intTypePromotion=3

Bài giảng đa dạng sinh học

Chia sẻ: Nguyễn Thu Phương | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:47

0
460
lượt xem
178
download

Bài giảng đa dạng sinh học

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Thuật ngữ "đa dạng sinh học" được đưa ra lần đầu tiên bởi hai nhà khoa học Norse và McManus vào năm 1980. Định nghĩa này bao gồm hai khái niệm có liên quan với nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật ).

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài giảng đa dạng sinh học

  1. BÀI 1. MỞ ĐẦU I. Mục tiêu Sau khi học xong bài sinh viên phải: - Trình bày được khái niệm về đa dạng sinh học. - Trình bày được các mục tiêu nghiên cứu đa dạng sinh học. - Phân loại được các đối tượng nghiên cứu của đa dạng sinh học. II. Nội dung 1.Khái niệm đa dạng sinh học Có nhiều khái niệm khác nhau về đa dạng sinh học: Thuật ngữ "đa dạng sinh học" được đưa ra lần đầu tiên bởi hai nhà khoa học Norse và McManus vào năm 1980. Định nghĩa này bao gồm hai khái niệm có liên quan với nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật). Cho đến nay đã có hơn 25 định nghĩa nữa cho thu ật ng ữ "đa dạng sinh học" này. Theo Công ước Đa dạng sinh học(1992), khái niệm "Đa dạng sinh học" (biodiversity, biological diversity) là sự phong phú của mọi cơ th ể sống có từ tất cả các nguồn trong hệ sinh thái trên cạn, ở biển, các HST n ước khác và toàn bộ những tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên. Đa d ạng sinh h ọc bao gồm sự đa dạng trong loài(đa dạng gen – đa dạng di truy ền), đa d ạng giữa các loài và đa dạng hệ sinh thái. Đa dạng gen hay đa dạng di truyền là toàn b ộ thông tin di truy ền ch ứa đ ựng trong sinh vât (động vật, thực vật, vi sinh vật). Sự đa dạng gen th ể hiện ở mặt số lượng, hình thái và cấu trúc. Đa dạng loài là sự phong phú của loài và các phân loài trên trái đ ất, một vùng lãnh thổ, một quốc gia hay một sinh cảnh nhất định. Đa dạng hệ sinh thái là sự đa dạng các sinh cảnh, các quần xã và các quá trình sinh thái. 2. Mục tiêu nghiên cứu của đa dạng sinh học Nghiên cứu về đa dạng sinh học để thấy được giá trị,vai trò to lớn c ủa đa dạng sinh học. Nhìn nhận đa dạng sinh học trong bối cảnh thực tế để có 1
  2. những hành động phù hợp nhằm bảo tồn, phục hồi và nâng cao đa dạng sinh học. 3. Đối tượng nghiên cứu của đa dạng sinh học Đối tượng nghiên cứu của đa dạng sinh học rất rộng bao trùm t ừ m ức độ phân tử (gen) đến hệ sinh thái . 4. Giới thiệu sơ lược một số vùng giàu đa dạng sinh học trên thế giới. Nhiều bằng chứng cho thấy rằng nơi được coi là giàu tính đa dạng sinh học nhất là vùng nhiệt đới và tập trung chủ yếu ở các rừng mưa nhiệt đới. Ngoài ra các đảo san hô nhiệt đới và biển sâu cũng tìm thấy sự đa dạng phong phú của một số lớp nghành. Ví dụ rừng nhiệt đới tuy chỉ chiếm 7% diện tích bề mặt trái đất, nhưng chúng chứa ít nhất là 50%, thậm chí có thể đến 90% tổng số loài động, thực vật của trái đất (McNeely et al, 1990 trong Phạm Nhật, 1999). Nguyên nhân tại sao vùng nhiệt đới lại có tính đa dạng cao hơn những vùng khác vẫn còn đang tranh cãi nhưng một số thuyết thống nhất lí giải như sau: + Trong suốt thời gian biến đổi địa chất thì vùng nhiệt đới có khí hậu tương đối ổn định hơn so với vùng ôn đới do vậy nhiều loài có thể đảm bảo được cuộc sống tại chỗ trong khi các loài ở vùng ôn đới thường phải di cư để tránh rét. + Các quần xã sinh vật ở vùng nhiệt đới được hình thành từ lâu đời hơn so với vùng ôn đới. Chính vì vậy các loài ở vùng nhiệt đới có thời gian tiến hoá lâu đời hơn và do vậy có khả năng thích nghi cao hơn với môi trường sống. + Nhiệt độ và độ ẩm cao ở vùng nhiệt đới tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài mà chúng không thể tồn tại ở vùng ôn đới di chuyển đến và định cư tại vùng nhiệt đới. + Tỷ lệ giao phấn của thực vật vùng nhiệt đới cao hơn vùng ôn đới do sự hỗ trợ của khí hậu cũng như côn trùng. + Vùng nhiệt đới tiếp nhận nhiều năng lượng mặt trời trong năm h ơn do đó các quần xã sinh vật vùng nhiệt đới cũng có sức sản xuất sinh khối cao hơn. Chính điều này đã giúp ích cho sự phân bố của các loài, đó là cung c ấp các yêu cầu cần thiết cho sự phân bố của các loài. Về thực vật đến nay đã thống kê được khoảng 90.000 loài có mặt ở vùng nhiệt đới. Vùng nhiệt đới Nam Mỹ là nơi giàu loài nhất chiếm 1/3 tổng số loài. Braxin có 50.000 loài cây có hoa; Colombia có 35.000 loài; Venezuela có 15-25.000 loài. Vùng châu Phi kém đa dạng hơn Nam mỹ; Tanzania 10.000 loài, Camơrun 8000 loài. Trong khi đó toàn bộ vùng Bắc Mỹ, Âu, Á chỉ có 50.000 loài. Vùng Đông Nam Á có tính đa dạng khá cao, theo Van Steenis, 1971 và Yap, 1994 có tới 2
  3. 25 000 loài chiếm 10% số loài thực vật có hoa trên thế giới, trong đó có 40% là loài đặc hữu, Inđônesia có 20. 000 loài, Malaysia và Thái Lan có 12.000 loài, Đông Dương có 15.000 loài (Phạm Nhật, 1999). Tuy nhiên các nhà khoa học mới chỉ ước lượng số lượng tương đối các loài sinh vật trong các hệ sinh thái và có khoảng 80% số loài ở cạn. Con số này hoàn toàn chưa chính xác, có thể ở đại dương và các vùng bờ biển có mức đa dạng cao hơn. B ÀI 2: GEN VÀ ĐA DẠNG GEN I. Mục tiêu Sau khi học xong bài sinh viên có khả năng: - Trình bày được những đặc điểm cơ bản và vai trò của nguồn gen trong đa dạng sinh học. - Hiểu biết về đa dạng gen và giải thích được những y ếu t ố ảnh h ưởng tơí đa dạng di truyền. II. Nội dung 1. Khái niệm gen Khái niệm về gen đã phát triển qua nhiều thời kì. Các giai đoạn chính: Thời Menden(1865): Gen được hiểu như yếu tố bên trong, quyết định sự hình thành và phát triển một tính trạng bên ngoài Gen vận động từ thế hệ này sang thế hệ kia theo quy luật vận động của nhiễm sắc thể trong giảm phân, mặc dù vào th ời kì đó người ta ch ưa biết NST và giảm phân là gì. Như vậy có thể nói ở thời kì này mỗi gên Menden là một NST. Thời Morgan(1926) cho rằng: Không phải một gen mà nhiều gen cùng nằm trên một NST. Giả thuyết “một gen một enzym ” của G.Beadle và E. Tatum: Cho rằng mỗi gen quyết định sự tồn tại và hoạt tính của một enzym Quan niệm hiện đại: 1953, Oatxon – Crick đã phát hiện ra cấu trúc xoắn kép của AND. Theo đó gen được định nghĩa như sau: Gen là một oạn AND có chiều dài đủ lớn (khoảng 1000 - 2000) bazo nito đủ để mã hoá tạo ra một sản phẩm nhất định(ARN, Protein) 3
  4. Dưới ánh sáng khoa học hiện đại cấu tạo của gen được mô t ả nh ư sau: Gen nằm trên nhiễm sắc thể trong nhân tế bào và xếp thành hàng trên NST tại những vị trí nhất định gọi là Locut. Mỗi gen là một đo ạn AND g ồm 2 sợi đơn mảnh và liên tục cấu thành từ 4 bazo nito: Adenin, Guanin, Xitozin, Timin. Trình tự sắp xếp, số lượng các bazo nito quy ết định tính ch ất c ủa gen. Gen thể hiện hiệu quả của mình thông qua sản phẩm mà gen sinh ra, sản phẩm trực tiếp của gen là ARN thông qua quá trình phiên mã, t ừ ARN thông qua quá trình giải mã hay còn gọi là sinh t ổng h ợp protein đ ược s ản phẩm là protein. Từ protein thể hiện ra thành các tính trạng trên cơ thể. Như vậy những biến đổi của gen sẽ dẫn tới những biến đổi của protein và tạo thành những sai khác trên tính trạng trên cơ thể các sinh vật. 2. Đa dạng gen Đa dạng gen hay còn gọi là đa dạng di truyền, là toàn bộ thông tin di truyền chứa đựng trong các cá thể động vật, thực vật, vi sinh vật. Đa dạng gen thể hiện ở mặt số lượng , hình thái và cấu trúc. Đa dạng gen thể hiện sự tách biệt về tính thừa kế trong hay giữa các quần thể sinh vật. Quần thể (population) là tập h ợp các cá th ể c ủa m ột loài. Tuy nhiên trong quần thể có thể hình thành các quần thể đ ịa ph ương hay các quần thể giao phối. Các cá thể trong quần thể thường có bộ gen khác nhau. Như vậy sự đa dạng về bộ gen có được do sự khác biệt về bộ gen của các cá thể trong quần thể, dù là rất ít. • là tập hợp những biến đổi của các gen trong nội bộ của 1 loài. • là dạng di truyền quan trọng nhất, là chìa khóa để 1 loài có thể tồn tại lâu trong tự nhiên. 3. Một số nhân tố ảnh hưởng đến đa dạng di truyền -Những nhân tố làm giảm đa dạng di truyền +Phiêu bạt gen Đây là quá trình thường xuất hiện trong các quần thể nhỏ, gây nên biến đổi về tần số gen. Quần thể nhỏ thường có số cá thể ít do đó khi giao phối ngẫu nhiên thì tần số gen sau giao phối đôi khi bị lệch vì các alen ở quần thể nhỏ có tần số khác với các quần thể lớn. Ví dụ một quần thể gồm 10 gen trong đó có 5A và 5B. Đối với quần thể lớn, sau giao phối ngẫu nhiên các thế hệ sau thường 4
  5. vẫn có tần số gen như ban đầu. Tuy nhiên với quần thể nhỏ chỉ cần một vài cá thể không tham gia vào quá trình giao phối hoặc khả năng sinh sản kém, hoặc là tỉ lệ sống kém là tần số gen có thể bị biến tiađổi hoàn toàn, lệch so với tần số gen ban đầu chẳng hạn thành 6A và 4B hoặc là 7A và 3B, thậm chí thành 9A và 1B (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1999). + Chọn lọc tự nhiên và nhân tạo Trong quá trình tiến hoá thì bằng con đường ch ọn lọc tự nhiên, t ừ một loài tổ tiên ban đầu đã sinh ra các loài khác nhau. Tuy nhiên quá trình ch ọn lọc tự nhiên lại làm giảm lượng biến dị bởi vì quá trình này liên quan đ ến sự đào thải các cá thể kém thích nghi và giữ lại các cá thể thích nghi nhất với môi trường sống. Khác với chọn lọc tự nhiên, chọn lọc nhân tạo là chọn l ọc có đ ịnh hướng do con người tiến hành nhằm đáp ứng các mục tiêu đ ề ra. B ởi vì con người chỉ chọn lọc một số cá thể và loài nhất định và lai tạo chúng để đáp ứng nhu cầu của mình cho nên sẽ làm giảm lượng biến dị di truyền. Thực tế là khi một số loài ít ỏi được gây trồng trên diện rộng sẽ dẫn đến hiện tượng xói mòn di truyền. Xói mòn di truyền sẽ làm giảm sự đa dạng của các nguồn gen bên trong mỗi loài và làm mất đi các biến dị di truy ền cái mà các nhà chọn giống cần phải có để triển khai công tác cải thiện giống. Có th ể nói rằng những giống cây trồng và vật nuôi được con người lai tạo và sử dụng đều có nền tảng di truyền hẹp hơn so với các loài hoang dã. - Những nhân tố làm tăng đa dạng di truyền + Đột biến gen Đột biến gen là những biến đổi xảy ra trong các gen. Các đ ột bi ến gen chính là nguồn tạo ra các gen mới và là cơ sở của biến dị di truyền. Đột biến có tác dụng làm tăng lượng biến dị, cũng có nghĩa là làm tăng tính đa d ạng sinh học và đảm bảo cho sự ổn định của loài. + Sự di trú Sự xâm nhập (di trú) của các các thể lạ có th ể làm thay đ ổi t ần s ố gen trong quần thể tại chỗ. Mức độ thay đổi phụ thuộc vào mức độ của sự di trú và sự sai khác về tần số gen giữa các cá thể cũ và cá thể mới. Tất cả các nhân tố như là chọn lọc, đột biến, phiêu bạt gen, s ự di trú, cách li chính là các yếu tố chủ chốt tham gia vào quá trình ti ến hoá c ủa sinh giới, đôi khi còn được coi là động lực chính của quá trình tiến hoá. 5
  6. 4. Đa dạng nguồn gen ở Việt Nam Việt Nam là một trong những quốc gia có đa dạng sinh h ọc cao nhât thế giới.Về nguồn gen, Việt Nam được đánh giá là một trong 8 “trung tâm giống gốc” về thực vật.Có một số lượng lớn các giống vật nuôi và cây trồng. VD Việt Nam có khoảng hàng chục giống của 14 loài gia súc và gia cầm chính. Do lịch sử phát triển và phương thức canh tác lâu đời, rất nhiều giống cây trồng vật nuôi được lưu giữ và phát triển tại Việt Nam. Nhìn chung Việt Nam có nguồn gen di truyền phong phú, đặc biệt nguồn gen lúa và khoai, những loài được xem là có nguồn gốc tại Việt Nam.Nguồn gen này được xem là cơ sở cho sự lưu giư và ph ất tri ển các giống lúa và lương thực trên thế giới. Nguồn gen cây lúa được xem là nguồn gen quan trọng và có ý nghĩa nhất so với các loài cây lương thực trong nước.Khoa học sinh học hiện đại đã cho thấy nguồn gen lúa gạo của Việt Nam chứa đựng rất nhi ều nh ững gen quý hiếm. Nguồn gen bản địa là yếu tố chính tạo nên sự phong phú về đa dạng di truyền. Sự khác biệt của nguồn gen bản đ ịa là c ơ s ở cho vi ệc lai tạo thành những giống thương mại có giá trị trong tương lai. B ÀI 3: LOÀI VÀ ĐA D ẠNG LO ÀI I.Mục tiêu Sau khi học xong bài sinh viên có khả năng: Có những hiểu biết nhất định về loài và những bậc phân loại cơ bản - trong sinh giới. Nắm được ý nghĩa của đa dạng loài và những nhân tố ảnh hưởng tới - đa dạng loài. Có cái nhìn khái quát về đa dạng loài ở Việt Nam. - II.Nội dung 1.Khái niệm về loài Trong sinh học, loài là một bậc phân loại cơ bản. Các bậc phân loại cơ bản : Ngành: Division Lớp: Classic 6
  7. Bộ: Ordo Họ:Familia Tông: Tribus Chi:Genus Nhánh: sectio, Loạt: series Loài: Species Thứ: variestas Dạng:forme Một số các tiếp đầu ngữ vào các phân hạng để chỉ các bậc phụ như super(trên), sub(dưới). VD: Superordo: trên bộ Subspecies: phân loài Trong phân loại khoa học, một loài được gọi theo danh pháp gồm 2 phần, in nghiêng. Từ thứ nhất viết hoa, chỉ tên chi; từ thứ 2 ch ỉ tên loài, t ừ này thường có ý nghĩa chỉ một đặc điẻm nổi bật của loài, có th ể kèm theo người phát hiện hoặc đặt tên cho loầi đó. Vd: Người: Homo sapiens Homo chỉ tên chi, sapiens chỉ đặc điểm khôn ngoan của người. Hổ: Panthera tigris Sư tử: Panthera leo Có nhiều tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về loài, theo bách khoa toàn thư(wikipedia): “Loài là một nhóm cá thể sinh vật có nh ững đặc điểm sinh học tương đối giống nhau( hình thái,cấu tạo, sinh lý, di truyền… ), các cá thể trong loài có khả năng giao phối với nhau và sản sinh ra thế hệ tương lai”. Việc phân loại đã được tiến hành từ rất lâu đ ời, phân lo ại thông thường dựa trên những đặc điểm hình thái, cấu tạo nên không có độ chính xác cao bởi trong thiên nhiên còn tồn tại rất nhiều loài đồng hình. Sinh h ọc hiện đại đã giúp cho công tác này dễ dàng hơn. 2. Đa dạng loài Có lẽ trong tự nhiên, loài được xem là một cấp phân loại c ơ b ản (taxon), cho nên đôi khi thuật ngữ đa dạng sinh học được sử dụng rộng rãi 7
  8. như là đa dạng loài. Theo công ước đa dạng sinh học: Đa dạng loài là sự phong phú về số lượng loài, số lượng các phân loài trên trái đất, môt vùng đ ịa lí, m ột quốc gia, một sinh cảnh nhất định. Số lượng các loài đã thống kê được có thể ước tính như sau Bảng 1: Số loài sinh vật đã được mô tả trên thế giới (Wilson, 1988 có bổ sung) Số loài đã mô Nhóm Số loài đã mô Nhóm tả tả Động vật đơn Virus 1.000 30.800 bào Thực vật đơn 4.760 Côn trùng 751.000 bào Nấm 70.000 ĐVKXS khác 238.761 Tảo bậc 26.900 ĐVCXS 1.273 t h ấp Địa y 18.000 Cá 19.056 Ếch nhái Rêu 22.000 4.184 Dương xỉ 12.000 Bò sát 6.300 Hạt trần 750 Chim 9.040 Hạt kín 250.000 Thú 4.629 405.410 loài 1.065.043 loài Tổng số 1.470.453 loài Nguồn: Cao Thị Lý và Nhóm biên tập (2002 Nói chung loài là đối tượng tự nhiên nhất để xem xét tính đa dạng của sinh vật. loài cũng là sự chú ý đầu tiên của cơ ch ế ti ến hoá và ngu ồn g ốc cũng như sự tuyệt chủng của sinh vật. Đa dạng loài biểu thị toàn bộ số lượng loài trên toàn cầu, tuy nhiên s ố lượng cá thể trong từng loài cũng rất quan trọng cho việc xem xét tính DDSH. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự đa dạng loài: Sự hình thành loài mới: Loài mới được hình thành chủ yếu qua hai con đường: đa bội hoá và 8
  9. quá trình hình thành loài địa lí. Sự mất loài: Nếu như sự hình thành loài mới làm tăng tính đa dạng sinh học thì sự mất loài làm giảm tính đa dạng sinh học. 3. Sự phân bố các loài: Ở những môi trường nào thích hợp cho nhiều loài sinh vật sinh sống thì ở đó có đa dang sinh học cao nhất. Những khu rừng nhi ệt đ ới, nh ững r ạn san hô, những hồ nuớc ấm là nơi giàu có về số lượng loài. Các yếu tố lịch sử cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với s ự phân bố đa dạng các loài. Những vùng địa lý có lịch sử cổ hơn thường có số lượng các loài phong phú hơn những vung địa lí trẻ. VD: Biển Ấn Độ Dương và tây Thái Bình Dương có số lượng loài phong phú hơn vùng Đại Tây Dương trẻ hơn. Đa dạng loài cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện địa hình, nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm… Trên đất liền đa dạng loài thường tập trung ở các vùng có đ ịa hình thấp, đa dạng loài tăng theo lượng bức xạ ánh sáng mặt trời, lượng mưa và nhiệt độ. Đa dạng loài cũng tăng ở những nơi có địa hình ph ức t ạp, đa d ạng các điều kiện sinh thái 4. Đa dạng loài ở Việt Nam Việt Nam nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa, địa hình ph ức t ạp t ạo nên các điều kiện sinh thái phong phú và đa dạng.Chính nh ững đ ặc đi ểm này đã tạo cho đa dạng sinh học Việt Nam vô cùng đặc s ắc. M ặc dù đã tr ải qua các thời kì chiến tranh khốc liệt làm các hệ sinh thái tự nhiên b ị tàn phá n ặng nề cộng thêm vào đó là các hình thức sản xuất nông nghi ệp, khai thác tài nguyên không hợp lí tuy nhiên cho tới nay VN vẫn được đánh giá là m ột trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhât th ế gi ới. Đa dạng sinh học VN vẫn còn giàu có về số lượng, đa dạng và phong phú về chủng loại và thành phần. Đa dạng loài thưc vật - Đa dạng cây gỗ - Đa dạng cây trồng nông nghiệp - Đa dạng cây thuốc Đa dạng loài động vật B ÀI 4: ĐA DẠNG H Ệ SINH THÁI 9
  10. PH ẦN 1: Khái quát về HST I. Mục tiêu Sau khi học xong bài sinh viên có khả năng: Nắm và giải thích được khái niệm hệ sinh thái. - Trình bày được các đặc điểm cơ bản của hệ sinh thái. - Giải thích được cấu trúc dinh dưỡng của hệ sinh thái - II. Nội dung 1. Khái niệm HST Hệ sinh thái là hệ thống hoạt động chức năng của các sinh vật với môi trường vô sinh. Hệ sinh thái là tổ hợp bao gồm quần xã sinh vật và môi trường phân bố của quần xã (sinh cảnh). Các hệ sinh thái khác nhau có quy mô lớn nhỏ khác nhau. HST nhỏ ví dụ như một bể nuôi cá. HST trung bình như một chiếc ao, hồ. HST lớn ví dụ như một đại dương. Tập hợp tất cả các hệ sinh thái trên bề mặt Trái đất làm thành h ệ sinh thái khổng lồ - sinh quyển(sinh thái quyển). 2. Các đặc điểm cơ bản của hệ sinh thái Thành phần HST: Tất cả các HST đều gồm 2 thành phần cơ bản vô sinh (abiotic) và thành phần hữu sinh (biotic). Các thành phần vô sinh: Bao gồm tất cả các nhân tố môi trường như: ánh sáng, l ượng m ưa, nhiệt độ, dộ ẩm, chất khoáng, đất. Các nhân tố môi trường này không những cung cấp nguồn năng l ượng và vật chất cần thiết mà chúng còn đóng vai trò quan trọng trong vi ệc xác định sinh vật nào, sống ở đâu Các thành phần hữu sinh: Các thành phần hữu sinh có thể chia ra thành 3 nhóm trên c ơ s ở các hoạt động sống cơ bản: • Sinh vật sản xuất (SV tự dưỡng): Là những cây xanh có khả năng tổng hợp các chất hữu cơ để nuôi sống cơ thể từ các chất vô cơ. 10
  11. SV sản xuất hay SV tự dưỡng (Autotrophs) có nghĩa là t ự nó (auto) nuôi nó(troph). Quá trình này thực hiện nhờ quá trình quang hợp: H20 + CO2 ------------ > Hydratcacbon + CO2 • Sinh vật tiêu thụ (SV dị dưỡng): Đây là các động vật ăn cỏ hay ăn thịt các động vật khác. Gồm 4 loại SV tiêu thụ cơ bản: + SV ăn cỏ: herbivores + SV ăn thịt: Canivores + SV ăn tạp: Omnivores + SV ăn xác chết(SV phân huỷ ): Detritivores Ranh giới của hệ sinh thái: Một số trường hợp, HST có ranh giới rất rõ rệt: Ví dụ như các HST đảo hay cánh rừng, tại các HST này ta có th ể xác đ ịnh d ễ dàng các ranh gi ới. Tuy nhiên trong thiên nhiên các HST thường có ranh giới không rõ ràng: VD Khi nghiên cứu một phần rừng hay phần biển. Hệ sinh thái là một hệ thông mở: HST là một hệ thống mở tức là: Hệ sinh thái bao g ồm nhi ều thành phần nhưng các thành phần này không độc lập, tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ, tương tác với nhau. HST là một hệ thống mở tức là vật chât và năng l ượng không ch ỉ trao đổi bên trong ranh giới của HST mà còn trao đổi với các thành phần bên ngoài, với các thành phần của các HST khác. Vật chất và năng lượng mà HST thu nhận được gọi là dòng vào: input Vật chất và năng lượng mà HST mất đi được gọi là dòng ra: Output Vật chất và năng lượng trao đổi giữa các thành phần trong h ệ gọi là dòng nội lưu: Throughput Trạng thái bền vững của HST Một đặc điểm vô cùng quan trọng của HST là chúng luôn có xu hướng tự điều chỉnh để đạt tới trạng thái cân bằng, tại đó các thành ph ần của hệ nằm trong mối tương tác điều hoà và ổn định. Cơ chế của sự cân bàng này là sự điều chỉnh các dòng năng lượng và vật chất đi vào và đi ra của hệ VD: Sự điều chỉnh số lượng SV tiêu thụ và SV sản xuất. 11
  12. Sự phản hồi Sự phản hồi có ở tất cả các dạng hệ thống, Sự phản hồi là đ ặc đi ểm vô cùng quan trong khi nghiên cứu về hệ sinh thái “Phản hồi là yếu tố xuất hiện khi một thành phần của HST thay đổi kéo thêo sự thay đổi hàng loạt các yếu tố khác trong hệ thống, những thay đổi này sẽ có tác động quay trở lại thành phần ban đầu(phản hồi) ” Gồm 2 dạng : Phản hồi tích cực Phản hồi tiêu cực Là sự phản hồi mà thành Là sự phản hồi mà thành phần ban đầu sau khi chịu sự tác phần ban đầu sau khi chịu sự tác động sẽ được tăng cường động sẽ bị giảm bớt Ít xảy ra trong tự nhiên Phổ biến trong tự nhiên hơn Dẫn tới mất cân bằng sinh Là cơ chế dần tới và duy trì sự cân bằng sinh thái thái Ao nuôi cá bị ô nhiễm Các HST đồng cỏ 3. Cấu trúc dinh dưỡng của HST Chuỗi thức ăn và lưới thức ăn Sự vận chuyển năng lượng thức ăn từ thực vật qua một loạt các sinh vật khác, sinh vật này làm thức ăn cho sinh vật kia g ọi là chu ỗi th ức ăn(xích thức ăn). VD:Thực vật ĐV ăn cỏ ĐV ăn th ịt SV ho ại sinh Mặc dù các xích thức ăn rất dễ dàng nhận biết trong các ki ểu h ệ sinh thái, tuy nhiên quan hệ dinh dưỡng thường phức tạp hơn nhiều bởi vì một động vật lớn thường ăn rất nhiều loài, một động vật lớn có thể ăn nhiều loài động vật ăn cỏ và nhiều loài động vật ăn thịt khác. Tập hợp nhiều xích thức ăn có các mắt xích chung gọi là lưới thức ăn. VD: Cỏ Thỏ Hổ Cáo VSV Gà Sói 12
  13. Vị trí mỗi loài trong chuỗi thức ăn gọi là cấp vị dinh d ưỡng .Nh ư v ậy thông thường mỗi loài có nhiều hơn một cấp vị dinh dưỡng. Dòng năng lượng trong hệ sinh thái Năng lượng ánh sáng mặt trời là nguồn lực điều khiển tất cả các quá trình của các HST. Cây xanh sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời để thu hút các chất dinh dưỡng trong đất và các chất khí trong thiên nhiên để sản xuất ra các chất hữu cơ. Năng lượng đi qua HST trong xích thức ăn và mạng lưới thức ăn từ mức độ dinh dưỡng này tới mức độ dinh dưỡng khác. Bằng cách đó dòng năng lượng đi qua HST. Dòng năng lượng đi qua HST hoạt động trong khuôn kh ổ các quy luật vật lí cơ bản, gọi là các quy luật nhiệt động học. Hai quy luật nhiệt động học I và II quán triệt rằng, toàn bộ năng lượng mặt trời được cố định trong thức ăn thực vật ph ải trải qua một trong ba quá trình: Nó có thể đi qua HST bởi chuỗi và lưới thức ăn - Nó có thể tích luỹ trong HST như nguyên liệu động vật - hoặc thực vật Nó có thể đi ra khỏi HST ở dạng nhiệt hoặc sản phẩm - nguyên liệu. B ÀI 5: GIÁ TRỊ CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC I. Mục tiêu: Kết thúc bài này, sinh viên có khả năng: Giải thích được tầm quan trọng của việc định giá giá trị - của đa dạng sinh học. Trình bày được các loại giá trị và tầm quan trọng của đa - dạng sinh học. II. Nội dung 1. Định giá giá trị của đa dạng sinh học Các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, nước, các loài động th ực vật, vi sinh vật quý hiếm,…được coi là những nguồn tài nguyên chung, thuộc quyền sở hữu của toàn xã hội. Những nguồn tài nguyên này th ường không quy đổi thành tiền được. Con người với các hoạt động kinh t ế c ủa 13
  14. mình, khi sử dụng đã vô tình hoặc cố ý huỷ hoại nh ững nguồn tài nguyên này. Ở nhiều quốc gia sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên và sự xuống cấp của môi trường được xác định chủ yếu do nguyên nhân kinh tế, nên các gi ải pháp ngăn chặn phải được dựa trên các nguyên tắc kinh tế. Việc định giá giá trị của tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh h ọc là m ột vi ệc r ất khó nhưng cần thiết. Việc định giá giá trị của đa dạng sinh học phải dựa trên sự kết hợp các môn khoa học về kinh tế, phân tích kinh tế, khoa học môi trường và chính sách cộng đồng. Các nhà khoa học gọi môn học này là kinh tế môi trường.Để diễn tả và xác định được giá trị của đa dạng sinh học, người ta thường phải sử dụng hàng loạt tiêu chí kinh tế cũng như về giá trị đạo đức khác nhau. Mặt khác cũng cần phải thấy rằng các loài sinh vật đều có một chức năng nhất định trên trái đất, do đó đa dạng sinh h ọc có những giá trị không thay thế được. Do vậy khó có thể có thể xác định được hết giá trị của đa dạng sinh học. Trong thực tế có nhiều cách phân chia giá trị c ủa đa d ạng sinh học khác nhau. Tuy nhiên có một phương pháp khá phổ biến do McNeely và đồng nghiệp đề xuất. Khi đề cập đến giá trị của đa dạng sinh học, McNeely và đồng nghiệp (1990 trong Phạm Nhật, 2001) đã chia thành 2 loại giá trị đó là giá trị trực tiếp và giá trị gián tiếp. 2. Giá trị của đa dạng sinh học 2.1. Giá trị trực tiếp Giá trị trực tiếp là những giá trị thu được từ các sản ph ẩm sinh v ật được con người trực tiếp khai thác và sử dụng . Các giá trị này thường được tính toán dựa trên số liệu điều tra ở những điểm khai thác và đối chiếu với số liệu thống kê việc xuất nhập khẩu của cả nước. Giá trị trực tiếp được chia thành giá trị sử dụng cho tiêu thụ và giá trị sử dụng cho sản xuất. 2.1.1. Giá trị sử dụng cho tiêu thụ Giá trị sử dụng cho tiêu thụ được đánh giá bao gồm các sản ph ẩm tiêu dùng cho cuộc sống hàng ngày như: củi đốt và các loại sản phẩm khác cho tiêu dùng cho gia đình. Các sản phẩm này không xuất hiện trên th ị trường nên hầu như chúng không đóng góp gì vào tổng thu nhập quốc dân, nhưng nếu không có những nguồn tài nguyên này thì cuộc sống con người sẽ gặp 14
  15. những khó khăn nhất định. Sự tồn tại của con người không thể tách rời các loài sinh vật. Thế giới sinh vật mang lại cho con ng ười nhi ều s ản ph ẩm mà con người đã, đang và sẽ sử dụng như: thức ăn, gỗ, củi, nguyên liệu, dược liệu… Một trong những nhu cầu cần thiết của con người đối với tài nguyên sinh vật là nguồn đạm động vật. Ngoài nguồn từ vật nuôi, ở nhi ều vùng miền núi hàng năm còn thu được một lượng lớn thịt động vật rừng. Ở nhi ều vùng châu Phi thịt động vật hoang dã chiếm một tỷ lệ lớn trong b ữa ăn hàng ngày. Ví dụ ở Botswanna khoảng 40%, Nigeria 20%, Zaire 75% (Myers 1988b trong Phạm Nhật, 1999). Ở Botswana khoảng 3 triệu tấn th ịt th ỏ được khai thác hàng năm. Cá cũng là nguồn đạm quan trọng, hàng năm trên thế giới tiêu thụ khoảng 100 triệu tấn cá (FAO 1988 ). Ph ần l ớn số cá đánh bắt này được sử dụng ngay tại địa phương. Ở Việt Nam theo thống kê ban đầu có khoảng 73 loài thú, 130 loài chim và hơn 50 loài bò sát có giá trị kinh t ế. Cá bi ển cũng là ngu ồn th ực phẩm quan trọng, hàng năm nước ta khai thác khoảng 1,2 - 1,3 triệu tấn cá (Phạm Thược 1993 trong Phạm Nhật, 1999). Ngoài ra con người còn sử dụng hàng ngàn loài cây làm thức ăn, thức ăn gia súc, l ấy g ỗ, chi ết xu ất tinh dầu,... Giá trị sử dụng cho tiêu thụ của từng sản phẩm có thể xác định bằng cách khảo sát xem phải cần bao nhiêu tiền để mua một sản phẩm tương tự trên thị trường khi cộng đồng không còn khai thác tài nguyên thiên nhiên. 2.1.2. Giá trị sử dụng cho sản xuất Giá trị sử dụng cho sản xuất là giá trị thu được thông qua vi ệc bán các sản phẩm thu hái, khai thác được từ thiên nhiên trên thị trường như củi, gỗ, song mây, cây dược liệu, hoa quả, thịt và da động vật hoang dã . Giá trị sản xuất của các nguồn tài nguyên thiên nhiên là rất lớn ngày cả ở những nước công nghiệp. Ở các nước đang phát triển, đặc biệt là vùng nông thôn miền núi thì giá trị này còn cao hơn nhiều. Giá trị sản xuất lớn nhất cuả nhiều loài là khả năng cung cấp nguồn nguyên vật liệu cho công nghiệp, nông nghiệp và là cơ sở để cải thiện giống cây trồng, vật nuôi phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp. Đặc bi ệt quan trọng là nguồn gen lấy từ các loài hoang dã có khả năng kháng bệnh cao và ch ống chịu được điều kiện ngoại cảnh bất lợi tốt hơn. Các loài hoang dã còn là 15
  16. nguồn cung cấp dược liệu quan trọng. Rất nhiều dược phẩm được điều chế từ cây, cỏ, nấm và các loài vi sinh vật. Ở Việt Nam qua điều tra sơ bộ có khoảng 3.200 loài cây và 64 loài động vật đã được con người sử dụng làm dược liệu và thuốc chữa bệnh(Võ Văn Chi, 1997). 2.2. Giá trị gián tiếp Giá trị gián tiếp là những lợi ích do đa dạng sinh học mang lại cho cả cộng đồng. Như vậy giá trị gián tiếp của đa dạng sinh học bao gồm cả chất lượng nước, bảo vệ đất, dịch vụ nghỉ mát, thẩm mỹ, phục vụ giáo dục, nghiên cứu khoa học, điều hoà khí hậu và tích luỹ cho xã hội tương la i. Giá trị gián tiếp cũng bao gồm các quá trình xảy ra trong môi trường và các chức năng bảo vệ của hệ sinh thái. Đó là những lợi ích không đo đếm được và nhiều khi là vô giá. Vì những lợi ích này không phải là hàng hoá nên thường không được tính đến trong quá trình tính GDP của quốc gia. Tuy nhiên chúng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì những sản phẩm tự nhiên mà nền kinh tế quốc gia phụ thuộc. Giá trị gián tiếp của đa dạng sinh học có thể kể đến bao gồm: * Giá trị sinh thái Các hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất trong đó có loài người. Hệ sinh thái rừng nhiệt đới được xem như là lá phổi xanh của trái đất. Đa dạng sinh học là nhân tố quan trọng để duy trì các quá trình sinh thái cơ bản như: quang hợp của thực vật, mối quan hệ giữa các loài, bảo vệ nguồn nước, điều hoá khí hậu, bảo vệ và làm tăng độ phì đất, hạn chế sự xói mòn của đất và bờ biển…tạo môi trường sống ổn định và bền vững cho con người. * Giá trị khoa học và giáo dục: Nhiều sách giáo khoa được biên soạn, nhiều chương trình vô tuy ến và phim ảnh được xây dựng về chủ đề bảo tồn thiên nhiên với mục đích giáo dục và giải trí. Một số lượng lớn các nhà khoa học chuyên ngành, các nhà sinh thái học và những người yêu thích thiên nhiên đã tham gia tìm hi ểu và nghiên cứu thiên nhiên mà không phải tiêu tốn nhiều tiền và không đòi h ỏi nhiều loại dịch vụ cao cấp. Những hoạt động khoa học này cũng mang lại lợi nhuận kinh tế cho những khu vực nơi họ tiến hành quan sát nghiên cứu. Ngoài lợi ích về kinh tế còn là khả năng nâng cao kiến thức, tăng c ường tính giáo dục và tăng vốn sống cho con người giúp cho con người hi ểu rõ h ơn v ề 16
  17. giá trị của đa dạng sinh học. * Giá trị văn hoá và đạo đức: Ngoài những giá trị về kinh tế và sinh thái, đa dạng sinh học còn có nhiều giá trị về văn hoá và đạo đức mà nó dựa trên các nền tảng về kinh tế. Hệ thống giá trị của hầu hết các tôn giáo, triết học và văn hoá cung cấp những nguyên tắc và đạo lý cho việc bảo tồn loài. Những nguyên tắc, triết lý này được con người hiểu và quán triệt một cách dễ dàng, giúp cho con người biết bảo vệ cả những loài không mang lai giá trị kinh tế lớn. Sự đa dạng của các loài sinh vật trên thế giới có thể được ví như là cẩm nang để giữ cho trái đất của chúng ta vận hành một cách h ữu hiệu. Sự mất mát của các loài có thể ví như sự mất đi những trang sách của cuốn cẩm nang đó. Nếu như một lúc nào đó, chúng ta cần đến những thông tin của cuốn cẩm nang này để bảo vệ chúng ta và nh ững loài khác trên thế giới thì chúng ta không tìm đâu được nữa. BÀI 6: SUY THOÁI ĐA DẠNG SINH HỌC(T1) I. Mục tiêu: Kết thúc bài này, sinh viên có khả năng: • Trình bày được khái niệm và quá trình suy thoái đa dạng sinh học • Trình bày được thang bậc phân hạng mức đe doạ đa dạng sinh học II. Nội dung 1. Khái niệm về suy thoái đa dạng sinh học 1.1. Khái niệm Suy thoái đa dạng sinh học có thể hiểu là sự suy giảm tính đa dạng, bao gồm sự suy giảm loài, nguồn gen và hệ sinh thái, t ừ đó làm suy gi ảm giá trị, chức năng của đa dạng sinh học. Sự suy thoái đa dạng sinh h ọc đ ược th ể hiện ở các mặt: - Hệ sinh thái bị biến đổi - Mất loài - Mất (giảm) đa dạng di truyền 17
  18. Mất loài, sự xói mòn di truyền, sự du nhập xâm lấn của các loài sinh vật ngoại lai, sự suy thoái các hệ sinh thái tự nhiên, nh ất là rừng nhi ệt đ ới đang diễn ra một cách nhanh chóng chưa từng có mà nguyên nhân ch ủ y ếu là do tác động của con người. Một quần xã sinh vật, hệ sinh thái có thể bị suy thoái trong một vùng, song nếu tất cả các loài nguyên bản vẫn còn sống sót thì qu ần xã và h ệ sinh thái đó vẫn còn tiềm năng phục hồi. Tương tự đa dạng di truyền sẽ giảm khi kích thước quần thể bị giảm nhưng loài đó vẫn có khả năng tái tạo lại sự đa dạng di truyền nhờ đột biến và tái tổ hợp. Tuy nhiên, khi một loài bị tuy ệt chủng thì những thông tin di truyền chứa trong bộ máy di truy ền c ủa loài đó sẽ mất đi, loài đó khó có khả năng để phục hồi và con người sẽ còn ít cơ hội để nhận biết tiềm năng của loài đó. Quá trình suy thoái đa dạng sinh học Sự thay đổi đa dạng sinh học theo thời gian: Sự biến đổi điều kiện khí hậu toàn cầu, các quá trình biến động địa chất, các điều kiện tự nhiên khác …có thể làm thay đổi trực ti ếp (huỷ diệt các loài) hoặc gián tiếp suy giảm đa dạng sinh học khi thay đổi các điều kiện sinh thái như nơi ở, điều kiện đất đai, chế độ nước… Dựa trên những mẫu hoá thạch thu được, người ta cho rằng sự sống xuất hiện trên Trái đất vào cuối tiền cambri và đầu cambri . Đa dạng sinh học sau đó tăng lên, và sau gần 3 tỉ năm có th ể nói đạt tới c ực đại. Sau đó, những biến cố của thiên nhiên làm cho các loài bị huỷ diệt mạnh mẽ, theo Raup(1978) tính trung bình khoảng 5 năm lại có một loài bị mất. Trong giai đoạn từ kỷ Cambrian đến nay, các nhà cổ sinh học cho rằng có ít nhất 5 lần bị tuyệt chủng hàng loạt: - Tuyệt chủng lần thứ nhất diễn ra vào cuối kỷ Ordovican (cách đây khoảng 450 triệu năm), khoảng 12% các họ động vật biển và 60% số loài động thực vật bị tuyệt chủng. - Tuyệt chủng lần thứ hai diễn ra vào cuối kỳ Devon (cách đây khoảng 365 triệu năm) và kéo dài khoảng 7 triệu năm đã gây nên sự biến mất của 60% tổng số loài còn lại sau lần tuyệt chủng lần thứ nhất. - Tuyệt chủng lần thứ ba là nghiêm trọng nhất kéo dài khoảng 1 triệu năm diễn ra vào kỷ Permian (cách đây khoảng 242 triệu năm) đã xoá sổ 54% số họ 18
  19. và khoảng 77 - 96% số loài động vật biển, 2/3 số loài bò sát, ếch nhái và 30% số bộ côn trùng. - Tuyệt chủng lần thứ tư xảy ra vào cuối kỷ Triassic (cách đây khoảng 210 triệu năm) với khoảng 20% số loài sinh vật trên trái đất bị tiêu diệt. Hai đợt tuyệt chủng thứ ba và thứ tư quá gần nhau vì vậy quá trình phục hồi lại hoàn toàn phải mất khoảng 100 triệu năm (Wilson, 1992 trong N.H.Nghĩa, 1999). - Tuyệt chủng lần thứ năm diễn ra vào cuối kỷ Cretacis và đầu kỷ Tertiary (cách đây khoảng 65 triệu năm). Đây được coi là lần tuyệt chủng nổi tiếng nhất. Ngoài các loài thằn lằn khổng lồ, hơn một nửa loài bò sát và một nửa loài sống ở biển đã bị tuyệt chủng. Nhiều nhà địa chất và địa sinh học khẳng định rằng, nhiều rừng mưa nhiệt đới của nam Mỹ và châu Phi đã chuyển thành các xavan khô trong su ốt thời kì tiền băng hà. Rừng mưa nhiệt đới bị thu nhỏ lại, và số lượng loài giảm đi mạnh mẽ. Như vậy theo lịch sử hình thành và phát triển của s ự sống, đa d ạng sinh học cũng có những biến động sâu sắc. Sự thay đổi đa dạng sinh học theo không gian Nhìn chung, trong điều kiện tự nhiên, đa dạng loài thường cao ở những vùng có điều kiện khí hậu ấm áp và giảm dần ở những nơi có điều kiện lạnh hơn theo cao độ và vĩ độ. Trên đất liền đa dạng sinh học thường giàu ở những nơi mưa nhiều và nghèo ở những nơi khô hạn. Đa dạng sinh học cao nhất vẫn là ở những vùng rừng ẩm nhiệt đới. Đa dạng sinh học cũng cao ở những rạn san hô, những hồ nước ấm. Các yếu tố lịch sử cũng đóng vai trò quan trọng đối với s ự phân bố loài, các vùng địa lí có lịch sử cổ hơn có số lượng loài phong phú h ơn các vùng có tuổi địa lí trẻ hơn. Nói chung, đa dạng sinh học chịu ảnh hưởng sâu sắc của các điều kiện địa hình, ánh sáng, lượng mưa và các điều kiện sinh thái khác. 2. Các thang bậc phân hạng chính 2.1. Tuyệt chủng(EX) - extinct Cùng với những biến cố về lịch sử, về kinh tế xã hội, đa dạng sinh học trên toàn cầu đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng. Một trong những dấu hiệu quan trọng nhất của sự suy thoái đa dạng sinh học là sự tuyệt chủng loài do môi trường sống bị thay đổi. 19
  20. Khái niệm tuyệt chủng có nhiều nghĩa khác nhau. Một loài bị coi là tuyệt chủng khi không còn một cá thể nào của loài đó còn sống sót ở bất kỳ đâu trên thế giới. Ví dụ: loài chim Vermivora bachmaii, cá thể cuối cùng của loài này được nhìn thấy trong những năm của thập kỷ 60. Loài mà ch ỉ còn một số cá thể còn sót lại nhờ sự chăm sóc, nuôi trồng c ủa con ng ười thì được coi là đã bị tuyệt chủng trong hoang dã, ví dụ loài Hươu sao (Cervus nippon) ở Việt Nam. Một loài được coi là tuyệt chủng cục bộ nếu như nó không sống sót tại những nơi chúng đã từng sống, nhưng người ta vẫn tìm thấy chúng tại những nơi khác trong thiên nhiên. Một số nhà sinh thái học sử dụng cụm từ “loài bị tuyệt chủng về phương diện sinh thái học”, có nghĩa là số lượng cá thể của loài còn lại ít đến mức ảnh hưởng của nó không còn ý nghĩa đến những loài khác trong quần xã . Ví dụ: loài Hổ (Panthera tigris) hiện nay bị tuyệt chủng về phương diện sinh thái học, điều này có nghĩa là số lượng hổ hiện nay còn trong thiên nhiên rất ít và tác động của chúng đến quần thể động vật mồi là không đáng kể. Ngoài ra trong nghiên cứu đa dạng sinh học còn có một hiện tượng khác, đó là “cái chết đang sống”. Khi quần thể của loài có số lượng cá thể dưới mức báo động, nhiều khả năng loài sẽ bị tuyệt chủng . Đối với một số quần thể trong tự nhiên, một vài cá thể vẫn còn có thể sống sót dai dẳng vài năm, vài chục năm; chúng có thể vẫn sinh sản nhưng số phận cuối cùng của chúng vẫn là sự tuyệt chủng (nếu như không có sự can thiệp của công nghệ sinh học). Cây lấy gỗ là một ví dụ điển hình, một cây sống tách biệt, không sinh sản có thể sống đến hàng trăm năm. Những loài này được coi là hiện thân của “cái chết đang sống” mặc dù về phương diện chuyên môn nó chưa bị tuyệt chủng nếu như một vài cá thể của loài vẫn sống, nhưng lúc này quần thể không thể tồn tại và sinh sản một cách khoẻ mạnh, sung sức nữa. Dù muốn hay không tương lai của loài cũng chỉ giới hạn trong vòng đời của những cá thể còn sống sót đó. 2.2 Rất nguy cấp - CR (Critical Endangered): Một loài được coi là rất nguy cấp khi nó phải đối mặt với những mối đe doạ tuyệt chủng tự nhiên rất lớn trong một tương lai gần , theo định nghĩa từ mục A - E dưới đây: 2.3. Nguy cấp - EN (Endangered) Một loài được coi là nguy cấp khi nó chưa phải là nguy cấp cao nhưng nó đang phải đối mặt với những mối đe doạ tuyệt chủng tự nhiên rất lớn trong một tương lai gần 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản