
Bài 4: Phân tích mối quan hệ giữa chi phí,
sản lượng và lợi nhuận
TXKTKQT01_Bai4_v1.0015102203 49
BÀI 4 PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI PHÍ, SẢN LƯỢNG
VÀ LỢI NHUẬN
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
thảo luận trên diễn đàn.
Đọc tài liệu:
1. Nguyễn Ngọc Quang (Chủ biên) (2012), Giáo trình Kế toán quản trị, Nhà xuất bản
Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
2. Ngô Thế Chi (Chủ biên) (2008), Giáo trình kế toán quản trị, Nhà xuất bản Tài
chính, Hà Nội.
3. Võ Văn Nhị (Chủ biên) (2006), Giáo trình kế toán quản trị, Nhà xuất bản Đại học
Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc
qua email.
Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học.
Nội dung
Bài 4 trong Học phần Kế toán quản trị 1, nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa chi phí
–
sản lượng – lợi nhuận (C–V–P) là cần thiết cho việc quản trị thành công một doanh nghiệp.
Phân tích C–V–P cho thấy ảnh hưởng của lợi nhuận là do sự thay đổi doanh thu, chi phí,
cơ cấu tiêu thụ và giá bán sản phẩm. Phân tích C–V–P. Báo cáo này cho phép nhà quản trị
dự đoán được ảnh hưởng của sự biến động doanh thu tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Báo
cáo này cũng cho thấy rõ được cơ cấu chi phí của doanh nghiệp đã phù hợp chưa. Cơ cấu
chi phí của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến độ lớn đòn bẩy kinh doanh và lợi nhuận, theo
tốc độ tăng, giảm của doanh thu. Qua nghiên cứu phân tích C–V–P góp phần cho các nhà
quản trị chủ động trong các quyết định kinh doanh ngắn hạn và dài hạn.
Mục tiêu
Hiểu được các khái niệm cơ bản phục vụ cho phân tích quan hệ C–V–P như lợi nhuận
góp, tỷ lệ lợi nhuận góp, cơ cấu sản phẩm tiêu thụ, cơ cấu chi phí, độ lớn đòn bẩy kinh
doanh, doanh thu an toàn.
Phân tích điểm hòa vốn trong các trường hợp sản xuất tiêu thụ một loại sản phẩm và
các loại sản phẩm khác nhau.
Đưa ra các quyết định kinh doanh dựa trên phân tích quan hệ C–V–P.

Bài 4: Phân tích mối quan hệ giữa chi phí,
sản lượng và lợi nhuận
50 TXKTKQT01_Bai4_v1.0015102203
Tình huống dẫn nhập
Bài học kinh nghiệm của Công ty TM ABC
Công ty thương mại ABC mới gia nhập vào thị trường phân phối các loại áo sơ mi trên thị
trường miền Bắc. Để bắt đầu thâm nhập thị trường, công ty lựa chọn loại áo thuộc phân khúc
thị trường bình dân vì quy mô của phân khúc này là lớn nhất. Công ty ABC đã tìm được một
nguồn cung cấp hàng hóa khá ổn định với mức giá phải chăng. Giám đốc doanh nghiệp cũng
đã tìm thuê được ngôi nhà mặt tiền một khu phố khá sầm uất làm trụ sở kinh doanh. Bên
cạnh đó ông ta cũng dễ dàng tuyển được 6 nhân viên bán hàng với mức lương thỏa thuận là
5.000.000 đồng/tháng.
Tuy nhiên sau tháng đầu tiên kinh doanh công ty chỉ đạt mức tiêu thụ 300 sản phẩm đồng
thời thua lỗ 25.000.000 đồng. Giám đốc doanh nghiệp nhận ra rằng việc mở cửa hàng là quá
vội vàng. Và nếu công ty không có các biện pháp xử lý thì công ty có thể phải đóng cửa ngay
trong tháng kinh doanh thứ hai.
1. Nếu muốn bắt đầu hoạt động kinh doanh thì mức tiêu thụ tối thiểu công ty
cần đạt trong một tháng là bao nhiêu? Bài học kinh nghiệm gì được rút ra
trong tình huống của công ty ABC?
2. Để cứu vãn tình trạng hiện tại công ty ABC cần những biện pháp cụ thể nào?

Bài 4: Phân tích mối quan hệ giữa chi phí,
sản lượng và lợi nhuận
TXKTKQT01_Bai4_v1.0015102203 51
4.1. Ý nghĩa phân tích mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng và lợi nhuận trong
doanh nghiệp
Mục tiêu của các nhà quản trị kinh doanh là tối đa
hoá lợi nhuận của mọi hoạt động. Do vậy trong kinh
doanh các nhà quản trị thường có các biện pháp sử
dụng hữu hiệu tài sản để giảm chi phí thấp nhất
nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. Trong các hoạt
động kinh doanh hàng ngày, các nhà quản trị thường
phải đưa ra các quyết định cho mọi hoạt động. Do
vậy phân tích mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng
và lợi nhuận chính là cơ sở khoa học ra các quyết
định như:
Định giá bán đơn vị sản phẩm để phù hợp với thu nhập của khách hàng, thị trường
tiêu thụ và tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Tăng, giảm chi phí khả biến đơn vị sản phẩm để nâng cao chất lượng sản phẩm,
dịch vụ nhằm thích nghi với nhu cầu khách hàng.
Đầu tư chi phí cố định để tăng nhanh về công suất, chất lượng sản phẩm thỏa mãn
nhu cầu thị trường.
Xác định sản lượng sản phẩm tiêu thụ như thế nào để đạt lợi nhuận tối đa và khai
thác hết công suất của máy móc thiết bị và các tài sản đã đầu tư nhằm giảm chi phí
bình quân thấp nhất.
Xác định cơ cấu sản phẩm sản xuất và tiêu thụ phù hợp nhằm khai thác khả năng
tiềm tàng của các yếu tố sản xuất và nhu cầu của thị trường.
4.2. Các khái niệm phục vụ cho phân tích mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng
và lợi nhuận
4.2.1. Lợi nhuận góp (contribution margin)
Lợi nhuận góp hay còn gọi là lãi theo biến phí là số tiền còn lại của doanh thu bán
hàng sau khi đã trừ đi chi phí khả biến. (Khoản chênh lệch giữa giá bán chưa có thuế
của sản phẩm và biến phí của sản phẩm đó). Như vậy có nhiều tên gọi khác nhau về
khái niệm này, song bản chất đó chính là phần để bù đắp định phí và tạo ra lợi nhuận
cho doanh nghiệp.
Ta có các khái niệm về lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm, lợi nhuận góp 1 loại sản phẩm
và lợi nhuận góp bình quân.
Cách tính tổng quát lợi nhuận góp như sau:
Lợi nhuận góp = Doanh thu – Biến phí tương ứng
với doanh thu
Đối với 1 đơn vị sản phẩm thì lợi nhuận góp chính là doanh thu của sản phẩm đó trừ
đi chi phí khả biến của nó.
Lợi nhuận góp bình quân chỉ áp dụng khi doanh nghiệp sản xuất ra nhiều loại sản
phẩm, các sản phẩm thường mang tính đồng chất.

Bài 4: Phân tích mối quan hệ giữa chi phí,
sản lượng và lợi nhuận
52 TXKTKQT01_Bai4_v1.0015102203
Tổng lợi nhuận góp
Lợi nhuận góp
bình quân = Tổng sản lượng sản phẩm
Lợi nhuận góp là chỉ tiêu kinh tế phản ánh kết quả kinh doanh của từng bộ phận hay toàn
doanh nghiệp. Chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản trị doanh nghiệp:
Lợi nhuận góp là chỉ tiêu cơ bản dùng để trang trải chi phí cố định và là bộ phận
quan trọng để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
o Nếu lợi nhuận góp < Chi phí cố định thì doanh nghiệp kinh doanh bị lỗ do
không đủ để trang trải định phí.
o Nếu lợi nhuận góp = Chi phí cố định thì doanh nghiệp hòa vốn vì khi đó lợi
nhuận góp bù đắp vừa đủ chi phí cố định.
o Nếu lợi nhuận góp > Chi phí cố định thì doanh nghiệp kinh doanh có lãi vì thừa
trang trải định phí.
Để phân tích kết quả kinh doanh của từng hoạt động, từng sản phẩm, ta cần tính
tổng lợi nhuận góp, lợi nhuận góp bình quân, lợi nhuận góp theo từng loại sản
phẩm và cho từng đơn vị sản phẩm. Đối với loại sản phẩm nào có lợi nhuận góp
cao nhất đó chính là sự hấp dẫn của các nhà đầu tư vào sản phẩm đó. Khi doanh
nghiệp thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thì lợi nhuận góp bình quân
cũng thay đổi theo.
Trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh nhiều loại sản phẩm, mỗi sản phẩm có
mức lợi nhuận góp khác nhau. Do vậy khi tăng cùng một mức sản lượng, những sản
phẩm có lợi nhuận góp cao thì mức độ tạo ra lợi nhuận nhiều hơn. Khi giảm cùng một
mức sản lượng, doanh nghiệp nên chọn các sản phẩm có lợi nhuận góp thấp, nhằm
đảm bảo an toàn cho hoạt động.
Khi điểm hoà vốn đã đạt được thì lợi nhuận sẽ tăng tỷ lệ theo lợi nhuận góp đơn vị sản
phẩm bán được tăng thêm kể từ khi hoà vốn. Do vậy, ta có thể tính lợi nhuận ở các
mức độ hoạt động khác nhau khi đã đạt hòa vốn theo công thức sau:
Công thức 1:
Lợi nhuận = Số lượng sản phẩm bán
trên điểm hòa vốn lợi nhuận góp
đơn vị sản phẩm
Công thức 2:
Lợi nhuận = Số lượng sản
phẩm tiêu thụ
lợi nhuận
góp đơn vị
sản phẩm
– Chi phí
cố định
4.2.2. Tỷ lệ lợi nhuận góp (tỷ lệ lãi theo biến phí)
Tỷ lệ lợi nhuận góp hay còn gọi là tỷ lệ lãi theo biến phí là chỉ tiêu biểu hiện mối quan
hệ tỷ số giữa tổng lợi nhuận góp và doanh thu (giá bán chưa thuế sản phẩm).
Ta có các khái niệm về tỷ lệ lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm, tỷ lệ lợi nhuận góp 1 loại
sản phẩm, tỷ lệ lợi nhuận góp bình quân.
Tỷ lệ lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm là tỷ số giữa lợi nhuận góp và doanh thu của sản
phẩm đó. Tỷ lệ lợi nhuận góp của 1 sản phẩm và 1 loại sản phẩm là như nhau. Tỷ lệ

Bài 4: Phân tích mối quan hệ giữa chi phí,
sản lượng và lợi nhuận
TXKTKQT01_Bai4_v1.0015102203 53
lợi nhuận góp bình quân thường áp dụng khi doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ nhiều
loại sản phẩm khác nhau.
Cách tính
Tổng lợi nhuận góp một loại sản phẩm
Tỷ lệ lợi nhuận góp
một loại sản phẩm = Tổng doanh thu một loại sản phẩm
Số sản phẩm tiêu thụ lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm
= Số sản phẩm tiêu thụ Giá bán đơn vị sản phẩm
Lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm
= Giá bán đơn vị sản phẩm
Tổng lợi nhuận góp
Tỷ lệ lợi nhuận góp
bình quân = Tổng doanh thu tiêu thụ
Tỷ lệ lợi nhuận góp là chỉ tiêu kinh tế phản ánh hiệu quả kinh doanh của các bộ phận
hay toàn doanh nghiệp. Chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản trị
như sau:
Tỷ lệ lợi nhuận góp cho ta biết trong 1 đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng dùng
để trang trải chi phí khả biến và còn lại bao nhiêu đồng phần thuộc về lợi nhuận
góp dùng để bù đắp chi phí cố định.
Tỷ lệ lợi nhuận góp cho phép doanh nghiệp xác định khả năng sinh lời của từng
loại sản phẩm. Trong trường hợp cùng tăng một mức doanh thu như nhau, những
sản phẩm có tỷ lệ lợi nhuận góp cao thì tốc độ tạo ra lợi nhuận nhanh và đó chính
là sự hấp dẫn của các nhà đầu tư.
Tỷ lệ lợi nhuận góp là một kênh thông tin quan trọng khi đánh giá hiệu quả kinh
doanh của các sản phẩm, dịch vụ, phương án đầu tư, dùng để so sánh với các chỉ
tiêu khác khi đưa ra quyết định lựa chọn phương án kinh doanh.
Khi hoà vốn, tỷ lệ lợi nhuận góp cũng chính là tỷ lệ tăng lợi nhuận khi doanh thu
tiêu thụ sản phẩm tăng lên. Ta có thể xác định lợi nhuận của doanh nghiệp dựa vào
các công thức sau:
Công thức 1:
Lợi nhuận = Doanh thu tiêu thụ
trên điểm hòa vốn Tỷ lệ lợi nhuận góp sản phẩm
Công thức 2:
Lợi nhuận = Doanh thu tiêu
thụ sản phẩm Tỷ lệ lợi nhuận
góp sản phẩm – Chi phí cố định
4.2.3. Cơ cấu sản phẩm tiêu thụ
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp thường kinh doanh đa ngành hàng, nhiều
loại sản phẩm, dịch vụ khác nhau. Mỗi một mặt hàng thường có vai trò khác nhau
trong việc tạo ra doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do vậy các nhà quản trị
cần phải chọn những sản phẩm có doanh thu và lợi nhuận cao nhất trong trong tổng
các mặt hàng kinh doanh. Hay nói một cách khác cơ cấu của các sản phẩm tạo ra lợi

