra biển, trong   khi Đại Việt lại tìm cơ hội để mở rộng buôn bán vào sâu lục địa. Mặc dầu Việt   Nam và Lào có tiếng nói, văn tự không giống nhau, sáng tạo và lựa chọn các nền   văn hóa cũng như  các hình thức tổ  chức chính trị  ­ xã hội khác nhau, nhưng  những nét tương đồng thì vẫn thấy phổ  biến trong muôn mặt đời sống hàng  ngày của cư dân Việt Nam và Lào. Sự tương đồng giữa văn hóa làng – nước của  người Việt và văn hóa bản ­ mường của người Lào xuất phát từ cội nguồn cùng  nền văn minh nông nghiệp lúa nước ở Đông Nam Á. Đồng thời, lòng nhân ái bao   la và đời sống tâm linh phong phú, trong đó có những  ảnh hưởng sâu đậm của   đạo Phật mà trong cách đối nhân xử thế của mình, nhân dân Việt Nam và nhân 
  4. dân   Lào   bao   giờ   cũng   nêu   cao   những   phẩm   chất   yêu   thương   và   hướng  thiện. Trong tiến trình lịch sử cả hai dân tộc đều phải ngoan cường chống ngoại  xâm để  bảo vệ  nền độc lập dân tộc. Trải qua những biến cố  thăng trầm của   lịch sử, hai nước Đại Việt ­ Lạn Xạng, Lạn Xạng ­ Đại Việt mặc dù không  phải không có những thời khắc gặp nguy nan nhưng với tinh thần lấy hoà hiếu  làm trọng nên đã sáng suốt và công bằng, có ý thức đề cao không thù hận, quan  hệ nương tựa vào nhau giữa nhân dân hai nước vẫn tiếp tục được nuôi dưỡng,   đồng thời biết chủ  động vun đắp tình thân ái và hữu nghị  lâu dài giữa hai dân  tộc. Về kinh tế, hai nước có thể bổ sung cho nhau thế lợi về biển cả của Việt   Nam, đường bộ  của Lào đi sâu vào lục địa châu Á, cùng các nguồn tài nguyên  phong phú do mỗi nước quản lý. Ngoài những điều kiện trên, hai nước Việt Nam, Lào có một  ưu thế  nổi   trội vô cùng quý giá là quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam mà hai  Đảng, hai dân tộc cần luôn luôn vun đắp, bảo vệ  và phát huy trong mọi hoạt  động chính trị, tư tưởng, kinh tế, quốc phòng an ninh, ngoại giao, văn hoá, giáo  dục đào tạo nhân lực, nhân tài. Tình đoàn kết, hữu nghị là giá trị tốt đẹp, bền vững được hun đúc từ lịch sử  hàng nghìn năm của hai nước Việt Nam ­ Cam­pu­chia, từ mối quan hệ đặc biệt  đã có từ lâu trong lịch sử và được thử thách trong ngọn lửa cách mạng chống kẻ  thù chung. Vậy nhưng thời gian gần đây đã xuất hiện những âm mưu, thủ đoạn  kích động, phá hoại mối quan hệ tốt đẹp, trong sáng ấy. Những âm mưu nguy hiêm ̉ Một dân ch ̃ ứng điên hình c ̉ ủa âm mưu phá hoại trên phải kê đên tr ̉ ́ ường hợp   ông   Xam   Rên­xi,   lãnh   đạo   cái   gọi   là   đảng   Cứu   nguy   Dân   tộc   Cam­pu­chia  (CNRP), hiện lưu vong  ở  Pháp cùng hai trợ  lý. Ngày 27 tháng 12 năm 2016 vừa  qua, họ vừa bị tòa án Phnôm Pênh tuyên 5 năm tù do dùng mạng xã hội đăng tải   nội dung xuyên tạc quan hệ  hai nước. Họ  từng đưa ra thông tin xuyên tạc hêt́  ̉ ằng hai nước đã “nhất trí xóa bỏ  biên giới chung” khi diễn  sức nguy hiêm r giải hiệp ước mà hai nước ký vào năm 1979.
  5. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Hun Sen cùng mở tấm vải phủ   cột mốc số 275. Ảnh: Nhật Bắc, VPC. Trước đó, ngày 23 tháng 12 năm 2016, Tòa phúc thẩm Cam­pu­chia đã tuyên  giữ nguyên bản án sơ thẩm phạt nghị sĩ Um Sam An thuộc đảng CNRP 2,5 năm  tù giam vì kích động gây rối an ninh xã hội nghiêm trọng và kích động gây chia  rẽ, theo Điều 495 và 496 Bộ luật Hình sự Cam­pu­chia. Đâu năm 2016, ông này ̀   đã có nhiêu bài vi ̀ ết và bình luận xuyên tạc, vu cáo Chính phủ  sử  dụng bản đồ  giả về biên giới với Việt Nam. Quôc h ́ ội Cam­pu­chia đã kiêm tra, đôi chiêu b ̉ ́ ́ ản   ̀ ưu tại Liên hợp quôc cho thây, thông tin trên hoàn toàn là b đô l ́ ́ ịa đặt. Một bài viêt trên Báo The Phnom Penh Post cho biêt, t ́ ́ ư tưởng bài Việt, kích  động, lôi kéo các cử  tri trẻ  tuổi, thiếu kiến thức và thông tin về  quan hệ  hai  nước, kích động chủ  nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi, chống phá quan hệ  hữu   nghị  Việt Nam ­ Cam­pu­chia do một số thế lực chính trị  đối lập kích động có  thể gây bất ổn xã hội tại đất nước Chùa tháp. Nhât là trong th ́ ời điêm diên ra các ̉ ̃   cuộc bâu c ̀ ử  ở  Cam­pu­chia, việc sử dụng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi  làm “mồi nhử” lôi kéo phiếu bầu có thể  mang lại những hiệu quả  nhất thời,   nhưng về lâu dài có thê s ̉ ẽ  là mồi lửa châm ngòi xung đột, gây chia rẽ  dân tộc,   chia rẽ quan hệ hữu nghị. Trong những âm mưu phá hoại đó, dư luận nhân dân  hai nước hẳn chưa quên sự kiện diên ra cách đây ít lâu, có l ̃ ực lượng đối lập ở  Cam­pu­chia đã đên các đ ́ ịa bàn giáp biên để tuyên truyền, lôi kéo người dân ủng  
  6. hộ bầu cử hội đồng xã, phường vào năm 2017 và bầu cử Quốc hội Cam­pu­chia   năm 2018. Các tổ  chức phản động lưu vong cũng tăng cường về  các vùng giáp  biên giới Việt Nam lôi kéo nhân dân hai nước thực hiện mưu đô c ̀ ủa chúng.  Ngược về thời gian trước không lâu, tại Cam­pu­chia từng diễn ra một số cuộc   biểu tình tự  phát, xuyên tạc và ngang ngược đòi “cắt quan hệ  với Việt Nam”.   Chúng đã bị dư luận ở chính Cam­pu­chia và quôc tê lên án. Tr ́ ́ ước và sau chuyên ́  thăm Việt Nam của Thủ tướng Cam­pu­chia Hun Xen m ới đây, những luận điệu  xuyên tạc đó lại “rộ lên”. Họ  cũng không ngân ng ̀ ại xuyên tạc, phỉ  báng cả  xương máu của những  người Việt Nam đã hy sinh vì tình cảm quôc tê trong sáng, giúp Cam­pu­chia ́ ́   thoát khỏi thảm họa diệt chủng. Những luận điệu đó không mới, nhưng chúng không dừng ở phá hoại quan  hệ hai nước mà còn ân ch ̉ ứa nhiêu âm m ̀ ưu phá hoại đen tôi khác. Năm 2013, t ́ ại   cuộc bầu cử Quốc hội lần thứ 5, đảng Nhân dân Cam­pu­chia (CPP) giành được   chiến thắng với 68 ghế, ông Xam Rên­xi đã có những phát ngôn lạc lõng, vô căn   cứ, gây tổn hại quan hệ  hữu nghị  hai nước khi trả lời phỏng vấn đài BBC, vu  cáo: “Hà Nội từng lấn chiếm đất đai Cam­pu­chia và… chiếm các đảo của  Trung Quốc(!)”. Bộ  Nội vụ  Cam­pu­chia đã từng lên tiếng tuyên bố  những hành vi đó là  không chấp nhận được và đi ngược đạo lý. Trong một phát ngôn chính thức với  các   cơ   quan   truyền   thông  trong  và   ngoài   nước,   người   phát  ngôn   Chính  phủ  Hoàng gia Cam­pu­chia đã nêu rõ, đất nước Việt Nam anh em không phải là  nhân tố đe dọa an ninh của Cam­pu­chia: “Chính phủ và nhân dân Cam­pu­chia   luôn chủ trương bảo vệ  và phát triển mối quan hệ với Việt Nam, thành quả  to   lớn của quá trình lâu dài cùng sát cánh chiến đấu bên nhau qua nhiều giai đoạn   lịch sử, kiên quyết không để bất kỳ thế lực nào phá hoại mối quan hệ đoàn kết   đặc biệt này”. Nhìn lại những trang sử rực lửa và cũng thâm đâm máu, n ́ ̃ ước mắt của nhân  dân hai nước, chúng ta có thê thây rõ không ph ̉ ́ ải ngâu nhiên mà Chính ph ̃ ủ  Hoàng gia Cam­pu­chia đưa ra quan điêm trên. Theo PGS, TS Vũ Quang Hiên, ̉ ̉  
  7. giảng viên Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ­ Đại  học Quốc gia Hà Nội, với tinh thần “giúp bạn là tự  giúp mình”, nhân dân ba  nước Việt Nam ­ Lào ­ Cam­pu­chia đã kề  vai, sát cánh, cùng chiến đấu chống   chủ  nghĩa thực dân xâm lược, để  lại những kinh nghiệm quý cho hôm nay và   mai sau. Trong “Lời kêu gọi Liên hợp quốc” (tháng 12 năm 1946), Chủ  tịch Hồ  Chí Minh khẳng định: “Đối với Lào và Miên, nước Việt Nam tôn trọng nền độc   lập của hai nước đó và bày tỏ  mong muốn hợp tác trên cơ  sở  bình đẳng tuyệt   đối giữa các nước có chủ quyền”. Trong cuộc kháng chiên chông M ́ ́ ỹ, cứu nước,  đế  quốc Mỹ  nhiều lần kêu gọi Lào và Cam­pu­chia gia nhập cái gọi là “Khối  phòng thủ Đông Nam Á” và “Khối phòng ngự sông Cửu Long” nhằm cô lập  và xâm lược Việt Nam, chia rẽ khối đoàn kết ba dân tộc. ̀ ̀ ́ ́ ́ ẹp quan hệ  hai nước phải kê đên s Sau nhiêu thăng trâm, dâu môc tôt đ ̉ ́ ự  kiện ngày 8 tháng 6 năm 1967, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt  Nam tuyên bố công nhận chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Cam­pu­chia theo   đường biên giới hiện tại. Đáp lại, ngày 15 tháng 6 năm 1967, Chính phủ  Cam­ pu­chia công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là đại   diện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam. Quân và dân ba nước Việt  Nam ­ Lào ­ Cam­pu­chia đã đoàn kết chặt chẽ  và anh dũng chiến đấu, giành  được nhiều thắng lợi to lớn. Trong năm 1970, liên quân Việt Nam ­ Cam­pu­chia  đẩy mạnh các hoạt động quân sự, làm tan rã hàng vạn quân của chính quyền   Lonon, mở rộng vùng căn cứ cách mạng của Cam­pu­chia từ phía bắc tỉnh Rát­ ta­na­ki­ri đến phía nam tỉnh Kam­pốt, đập tan cuộc tiến công của 10 vạn quân  địch sang Cam­pu­chia tháng 4 năm 1970, rồi tiếp tục làm thất bại các cuộc hành  quân “Chenla 1” tháng 6 năm 1970, Toàn thắng, “Chenla 2” năm 1971... Sau Hiệp   định Pa­ri 27 tháng 1 năm 1973, Việt Nam đã tiếp tục giúp đỡ Cam­pu­chia đấu  tranh vũ trang. Quân­dân Cam­pu­chia phối hợp với chiến trường miền Nam   Việt Nam mở cuộc tổng công kích, hoàn thành sự nghiệp chống Mỹ, giải phóng   thủ đô Phnôm Pênh ngày 17 tháng 4 năm 1975. Trong sự  nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức sâu sắc  rằng: “Phát triển và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương,  
  8. đoàn kết và tôn trọng độc lập, chủ  quyền của mỗi nước, hợp tác toàn diện,   giúp đỡ lẫn nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là quy luật sống còn và phát triển   của cả  ba dân tộc anh em”. “Trước sau như  một, Việt Nam trung thành với   nghĩa vụ quốc tế của mình đối với cách mạng Lào và cách mạng Cam­pu­chia”. Môi quan h ́ ệ  hữu nghị  tôt đ ́ ẹp giữa hai nước tiêp t ́ ục được phát huy, phát  ̉ triên trong giai đoạn hiện nay. Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam cuôí  tháng 12 năm 2016 vừa qua, tại buôi g ̉ ặp mặt, nói chuyện với hơn 200 đại biểu  tướng lĩnh, sĩ quan, cựu chiến binh Quân tình nguyện Việt Nam làm nghĩa vụ  quốc tế  tại Cam­pu­chia qua các thời kỳ, Thủ  tướng Hun Xen đã nhấn mạnh   chuyến thăm của ông lần này đến Việt Nam mang theo thông điệp cảm ơn của  nhân dân Cam­pu­chia đối với Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân Việt Nam  đã giúp đỡ  đánh đổ  và ngăn chặn không cho chế  độ  Pôn Pốt quay trở  lại, tạo   tiền đề  cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước Cam­pu­chia phồn vinh  như ngày nay. Ông khẳng định luôn trân trọng những kỷ niệm tốt đẹp với quân  và dân Việt Nam. Dù tình hình thế  giới có diễn biến phức tạp thế  nào cũng   không thể tác động đến quan hệ  láng giềng anh em tốt đẹp giữa hai nước. Hai  nước cần giáo dục thế hệ trẻ gìn giữ mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp vốn có, tài  sản vô giá đã được vun đắp trong suốt quá trình đoàn kết đấu tranh giành độc  lập dân tộc trước đây và xây dựng phát triển đất nước ngày nay. Ở Cam­pu­chia hiện nay lưu giữ công trình Tượng đài Hữu nghị Việt Nam   ­ Cam­pu­chia được xây dựng cuối những năm 1970 để kỷ niệm liên minh Việt   Nam ­ Cam­pu­chia, sau khi Quân tình nguyện Việt Nam tiến vào lật đổ chế độ  diệt chủng. Tượng đài tạc hình ảnh hai người lính Việt Nam ­ Cam­pu­chia sát  cánh bảo vệ  một thiếu phụ  và em bé Cam­pu­chia. Tổng Bí thư  Nguyên Phú ̃   Trọng đã đến dâng hoa tại tượng đài trong chuyến thăm chính thức Cam­pu­chia   vào năm 2011. Năm 2015, Hội đông Dân t ̀ ộc Mặt trận Đoàn kêt phát triên Cam­ ́ ̉ pu­chia và Bộ Quôc phòng Vi ́ ệt Nam đã thống nhất thực hiện công tác khảo sát,  kiểm tra, lập dự án sửa chữa, tu bổ, tôn tạo các tượng đài hữu nghị Việt Nam ­   Cam­pu­chia, trong đó có tượng đài trên.
  9. Trân trọng, gìn giữ, phát triên tình h ̉ ữu nghị là nguyện vọng chung của đông   đảo nhân dân hai nước. Nhưng cũng phải thừa nhận một thực tê là nh ́ ững âm  mưu chông phá, chia r ́ ẽ tình đoàn kêt gi ́ ữa hai dân tộc là hêt s ́ ức nguy hiêm; t ̉ ừng  ̉ ại những khó khăn, hậu quả trong lịch sử cũng như có nhiêu diên biên ph đê l ̀ ̃ ́ ức   tạp trong một sô v ́ ụ  việc kích động, phá hoại, ân ch ̉ ứa những mưu đô đen tôi ̀ ́  từng bị  Nhà nước Cam­pu­chia lên án và xử  lý thời gian qua. Đê đây lùi nh ̉ ̉ ững   âm mưu ây, cùng v ́ ới việc tiêp t ́ ục phát huy truyên thông đoàn kêt, h ̀ ́ ́ ữu nghị quý   báu, phải luôn giữ được nhât quán trong đ ́ ường lôi đôi ngo ́ ́ ại, hợp tác, cảnh giác,   tỉnh táo trước mọi thủ  đoạn chia rẽ, tăng cường hơn nữa sự  hiêu biêt, tin c ̉ ́ ậy   giữa chính quyên và nhân dân hai n ̀ ước. Đặc biệt, phải làm tôt h ́ ơn nữa việc   tuyên truyên, giáo d ̀ ục, giúp thê h ́ ệ trẻ hiêu sâu s ̉ ắc thực tiên l ̃ ịch sử và thực chât́  quan hệ  hai nước đê không ng ̉ ừng chung tay vun đắp tình hữu nghị, không để  những “lô hông” hiêu biêt cho k ̃ ̉ ̉ ́ ẻ xâu kích đ ́ ộng, xuyên tạc. Để chứng minh thêm cho mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào,  Lào – Việt Nam, tôi xin mượn những lời ca về tình cảm Việt – Lào và Chủ tịch  Hồ Chí Minh trong văn học Lào. Bình sinh, Hồ Chủ Tịch có câu thơ chung đúc: Việt – Lào hai nước chúng ta Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long Với vai trò lịch sử của Người trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc  ở  ba nước Đông Dương. Người khai sinh ra nước Cộng hòa xã hội chủ  nghĩa  Việt Nam đầu tiên  ở  Đông Nam Á, cũng là người sáng lập ra Đảng Cộng sản   Đông Dương – tiền thân của tổ  chức Đảng Cộng sản Việt Nam – Lào – Cam­ pu­chia ngày nay. Chính vì thế, tình hữu nghị Việt – Lào vốn là tự nhiên, khăng  khít, khi có chính Đảng Mác – Lê­nin lãnh đạo ngày càng được củng cố  vững  chắc, phát triển. Nhiều tác phẩm văn học Lào viết về Việt Nam – Hồ Chí Minh   với mọi thủ pháp nghệ thuật truyền thống. Trong một tác phẩm chính luận, đồng chí Xu­va­nu­vông viết: Chủ tịch Hồ   Chí Minh luôn luôn quan tâm tới cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân Lào,   chăm lo vun đắp mối tình đoàn kết giữa nhân dân hai nước, góp phần làm cho  
  10. sự  nghiệp cứu nước của nhân dân lào dành được thắng lợi to lớn và vẻ  vang   như  ngày nay. Cách nói, cách nghĩ chân tình, chí lý đó cũng là nguồn cảm hứng   thường trực đối với đội ngũ sáng tác văn học Lào đương đại. Việt Nam – Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh – Việt Nam, nếu chỉ nói một danh  từ  e không đủ  sắc thái trữ  tình cho những vần thơ  Kon­lăm – vừa là chất liệu  dân ca vừa là hình thức phổ biến đi suốt chiều dài lịch sử chống Pháp và chống  Mỹ  với các văn nghệ  sĩ Lào. Vi­lay­kẹo­ma­ni sử  dụng cái tôi trữ  tình để  gửi   gắm tâm tình, suy tưởng có dung lượng lớn: Việt Nam mến yêu ơi Nhắc tên anh lòng tôi ngàn vạn nhớ Thuở ban đầu chung sức đánh giặc Tây Anh ở bên kia, tôi ở bên này Chung một dãy Trường Sơn hùng vĩ Anh và tôi dựa lưng đánh Mỹ Và: Anh đi trước, gương sáng dân Lào soi Đẹp tuyệt vời người đồng chí của tôi.  (Hai anh em sinh đôi – Văn nghệ, ngày 8/10/1966). Hình  ảnh giang sơn đất Việt, đất Lào có chung biên giới bởi dãy Trường   Sơn hùng vĩ – nhà thơ ví như Hai anh em sinh đôi, gợi cho người đọc thấm thía  hơn sức mạnh của trái tim, sức mạnh của khối óc con người. Tiểu kết của khổ  bốn của bài thơ, nhạc  điệu từ  ngữ  như  bừng sáng, lan xa, lan xa rồi  đọng  lại… đẹp tuyệt vời – với người đồng chí, từtuyệt vời chưa trở thành khẩu ngữ,  văn phong. Người Lào quen gọi dãy Trường Sơn (theo tiếng Việt) và cũng quen   gọi dãy Phu Luông hùng vĩ trùng điệp (thơ Thoong­in). Dưới con mắt Bun­chăn,  thi sĩ dùng thủ pháp nhân cách hóa, để hát vang lên miền mến thương tha thiết,   niềm mến yêu, gắn bó một mối tình: Trường Sơn vĩ đại anh ơi Anh đứng đó tôi tưởng Việt Nam đứng đó
  11. Cho tôi làm đóa Chămpa đang nở Dâng tặng anh bằng cả trái tim tôi. (Chung một chiến hào – Văn nghệ, tháng 10/1968). Đấy là cái chung, cái ban đầu anh viết. Đề  từ  cho bài thơ  này, anh trân   trọng: Kính tặng nhân dân Việt Nam anh hùng. Chiều sâu cảm xúc còn khiến  anh có được nhiều tứ thơ hay, đậm đà hương sắc của cuộc sống ngoài đời: Chiếc áo rách vai chúng mình chung mặc Hạt muối cắn chung, trái ướt bẻ đôi Nỗi buồn vui vì chung quý giọt mồ hôi Ở trong tôi không biết tự thuở nào Thấm máu anh những ngày đi đánh giặc. Phải trải biết bao gian khổ trên chặng đường hành quân kháng chiến, phải  nắm bắt hiện thực đến tinh, đến nhạy mới có được những câu thơ  như  thế.  Đúng là ngọt bùi nhớ lúc đắng cay, qua sông nhớ suối, có ngày nhớ đêm,… Đọc  bài thơ dễ dàng chợt nhớ bài thơ kháng chiến chống Pháp của Chính Hữu – bài  Đồng chí, nhưng chủ  đề  thể  nghiệm của bài thơ  là đương nhiên khác nhau.  Ngày đầu kháng chiến (1940 ­1954), tiếng súng gây tội ác của thực dân Pháp lại  diễn ra liên tiếp  ở cả  hai nước Việt ­ Lào. Các chiến sĩ tình nguyện Việt Nam   đã lên đường sang với bạn, sống với dân bản, đi xây dựng cơ  sở  du kích quân,   lấy lòng dân, ý Đảng mà gột dậy phong trào chiến tranh yêu nước, vì nghĩa vụ  quốc tế cao cả mà cùng quân Lào đánh đuổi lũ ngoại xâm, bước vào cuộc kháng  chiến chống Mỹ, chân lý Cách mạng của chúng ta càng sáng suốt hơn, thủy  chung hơn. Nhà thơ  có thể  viết về hôm qua­hôm nay­ngày mai, song, mấu chốt thành  công vẫn ở tài năng sử dựng ngôn từ và nội dung cụ thể được phản ánh. Hai yêu   cầu đó dường như   ẩn hiện với cảm hứng sáng tạo, nhưng nó có vai trò quyết  định sự chấp nhận của bạn đọc, khẳng định uy tín của tác giả. Giở lại tập Vài  hình  ảnh Pa­thét Lào chiến đấu in  ở  Việt Nam năm 1955, Xôm­xi­đê­xa có bài  Ngày căm thù 21/3 với những câu thơ nóng hổi:
  12. Chúng tiến vào thị xã Cho tàu bay bắn phá Thuyền đồng bào tản cư Bị bắn chìm mất cả Thanh niên chúng dẫn tới bờ sông Bắn chết thả xác trôi theo dòng Máu Lào ­ Việt quyện lấy nhau Đỏ ngầu làn nước… Đó là ngày 21 tháng 3 năm 1946, dưới sự che chở của quân đội Anh, bè lũ   Quốc dân Đảng, thực dân Pháp đánh chiếm Thà­khẹc. Hàng ngàn sư sãi, trẻ, già, … đổ  máu trước lưỡi lê, họng súng. Ngày đầu trở  lại xâm lược nước Lào do   thực dân Pháp gây ra trở  thành ngày căm thù của nhân dân Lào. Ngày căm thù  của nhân dân Lào ghi nhận sự hi sinh vô bờ của chiến sĩ tình nguyện Việt Nam   sát cánh cùng quân dân Lào đánh giặc cứu nước. Hai mươi năm sau, khi tuổi đời   già dặn, khi ngòi bút còn sung sức, anh viết về Thắng lợi bản Đông, chúc mừng   năm mới: Lào ­ Việt chiến đấu hợp đồng đặc biệt Và ở chiến trường Khe­sanh Chúng tập trung làm nơi bàn đạp Lùa quân tiến vào Bản Đông Trực tiếp đến theo đường số 9 Bị Việt Nam chặn gốc, Lào đánh ngọn Xác địch ngổn ngang đổ xuống ầm ầm. Thơ Lào rất hay, nhưng trong tay nhà thơ dân tộc Lào rất điêu luyện tiếng   dân tộc, nên bản dịch sang Tiếng Việt chưa được hay lắm. Thơ ca chịu sự rung   động, đi sâu vào tâm hồn tác giả  và độc giả  mạnh mẽ  nhất còn  ở  chính môi   trường ngôn ngữ xã hội của nó. Thơ  của các bạn Lào viết về  Bác cũng vô cùng phong phú. Xôm­xi­đê­xa   viết về Việt Nam cứ như nghĩ viết về Bác. Phải chăng, đây đó trong mỗi bước  trưởng thành nghệ thuật sáng tác của anh, Việt Nam­Hồ Chí Minh tuy hai mà là  
  13. một. Đọc thơ  anh, ta cứ nghĩ nhà thơ  đang suy nghĩ lung lắm, suy nghĩ về  Bác   biết viết câu thơ như thế nào cho hết ý, hết lời. Hình ảnh cao đẹp của Bác trong   nhịp điệu trái tim, trong máu thịt, tâm linh của anh hay chính nhân dân Lào, trọn  vẹn là người chiến sĩ Cộng sản kiên cường, mẫu mực. Đạo đức của Người là tấm gương trong Cần, kiệm, liêm, chính, sắt son một lòng Trọn cuộc đời 79 năm­hy sinh tận tụy Chẳng chút vì mình, chỉ vì Việt Nam, vì năm châu … Chủ tịch Hồ Chí Minh Công sức của Người hơn cả lúc bình sinh. Thật sự có tâm lý chung trong nhân dân Lào ­ Việt, hằng mong muốn được  Bác đến thăm, muốn được Bác ân cần chỉ bảo, ôm hôn. Bác đến trong lương tri   mọi người  ấm áp, hiền từ, độ  lượng, thương yêu như  người cha, người ông  muôn vàn kính mến từ ngàn xưa tụ lại. Nhưng rồi, sự thật phũ phàng đưa Bác  đi  gặp cụ Các Mác – Lênin, trái đất nghiêng mình trước anh linh Bác. Nhà văn Xu­ văn­thon bày tỏ lòn tôn kính với Bác rằng: Mọi tầng lớp nhân dân Lào Yêu mến Bác như người nhà, chẳng khác Dù chỉ một lần, cầu mong Bác sang chơi Mà giờ đây cả nước Lào nhớ Bác­Bác đi xa. Cảm xúc thơ  xuất phát từ  tình người. Bác trở  thành nguyên mẫu cho các  loại hình nghệ thuật. Tuy nhiên, bằng sự quan sát thực tiễn lịch sử, Xu­văn­thon   muốn thủ bút thi ca với hình ảnh sinh động của Bác trong tiến trình dựng nước  và giữ nước của dân tộc Lào­Việt. Ngay từ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX,   ở Việt Nam có Phan Đình Phùng, Đốc Ngữ, Đề Thám,… thì ở Lào cũng dấy lên  cao trào chống Pháp trong lòng dân, vua Hàm nghi được nhân dân Lào chở  che,  để  giúp ông nuôi chí phục thù. Các thủ  lĩnh Kôm­ma­đam Phô­xa­đuột, Chậu­ pha­pa­chay,… tập hợp nhân dân Lào đứng lên chống Pháp. Rốt cục, khi chưa có   chính Đảng lãnh đạo, các cuộc khởi nghĩa đó chỉ  nhóm lên ngọn lửa truyền 
  14. thống yêu nước của dân tộc một thời rồi dịu tắt. Chỉ  có Bác Hồ  – người Việt   Nam yêu nước đầu tiên đã mang lại chân lý của chủ  nghĩa Mác­Lênin cho nhân  dân hai nước Lào­Việt, cho niềm tin tất thắng của Cách mạng vô sản  ở  mỗi  nước. Xu­văn­thon sử dụng thơ ca nói lên ý đó: Bác Hồ Chí Minh ơi Bác là Phi­tun ngọc quý Trái đất này chẳng có ai sánh kịp Đời Bác như ngọn đuốc vĩ đại Soi đường cho bà con thức tỉnh nơi nơi… Năm 1969, ngày đau thương vô hạn của toàn thể  loài người, Bác Hồ  mất  ngày 3/9. Không cam tâm làm nô lệ  cho phong kiến, đế  quốc, nửa thế  kỷ  Bác   dắt dìu từng giây, từng phút, nhân dân Lào­Việt đoàn kết bên nhau, kề  vai sát  cánh sướng khổ vui chung, kiên quyết đánh đuổi Pháp, Mỹ dành độc lập – tự do,  gắng xây dựng giang sơn giàu đẹp. Thế  mà, sự  thật, ngày 3 tháng 9 năm 1969,   Bác   đã   đi   xa,   giờ   phút   đau   thương   vô   hạn   vụt   trở   thành   thiêng   liêng,   hóa  thành con người bất tử. Giữa lúc nhân dân Việt Nam phải chịu nỗi đau thương  không có gì sánh nổi, nhân dân Lào hòa quyện mình, chia sẻ nỗi đau chung. Nhà  thơ Xôm­xi­đê­xa viết: Ôi, năm 69 này Mãi mãi là những ngày đau thương nhất Những ngày vô hạn đau thương Vì phải vĩnh biệt người ... Ngày mồng 3 tháng 9 Trời đất bỗng tối sầm Mặt trăng, mặt trời u ám Mưa rơi tầm tã ngày đêm ... 9 giờ 47 phút Giờ khắc thiêng liêng
  15. Chủ tịch Hồ Chí Minh Viên ngọc quý của bản mường Đã vĩnh biệt đi xa Đã về nơi vĩnh viễn … Có trái tim nào không đập mạnh hôm nay. Song, dù muốn hay không, không ai có thể  cưỡng lại quy luật được. Toàn  Đảng, toàn dân, toàn quân càng đau thương, nhớ Bác, tỏ lòng biết ơn Bác là phải   trấn tĩnh lại, biến đâu thương thành hành động Cách mạng, mỗi người hãy mang  hết sức mình cho Tổ  quốc, sống vì Đảng, chết vì dân, để  sớm thực hiện lý  tưởng cao đẹp của Bác, độc lập­tự do và chủ nghĩa xã hội: Ai cũng có cơm ăn,   áo   mặc,   ai   cũng   được   học   hành.   Khi   viết   bài   thơ   này,   Xôm­xi­đê­xa   đi   từ  việc Vĩnh biệt đau thương đến Về  nơi vĩnh viễn của Bác đến Thiêng liêng, thơ  có kết cấu chặt chẽ như thế mà thật rung động lòng người quả không dễ có: Người để lại một lời di chúc Còn quý hơn mọi châu báu ngọc ngà Lời di chúc tương lai chỉ hướng Gương sáng soi năm châu bốn bể Rọi chiếu khắp nhân gian Soi sáng mãi không bao giờ tắt Tuy đã đi rồi Lời di chúc do chính tay Người viết Nét bút của Người Còn đó cho ta… Văn học hiện đại Cách mạng Lào viết về  Bác có sự  đóng góp của nhiều  thế  hệ  tác giả. Có người đi suốt hai cuộc kháng chiến như Xôm­xi­đê­xa và có   người bắt đầu xuất hiện trong cao trà chống Mỹ. Đặc biệt,  ở  phần dầu tác  phẩm Một vài kinh nghiệm chính và một số vấn đề về phương hướng mới của   Cách mạng Lào (1979), đồng chí Cay­xỏn Phôm­vi­hẳn (Tổng Bí thư Đảng nhân  dân Cách mạng Lào) đã viết: Do tìm được chân lý vĩ đại từ  Cách mạng tháng  
  16. Mười: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con   đường Cách mạng vô sản. Đồng chí Hồ  Chí Minh, người chiến sĩ cộng sản lỗi  lạc của phong trào cộng sản quốc tế  đã truyền bá vào Đông Dương chủ  nghĩa  yêu nước chân chính kết hợp chủ nghĩa Mác­Lênin, gắn phong trào Cách mạng  Đông Dương với phong trào Cách mạng thế giới. Tình hữu nghị  Việt ­ Lào mãi xanh tươi, đời đời bền vững, chắc chắn đề  tài Việt Nam ­ Hồ Chí Minh trong văn học Lào sẽ  còn nhiều tác phẩm hay hơn  nữa. Nhân dân Việt Nam trân trọng cảm ơn, giữ gìn và thưởng thức văn học Lào   như chính nền văn học của mình. Việt Nam – Hồ Chí Minh đã trở thành danh từ quen thuộc trên toàn cầu. Hà   Nội – thủ đô nghìn năm văn hiến và Viêng Chăn – kinh thành khởi sắc đang cùng  nhau vươn tới trở thành hai trung tâm văn hóa làng giềng, có quan hệ ngày càng  gắn bó.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản