intTypePromotion=2
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 141
            [banner_name] => KM2 - Tặng đến 100%
            [banner_picture] => 986_1568345559.jpg
            [banner_picture2] => 823_1568345559.jpg
            [banner_picture3] => 278_1568345559.jpg
            [banner_picture4] => 449_1568779935.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 7
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:45
            [banner_startdate] => 2019-09-13 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-13 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Vũ Thị Nhung

Chia sẻ: Đào Đức Mạnh | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:12

0
24
lượt xem
3
download

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Vũ Thị Nhung

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài dự thi "Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017" Vũ Thị Nhung trình bày cảm nhận cá nhân để góp phần lý giải nguyên nhân, cơ sở hai dân tộc Việt Nam - Lào cần phải luôn yêu thương gắn bó chặt chẽ với nhau

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Vũ Thị Nhung

  1. BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM ­ LÀO, LÀO ­ VIỆT NAM NĂM 2017 Người tham gia:  Họ và tên: Vũ Thị Nhung Đơn vị:  Ủy viên BCH Thành đoàn,  Ngày sinh: 1987 Bí thư Đoàn phường Phước Long, Nha  Giới tính: Nữ Trang, Khánh Hoà Nghề nghiệp: Cán bộ đoàn Nơi thường trú:  Dân tộc: Kinh Số điện thoại:  Tôn giáo: không NỘI DUNG BÀI DỰ THI Trong khuôn khổ bài dự thi, tôi xin chia sẻ cảm nhận cá nhân để góp phần  lý giải nguyên nhân, cơ sở hai dân tộc Việt Nam ­ Lào cần phải luôn yêu thương   gắn bó chặt chẽ với nhau Trước hết, xin giới thiệu một chút về  nước Lào anh em. Lào có diện tích  236.800 km2, dân số ước lượng năm 2015 là 6.803.699 người, mật độ dân số đạt  29,6 người/km2. Quốc gia Lào hiện tại có nguồn gốc lịch sử  và văn hoá từ  Vương quốc Lan Xạng tồn tại trong bốn thế  kỷ, là một vương quốc có diện  tích lớn tại Đông Nam Á. Sau một giai đoạn xung đột nội bộ, Lan Xang phân  chia thành ba vương quốc riêng biệt: Luông Pha­bang, Viên­chăn và Chăm­pa­ sắc. Năm 1893, ba vương quốc hợp thành một lãnh thổ bảo hộ thuộc Pháp, tiền  thân của quốc gia Lào hiện nay. Lào giành độc lập sau khi Nhật Bản chiếm  đóng, song người Pháp sau đó áp đặt lại quyền cai trị cho đến khi Lào được tự  trị  vào năm 1949. Lào độc lập vào năm 1953 với chính thể  quân chủ  lập hiến   dưới quyền xi­xa­vang Vông. Một cuộc nội chiến trường kỳ  kết thúc vào năm  1975 với kết quả  là chấm dứt chế  độ  quân chủ, phong trào Pha­thét Lào  theo  chủ nghĩa cộng sản lên nắm quyền. Lào có chung đường biên giới dài 2069 km phía Tây được Việt Nam ôm  trọn phía biển Đông, đường biên giới giữa Việt Nam và Lào trải dài suốt 10 tỉnh   của Việt Nam là: Điện Biên, Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ  An, Hà Tĩnh, Quảng  Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên ­ Huế, Quảng Nam và Kon Tum cũng thật trùng 
  2. hợp tiếp giáp với 10 tỉnh phía Lào là: Phông­xa­lỳ, Luông­pha­bang, Hủa­phăn,  Xiêng­khoảng, Bô­ly­khăm­xay, Khăm­muồng, Xa­van­na­khẹt, Xa­la­văn, Xê­ kông và Ắt­tạ­phư. Quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào có nhiều cơ  sở  thực tiễn   quan trọng. Là hai nước láng giềng có nhiều nét tương đồng về văn hóa, Việt Nam và  Lào đã chung tay viết nên những trang sử  hào hùng của hai dân tộc. Tình hữu  nghị, đoàn kết giữa hai Đảng, hai nước Việt ­ Lào và sự  gắn bó keo sơn giữa   dân tộc Việt Nam và nhân dân các bộ  tộc Lào được Chủ  tịch Hồ  Chí Minh và   Chủ tịch Cay­xỏn Phôm­vi­hản trực tiếp gây dựng nền móng, được các thế  hệ  lãnh đạo kế  tục của hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai nước quý trọng,  nâng niu và dày công vun đắp. Trải qua nhiều giai đoạn và biến cố của lịch sử, hai nước Việt Nam ­ Lào  cùng tựa lưng vào dải Trường Sơn hùng vĩ, sát cánh bên nhau, xây đắp quan hệ  đoàn kết đặc biệt Việt Nam ­ Lào cao đẹp, mẫu mực, thủy chung, hiếm có trong   lịch sử quan hệ quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Việt ­ Lào hai nước chúng ta Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long” Chủ  tịch Cay­xỏn Phôm­vi­hản cũng từng nói: “Trong lịch sử  cách mạng   thế  giới đã có nhiều tấm gương sáng chói về  tinh thần quốc tế  vô sản, nhưng   chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài   và toàn diện như vậy”. Sau khi Việt Nam hoàn thành sự  nghiệp thống nhất  đất nước và nước  Cộng hòa Dân chủ  Nhân dân Lào ra đời vào năm 1975, quan hệ  Việt ­ Lào đã  chuyển sang giai đoạn mới. Đó là mối quan hệ  hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và  hợp tác toàn diện giữa hai Đảng và hai Nhà nước mà bằng chứng sinh động là  Hiệp  ước Hữu nghị  và Hợp tác Việt Nam ­ Lào được ký ngày 18 tháng 7 năm  1977. Tình đoàn kết đặc biệt giữa hai nước đã góp phần quan trọng vào việc  củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa  
  3. Việt Nam và Lào trong thời kỳ  mới. Trong các chuyến thăm của lãnh đạo hai  nước, hai bên luôn khẳng định quan điểm nhất quán, tiếp tục coi trọng và dành  mọi  ưu tiên cho việc củng cố  và tăng cường quan hệ  hữu nghị  truyền thống,   đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam ­ Lào, coi đây là tài sản vô giá  cần gìn giữ và truyền lại cho muôn đời con cháu mai sau Những thành tựu to lớn về kinh tế ­ xã hội sau hơn 20 năm tiến hành công  cuộc đổi mới và những chuyển biến quan trọng trong quan hệ hợp tác toàn diện  Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam trong những năm qua đã tạo nên những điều  kiện vật chất to lớn thúc đẩy việc tiếp tục tăng cường hợp tác toàn diện Việt  Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam ­   Lào, Lào ­ Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về  sự  gắn kết bền chặt, thủy chung, trong sáng và đầy hiệu quả  giữa hai dân tộc,   đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội. Hai nước Việt Nam ­ Lào có lịch sử gắn bó rất lâu đời với nhau trong suốt   chiều dài dựng nước và giữ nước của mỗi dân tộc. Trong chiều dài lịch sử ấy,  nhân dân hai nước đã “chung lưng đấu cật” để  xây dựng mỗi nước phát triển.  Là hai nước láng giềng có nhiều nét tương đồng về  văn hóa, Việt Nam và Lào  đã chung tay viết nên những trang sử hào hùng của hai dân tộc. Mối quan hệ hữu   nghị truyền thống lâu đời Việt Nam ­ Lào bắt nguồn từ tình cảm láng giềng thân   thiết, sự gắn bó keo sơn giữa dân tộc Việt Nam và nhân dân các bộ  tộc Lào đã  trải qua muôn vàn thử thách, được nhiều thế hệ lãnh đạo hai Đảng và nhân dân  hai nước, đặc biệt là Chủ  tịch Hồ  Chí Minh vĩ đại và Chủ  tịch Cay­xỏn Phôm­ vi­hản kính mến trực tiếp gây dựng nền móng, được các thế hệ lãnh đạo kế tục   của hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai nước quý trọng, nâng niu và dày công   vun đắp, không ngừng phát triển và trở thành mối quan hệ đặc biệt, thủy chung,   trong sáng và là mẫu mực hiếm có trong quan hệ quốc tế hiện nay. Việt Nam và Lào không những có sự  gắn kết bền chặt từ  trong quá khứ  cho đến tận ngày nay cũng như mai sau. Hai dân tộc luôn sát cánh bên nhau cùng 
  4. bảo vệ Tổ quốc, cùng phát triển văn hóa – xã hội, cùng tiến bước để hội nhập   với xu thế của thời đại mới. Nền kinh tế Lào đang phát triển nhanh, khi quốc gia này bắt đầu giảm dần   quản lý nhà nước và khuyến khích thành phần kinh tế  tư  nhân vào năm 1986.  Lào đã mở một sở giao dịch chứng khoán vào năm 2011, đồng thời có vai trò như  một nhà cung cấp thủy điện cho các quốc gia láng giềng như Trung Quốc, Việt   Nam và Thái Lan. Mặc dù vậy, là một quốc gia không giáp biển, lại có cơ  sở  hạ  tầng chưa   tốt và phần lớn lực lượng lao động thiếu kĩ năng, Lào vẫn là một trong những   nước nghèo nhất khu vực Đông Nam Á. Thu nhập bình quân tính theo đầu người  vào năm 2009 của Lào  ước tính khoảng 2.700 USD theo sức mua tương  ứng.   Tiết kiệm nội địa thấp khiến Lào phải phụ  thuộc nặng nề  vào viện trợ  nước   ngoài và vay ưu đãi để lấy nguồn đầu tư cho phát triển đất nước. Mặc dù nền kinh tế  chưa thể  đạt được những thành tựu như  Việt Nam,  song họ có quyền hy vọng trong tương lai không xa, với việc cải cách mạnh các  thủ tục hành chính, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài, nguồn tài nguyên  đa dạng phong phú… nền kinh tế của quốc gia có dân số  gần 7 triệu người sẽ  đứng trong top đầu của khu vực. Quan hệ  Lào – Việt Nam hay còn được biết đến với tên thông dụng là   Quan hệ  hữu nghị  Việt – Lào là mối quan hệ  hữu nghị  truyền thống, đoàn kết  đặc biệt và hợp tác toàn diện từ lịch sử tới hiện tại giữa Lào và Việt Nam. Mối  quan hệ  được Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào  cũng như Nhà nước 2 quốc gia coi là mối quan hệ đặc biệt với vai trò như đồng  minh chiến lược của nhau nhưng không có bất cứ bản cam kết đồng minh nào.  Việt Nam và Lào thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 5 tháng 9 năm 1962. a) Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ: Trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế  quốc Mỹ  xâm  lược, nhân dân hai nước Việt – Lào luôn sát cánh bên nhau, viết nên những trang   sử hào hùng và cùng nhau xây dựng nên mối quan hệ đoàn kết đặc biệt.
  5. Bối cảnh trong nước và các nước Đông Dương những năm đầu thế kỷ XX,  Hồ Chí Minh đã xác định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con   đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Nhà nước ta luôn đặt cuộc đấu  tranh giải phóng dân tộc Việt Nam gắn bó mật thiết với cuộc đấu tranh giải   phóng dân tộc của nhân dân các nước trong đó có dân tộc Lào. Đảng và Nhà  nước cũng luôn quan tâm sâu sắc và coi việc giúp đỡ Lào vừa là trách nhiệm vừa  là nghĩa vụ, là một nội dung quan trọng nhất của tình đoàn kết và liên minh   chiến đấu Việt ­ Lào. Việt Nam không chỉ  đóng góp về  lý luận, đường lối,  phương hướng cách mạng mà Người còn quan tâm đến cả việc tổ chức, chỉ đạo  thực tiễn cách mạng Lào. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các phong trào đấu tranh ở Việt Nam diễn ra  mạnh mẽ  và lan rộng trong cả nước và có  ảnh hưởng lớn đến Lào. Các phong  trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam cũng đã nhận được sự  ủng hộ  của nhân   dân Lào. Trước vận mệnh của các dân tộc Đông Dương, Trung  ương Đảng   Cộng sản Đông Dương đã liên tiếp tổ chức các cuộc hội nghị quan trọng để bàn  chủ  trương và biện pháp lãnh đạo phong trào đấu tranh của nhân dân đi đến   thắng lợi. Đặc biệt, tháng 5 năm 1941 lãnh tụ  Nguyễn Ái Quốc đã chủ  trì Hội  nghị  Ban Chấp hành Trung  ương Đảng lần thứ  VIII quyết định đặt nhiệm vụ  giải phóng dân tộc lên hàng đầu của cách mạng Đông Dương, giải quyết vấn   đề  dân tộc trong khuôn khổ  từng nước và thành lập  ở  mỗi nước một Mặt trận   Dân tộc Thống nhất rộng rãi.  Ngày 12 tháng 10 năm 1945 tại Thủ đô Viên­chăn, Chính phủ  lâm thời Lào  Itsala được thành lập, thông qua Hiến pháp và tuyên bố  nền độc lập trước thế  giới. Ngày 14 tháng 10 năm 1945, Việt Nam là nước đầu tiên gửi điện chúc  mừng và tuyên bố  thừa nhận Chính phủ  Lào độc lập và ngày 30 tháng 10 năm  1945, hai nước đã ký Hiệp  ước Hợp tác tương trợ Việt ­ Lào. Từ đây, quan hệ  Việt ­ Lào đã chuyển sang một giai đoạn mới ­ giai đoạn phát triển quan hệ  đoàn kết giữa hai dân tộc anh em không chỉ  trong quan hệ  giữa nhân dân hai  nước, mà còn trên tầm quan hệ  gắn bó giữa hai nhà nước như  Hoàng thân Xu­
  6. pha­nu­vông đã từng tuyên bố: Quan hệ  Lào ­ Việt từ  nay sẽ  mở  ra một kỷ  nguyên mới... Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, nhân dân hai nước phải  tiếp tục đối mặt với quân xâm lược đế quốc Mỹ. Sự nghiệp cách mạng của hai  nước Lào­Việt Nam có mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau một cách đặc biệt,   Chủ  tịch Hồ  Chí Minh đã nhìn nhận thấy từ  lâu, Người thường căn dặn: Cách  mạng Lào không thể  thiếu sự giúp đỡ  của cách mạng Việt Nam và cách mạng  Việt Nam cũng không thể  thiếu sự  giúp đỡ  của cách mạng Lào. Chính vì vậy,   trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã   cử  hàng chục vạn người con yêu quý của mình sang công tác và phối hợp với  quân và dân Lào chiến đấu tại các chiến trường của Lào, máu của biết bao anh  hùng, liệt sĩ Việt Nam hòa quyện với máu của quân và dân Lào để  đem lại   thắng lợi vẻ  vang cho hai dân tộc. Quan tâm, chia sẻ  cùng đồng cam cộng khổ  trong hai cuộc kháng chiến, Đảng, Chính phủ và nhân dân Lào đã dành phần đất  của   mình   để   giúp   Việt   Nam   xây   dựng   “ Đường   Hồ   Chí   Minh”,   “xẻ   dọc  Trường Sơn đi cứu nước”… Ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng là   điều kiện thuậ  lợi cho cách mạng Lào giành thắng lợi hoàn toàn, thiết lập nên   nước Cộng hòa Dân chủ  nhân dân Lào ngày 2 tháng 12 năm 1975. Thắng lợi to  lớn và có ý nghĩa lịch sử trọng đại đó, là minh chứng hùng hồn cho tình hữu nghị  đoàn kết đặc biệt, thủy chung, trong sáng. Tóm lại, quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam trải qua nhiều   thử  thách khắc nghiệt, đầy hy sinh, gian khổ  vì độc lập, tự  do, hạnh phúc của  hai dân tộc và nhân dân hai nước, đã trở thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ  diệu đưa tới nhiều thắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trong cuộc đấu tranh   giải phóng dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ  đất nước, cùng phát triển theo  định hướng xã hội chủ  nghĩa. Đối với nhân dân hai nước Việt Nam, Lào, quan   hệ đặc biệt được coi là lẽ sống, là tình nghĩa ruột thịt thân thiết, trước sau như  một, dù gian nan nguy hiểm đến chừng nào cũng không thể chia tách được. b) Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay:
  7. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, sự  nghiệp đổi mới, mở  cửa, hội  nhập quốc tế  mà nhân dân hai nước đang tiến hành đã tạo ra những xung lực  mới, đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu khách quan về  gia tăng mối quan hệ  đặc biệt giữa Việt Nam – Lào; Lào – Việt Nam với những phương thức mới và  những nội dung mới, do đó hai dân tộc phải đoàn kết, giúp đỡ  lẫn nhau cùng   phát triển, cùng đạt được những mục đích đề ra của cách mạng hai nước. Nhân dịp kỷ  niệm 50 năm Ngày thiết lập quan hệ  ngoại giao và 35 năm   Ngày ký Hiệp  ước hữu nghị  hợp tác Việt Nam – Lào, đồng chí Nguyễn Phú   Trọng – Tổng Bí thư  Trung  ương Đảng Cộng sản Việt Nam phát biểu: “Việt   Nam và Lào đang bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn đẩy mạnh công cuộc   đổi mới, chủ  động và tích cực hội nhập quốc tế; nhân dân hai nước đang tích   cực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội của mỗi Đảng và cùng nhau phấn   đấu xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam, đất nước Lào giàu mạnh... Hơn   bao giờ, hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước cần tiếp tục củng cố,   tăng cường hơn nữa tình đoàn kết đặc biệt, quan hệ  hợp tác toàn diện Việt   Nam ­ Lào, coi đây là lẽ  sống, là nghĩa tình thân thiết, trước sau như  một, dù   gian nan nguy hiểm cũng không hề  lay chuyển. Việt Nam và Lào sẽ  cùng nhau   giữ gìn, bảo vệ mối quan hệ đặc biệt đó, như giữ gìn và bảo vệ con ngươi của   mắt mình, làm sâu sắc, phong phú thêm và đưa mối quan hệ đặc biệt Việt Nam   – Lào ngày càng phát triển mạnh mẽ, đi vào chiều sâu, coi đây là tài sản thiêng   liêng vô giá, cần trao truyền lại mãi mãi cho các thế hệ mai sau”. Trong tình hình hội nhập với nhiều biến động, nhiều khó khăn và thách  thức do tác động của tình hình thế giới và khu vực, nhưng với truyền thống tốt   đẹp của mối quan hệ  đặc biệt và dưới sự  lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách   mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam, quan hệ giữa hai nước ngày càng được  tăng cường, mở rộng cho mối quan hệ hữu nghị đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác  toàn diện Việt Nam ­ Lào đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Việt Lào, hai nước chúng ta, Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long.
  8. Bản chất của quan hệ  đặc biệt đó bắt nguồn từ  lòng yêu nước nồng nàn   kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng; tình đoàn kết thủy chung và niềm tin   về lòng chân thành, trong sáng mà hai dân tộc Việt Nam, Lào dành cho nhau; sự  giúp đỡ  đến mức cao nhất nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ  cách mạng   và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển tương lai của hai dân tộc. Quan hệ  Việt ­ Lào được xây đắp, nuôi dưỡng bằng công sức, của cải, xương máu của  nhiều thế  hệ  cách mạng người Việt Nam và Lào. Trải qua rất nhiều gian nan,   thử thách khắc nghiệt, quan hệ đó vẫn vẹn nguyên, không hề bị rạn nứt và phá   vỡ  cho dù các thế  lực thù địch dùng nhiều thủ  đoạn chống phá, chia rẽ. Bản  chất của quan hệ đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam, được nuôi dưỡng,   phát triển bằng sức cảm hóa sâu sắc của quan điểm  “giúp bạn là mình tự  giúp   mình” do Chủ  tịch Hồ  Chí Minh chỉ  dẫn. Đây là câu nói cô đọng, giàu ý nghĩa   chính trị, nhân văn, mở ra phương hướng xử lý hài hòa lợi ích của hai dân tộc; là  vũ khí sắc bén chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ban ơn. Dựa trên luận điểm về  quyền dân tộc tự  quyết, cơ  quan lãnh đạo cấp cao Việt Nam, Lào đã nhất trí   tiến hành liên minh, hợp tác theo nguyên tắc tôn trọng độc lập tự  chủ  của bạn   như  Chủ  tịch Hồ  Chí Minh xác định: “Cán bộ  Việt Nam sang công tác  ở  Lào   phải hoàn toàn ở dưới sự lãnh đạo của Chính phủ Trung ương Lào, nhất là của   Thủ  tướng Xu­pha­nu­vông. Tuyệt đối không được tự  cao, tự  đại, không được   bao biện...”. Trước diễn biến phức tạp của tình hình thế  giới và khu vực, các thế  lực   thù địch và phản động đang tìm mọi cách xuyên tạc, chia rẽ  mối quan hệ  đặc   biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam. Do vậy, hơn lúc nào hết, hai dân tộc phải   yêu thương, gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng nhau đoàn kết làm thất bại mọi âm  mưu, thủ  đoạn của kẻ  thù, bảo vệ  vững chắc thành quả  cách mạng và công  cuộc xây dựng đất nước của nhân dân hai nước. Trong bối cảnh đoàn kết hợp tác rộng mở trên thế giới hiện nay, xuất hiện   nhiều hình thức liên kết hợp tác song phương và đa phương với nhiều mục đích  khác nhau, do vậy hai dân tộc Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam cần gắn bó chặt   chẽ bên nhau, cùng nhau vun đắp mối quan hệ đặc biệt trở thành một mẫu mực  
  9. về tình đoàn kết quốc tế trong lịch sử thế giới đương đại, đồng thời cũng vì sự  phát triển bền vững của mỗi nước. Cuối năm 2015, Cộng đồng Kinh tế  ASEAN đã chính thức ra đời, mở  ra  nhiều cơ hội nhưng cũng đem lại không ít thách thức cho việc phát triển kinh tế­ xã hội của hai nước, điều này đòi hỏi hai dân tộc Lào và Việt Nam, nhất là các  doanh nghiêp hai nước cần phải chủ động, chuẩn bị thật kỹ, phối hợp chặt chẽ,   sâu rộng và thắt chặt hơn nữa sự tin cậy, mối quan hệ thủy chung nhằm thúc   đẩy hợp tác thương mại, đầu tư  và du lịch; tập trung khai thác các thế  mạnh   chiến   lược,   tăng   cường   sản   xuất   hàng   hóa   nhằm   đáp   ứng   nhu   cầu   của   thị  trường mỗi nước. Ngoài ra, doanh nghiệp hai bên cũng cần quan tâm xây dựng  các nhân tố, cơ  chế  để  có thể  hỗ  trợ  lẫn nhau nhiều hơn trong công tác hòa  nhập và kết nối ASEAN. Để  làm được điều này, hai bên cần tiếp tục tăng cường hơn nữa hợp tác   song phương; tập trung mọi sức lực thực hiện bằng được nội dung tinh thần  thỏa thuận mà lãnh đạo Đảng nước đã đề ra; tiếp tục củng cố và thắt chặt hơn   nữa quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện  giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Lào ­ Việt Nam; góp phần   vào sự nghiệp bảo vệ hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và  trên thế giới. Hai bên cần tiếp tục tăng cường giáo dục để  các thế  hệ  con cháu mai sau   hiểu được ý nghĩa sống còn của quan hệ Lào ­ Việt nhằm tiếp tục duy trì, vun  đắp mối quan hệ  đặc biệt này; không ngừng củng cố  lòng tin chiến lược; tập  trung giải quyết các vấn đề còn vướng mắc và bổ sung sửa đổi những hạn chế  còn kìm hãm sự phát triển của hai bên; tích cực phát huy thế mạnh và tiềm năng   của mỗi nước; phối hợp hài hòa quan hệ  đặc biệt giữa hai nước một cách phù  hợp với tập quán quốc tế; hỗ  trợ, dành ưu tiên, ưu đãi và tạo điều kiện thuận   lợi nhất cho nhau; khuyến khích các bộ, ban ngành, địa phương và tổ chức quần  chúng của hai nước trực tiếp hợp tác, ủng hộ  và giúp đỡ  lẫn nhau một cách có  hiệu quả và thiết thực hơn; thúc đẩy hợp tác toàn diện với bước tiến mới, thành  tựu mới, tạo điều kiện thuận lợi cho nhau trong hội nhập kinh tế khu vực và thế 
  10. giới; quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng X Đảng Nhân dân  cách mạng Lào và Đại hội Đảng XII Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề  ra; tạo  bước đột phá mới cho mối quan hệ  đặc biệt giữa hai nước, giúp cho mối quan   hệ này ngày càng vững chắc và bền vững với thời gian. Thay cho lời kết bài viết này, tôi xin chia sẻ  câu chuyện về  người được   mệnh danh là người làm “cầu nối” cho tình hữu nghị Việt ­ Lào ở Hòa Bình: Cách đây hơn 1 tháng, bà Lê Hải Thiên (Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam ­   Lào tỉnh Hòa Bình) vinh dự là thành viên của tỉnh Hòa Bình đón đoàn công tác của Phó  Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đến thăm và làm việc tại Hòa Bình.  Bất ngờ vì lời chào của một vị khách nữ: "ôi chị Thiên, chị khỏe chứ… 7 năm rồi mới   lại được gặp chị”. Người thốt lên xúc cảm đó là bà Sủn­thon Xay­nha­chắc (nguyên  Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Lào tại Việt Nam). Tay bắt, mặt mừng, 2 người   gặp nhau như 2 chị em, 2 người ruột thịt sau bao năm gặp lại… Ảnh: Bà Lê Thị Hải Thiên, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam ­ Lào, (thứ  4 từ phải qua) tại Liên hoan hữu nghị nhân dân Việt ­ Lào tại Việt Nam. Ai biết được những gắn bó, tâm huyết của bà Lê Hải Thiên trong việc gây   dựng, thúc đẩy các hoạt động cho tình hữu nghị Việt Nam ­ Lào tỉnh Hòa Bình  đều không hề  ngạc nhiên bởi câu chuyện đó. Bởi mỗi hoạt động liên quan đến  tình hữu nghị Việt ­ Lào nhiều năm qua tại tỉnh luôn có những đóng góp của bà. 
  11. Nhiều đoàn công tác của nước bạn cùng những người bạn Lào  ở  Viêng­chăn,  Hủa­phăn, Luông Pha­bang… mỗi khi đến Hòa Bình đều muốn gặp người phụ  nữ này… Ngay từ khi còn nhỏ, dù sinh sống  ở  Thái Lan nhưng bà Lê Thị  Hải Thiên  đã có những cảm nhận đặc biệt về đất nước Lào, nhất là khi mẹ đẻ của bà rồi   anh trai của bà từ Thái Lan đã trở thành những “chiến sĩ bộ đội Cụ Hồ” tham gia  chiến đấu tại Lào vào những năm tháng thanh xuân nhất của cuộc đời họ. Bản   thân người mẹ (bà Lê Thị Hoan, lão thành cách mạng, nay đã mất) và anh trai đã   được trao tặng những phần thưởng cao quý của Nhà nước Lào. Những tâm  huyết, tình cảm với đất nước, cách mạng Lào được mẹ  và anh trai truyền lại   cho bà một cách tự nhiên nhất. Khi nghe theo tiếng gọi của Bác Hồ, Việt kiều hồi hương tham gia xây  dựng đất nước, bà đã có những tâm tư  và mong muốn làm sao để  luôn có mối   liên hệ, gắn bó giữa những người từng sinh sống, công tác tại Lào có chung một  “ngôi nhà”. Để  từ  đó, không chỉ  là mối chia sẻ  giữa họ  mà sâu xa hơn còn là  "cầu nối” với gia đình, thân nhân và những người bạn Lào tại nước Lào. Cao  hơn là để thúc đẩy, đóng góp vào sự  phát triển hữu nghị của 2 dân tộc. Vì thế,   “Hội thân nhân Việt kiều Lào ­ Thái Lan” (tiền thân của Hội hữu nghị Việt Nam  ­ Lào hiện nay) do bà tâm huyết gây dựng đã được  Ủy ban nhân dân  tỉnh Hòa  Bình cho phép thành lập và đi vào hoạt động từ năm 1997. Bà chia sẻ: “Dù tên gọi trước đây hay như  hiện nay, mọi nỗ  lực của các   hội viên đều hướng tới đại đoàn kết dân tộc, thúc đẩy công tác đối ngoại nhân   dân”. Dù bận công việc Nhà nước (trước đây), hay việc riêng của công ty hiện   nay, bà vẫn dành thời gian hợp lý để  tổ  chức các hoạt động gặp mặt, giao lưu  văn hóa, văn nghệ trong các dịp Tết cổ truyền Lào hay các tháng cao điểm “ Năm  đoàn kết hữu nghị Việt Nam ­ Lào”. Năm 2012, bà là một trong năm mươi đại  biểu của Việt Nam được tham gia các hoạt động “Năm đoàn kết” với 50 đại  biểu Lào tại Việt Nam. Những lần cả 2 đoàn đến các địa danh, di tích gắn với   sự  nghiệp cách mạng Việt Nam, Lào cũng như  các vị  lãnh tụ  của 2 nước (Hà  
  12. Nội, Tuyên Quang, Phú Thọ), càng vun đắp trong bà tình cảm, trách nhiệm với  tình đoàn kết, hữu nghị của 2 dân tộc. Với lợi thế  thông thạo về  ngôn ngữ, am hiểu về  đời sống văn hóa, tinh   thần cũng như phong tục, tập quán nước Lào, mỗi lần gặp gỡ các bạn Lào (tại   Lào và tại Hòa Bình), bà thực sự là “cầu nối” để những người bạn 2 nước thêm   hiểu nhau, gắn bó với nhau hơn. Bà vẫn nhớ như in các năm đoàn kết hữu nghị  Việt Nam ­ Lào trước đây hay những lần bà cùng hội thân nhân tổ chức gặp mặt  giao lưu với các bạn sinh viên Lào học tập tại Việt Nam lên thăm Hòa Bình. Cách thức tổ chức, sự gần gũi, thân thiện của bà khiến nhiều học viên xúc   động không nói nên lời. Họ thấy như gặp lại “một gia đình” lớn tại Hòa Bình,  không có rào đón, khách sáo mà thân tình,  ấm áp. Họ  thấy bà như  người mẹ,   người chị nước Lào. Nhiều người bạn Lào mà bà từng có mối thâm giao, gắn bó  như   bác   Vi­lay­văn   (tỉnh   Xa­van­na­khẹt),   Cha­lơn   Ban­my­hơ   (Nguyên   Bộ  trưởng Bộ Tư pháp Lào), anh Phu Thiêng (từng là Tùy viên quân sự Lào tại Việt  Nam)… vẫn luôn có những suy nghĩ thật tốt đẹp về  bà. Một người phụ  nữ  nhiệt thành, luôn quan tâm đến bạn bè và cuộc sống cộng đồng người Việt sinh   sống ở Lào… Với những đóng góp đó, hội và cá nhân bà đã được Chủ  nhiệm  ủy ban   người Việt Nam  ở nước ngoài, Hội liên lạc với người Việt Nam  ở nước ngoài  tặng nhiều bằng khen, giấy khen. Năm 2014, Hội đã được Thủ tướng Chính phủ  tặng bằng khen vì có nhiều đóng góp vào sự  thành công của năm đoàn kết hữu   nghị Việt Nam ­ Lào. Hiện nay, với cương vị  là Ủy viên thường vụ  Liên hiệp các tổ  chức hữu  nghị tỉnh nhiệm kỳ 2017 – 2022 Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam ­ Lào tỉnh,  bà đang  ấp  ủ  những ý tưởng mới nhằm có những đóng góp hiệu quả  hơn nữa   vào hoạt động chung của Liên hiệp và hội.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản