Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

intTypePromotion=1
ADSENSE

Bài giảng Kinh tế tổ chức (Dành cho sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh)

Chia sẻ: Dương Hàn Thiên Băng | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:47

6
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài giảng Kinh tế tổ chức (Dành cho sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh) cung cấp cho học viên những nội dung về: vốn sản xuất kinh doanh; giá thành sản phẩm, doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp; tổ chức quản lý doanh nghiệp; tổ chức lao động và tiền lương;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài giảng Kinh tế tổ chức (Dành cho sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh)

  1. BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH BỘ MÔN QUẢN TRỊ KINH DOANH - KHOA KINH TẾ BÀI GIẢNG KINH TẾ TỔ CHỨC (Bài giảng Đại học chuyên ngành Quản trị kinh doanh) (LƯU HÀNH NỘI BỘ) Quảng Ninh tháng 8/2019
  2. Chương 1: VỐN SẢN XUẤT KINH DOANH 1.1. Khái niệm vốn sản xuất kinh doanh Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là tổng thể các yếu tố mang hình thá vật chất và phi vật chất mà chủ thể kinh doanh cần phải có để tạo ra sản phẩm hàng hóa và tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa. Vốn kinh doanh Theo hình thái Theo đặc điểm Theo nguồn Theo mục đích vật chất của vốn thành tạo sử dụng Vốn SX Tài sản Vốn cố Vốn chủ thường hữu hình định sở hữu xuyên Vốn lưu Vốn đi Vốn Tài sản vô XDCB hình động vay Vốn tham gia các quỹ 1.2. Vốn cố định, Tài sản cố định 1.2.1. Khái niệm của vốn cố định, tài sản cố định Trong tất cả các doanh nghiệp, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì một trong những yếu tố không thể thiếu đó là tư liệu lao động. Tư liệu lao động có thể biểu hiện dưới dạng vật chất cụ thể như: Nhà xưởng, máy móc thiết bị sản xuất... gọi là tài sản cố định hữu hình. Tuy nhiên, cũng có loại không biểu hiện dưới dạng vật chất như: Phát minh sáng kiến, công nghệ sản xuất, thiết kế kỹ thuật, giấy phép kinh doanh... Đó là những tư liệu lao động dạng phi vật chất gọi là tài sản cố định vô hình. Tài sản cố định là những tư liệu lao động có thời gian sử dụng dài, có giá trị lớn tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hay nói cách khác, tài sản cố định là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh giữ chức năng tư liệu lao động. Vốn cố định là biểu hiện bằng giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp. 1.2.2. Tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định * Tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định hữu hình Tư liệu lao động là từng tài sản hữu hình có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào đó thì hệ thống không thể hoạt động
  3. được, nếu thoả mãn đồng thời cả bốn tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là tài sản cố định hữu hình. - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản cố định đó. - Nguyên giá phải được xác định một cách tin cậy, chính xác. - Thời gian sử dụng trên một năm. - Giá trị từ 30 triệu đồng trở lên. Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên quan đến nhau trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và thiếu một bộ phận nào đó cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó. Nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thìỡ mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thỏa mãn đồng thời cả bốn tiêu chuẩn trên thig cũng được coi là tài sản cố định. Một tư liệu lao động nếu thiếu một trong các điều kiện trên được coi là công cụ lao động nhỏ. * Tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định vô hình Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thỏa mãn đồng thời cả bốn tiêu chuẩn trên mà không hình thành tài sản cố định hữu hình thì được coi là tài sản cố định vô hình. Những khoản chi phí không đồng thời thỏa mãn bốn tiêu chuẩn trên thì được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Riêng các chi phí phát sinh trong giai đoạn triển khai được ghi nhận là tài sản cố định vô hình nếu thỏa mãn các tiêu chuẩn quy định của Nhà nước. 1.2.3. Đặc điểm của tài sản cố định - Tài sản cố định tham gia vào nhiều chu kỳ của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó có thể bị hư hỏng, hao mòn các tính năng ban đầu nhưng hình thái vật chất hầu như không thay đổi, vẫn giữ nguyên là vật trung gian truyền tác động của con người lên đối tượng lao động trong quá trình tạo ra sản phẩm. - Giá trị và giá trị sử dụng của tài sản cố định giảm dần trong quá trình sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải tái tạo bằng cách chuyển dần từng phần giá trị của chúng vào giá thành sản phẩm dưới hình thức khấu hao. Phân loại tài sản cố định Phân loại tài sản cố định là chia tổng thể những yếu tố tư liệu lao động cấu thành lên tài sản cố định của doanh nghiệp thành tập hợp các loại tài sản phù hợp với mục đích nghiên cứu. * Căn cứ vào hình thái vật chất của tài sản cố định - Tài sản cố định hữu hình: Là tập hợp những yếu tố tư liệu lao động có hình thái vật chất cụ thể, có đủ tiêu chuẩn giá trị và thời gian sử dụng theo chế độ quy định hiện hành. Gồm Loại 1: Nhà cửa, vật kiến trúc Bao gồm những tài sản cố định của doanh nghiệp được hình thành sau quá trình thi công xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, cầu cống, đường xá, cầu cảng... phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Loại 2: Máy móc thiết bị Là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị lẻ... Loại 3: Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn
  4. Là các loại phương tiện vận tải gồm phương tiện vận tải đường sắt, đường bộ, đường không, đường ống, ô tô, máy kéo, các loại đầu máy, xe goòng, xe tải, ống dẫn… Loại 4: Thiết bị, dụng cụ quản lý Là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy tính phục vụ công tác quản lý, thiết bị điện tử, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng, mày điều hoà... Loại 5: Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm Là các vườn cây lâu năm như vườn cà phê, cao su, vườn cây ăn quả... súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm như đàn voi, trâu, bò... Loại 6: Các loại tài sản cố định khác - Tài sản cố định vô hình: Là tập hợp những yếu tố tư liệu lao động không có hình thái vật chất cụ thể nhưng vẫn thể hiện một lượng giá trị mà doanh nghiệp đã thật sự đầu tư thỏa mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gồm: + Quyền sử dụng đất: Gồm giá trị đất, mặt nước, bến, bãi,… doanh nghiệp phải bỏ tiền ra để mua, đền bù, san lấp,… nhằm có được mặt bằng sản xuất kinh doanh. + Bằng phát minh sáng chế: Là các khoản chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra để mua lại các bản quyền tác giả, bằng sáng chế hoặc chi trả cho các công trình nghiên cứu được nhà nước cấp bằng phát minh, sáng chế để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. + Tài sản cố định vô hình khác: Gồm các khoản chi phí doanh nghiệp chi ra để giành quyền đặc nhượng, quyền sử dụng hợp đồng, độc quyền nhãn hiệu… 1.2.4. Hao mòn tài sản cố định Hao mòn tài sản cố định là sự giảm dần giá trị và giá trị sử dụng của tài sản cố định do tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do bào mòn của tự nhiên, do tiến bộ của khoa học kỹ thuật… trong quá trình hoạt động của tài sản cố định. Quá trình hao mòn tài sản cố định bao gồm hai hình thái là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình. - Hao mòn hữu hình Nguyên nhân của hao mòn hữu hình: + Chất lượng của tài sản cố định. + Chế độ quản lý, sử dụng tài sản cố định. + Chế độ bảo vệ, bảo dưỡng, sửa chữa, thay thế thường xuyờn, định kỳ đối với tài sản cố định. Trình độ kỹ thuật, tinh thần trách nhiệm của người sử dụng và sự quan tâm của các cấp quản lý. + Các điều kiện tự nhiên và môi trường. - Hao mòn vô hình Nguyên nhân của hao mòn vô hình + Do tiến bộ của khoa học kỹ thuật nên: Tài sản cố định cũ có thể bị mất giádo tài sản cố định mới được sản xuất ra với giá cũ nhưng năng lực sản xuất cao hơn. Tài sản cố định cũ bị mất giá do tài sản cố định mới được sản xuất ra có công suất bằng tài sản cố định cũ nhưng giá lại rẻ hơn.
  5. + Do nhu cầu của người tiêu dùng Tài sản cố định cũ bị mất giá do sản phẩm của chúng sản xuất ra không còn phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Hao mòn vô hình là tất yếu khách quan nên mang tính chất phổ biến với mọi tài sản cố định. Tốc độ hao mòn tài sản cố định vô hình phụ thuộc vào tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật vì chỉ có tiến bộ khoa học kỹ thuật mới là nguyên nhân làm giảm hao phílao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra tài sản cố định có tính năng tương tự. Biện pháp khắc phục hao mòn tài sản cố định. + Tăng năng suất, công suất sử dụng của tài sản cố định. + Nâng cao trình độ sản xuất, trình độ kỹ thuật cho người lao động. + Tận dụng triệt để thời gian làm việc của tài sản cố định. + Thường xuyên duy tu, bảo dưỡng tài sản cố định. + Giáo dục ý thức làm chủ của người lao động. 1.2.5. Khấu hao tài sản cố định * Khái niệm Khấu hao tài sản cố định là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của tài sản cố định vào chi phí sản xuất kinh doanh trong thời gian sử dụng tài sản cố định nhằm thu hồi lại giá trị của tài sản cố định đó hao mòn hoặc để duy trì và phục hồi giá trị của tài sản cố định trong thời gian sử dụng khấu hao tài sản cố định - Mọi tài sản cố định của doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải trích khấu hao. Mức trích khấu hao được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. - Doanh nghiệp không được trích và tính khấu hao đối với những tài sản đã hết khấu hao mà vẫn cũn sử dụng. - Với những tài sản chưa hết khấu hao đã hỏng, doanh nghiệp xác định nguyên nhân, quy trách nhiệm đòi bồi thường thiệt hại… và tính vào chi phí khỏc. - Những tài sản không tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì không phải trích khấu hao. - Doanh nghiệp cho thuê tài sản cố định hoạt động phải trích khấu hao đối với tài sản cố định đó. - Doanh nghiệp đi thuê tài sản cố định tài chính phải trích khấu hao đối với tài sản cố định đó và tính vào chi phí kinh doanh. - Việc trích và thôi trích khấu hao được thực hiện bắt đầu từ ngày mà tài sản cố định đó tăng, giảm hoặc ngừng tham gia vào hoạt động sản xuất kinh daonh. - Quyền sử dụng đất lâu dài là tài sản cố định vụ hình đặc biệt doanh nghiệp không được trích khấu hao. * Một số phương pháp trích khấu hao tài sản cố định Mức khấu hao là bộ phận giá trị tài sản cố định chuyển dần vào giá thành của sản phẩm mà nó sản xuất ra. Có nhiều phương pháp trích khấu hao tài sản cố định. Việc lựa chọn phương pháp trích khấu hao nào là tuỳ thuộc vào quy định của Nhà nước về chế độ quản lý tài chính đối với doanh nghiệp và yêu cầu của doanh nghiệp. Phương pháp khấu hao được lựa chọn phải đảm bảo thu hồi vốn nhanh, đầy đủ và phù hợp với khả năng trang trải chi phí của doanh nghiệp.
  6. Khi trích khấu hao tài sản cố định cần chú ý những yếu tố sau: - Tình hình tiêu thụ sản phẩm do tài sản cố định tham gia sản xuất ra. - Hao mòn vô hình của tài sản cố định. - Nguồn vốn đầu tư cho tài sản cố định. - ảnh hưởng của thuế. - Các quy định của Nhà nước trong việc trích khấu hao tài sản cố định. Theo quyết định của Bộ trưởng Bộ tài chính số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 quy định trong các doanh nghiệp được trích khấu hao theo một trong số các phương pháp sau đây: Phương pháp 1: Khấu hao theo đường thẳng (phương pháp khấu hao đều, phương pháp khấu hao theo thời gian) Tài sản cố định trong doanh nghiệp được trích khấu hao theo phương pháp đường thẳng như sau: + Căn cứ vào các quy định hiện hành doanh nghiệp xác định thời gian sử dụng của tài sản cố định (N). + Mức trích khấu hao trung bình hàng năm (MKHN) của tài sản cố định được xác định theo công thức sau: G M KHN = TSC§ , đ/năm N + Mức trích khấu hao trung bình hàng tháng của tài sản cố định (MKHT) được xác định bằng mức khấu hao năm chia cho 12 tháng. M M KHT = KHN , đ/tháng 12 + Tỷ lệ khấu hao năm của tài sản cố định (TKH) được xác định bằng một chia cho số năm trích khấu hao của tài sản cố định đó: 1 TKH = 100 , % N Ví dụ: Công ty A mua một tài sản cố định với giá ghi trên hoá đơn là 119 triệu đồng, chiết khấu mua hàng là 5 triệu đồng, chi phí vận chuyển là 3 triệu đồng, chi phí lắp đặt chạy thử là 3 triệu đồng. Công ty dự kiến sử dụng trong 10 năm. Tài sản được đưa vào sử dụng là ngày 1/1/2004. Giải - Nguyên giá của tài sản cố định: GTSCĐ = 119 – 5 + 3 + 3 = 120 triệu đồng - Mức trích khấu hao trung bình hàng năm là: G 120 MKHN = TSC§ = = 12 triệu đồng/năm N 10 - Mức trích khấu hao trung bình hàng tháng là: M 12 M KHT = KHN = = 1 triệu đồng/tháng 12 12 Hàng năm, công ty trích 12 triệu đồng chi phí trích khấu hao tài sản cố định đó vào chi phí kinh doanh.
  7. + Đối với những tài sản cố định sau khi nâng cấp, hiện đại hoá hoàn thành thì mức ' khấu hao năm mới ( M KHN ) được tính như sau: GSauNC N M KH = , đ/năm N SauNC Trong đó: N’: Thời gian sử dụng của tài sản cố định được đánh lại sau khi nâng cấp, năm. G’CL: Giá trị còn lại của tài sản cố định sau khi nâng cấp, đồng. Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian sử dụng tài sản cố định được xác định là hiệu số giữa nguyên giá tài sản cố định và số khấu hao luỹ kế đã thực hiện đến trước năm cuối cùng của tài sản cố định đó. Ví dụ: (Tiếp ví dụ trên) Sau 5 năm sử dụng, công ty nâng cấp tài sản cố định với tổng chi phí là 30 triệu đồng, thời gian sử dụng được đáng giá lại là 6 năm. Ngày hoàn thành đưa vào sử dụng là 1/1/2009. Giải - Nguyên giá của tài sản cố định G’TSCĐ = 120 + 30 triệu đồng - Số khấu hao luỹ kế GLK = 12 x 5 = 60 triệu đồng - Giá trị còn lại của tài sản cố định trên sổ kế toán GCL = 150 – 60 = 90 triệu đồng - Mức trích khấu hao trung bình hàng năm là: G 90 M' KHN = CL = = 15 triệu đồng/năm N 6 - Mức trích khấu hao trung bình hàng tháng là: M ' KHN 15 M ' KHT = = = 1,25 triệu đồng/tháng 12 12 Từ năm 2009 trở đi, công ty trích khấu hao vào chi phí kinh doanh mỗi tháng 1.250.000 đồng đối với tài sản cố định vừa được nâng cấp. Phương pháp 2: Khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh Mức trích khấu hao năm của tài sản cố định theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh được xác định theo các buớc: + Xác định thời gian sử dụng của tài sản cố định. + Mức trích khấu hao năm của tài sản cố định trong các năm đầu được xác định theo công thức: Mức khấu hao năm của tài sản cố định: MKHN = GCL . Tnhanh , đ/năm Trong đó: GCL: Giá trị còn lại của tài sản cố định. Tnhanh: Tỷ lệ khấu hao nhanh. Tnhanh = TKH . Hđc , % Trong đó:
  8. Hđc: Hệ số điều chỉnh. Hệ số điều chỉnh xác định theo thời gian sử dụng của tài sản cố định quy định tại (bảng 1-1) sau: Thời gian sử dụng của TSCĐ Hệ số điều chỉnh N  4 năm 1,5 4 6 năm 2,5 + Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp số dư giảm dần bằng hoặc thấp hơn mức khấu hao tính bình quân giữa giá trị còn lại của tài sản cố định thì kể từ năm đó mức khấu hao được tính bằng giá trị còn lại của tài sản cố định chia cho số năm sử dụng còn lại của tài sản cố định. Ví dụ: Công ty A mua một thiết bị sản xuất các linh kiện điện tử mới với nguyên giá là 30 triệu đồng. Thời gian sử dụng của tài sản cố định là 5 năm. Giải - Tỷ lệ khấu hao của tài sản cố định theo phương pháp khấu hao theo đường thẳng là: 1 1 T =  100 =  100 = 20% N 5 - Tỷ lệ khấu hao nhanh là: Tnhanh = T x Hđc = 20 x 2 = 40% - Mức trích khấu hao hàng năm của tài sản cố định được xác định theo (bảng 1-2) dưới đây: Năm GCL MKHN MKHT GLK thứ (đồng) đ/năm đ/tháng 1 2 3 4 5 Phương pháp 3: Khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm + Căn cứ vào hồ sơ kinh tế-kỹ thuật của tài sản cố định, doanh nghiệp xác định tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế. + Căn cứ tình hình thực tế sản xuất, doanh nghiệp xác định số lượng, khối lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng, hàng năm của tài sản cố định. Mức trích khấu hao trong tháng của tài sản cố định được xác định: - Mức khấu hao tháng của tài sản cố định MKHT = QT . mbq , đ/tháng - Mức khấu hao năm của tài sản cố định MKHN = QN . mbq , đ/năm
  9. - Mức khấu hao bình quân của tài sản cố định G TSC § m bq = , đ/sp Q CSTK Trong đó: QT, QN: Khối lượng sản phẩm sản xuất trong tháng, trong năm, sp. mbq: Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đvsp, đ/sp. GTSCĐ: Nguyên giá tài sản cố định, đ. QCSTK: Khối lượng sản phẩm theo công suất thiết kế, sp. Ví dụ: Công ty A mua một máy ủi đất với nguyên giá 450 triệu đồng. Công suất thiết kế của máy ủi này là 30m3/giờ. Sản lượng theo công suất thiết kế của máy ủi là 2.400.000 m3. Khối lượng sản phẩm đạt được trong năm thứ nhất của máy ủi là: Khối lượng SP Tháng hoàn thành, m3 Tháng 1 14.000 Tháng 2 15.000 Tháng 3 18.000 Tháng 4 16.000 Tháng 5 15.000 Tháng 6 14.000 Giải - Mức trích khấu hao bình quân tính cho 1m3 G TSC § 450.000.000 m bq = = = 187,5 , đ/m3 Q CSTK 2.400.000 - Mức trích khấu hao của máy ủi được tính theo (bảng 1-4) sau: Tháng Sản lượng thực tế tháng, m3 MKHT, đồng Tháng 1 14.000 14.000 x 187,5 = 2.625.000 Tháng 2 15.000 15.000 x 187,5 = 2.812.500 Tháng 3 18.000 18.000 x 187,5 = 3.375.000 Tháng 4 16.000 16.000 x 187,5 = 3.000.000 Tháng 5 15.000 15.000 x 187,5 = 2.812.500 Tháng 6 14.000 14.000 x 187,5 = 2.625.000 Chú ý: - Việc chọn phương pháp khấu hao tuỳ thuộc vào chấp thuận của cơ quan tài chính và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. 1.2.6. Những phương hướng để nâng cao quản lý, sử dụng vốn cố định * Biện pháp nâng cao hiệu quản sử dụng tài sản cố định Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định bằng hai phương pháp: - Nâng cao trình độ sử dụng máy móc thiết bị theo chiều rộng tức là kéo dài thời gian sử dụng trong một ngày, một năm hoặc khắc phục tình trạng để tài sản cố định ngừng hoạt động do hỏng hóc hoặc do thiếu tinh thần trách nhiệm của người sử dụng và người quản lý.
  10. Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định theo phương pháp này có liên quan trực tiếp đến công tác tổ chức lao động theo ca, kíp. - Nâng cao trình độ sử dụng máy móc thiết bị theo chiều sâu tức là tăng hiệu suất, công suất sử dụng của tài sản cố định trong một thời gian dài. Muốn tăng hiệu suất, công suất trước hết phải sử dụng triệt để tài sản cố định trong thời gian sử dụng bằng cách nâng cao trình độ kỹ thuật, trình độ tổ chức lao động, trình độ nghề nghiệp cho người lao động đồng thời không ngừng áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới và thường xuyên cải tiến quy trình công nghệ, tổ chức sản xuất theo dây chuyền, cải tiến chất lượng nguyên vật liệu… Phương pháp nâng cao trình độ sử dụng máy móc thiết bị theo chiều sâu có hiệu quả hơn theo chiều rộng. Nhưng để sử dụng tài sản cố định một cách hiệu quả nhất là phối hợp đồng bộ cả hai phương pháp trên. - Tổ chức sửa chữa tài sản cố định. Công tác sửa chữa tài sản cố định có ảnh hưởng to lớn trong việc đảm bảo duy trì tính năng tác dụng và trong việc giảm thời gian ngừng hoạt động của tài sản cố định. Qua đó góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định. Việc tổ chức sửa chữa giữ gìn tài sản cố định phải định hướng vào việc khắc phục những tổn thất do hao mòn phát sinh bởi các nguyên nhân thuộc quá trình sử dụng. Việc giữ gìn bao gồm trông nom, lau chùi, tra dầu mỡ... - Cải tiến và hiện đại hoá tài sản cố định. Hiện đại hoá máy móc thiết bị là hoàn thiện số hiện có, làm cho chúng tiến kịp với trình độ tiến bộ kỹ thuật và kinh tế. Hiện đại hoá là phương pháp rất quan trọng để giảm bớt những tổn thất do sử dụng máy móc thiết bị lạc hậu về kỹ thuật. - Nâng cao chất lượng, hạ giá thành chế tạo và xây dựng tài sản. Mức độ hao mòn tài sản cố định phụ thuộc rất lớn vào chất lượng chế tạo và xây lắp tài sản cố định. Tài sản cố định tốt, rẻ thì tổn thất do hao mòn gây ra càng ít. - Nâng cao ý thức làm chủ của người lao động trong quá trình sử dụng tài sản cố định. Trong các điều kiện khác như nhau, những người lao động có ý thức giữ gìn, bảo vệ và sử dụng tốt tài sản cố định thì mức độ hao mòn của tài sản cố định giảm đồng thời tránh được hư hỏng, tai nạn lao động... Vì vậy, bồi dưỡng nâng cao tay nghề, nghiệp vụ cho người lao động là rất cần thiết và có ý nghĩa. * Đánh giá tình hình sử dụng vốn cố định Để có thể đề ra được phương pháp quản lý vốn cố định cần phải đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định dựa trên một số chỉ tiêu: - Hệ số huy động vốn cố định (Hhđ) G bq H hd = , đ/sản phẩm Q G bq Hoặc H hd = , đ/đ ) Q.g Trong đó: Q: Sản lượng sản phẩm sản xuất, tiêu thụ trong kỳ, sản phẩm. g: Giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm, đ/sản phẩm. Gbq: Giá trị bình quân tài sản cố định huy động trong năm, đồng.
  11. Giá trị bình quân của tài sản cố định trong năm: Là giá trị tài sản cố định bình quân trong năm của doanh nghiệp. n m G iv .n iv G j =1 jr .n jr G bq = G d + i =1 − , đồng 12 12 Trong đó: Gbq: Giá trị bình quân của tài sản cố định huy động trong năm của doanh nghiệp, đồng. Gđ: Giá trị tài sản cố định có tại thời điểm đầu năm, đồng. Giv, Gjr: Giá trị tài sản cố định tăng thứ i, giảm thứ j trong năm của doanh nghiệp, đồng. tiv, tjr: Số tháng tính đến cuối năm mà tài sản cố định thứ i tham gia, thứ j không tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm, tháng. ý nghĩa: Để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hoặc thu về một đồng doanh thu thuần doanh nghiệp cần huy động bao nhiêu đồng vốn cố định. - Sức sản xuất của vốn cố định (Ssx) Q S sx = , sản phẩm/đ G bq Q.g Hoặc S sx = , đ/đ G bq ý nghĩa: Một đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định khi tham gia sản xuất kinh doanh tạo ra bao nhiêu sản phẩm, bao nhiêu đồng doanh thu thuần. - Sức sinh lợi của vốn cố định (Ssl) Là đại lượng nghịch đảo của hệ số huy động vốn cố định. LN S sl = , đ/đ G bq ý nghĩa: Một đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. - Mức trang bị vốn cố định (Mtb) G M TB = , đ/người N ý nghĩa: Trung bình cứ một người lao động được trang bị bao nhiêu đồng vốn cố định. - Hệ số hao mòn TSCĐ (Hhm.) Gi¸ trÞ hao mßn tµi s¶ n cè ® Þnh H hm = G bq - Hệ số sử dụng công suất của tài sản cố định Tình hình sử dụng tài sản cố định tốt hay xấu cần đánh giá thông qua chỉ tiêu hệ số sử dụng công suất.
  12. Ptt HP = PTK Trong đó: Ptt: Công suất thực tế làm việc của tài sản cố định. PTK: Công suất theo thiết kế của tài sản cố định. - Hệ số sử dụng thời gian Việc đánh giá tình hình sử dụng tài sản cố định, ngoài hệ số sử dụng công suất doanh nghiệp cần tính hệ số sử dụng thời gian làm việc của tài sản cố định. Ttt H tg = Trong đó: TKH Ttt: Thời gian làm việc thực tế của tài sản cố định. TKH: Thời gian làm việc theo kế hoạch của tài sản cố định. - Hệ số sử dụng tổng hợp Hth = Htg . HP 1.3. Vốn lưu động, tài sản lưu động 1.3.1. Khái niệm vốn lưu động, tài sản lưu động Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài tài sản cố định doanh nghiệp cần phải có các đối tượng lao động như nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, công cụ lao động nhỏ, chi tiết phụ tùng thay thế để dự trữ cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục… Những đối tượng lao động đó gọi là tài sản lưu động. Lượng vốn mà doanh nghiệp bỏ ra để mua sắm các đối tượng lao động đó gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp. Những đối tượng lao động đó đã được doanh nghiệp ứng bỏ ra trước để sản xuất kinh doanh. Sau một quá trình sản xuất kinh doanh thì giá trị của nó chuyển vào giá trị của sản phẩm hàng hoá, giá trị này được thu hồi về khi bán sản phẩm ra thị trường và thu tiền về. Có những tài sản được luân chuyển không phải sau một chu kỳ mà có thể sau một thời gian nhất định mới thu hồi. Vậy, tài sản lưu động là những đối tượng lao động được dùng trong quá trình sản xuất kinh doanh và một bộ phận của những công cụ lao động nhỏ. Tuỳ theo từng loại hình kinh doanh mà cơ cấu của tài sản lưu động cũng khác nhau. Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tài sản lưu động thường được cấu tạo bởi hai phần là tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông. - Tài sản lưu động sản xuất: Gồm những tài sản ở khâu dự trữ sản xuất (nguyên vật liệu, nhiên liệu...) và tài sản ở khâu sản xuất (sản phẩm dở dang, bán thành phẩm...) - Tài sản lưu động lưu thông: Gồm những sản phẩm hàng hoá chưa tiêu thụ (hàng tồn kho), vốn bằng tiền và các khoản phải thu. Vốn lưu động của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông đảm bảo cho quá trình sản xuất và tái sản xuất được tiến hành bình thường. Hoặc, vốn lưu động của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư được ứng ra để mua sắm các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong các doanh nghiệp mỏ, vốn lưu động gồm: Giá trị khoáng sản đã được khai thác, giá trị đất đá bao quanh khoáng sản đã được bóc tách, giá trị vật liệu chống giữ lò, vật liệu nổ, nhiên liệu, năng lượng... 1.3.2. Đặc điểm của vốn lưu động (tài sản lưu động)
  13. + Vốn lưu động trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình sử dụng thường xuyên thay đổi hình thái từ hình thái tiền tệ sang hìh thái vật chất và ngược lại. + Vốn lưu động vận động trong thời gian ngắn, thời gian đó phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. + Giá trị của tài sản lưu động được chuyển toàn bộ, một lần vào giá thành sản phẩm mà nó sản xuất ra và trong quá trình dịch chuyển, lượng vốn bỏ ra thường lớn hơn lượng vốn thu về. + Tốc độ chu chuyển của vốn lưu động nhanh hơn tốc độ chu chuyển của vốn cố định do đó quá trình thu hồi vốn nhanh và liên tục. Phân loại vốn lưu động Để thoả mãn các mục tiêu trong quá trình quản lý vốn lưu động, vốn lưu động của doanh nghiệp được chia thành nhiều loại theo từng tiêu thức như sau: * Căn cứ vào quá trình tuần hoàn của vốn - Vốn dự trữ sản xuất gồm nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu bao bì, công cụ lao động nhỏ. - Vốn lưu động trong khâu sản xuất gồm thành phẩm sản xuất nhập kho, sản phẩm chế tạo dở dang, bán thành phẩm tự chế và các chi phí chờ kết chuyển (chi phí chờ kết chuyển là những khoản chi phí lớn đã được thể hiện trong kế hoạch, doanh nghiệp tiến hành chi ra trước, sau đó phân bổ dần vào giá thành trong năm hoặc là các năm sau). - Vốn lưu động lưu thông gồm thành phẩm trong kho và đang trên đường đi tiêu thụ, tiền mặt nằm trong két của doanh nghiệp, các khoản nợ phải đòi, tiền ứng trước của các nhà cung cấp. * Căn cứ vào đặc trưng của công tác định mức vốn lưu động - Vốn lưu động định mức là bộ phận vốn lưu động có cơ sở để định mức. - Vốn lưu động không định mức là bộ phận vốn lưu động cần thiết nhưng không có căn cứ để định mức. * Căn cứ vào nguồn hình thành - Vốn chủ sở hữu. - Vốn đi vay. 1.3.3. Sự chu chuyển của vốn lưu động Vốn lưu động của doanh nghiệp vận động khụng ngừng từ giai đoạn mua sang giai đoạn bỏn, từ vốn bằng tiền sang vốn dự trữ, sang vốn sản xuất đến vốn thành phẩm rồi trở lại vốn tiền tệ ban đầu. Quá trình chu chuyển của vốn lưu động trong một chu kỳ trải qua ba giai đoạn như sau: 1 2 3 Lưu thông Sản xuất Lưu thông - Giai đoạn 1 (giai đoạn lưu thông, giai đoạn dự trữ): Khởi đầu vòng tuần hoàn, vốn lưu động được dựng để mua sắm các đối tượng lao động dự trữ cho sản xuất. Như vậy, vốn đã đi từ giai đoạn lưu thong sang giai đoạn dự trữ sản xuất. Lúc này vốn lưu động thể hiện ở giá trị của các đối tượng lao động.
  14. - Giai đoạn 2 (giai đoạn sản xuất): Là giai đoạn chuyển húa từ vốn dự trữ sang vốn sản xuất khi doanh nghiệp đưa các đối tượng lao động vào sản xuất để tạo ra sản phẩm. Lúc này, vốn lưu động thể hiện ở giá trị của sản phẩm. - Giai đoạn 3 (gia đoạn tiêu thụ sản phẩm): Vốn chuyển từ hình thái thành phẩm sang hình thái tiền tệ ban đầu khi sản phẩm hoàn chỉnh được mang đi tiêu thụ và thu tiền về. Đến đây đã kết thúc một chu kỳ chu chuyển của vốn. Vậy, quá trình vốn lưu động đi từ lĩnh vực lưu thông vào lĩnh vực sản xuất rồi lại từ lĩnh vực sản xuất trở về lĩnh vực lưu thông tức là vốn đã thực hiện được một vòng quay. Quá trình đó lặp đi lặp lại nhiều lần theo chu kỳ gọi là sự chu chuyển của vốn lưu động. * Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chu chuyển vốn lưu động Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động vận động không ngừng, thường xuyên qua các giai đoạn của quá trình sản xuất (lưu thông - sản xuất – lưu thông). Phương pháp sử dụng vốn có hiệu quả là tăng tốc độ chu chuyển vốn lưu động. Đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn lưu động sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Để đánh giá trình độ sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp thường sử dụng các chỉ tiêu sau: - Tốc độ chu chuyển vốn lưu động Tốc độ chu chuyển vốn lưu động là số vòng vốn lưu động của doanh nghiệp quay được trong một kỳ. D D - T n= = bh , Vòng/kỳ V®m V®m Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động của doanh nghiệp quay được mấy vòng trong kỳ. Nếu số vòng quay tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cao và ngược lại. Chỉ tiêu này còn được gọi là hệ số luân chuyển. Trong đó: D: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động trong kỳ, đồng. Dbh: Doanh thu từ hoạt động bán hàng trong kỳ, đồng. T: Các khoản thuế gián thu phải nộp trong kỳ, đồng. Vđm: Vốn lưu động định mức sử dụng bình quân trong kỳ, đồng. - Kỳ luân chuyển bình quân Kỳ luân chuyển bình quân là số ngày cần thiết bình quân để vốn lưu động của doanh nghiệp quay được một vòng hay thời gian kéo dài một vòng quay của vốn lưu động. N K= , Ngày/vòng n Trong đó: N: Số ngày trong kỳ, N = 360 ngày. Chỉ tiêu này cho biết để thực hiện được một vòng tuần hoàn của vốn lưu động thì mất bao nhiêu ngày. Chỉ tiêu này càng nhỏ thì tốc độ chu chuyển vốn lưu động càng lớn. - Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động là đại lượng nghịch đảo của tốc độ chu chuyển vốn lưu động.
  15. 1 V H ®n = = ®m n D Chỉ tiêu này cho biết để có 1 đồng chu chuyển thì cần mấy đồng vốn lưu động. Hệ số này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao. - Mức tiết kiệm tương đối vốn lưu động giữa hai thời kỳ D1 M TK =  (K 1 − K 0 ) , đồng N Trong đó: MTK: Mức tiết kiệm tương đối vốn lưu động giữa hai thời kỳ, đồng. D1: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động ở kỳ phân tích, đồng. Ko, K1: Kỳ chu chuyển bình quân của vốn lưu động ở kỳ gốc và kỳ phân tích, ngày/vòng. N: Số ngày trong kỳ, N = 360 ngày. Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích doanh nghiệp đã tiết kiệm tương đối vốn lưu động so với kỳ gốc là bao nhiêu đồng. Mức tiết kiệm tương đối vốn lưu động là do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động (n) nên doanh nghiệp đã tăng tổng mức luân chuyển vốn (D1) song không cần tăng thêm hoặc tăng không đáng kể quy mô vốn lưu động (Vđm). 1.3.4. Tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn lưu động Tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn lưu động là rút ngắn thời gian mà vốn lưu động nằm bất động trong kho dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông, từ đó giảm bớt lượng vốn lưu động sử dụng, tiết kiệm vốn trong luân chuyển. Số vốn lưu động cần thiết cho mỗi doanh nghiệp nhiều hay ít trong sản xuất phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ chu chuyển vốn lưu động. Những lợi ích mà doanh nghiệp có thể đạt được khi tăng được tốc độ chu chuyển vốn lưu động của mình: - Giảm bớt số vốn lưu động sử dụng nhưng vẫn đảm bảo được nhiệm vụ sản xuất kinh doanh như cũ. Hoặc cũng với số vốn như cũ tức là không cần tăng thêm vốn mà doanh nghiệp lại mở rộng được quy mô sản xuất. - Giảm được giá thành và chi phí lưu thông tạo điều kiện có đủ vốn để đáp ứng sản xuất và hoàn thành việc nộp thuế cho Nhà nước, đáp ứng nhu cầu cho phát triển kinh tế. Để tăng tốc độ chu chuyển vốn lưu động, cần thực hiện các biện pháp sau: - Trong khâu dự trữ sản xuất + Chọn nơi cung cấp hợp lý để rút ngắn số ngày hàng đi trên đường. + Giảm các khoản chi phí khi mua sắm các đối tượng lao động. + Đối tượng lao động dự trữ vừa đủ cho sản xuất cả về số lượng và giá trị. - Trong khâu sản xuất + Tiết kiệm triệt để các khoản chi phí trong quá trình sản xuất sản phẩm. + Thường xuyên cải tiến công nghệ sản xuất. + Thường xuyên cải tiến và nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm. - Trong khâu lưu thông + Sản phẩm hoàn chỉnh nhanh chóng đi tiêu thụ tránh tồn đọng lâu ngày. + Tổ chức tốt hoạt động bán hàng.
  16. + Đảm bảo giá bán hợp lý… + Tìm mọi biện pháp rút ngắn thời gian thanh toán để thu tiền kịp thời CHƯƠNG 2. GIÁ THÀNH SẢN PHẨM, DOANH THU, LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP 2.1. GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 2.1.1. Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm a. Khái niệm giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động sống, hao phí lao động quá khứ và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến khối lượng sản phẩm hay khối lượng công tác, lao vụ đã hoàn thành. Giá thành sản phẩm được xác định cho từng loại sản phẩm và lao vụ đã hoàn thành, tức là chỉ tính cho những sản phẩm đã hoàn thành ở toàn bộ quy trình công nghệ hoặc hoàn thành ở một giai đoạn công nghệ nhất định nhưng có giá trị như một hàng hoá doanh nghiệp sẽ bán ra. Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, nó không chỉ là chỉ tiêu số lượng mà còn là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả sử dụng các loại tài sản, lao động và vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng như việc áp dụng các giải pháp kinh tế kỹ thuật để đạt được mục tiêu sản lượng với chi phí sản xuất thấp nhất. Ngoài ra giá thành sản phẩm còn là cơ sở để xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh. * Mối quan hệ giữa giá thành và giá trị sản phẩm - Khái niệm giá trị sản phẩm: Giá trị sản phẩm là toàn bộ hao phí lao động xã hội kết tinh trong sản phẩm hàng hoá bao gồm 3 bộ phận: + Giá trị hao phí tư liệu sản xuất (C). + Giá trị hao phí sức lao động (V). + Giá trị lao động sáng tạo cho xã hội (M). Trong đó: M = M1 + M2 M1: Trích nộp bảo hiểm xã hội, thuế. M2: Doanh lợi xã hội. - Mối quan hệ giữa giá thành sản phẩm và giá trị sản phẩm: + Giá thành sản phẩm: Z = C + V + M1 + Giá trị sản phẩm: G = C + V + M M C V M1 M2 Z G - Phân biệt giá thành và giá trị sản phẩm:
  17. + Giống nhau: Đều phản ánh hao phí lao động xã hội bao gồm hao phí lao động sống và hao phí lao động quá khứ. + Khác nhau: Về lượng: Giá trị sản phẩm gồm toàn bộ hao phí lao động xã hội (C+V+M), còn giá thành sản phẩm chỉ bao gồm hao phí lao động sống, lao động quá khứ và một phần lao động mới sáng tạo cho xã hội. Về chất: Bộ phận giá trị nằm trong giá thành sản phẩm biểu hiện thông qua giá cả tư liệu sản xuất, giá cả sức lao động. Mà giá cả phụ thuộc vào quan hệ hàng hoá trên thị trường, quan hệ tích luỹ và tiêu dùng. Giữa giá thành và giá cả cũng có mối quan hệ chặt chẽ, giá thành là cơ sở để xác định giá cả và ngược lại giá cả là căn cứ để tính giá thành sản phẩm thông qua giá cả tư liệu sản xuất, giá cả sức lao động. * Mối quan hệ giữa giá thành và giá cả sản phẩm Giữa giá thành và giá cả sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Giá thành là cơ sở để tính giá cả, ngược lại giá cả là căn cứ để tính giá thành sản phẩm thông qua giá cả sức lao động và tư liệu sản xuất. Tuy nhiên giá cả chịu nhiều tác động của quan hệ cung cầu trên thị trường nên nhiều khi nó thoát ly khỏi giá thành và giá trị sản phẩm. b. Phân loại giáthành sản phẩm * Theo phạm vi tính toán - Giá thành phân xưởng: Là toàn bộ chi phí để sản xuất sản phẩm phát sinh trong phạm vi phân xưởng: Chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, động lực, tiền lương công nhân… - Giá thành công xưởng: Là toàn bộ chi phí để sản xuất sản phẩm phát sinh trong phạm vi doanh nghiệp. - Giá thành toàn bộ: Là toàn bộ chi phí của doanh nghiệp để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phát sinh trong phạm vi toàn doanh nghiệp * Theo tính chất của chi phí - Giá thành định mức: Là những chi phí để sản xuất sản phẩm được xác định căn cứ vào các định mức chi phí và các mức kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp ở đầu kỳ kế hoạch trên cơ sở các đặc điểm về quy trình công nghệ và tổ chức sản xuất của doanh nghiệp. - Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản phẩm của doanh nghiệp dự tính trong kế hoạch trên cơ sở định mức các hao phí nguyên vật liệu, lao động…và các khoản chi phí chung kết hợp với khả năng cụ thể của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch. - Giá thành thực tế: Là toàn bộ chi phí sản xuất thực tế được chi ra để sản xuất sản phẩm, kể cả các chi phí không sản xuất có liên quan như thiệt hại trong sản xuất, các khoản phạt về lưu kho, lưu bãi, vi phạm hợp đồng… * Theo khối lượng sản phẩm - Giá thành tổng sản phẩm: Là tổng chi phí sản xuất và tiêu thụ khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong 1 khoảng thời gian nhất định. - Giá thành đơn vị sản phẩm: Là toàn bộ chi phí cho việc sản xuất và tiêu thụ tính cho 1 đơn vị sản phẩm. * Theo phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh - Giá thành đơn vị sản phẩm doanh nghiệp: Là giá thành bình quân đơn vị sản phẩm của 1 doanh nghiệp cụ thể được tính trong phạm vi thời gian cụ thể. - Giá thành đơn vị sản phẩm ngành: Là giá thành đơn vị sản phẩm được tính bình quân với tổng thể nhiều doanh nghiệp có sản phẩm tương tự trong ngành ở cùng một thời kỳ.
  18. * Theo đơn vị đo khối lượng sản phẩm - Giá thành đơn vị hiện vật sản phẩm. - Giá thành 1.000đ sản lượng hàng hoá. c. Ý nghĩa của giá thành sản phẩm - Giá thành là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh trình độ tổ chức sản xuất và trình độ quản lý sản xuất của các doanh nghiệp vì giá thành cao hay thấp sẽ quyết định hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là điều kiện để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trên thị trường. - Thông qua chỉ tiêu giá thành cho phép so sánh hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp giữa các thời kỳ khỏc nhau và so sánh hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khác nhau trong cùng một ngành sản xuất. - Giá thành sản phẩm là cơ sở để xác định giá bán sản phẩm vì vậy chỉ tiêu kinh tế giá thành ảnh hưởng lớn đến sự ổn định của nền kinh tế. 2.1.2. Chi phí sản xuất a. Khái niệm chi phí sản xuất Chi phí sản xuất của doanh nghiệp là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động sống, hao phí lao động quá khứ và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp thực tế đã chi ra để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định. * Quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm - Phân biệt giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất: + Giống nhau: Chúng đều là những chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền chi phí lao động và lao động quá khứ mà doanh nghiệp đã chi ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Chi phí sản xuất là cơ sở để tính giá thành sản phẩm. Sự tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất đều làm cho giá thành sản phẩm của doanh nghiệp giảm hoặc tăng. Chính vì vậy, quản trị giá thành gắn liền với quản trị chi phí sản xuất. + Khác nhau: Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm riêng biệt. Chúng có các điểm khác nhau: Chi phí sản xuất luôn gắn với thời kỳ phát sinh chi phí còn giá thành sản phẩm luôn gắn với khối lượng công tác hoặc lao vụ đã hoàn thành. Chi phí sản xuất ngoài việc liên quan đến khối lượng sản phẩm hoàn thành còn liên quan đến khối lượng sản phẩm dở dang (Sản phẩm còn đang nằm trên dây chuyền sản xuất). - Mối liên hệ giữa giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất: + Công thức biểu hiện mối liên hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm như sau: ZSP = Cđk + Ctk – Cck , đồng Trong đó: Cđk: Chi phí sản xuất sản phẩm dở dang đầu kỳ, đ. Ctk: Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ, đ. Cck: Chi phí sản xuất sản phẩm dở dang cuối kỳ, đ. + Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được thể hiện như sau:
  19. A B C D Trong đó: AB: Chi phí cho những sản phẩm dở dang đầu kỳ. BD: Chi phí phát sinh trong kỳ. CD: Chi phí cho những sản phẩm dở dang cuối kỳ. AC: Giá thành sản phẩm. b. Phân loại chi phí trong giá thành sản phẩm Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, nhiều khoản. Chúng khác nhau về công dụng, nội dung kinh tế… Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu mà tiến hành phân loại chi phí sản xuất theo các tiêu thức khác nhau. * Phân loại theo nội dung kinh tế của chi phí Theo cách phân loại này, các chi phí có nội dung kinh tế được đưa vào 1 yếu tố chi phí mà không kể chi phí đó chi cho sản xuất hay cho quản lý, cho phân xưởng A hay phân xưởng B… và mức độ cụ thể là bao nhiêu. Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm 9 yếu tố chi phí: 1. Chi phí nguyên vật liệu chính mua ngoài. 2. Chi phí nguyên vật liệu phụ mua ngoài. 3. Chi phí nhiên liệu mua ngoài. 4. Chi phí động lực mua ngoài. 5. Chi phí tiền lương. 6. Trích nộp BHXH. 7. Chi phí khấu hao TSCĐ. 8. Chi phí dịch vụ mua ngoài. 9. Các chi phí khác bằng tiền. * Phân loại theo công dụng cụ thể của chi phí trong sản xuất Theo cách phân loại này, căn cứ vào địa điểm chi ra của chi phí (cho sản xuất hay cho quản lý), công dụng cụ thể của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng loại sản phẩm, từng đối tượng, chi phí sản xuất trong doanh nghiệp được chia thành 5 khoản mục: 1. Chi phí vật tư trực tiếp. 2. Chi phí nhân công trực tiếp. 3. Chi phí sản xuất chung. 4. Chi phí bán hàng. 5. Chi phí quản lý doanh nghiệp. * Căn cứ vào các giai đoạn sản xuất Theo căn cứ này, chi phí sản xuất (của doanh nghiệp mỏ) được chia theo các giai đoạn sản xuất: 1. Chi phí giai đoạn chuẩn bị sản xuất. 2. Chi phí giai đoạn khai thác. 3. Chi phí giai đoạn sàng tuyển. 4. Chi phí tiêu thụ. * Căn cứ vào phương pháp phân bổ chi phí vào giá thành sản phẩm
  20. - Chi phí trực tiếp: Là những chi phí có liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất từng loại sản phẩm và được tính thẳng vào giá thành của từng loại sản phẩm (nguyên vật liệu chính, nhiên liệu…). - Chi phí gián tiếp: Là những chi phí không liên quan trực tiếp đến việc sản xuất từng loại sản phẩm mà chỉ có quan hệ đến hoạt động sản xuất chung của phân xưởng, của doanh nghiệp và được tính vào giá thành sản phẩm theo phương pháp phân bổ gián tiếp (chi phí sản xuất chung, chi phí quản lý doanh nghiệp…). * Căn cứ vào mối liên hệ giữa chi phí và tình hình tăng giảm sản lượng - Chi phí biến đổi: Là những chi phí mà tổng số của nó tăng hoặc giảm theo cùng một tỷ lệ tăng giảm của sản lượng. - Chi phí cố định: Là những chi phí mà tổng số của nó không tăng giảm hoặc tăng giảm rất ít so với sự tăng giảm của sản lượng. Việc phân loại như trên là dựa vào tổng số chi phí, nếu xét đến chi phí đơn vị sản phẩm thì sẽ ngược lại với khái niệm trên. 2.1.3. Phương pháp tính giá thành sản phẩm * Giá thành toàn bộ sản phẩm đã hoàn thành ZSP = Cđk + Ctk – Cck , đồng Trong đó: Cđk: Chi phí sản xuất sản phẩm dở dang đầu kỳ, đ. Ctk: Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ, đ. Cck: Chi phí sản xuất sản phẩm dở dang cuối kỳ, đ. * Giá thành đơn vị sản phẩm Z z= , đ/sp Q Trong đó: Q: Khối lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ, sp. 2.1.4. Phương hướng hạ giá thành sản phẩm a. Ý nghĩa của việc hạ giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm là cơ sở để xác định giá bán sản phẩm, chính vì vậy việc hạ giá thành sẽ dẫn đến giá cả giảm do đó sẽ làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Bên cạnh đó, giá bán sản phẩm giảm làm cho ổn định thị trường, ổn định nền kinh tế. Khi giá thành giảm mà không giảm giá cả sẽ tăng thêm phần lợi nhuận cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có nguồn vốn đáng kể để tái đầu tư lại quá trình sản xuất. b. Phương hướng hạ giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền chi phí của 3 yếu tố cơ bản tạo thành quá trình sản xuất kinh doanh là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động của con người. Do đó hạ giá thành sản phẩm phải nhằm vào hạ chi phí 3 yếu tố đó. Tùy theo từng ngành sản xuất mà có thể nhằm vào việc giảm chi phí tư liệu lao động (khấu hao tài sản cố định), chi phí đối tượng lao động (nguyên vật liệu…) hay lao động sống (chi phí tiền lương…) là chủ yếu, mục đích là không để lãng phí một yếu tố nào trong sản xuất dù nó có tỷ trọng nhỏ trong giá thành sản phẩm. Trong các doanh nghiệp mỏ, để hạ giá thành sản phẩm thường tập trung vào một số biện pháp chủ yếu sau: * Hạ giá thành do giảm chi phí vật tư trong sản xuất
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2