
Bài 6: Các mô hình độc quyền tập đoàn
TX KHMI02_Bai 6_v1.0014107222 65
BÀI 6 CÁC MÔ HÌNH ĐỘC QUYỀN TẬP ĐOÀN
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
thảo luận trên diễn đàn.
Đọc tài liệu:
1. PGS.TS. Phạm Văn Minh (2011), Giáo trính Kinh tế học vi mô 2, NXB Lao động
xã hội.
2. PGS.TS. Vũ Kim Dũng – PGS.TS. Phạm Văn Minh (2011), Hướng dẫn thực
hành Kinh tế học vi mô 2, NXB Lao động xã hội.
3. PGS.TS. Vũ Kim Dũng – PGS.TS. Nguyễn Văn Công (2012), Giáo trình kinh tế
học tập 1, NXB Đại học Kinh tế quốc dân.
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email.
Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học.
Nội dung
Trong phần 1 chúng ta mới nghiên cứu đơn giản về lý thuyết trò chơi trong cấu trúc thị
trường này. Phần 2 sẽ cung cấp cho chúng ta cái nhìn tổng quan hơn nhiều về các mô hình
p
hức tạp của cấu trúc thị trường này như mô hình cấu kết và mô hình không cấu kết. Việc
p
hân chia sản lượng và đặt giá trong từng mô hình.
Mục tiêu
Hiểu được bản chất các mô hình trong độc quyền tập đoàn.
Vận dung lý thuyết vào thực tế khi xây dựng chiến lược kinh doanh.
Làm được các loại bài tập trong các mô hình khác nhau.

Bài 6: Các mô hình độc quyền tập đoàn
66 TX KHMI02_Bai 6_v1.0014107222
Tình huống dẫn nhập
Độc quyền tập đoàn trong ngành hàng không: tốt hay xấu?
Không phải tất cả các hãng độc quyền tập đoàn đều xấu. Một số có thể có mang lại tác động tích
cực. Lợi nhuận dồi dào của các hãng có thể được sử dụng để tài trợ cho hoạt động nghiên cứu
phát triển các sản phẩm mới hoặc để cải tiến dịch vụ (máy tính là một ví dụ điển hình). Các hãng
lớn còn có thể có được tính kinh tế theo quy mô.
Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy các hãng hàng không hiếm khi có lợi nhuận lớn, và nếu
có lợi nhuận lớn để có thể đầu tư cho nghiên cứu và phát triển thì nhu cầu cho đầu tư phát triển
lại nằm ở các ngành khác có liên quan như thiết kế và sản xuất máy bay hay ngành kiểm soát
không lưu. Ngoài ra, kinh doanh hàng không có tính kinh tế theo quy mô nhưng thật nghịch lý là
các hãng hàng không lớn lại hoạt động ít hiệu quả hơn so với những hãng nhỏ. Vì vậy, cả hai tác
động tích cực của độc quyền tập đoàn đều không tồn tại ở các hãng hàng không.
Hãy xác định nhược điểm của mô hình độc quyền tập đoàn trong ngành hàng không?

Bài 6: Các mô hình độc quyền tập đoàn
TX KHMI02_Bai 6_v1.0014107222 67
6.1. Mô hình độc quyền tập đoàn không cấu kết
6.1.1. Mô hình Cournot
Mô hình này được Augustin Cournot đưa ra vào năm 1838. Để đơn giản trước hết
chúng ta xem xét trường hợp thị trường độc quyền tập đoàn có hai hãng. Giả định rằng
các hãng sản xuất sản phẩm giống nhau và họ biết trước đường cầu thị trường (DTT: P
= f(Q)). Mỗi hãng phải quyết định sản xuất bao nhiêu sản lượng một cách đồng thời
trên cơ sở cân nhắc hành vi của đối thủ. Vì sản phẩm là giống nhau nên mức giá bán
sẽ phụ thuộc vào tổng sản lượng của cả 2 hãng thông qua đường cầu thị trường.
Trong mô hình này, mỗi hãng sẽ coi sản lượng của đối thủ cạnh tranh là cố định và từ
đó đưa ra mức sản lượng của mình. Nếu hãng 1 cho rằng hãng 2 sản xuất Q2 đơn vị thì
đường cầu của hãng 1 (D1) sẽ bằng đường cầu thị trường (DTT) trừ đi Q2 đơn vị tại
mỗi mức giá. Từ đường cầu của mình, hãng 1 sẽ xác định được mức sản lượng tối ưu
theo nguyên tắc MR1 = MC1, và mức sản lượng này được xác định là một hàm số của
mức sản lượng dự tính của hãng 2. Như vậy, mức sản lượng tối đa hoá lợi nhuận của
hãng 1 hoàn toàn phụ thuộc vào việc nó dự tính sản lượng của hãng 2 là bao nhiêu,
Q1* = g(Q2). Quan hệ này được gọi là đường phản ứng của hãng 1. Tương tự, ta có
đường phản ứng của hãng 2, Q2* = h(Q1).
Cân bằng đạt được tại vị trí giao cắt giữa 2 đường phản ứng của 2 hãng (điểm A). Tại
đó mỗi hãng dự báo chính xác về sản lượng của đối thủ và thực hiện được hành vi tối
đa hoá lợi nhuận. Do đó các hãng không có động cơ chuyển ra khỏi vị trí này. Điểm
này được gọi là cân bằng Nash –Cournot bởi đây chính là một cân bằng Nash. Tuy
nhiên nếu các hãng sản xuất ở điểm khác với vị trí cân bằng thì quá trình điều chỉnh
về điểm cân bằng không giải thích được trong mô hình này.
Chúng ta mở rộng mô hình với giả định rằng có nhiều hãng trên thị trường độc quyền
tập đoàn chứ không phải chỉ 2 hãng như trường hợp trên. Tất cả các hãng sản xuất
cùng loại sản phẩm và có cầu thị trường là: DTT: P = P(Q) với: Q = Q1 +…+ Qn.
Hình 6.1. Mô hình Cournot
Lợi nhuận của hãng i trên thị trường sẽ là: iii TCQQP
).(
Để tối đa hoá lợi nhuận hãng này cần đảm bảo điều kiện:
Q1
0 Q2
Q1*= g(Q2)
Cân bằng Cournot
Q2*= h(Q1)
Q2*
Q1*

Bài 6: Các mô hình độc quyền tập đoàn
68 TX KHMI02_Bai 6_v1.0014107222
0.. ii
ii
iMCPQ
dQ
dQ
dQ
dP
dQ
d
MC
dQ
dQ
Q
Q
P
Q
dQ
dp
P
i
i )...1(
MC
dQ
dQ
Q
Q
E
P
i
i
DP
)..
1
1(
Nếu đặt Qi/Q = Si, thì đây chính là thị phần của hãng i trên thị trường. Gọi a là mức độ
phản ứng của các đối thủ cạnh tranh, theo nghĩa là khi hãng i tăng sản lượng thêm 1
đơn vị thì các đối thủ khác trên thị trường sẽ tăng a đơn vị sản lượng. Như vậy:
dQ/dQi = 1 + a
Vì vậy, công thức trên có thể viết thành:
MC
E
aS
P
DP
i
)
)1(
1(
)
)1(
1(
DP
i
E
aS
MC
P
hoặc: ))1(( aSE
E
MCP
iDP
DP
Như vậy, thị trường độc quyền tập đoàn đạt được cân bằng Cournot tại mức giá trên.
Nếu thị phần của mỗi hãng vô cùng nhỏ như cạnh tranh hoàn hảo, Si = 0, ta có P =
MC: các hãng quyết định theo nguyên tắc giá bằng với chi phí cận biên. Ngược lại,
trong trường hợp có duy nhất 1 hãng trên thị trường, Si = 1, a = 0, ta có:
)
1
1(
DP
E
MC
P
. Như vậy giải pháp giá trong trường hợp này cũng giống như trong thị
trường độc quyền bán thuần tuý.
6.1.2. Mô hình Stackelberg – Lợi thế đi trước
Trong mô hình Cournot, chúng ta giả định 2 hãng ra quyết định sản lượng một cách
đồng thời. Điều gì sẽ xảy ra nếu một hãng đưa ra quyết định sản lượng trước và các
hãng khác sẽ quyết định sau? Mô hình Stackelberg sẽ phân tích cân bằng thị trường
trong tình huống này.
Mô hình này cũng lấy ví dụ hai hãng từ mô hình Cournot, đường cầu thị trường là
DTT: P = f(Q), với giả định hãng 1 sẽ là hãng quyết định trước. Vì hãng 2 ra quyết
định sau, nên hãng 2 sẽ coi sản lượng của hãng 1 là cho trước, và có hàm phản ứng là:
Q2 = h(Q1) (được xây dựng giống như mô hình Cournot).
Quay trờ lại hãng 1, hãng 1 sẽ quyết định tại điểm doanh thu cận biên cân bằng với chi
phí cận biên của hãng. Tổng doanh thu của doanh nghiệp 1 là:
TR1 = P.Q1 = f(Q).Q1 = f(Q1 + Q2).Q1

Bài 6: Các mô hình độc quyền tập đoàn
TX KHMI02_Bai 6_v1.0014107222 69
Do Q2 là sản lượng mà hãng 1 dự báo hãng 2 sẽ sản xuất theo hàm phản ứng của hãng
2, ta thay hàm phản ứng này vào công thức tổng doanh thu trên và kết quả ta có:
TR1 = f(Q1 + h(Q1)).Q1
Từ đó, ta có thể xác định được doanh thu cận biên MR1 chỉ là hàm số của Q1, và theo
nguyên tắc tối đa hoá lợi nhuận MR1 = MC1, ta có thể xác định được mức sản lượng
tối đa hoá lợi nhuận của hãng 1. Thay Q1 trở lại hàm phản ứng của hãng 2, ta sẽ xác
định được mức sản lượng tối ưu của hãng 2. Khi đó, giá bán sản phẩm trên thị trường
sẽ là P = f(Q1 + Q2).
6.1.3. Mô hình đường cầu gãy khúc và tính cứng nhắc về giá
Năm 1939, P.Sweezy xuất bản một bài báo trong đó, ông giới thiệu mô hình đường
cầu gãy khúc để xác định điểm cân bằng trong thị trường độc quyền tập đoàn. Mô
hình này của ông vẫn có vị trí quan trọng với vai trò là “lý thuyết về độc quyền tập
đoàn” trong hầu hết các giáo trình về kinh tế vi mô.
Theo mô hình này, đường cầu của hãng độc quyền tập đoàn là một đường gẫy khúc
(điểm E trong hình 6.2). Khi một hãng giảm giá, hãng sẽ cho rằng đối thủ cạnh tranh
cũng sẽ giảm giá theo, do đó mặc dù cầu trên thị trường tăng nhưng thị phần của các
hãng có thể vẫn không đổi. Tuy nhiên, khi hãng tăng giá, đối thủ có thể sẽ không có
hành vi tương tự, và hãng sẽ mất đi một lượng khách hàng đáng kể của mình chuyển
sang mua sản phẩm của các hãng khác. Do đó, khi giá tăng cao hơn P* (tương ứng tại
điểm gẫy khúc) thì đường cầu sẽ thoải hơn đoạn cầu ở dưới.
Hình 6.2. Tính “cứng nhắc” của giá
Như vậy, đường cầu gãy khúc là sự hợp thành của hai đoạn cầu riêng biệt có độ
dốc khác nhau. Mỗi đoạn cầu này có đường doanh thu cận biên riêng biệt (tương
ứng là MR1 và MR2) và có một khoảng gián đoạn giữa hai đoạn doanh thu cận biến
này. Chính khoảng gián đoạn này giải thích quan trọng cho hành vi của các hãng
độc quyền tập đoàn. Sự giảm xuống của chi phí sản xuất thường dẫn đến gia tăng
sản lượng và giảm mức giá bán, nhưng điều này có thể không đúng với độc quyền
tập đoàn.
Trong hình 6.2, Q* là sản lượng tối ưu cho không chỉ ở mức chi phí MC1 mà cả MC2
hoặc MC bất kỳ nằm trong khoảng gián đoạn của đường doanh thu cận biên, và khi đó
O
d1
P*
P
Q* MR2 Q
MC
MC2
MR1 d2
MC1
E

