intTypePromotion=1

Bài giảng Phân tích hoạt động kinh doanh: Phần 1 - ĐH Phạm Văn Đồng

Chia sẻ: Trần Thị Ta | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:24

0
27
lượt xem
3
download

Bài giảng Phân tích hoạt động kinh doanh: Phần 1 - ĐH Phạm Văn Đồng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

(NB) Bài giảng Phân tích hoạt động kinh doanh: Phần 1 gồm các nội dung chính được trình bày như sau: những vấn đề chung về phân tích hoạt động kinh doanh, phân tích giá thành sản phẩm. Mời các bạn cùng tham khảo để nắm chi tiết nội dung của bài giảng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài giảng Phân tích hoạt động kinh doanh: Phần 1 - ĐH Phạm Văn Đồng

  1. TRƢỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG KHOA KINH TẾ BÀI GIẢNG MÔN:PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH (Dùng cho đào tạo tín chỉ - Bậc Cao đẳng) Ngƣời biên soạn: Th.S Nguyễn Thị Phƣơng Hảo Lưu hành nội bộ 1
  2. CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1.1. Khái niệm, đối tƣợng của phân tích hoạt động kinh doanh 1.1.1. Khái niệm phân tích hoạt động kinh doanh “Phân tích, hiểu theo nghĩa chung nhất là sự chia nhỏ sự vật và hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng đó”. Phân tích kinh tế có thể được hiểu chung nhất là phân nhỏ (chia nhỏ) các sự vật, các hiện tượng kinh tế. Hiện tượng kinh tế được hiểu các hiện tượng kinh tế gắn liền với xã hội nên các công cụ phân tích của nó khác với các công cụ khi nghiên cứu, phân tích các hiện tượng tự nhiên. Các công cụ phân tích ở đây là các “khái niệm trừu tượng”, đó là hệ thống các tiêu chí, tri thức, các phương pháp… Ví dụ như muốn đánh giá hiệu quả và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải sử dụng các chỉ tiêu phản ánh về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh như chỉ tiêu doanh thu, chỉ tiêu doanh số bán hàng, chỉ tiêu giá trị sản xuất… Phân tích kinh tế trong phạm vi doanh nghiệp được gọi là phân tích hoạt động kinh doanh. “Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả của hoạt động kinh doanh; các nguồn tiềm năng cần khai thác ở doanh nghiệp, trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. Trước đây, trong điều kiện sản xuất kinh doanh đơn giản và với quy mô nhỏ, yêu cầu thông tin cho nhà quản trị chưa nhiều và chưa phức tạp, công việc phân tích thường được tiến hành giản đơn, có thể thấy ngay trong công tác hạch toán. Khi sản xuất kinh doanh càng phát triển thì nhu cầu thông tin cho nhà quản trị càng nhiều, đa dạng và phức tạp. Phân tích hoạt động kinh doanh hình thành và phát triển như một môn khoa học độc lập, để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các nhà quản trị. 1.1.2. Đối tƣợng của phân tích hoạt động kinh doanh Với tư cách là một khoa học độc lập, phân tích hoạt động kinh doanh có đối tượng riêng: “Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh chính là kết quả của quá trình hoạt động kinh doanh và các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả của quá trình kinh doanh của doanh nghiệp”. a. Kết quả của quá trình kinh doanh Kết quả của quá trình kinh doanh theo nghĩa rộng không chỉ là kết quả tài 2
  3. chính cuối cùng của doanh nghiệp mà còn là kết quả thể hiện qua từng giai đoạn trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả kinh doanh thông thường được biểu hiện dưới các chỉ tiêu kinh tế. Chỉ tiêu kinh tế gắn liền với trị số của chỉ tiêu. Chỉ tiêu kinh tế có nội dung tương đối ổn định còn trị số của chỉ tiêu kinh tế thì thay đổi theo thời gian và không gian. Trị số của chỉ tiêu kinh tế có thể được đo lường bằng các thước đo khác nhau. Chỉ tiêu kinh tế bao gồm chỉ tiêu phản ánh số lượng và chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động kinh doanh. Chỉ tiêu số lượng là chỉ tiêu phản ánh quy mô hoặc điều kiện của quá trình sản xuất kinh doanh, chẳng hạn: các chỉ tiêu về doanh thu, về vốn kinh doanh, về giá trị sản xuất…Chỉ tiêu chất lượng là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, chẳng hạn: năng suất lao động, giá thành, tỷ suất lợi nhuận…Tuy nhiên, cách phân chia trên chỉ mang tính tương đối và tùy thuộc vào mục tiêu của phân tích b. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh Phân tích kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả kinh doanh mà còn đi sâu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng, tác động đến chỉ tiêu phân tích. Nhân tố là những yếu tố bên trong của mỗi hiện tượng, mỗi quá trình kinh tế...và mỗi biến động của nó tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến độ lớn, tính chất, xu hướng và mức độ của chỉ tiêu phân tích. Nhân tố tác động đến kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh có rất nhiều, tùy theo mục đích phân tích có thể phân loại nhân tố theo nhiều tiêu thức khác nhau - Theo nội dung kinh tế của nhân tố, nhân tố bao gồm: + Những nhân tố thuộc về điều kiện của quá trình sản xuất kinh doanh như: số lượng lao động, số lượng vật tư, tiền vốn…những nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến qui mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp + Những nhân tố thuộc về kết quả sản xuất, những nhân tố này thường ảnh hưởng dây chuyền từ khâu cung ứng, sản xuất đến tiêu thụ như: số lượng, chất lượng sản phẩm sản xuất… - Theo tính tất yếu của nhân tố, có thể phân thành 2 loại + Nhân tố khách quan: là nhân tố phát sinh như một tất yếu trong quá trình kinh doanh, ngoài vòng kiểm soát của doanh nghiệp. Thông thường, nhân tố khách quan chịu ảnh hưởng của môi trường kinh doanh và đó là nhân tố bên ngoài. 3
  4. + Nhân tố chủ quan: là nhân tố phát sinh tùy thuộc vào sự nổ lực của bản thân doanh nghiệp, đó thường là nhân tố bên trong - Theo xu hƣớng tác động của nhân tố, bao gồm: + Nhân tố tích cực là những nhân tố tác động tốt hay làm tăng độ lớn của hiệu quả kinh doanh. + Nhân tố tiêu cực là nhân tố tác động xấu hay làm giảm quy mô của kết quả kinh doanh. - Theo tính chất của nhân tố, nhân tố bao gồm: + Nhân tố số lượng: là nhân tố phản ánh quy mô sản xuất và kết quả kinh doanh như: số lượng lao động, vật tư, lượng hàng hoá sản xuất, tiêu thụ... + Nhân tố chất lượng: phản ánh hiệu quả kinh doanh hoặc hiệu suất sử dụng các yếu tố kinh doanh như: Giá thành, tỷ suất chi phí, năng suất lao động... Theo phạm vi phát sinh của nhân tố, bao gồm: + Nhân tố bên trong: là những nhân tố phát sinh bên trong đơn vị. + Nhân tố bên ngoài: phát sinh bên ngoài doanh nghiệp. Các nhân tố này thường là những nhân tố thuộc môi trường vĩ mô (môi trường kinh tế, chính trị, xã hội) và môi trường vi mô (khách hàng, thị hiếu khách hàng, đối thủ cạnh tranh,...) Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích và định lượng chúng là công việc hết sức cần thiết vì nếu chỉ dừng lại trị số của chỉ tiêu phân tích thì nhà quản lý sẽ không thể phát hiện ra các tiềm năng cũng như các tồn tại trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 1.1.3 Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh - Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ quan trọng để phát hiện khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh. - Thông qua phân tích hoạt động doanh nghiệp chúng ta mới thấy rõ được các nguyên nhân, nhân tố cũng như nguồn gốc phát sinh của các nguyên nhân và nhân tố ảnh hưởng, từ đó để có các giải pháp cụ thể và kịp thời trong công tác tổ chức và quản lý sản xuất. Do đó nó là công cụ cải tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh. - Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ quan trọng trong chức năng quản trị, là cơ sở để đề ra các quyết định đúng đắn trong chức năng quản lý, nhất là trong các chức năng kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động SXKD trong doanh 4
  5. nghiệp. - Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa và ngăn chặn những rủi ro có thể xảy ra. - Tài liệu phân tích hoạt động kinh doanh còn rất cần thiết cho các đối tượng bên ngoài, khi họ có các mối quan hệ về kinh doanh, nguồn lợi với doanh nghiệp, vì thông qua phân tích họ mới có thể có quyết định đúng đắn trong việc hợp tác, đầu tư, cho vay...đối với doanh nghiệp nữa hay không? Tóm lại phân tích hoạt động kinh doanh là điều hết sức cần thiết và có vai trò quan trọng đối với mọi doanh nghiệp. Nó gắn liền với hoạt động kinh doanh, là cơ sở của nhiều quyết định quan trọng và chỉ ra phương hướng phát triển của các doanh nghiệp. 1.2. Phƣơng pháp phân tích hoạt động kinh doanh 1.2.1 Phƣơng pháp chi tiết Muốn phân tích một cách sâu sắc các đối tượng nghiên cứu, không thể dựa vào các chỉ tiêu tổng hợp mà còn cần phải đánh giá theo chỉ tiêu cấu thành của chỉ tiêu tổng hợp, tức là chi tiết các chỉ tiêu phân tích. Thông thường phương pháp chi tiết được thực hiện theo những hướng sau: - Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu: Chi tiết chỉ tiêu theo các bộ phận cấu thành cùng với sự biểu hiện về lượng của các bộ phận đó sẽ giúp ích rất nhiều trong việc đánh giá chính xác kết quả đạt được. Việc chi tiết này có tác dụng đánh giá ảnh hưởng của từng bộ phận đến chỉ tiêu phân tích Ví dụ 1: chỉ tiêu giá thành đơn vị sản phẩm được chi tiết theo từng khoản mục chi phí, chi tiêu doanh thu chi tiết theo từng mặt hàng hoặc chi tiết theo từng phương thức tiêu thụ… Chi tiết hóa chỉ tiêu phân tích được quyết định bởi nhiệm vụ, nội dung và yêu cầu của công tác phân tích - Chi tiết theo thời gian: Kết quả kinh doanh bao giờ cũng là kết quả của một quá trình. Do nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan khác nhau, tiến độ thực hiện quá trình đó trong từng đơn vị thời gian xác định thường không đều nhau. Việc chi tiết theo thời gian giúp đánh giá được nhịp điệu, tốc độ phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh qua các thời kỳ khác nhau, từ đó tìm nguyên nhân và giải pháp có hiệu lực để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. 5
  6. Ví dụ 2: Giá trị sản lượng sản xuất thường phải thực hiện theo từng tháng, từng quý trong năm và thông thường không giống nhau. Tương tự trong thương mại, doanh số mua vào, bán ra từng thời gian trong năm cũng không đều nhau. - Chi tiết theo địa điểm và phạm vi kinh doanh: Kết quả sản xuất kinh doanh thường là đóng góp của nhiều bộ phận hoạt động trên những địa điểm khác nhau. Chi tiết theo địa điểm sẽ làm rõ hơn sự đóng góp của từng bộ phận đến kết quả chung của doanh nghiệp, giúp ta đánh giá kết quả thực hiện hoạch toán kinh tế nội bộ. Ví dụ 3: doanh thu của một doanh nghiệp thương mại có thể chi tiết theo từng của hàng, từng vùng (thị trường); chi phí sản xuất của doanh nghiệp sản xuất có thể chi tiết theo từng phân xưởng sản xuất, hoặc từng tổ (đội) trong phân xưởng 1.2.2. Phƣơng pháp so sánh Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng phổ biến trong phân tích kinh doanh để đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của các chỉ tiêu phân tích. Vận dụng phương pháp này cần phải nắm các vấn đề sau: a) Tiêu chuẩn so sánh: tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu gốc được chọn làm căn cứ để so sánh. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà lựa chọn gốc so sánh cho thích hợp. Các gốc so sánh có thể là: - Số gốc của năm trước (kỳ trước) nhằm đánh giá xu hướng phát triển của các chỉ tiêu qua hai hay nhiều kỳ - Số gốc là số kế hoạch (kế hoạch, dự đoán, định mức) nhằm đánh giá tình hình thực hiện so với kế hoạch, dự đoán và định mức. - Số gốc là số trung bình của ngành, của khu vực kinh doanh; nhu cầu hoặc đơn đặt hàng của khách hàng... nhằm khẳng định vị trí của doanh nghiệp so với trung bình tiến triển của ngành và khả năng đáp ứng nhu cầu. Các trị số của chỉ tiêu ở kỳ trước, kế hoạch hoặc trung bình ngành gọi chung là trị số kỳ gốc. Các chỉ tiêu của kỳ được chọn so sánh với kỳ gốc được gọi là chỉ tiêu kỳ phân tích b) Ðiều kiện so sánh được: Ðể phương pháp này có ý nghĩa thì các chỉ tiêu phải đồng nhất cả về thời gian và không gian * Về thời gian: là các chỉ tiêu được tính trong cùng một khoảng thời gian hạch toán và phải thống nhất trên 3 mặt sau: 6
  7. - Phải phản ánh cùng nội dung kinh tế. - Các chỉ tiêu phải cùng sử dụng một phương pháp tính toán. - Phải cùng một đơn vị đo lường. * Về không gian: các chỉ tiêu cần phải được quy đổi về cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự như nhau. c) Kỹ thuật so sánh: - So sánh bằng số tuyệt đối: là hiệu số giữa trị số kỳ phân tích và trị số kỳ gốc của chỉ tiêu kinh tế. Việc so sánh này cho thấy mức độ đạt được về khối lượng, quy mô của chỉ tiêu phân tích M c biến động tuyệt đối Tr số kỳ phân tích - Tr số kỳ gốc Ví dụ 4: Doanh thu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp A năm 2017 là 30 triệu đồng, năm 2018 là 400 triệu đồng Doanh thu tiêu thụ năm 2018 tăng so với năm 2017 là: 400 – 300 = 100 triệu đồng - So sánh bằng số tƣơng đối: là thương số giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế. Việc so sánh này biểu hiện kết cấu, tốc độ phát triển, mức phổ biến… của chỉ tiêu phân tích Ví dụ 5: Lấy số liệu doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp A ở trên ta có: Tốc độ tăng doanh số bán hàng năm 2018 so với năm 2017 là: 400/300 = 1,33 hay 133% - So sánh m c biến động tƣơng đối điều chỉnh theo hƣớng quy mô chung: (áp dụng khi so sánh các yếu tố đầu vào): là kết quả so sánh giữa trị số kỳ phân tích với trị số của kỳ gốc, nhưng đã được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu có liên quan, mà chỉ tiêu có liên quan này quyết định quy mô của chỉ tiêu phân tích. Mức biến động tuyệt đối = Kỳ thực hiện – (Kỳ gốc x hệ số điều chỉnh) Hay ∆C = C1 – C0 x H Mức biến động tương đối: t  C x100(%) 1 C xH 0 Trong đó: C0 : Chi phí sản xuất kỳ gốc C1 : Chi phí sản xuất kỳ thực hiện H: Hệ số điều chỉnh (Hệ số điều chỉnh thường là tỷ lệ hoàn thành 7
  8. doanh thu, tỷ lệ tăng trưởng sản lượng…) Nếu: t  100 và ∆C  0: doanh nghiệp sử dụng tiết kiệm các yếu tố đầu vào t >100 và ∆C 0: doanh nghiệp lãng phí các yếu tố đầu vào Ví dụ 6: Có số liệu về chi phí tiền lương của nhân viên bán hàng và doanh thu tiêu thụ tại một doanh nghiệp như sau: Chỉ tiêu Kế Thực So sánh hoạch hiện M c % 1. Chi phí lương (triệu đồng) 100 110 +10 +10% 2. Doanh thu tiêu thụ (triệu đồng) 1.000 1.200 +200 +20% Yêu cầu: Có nhận xét cho rằng chi phí tiền lương thực hiện so với kế hoạch tăng lên là lãng phí chi phí tiền lương. Điều này đúng hay sai. Giải thích? Qua số liệu trên cho thấy, nếu xét riêng chỉ tiêu chi phí lương thực tế so với kế hoạch doanh nghiệp đã vượt chi 10 tương ứng 10 triệu đồng. Nếu xét chỉ tiêu tổng quỹ lương trong mối quan hệ với doanh thu tiêu thụ trong năm cho ta thấy, tốc độ tăng doanh thu tiêu thụ nhanh hơn tốc độ tăng chi phí lương là 10 (120% - 110 ). Để thấy rõ việc chi lương này có hợp lý hay không, ta phải tính mức biến động tương đối của chỉ tiêu chi phí lương giữa thực tế so với kế hoạch được điều với hệ số tăng của quy mô tiêu thụ như sau: Mức biến động chi phí lương = 110- 100 x120% = 110 - 120 = -10 (triệu đồng) Như vậy kết quả mức độ biến động tương đối có điều chỉnh trên cho ta thấy, so với kế hoạch, thực tế số tiền đã tiết kiệm được trong chi trả lương là 10 triệu đồng. Trong điều kiện như mục tiêu kế hoạch đề ra, doanh thu thực hiện 1.200 triệu đồng thì tiền lương thực tế phải chi trả là 120 triệu đồng, nhưng thực tế doanh nhiệp chỉ trả 110 triệu đồng, do đó doanh nghiệp đã tiết kiệm được 10 triệu đồng quỹ lương. Qua đây mới cho ta thấy rõ được thực chất tình hình chi trả lương của doanh nghiệp. - So sánh bằng số bình quân: Số bình quân là dạng đặc biệt của số tuyệt đối, biểu hiện tính chất đặc trưng chung về mặt số lượng, nhằm phản ảnh đặc điểm chung của một đơn vị, một bộ phận hay một tổng thể chung có cùng một tính chất. 8
  9. 1.2.3 Phƣơng pháp loại trừ Phương pháp loại trừ được áp dụng rộng rãi để xác định xu hướng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích khi loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố còn lại. Phương pháp này thể hiện qua phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch 1.2.3.1 Phương pháp thay thế liên hoàn Là phương pháp dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích khi giả định các nhân tố còn lại không thay đổi bằng cách lần lượt thay thế từng nhân tố từ kỳ gốc sang kỳ phân tích. Trên cơ sở đó, tổng hợp lại mức độ ảnh hưởng của tất cả các nhân tố đối với đối tượng phân tích Các bước tiến hành: * Bước 1: Xây dựng chỉ tiêu phân tích: Xác định phương trình kinh tế biểu thị mối quan hệ các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích. Gọi : Q là chỉ tiêu cần phân tích; a, b, c trình tự là các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích Giả sử có phương trình kinh tế: Q = a . b . c Đặt Q1: Chỉ tiêu kỳ phân tích, Q1= a1 . b1. c1 Q0: Chỉ tiêu kỳ gốc, Q0 = a0 . b0 . c0 * Bước 2: Xác định đối tượng phân tích: Xác định chênh lệch giữa giá trị chỉ tiêu kỳ phân tích với giá trị chỉ tiêu kỳ gốc, chênh lệch có được đó chính là đối tượng phân tích. Đối tượng phân tích: Q =Q1 – Q0 = a1 . b1 . c1 – a0 . b0 . c0 * Bước 3: Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố. Trình tự thay thế các nhân tố ảnh hưởng theo nguyên tắc sau: - Nhân tố số lượng thay đổi trước, nhân tố chất lượng thay đổi sau - Trong trường hợp có ảnh hưởng của nhân tố kết cấu thì nhân tố số lượng thay đổi trước tiên, đến nhân tố kết cấu và cuối cùng là nhân tố chất lượng - Truờng hợp có ảnh hưởng của nhiều nhân tố số lượng và nhân tố chất 9
  10. lượng thì nhân tố chủ yếu thay thế trứơc, nhân tố thứ yếu thay thế sau. Nhân tố chủ yếu là nhân tố ảnh hưởng mạnh hơn đến chỉ tiêu phân tích Lưu ý: Nhân tố đã thay ở bước trước phải được giữ nguyên cho bước sau thay thế - Thay thế bước 1 (cho nhân tố a): a0 . b0 . c0 được thay thế bằng a1 . b0 . c0 Mức độ ảnh hưởng của nhân tố a là: Q(a) = a1 . b0 . c0 – a0 . b0 . c0 - Thay thế bước 2 (cho nhân tố b): a1 . b0 . c0 được thay thế bằng a1 . b1 . c0 Mức độ ảnh hưởng của nhân tố b là: Q(b) = a1 . b1 . c0 – a1. b0 . c0 - Thay thế bước 3 (Cho nhân tố c):a1 . b1 . c0 được thay thế bằng a1 . b1 . c1 Mức độ ảnh hưởng của nhân tố c là: Q(c) = a1 . b1 . c1 – a1 . b1 . c0 Tổng hợp mức độ ảnh hưởng của các nhân tố:Q = Q(a) +Q(b)+ Q(c) * Bước 4: Tìm nguyên nhân làm thay đổi các nhân tố: Nếu do nguyên nhân chủ quan từ doanh nghiệp thì phải tìm biện pháp để khắc phục những nhược điểm, thiếu xót để kỳ sau thực hiện được tốt hơn. * Bước 5: Đưa ra các biện pháp khắc phục những nhân tố chủ quan ảnh hưởng không tốt đến chất luợng kinh doanh và đồng thời xây dựng phương hướng cho kỳ sau. Ví dụ 7: Một doanh nghiệp thương mại kinh doanh một loại sản phẩm có số liệu về sản lượng, đơn giá bán và doanh thu qua 2 năm như sau: CHỈ TIÊU Năm N Năm N+1 Sản lượng tiêu thụ 100 200 Đơn giá bán(1.000 đồng/sản phẩm) 80 70 Doanh thu (1.000 đồng) 8.000 14.000 Yêu cầu: Hãy phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu bán hàng qua 2 năm Chỉ tiêu phân tích: Doanh thu = Sản lượng tiêu thụ x Đơn giá bán S = Q x P Doanh thu năm N: S0 = Q0 x P0 = 100 x 80 = 8.000 (đồng) Doanh thu năm N+1 : S1 = Q1 x P1 = 200 x 70 = 14.000 (đồng) 10
  11. Đối tượng phân tích: S = S1 - S0 = 14.000 – 8.000 = + 6.000 (đồng) Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố Khi sản lượng tiêu thụ thay đổi từ kỳ gốc sang kỳ phân tích, giả sử giá bán không thay đổi ở kỳ phân tích thì doanh thu: S(Q) = Q1P0 = 200 x 80 = 16.000 (đồng) Mức độ ảnh hưởng của nhân tố sản lượng ∆S(Q) = S(Q) – S0 = Q1P0 - Q0P0 = 16.000 – 8.000 = + 8.000 (đồng) Khi giá bán thay đổi từ kỳ gốc sang kỳ phân tích, sản lượng không thay đổi ở kỳ phân tích thì doanh thu: S(P) = Q1P1 = 200 x 70 = 14.000 (đồng) Mức độ ảnh hưởng của nhân tố giá bán ∆S(P) = S(P) – S(Q) = Q1P1 - Q1P0 = 14.000 – 16.000 = - 2.000 (đồng) Tổng hợp mức độ ảnh hưởng cuả các nhân tố ∆S = ∆S(Q) + ∆S(P) = 8.000 + (-2.000) = +6.000 (đồng) Nhận xét: bộ phận bán hàng đã hoạt động khá hiệu quả trong năm N, đưa ra những phương án khá linh hoạt nhằm gia tăng sản lượng tiêu thụ ở mức giá thấp này. Do đó, phần giảm của doanh thu do chính sách giảm giá được bù bởi phần tăng của doanh thu do việc gia tăng sản lượng tiêu thụ mang lại. 1.2.3.2 Phương pháp số chênh lệch Thực chất của phương pháp này là trường hợp đặc biệt của phương pháp thay thế liên hoàn. Phương pháp này cũng thực hiện đầy đủ các bước như vậy, tuy chỉ khác điểm sau: khi xác định nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích, thay vì ta tiến hành thay thế số liệu mà sẽ dùng số chênh lệch của từng nhân tố để tính ảnh hưởng của từng nhân tố. Ví dụ 8: Lấy số liệu ví dụ 7 Ảnh hưởng của nhân tố sản lượng S(Q) = (Q1 – Q0) x P0 = ( 200 – 100) x 80 = + 8.000 (đồng) Ảnh hưởng của nhân tố giá bán S(P) = Q1 x (P1 – P0) = 200 x (70 – 80) = - 2.000 (đồng) 11
  12. Tổng hợp mức độ ảnh hưởng cuả các nhân tố ∆S = ∆S(Q) + ∆S(P) = + 8.000 + (-2.000) = +6.000 (đồng) Như vậy, phương pháp số chênh lệch chỉ có thể thực hiện được khi các nhân tố có quan hệ b ng tích số và thương số đến chỉ tiêu phân tích mà thôi. 1.2.4 Phƣơng pháp liên hệ cân đối Cân đối là sự cân bằng về lượng giữa hai mặt của các yếu tố với quá trình kinh doanh. Ví dụ như giữa tài sản và nguồn vốn, giữa các nguồn thu và chi, giữa nhu cầu sử dụng vốn và khả năng thanh toán, giữa nguồn huy động vật tư và sử dụng vật tư trong SXKD. Phương pháp cân đối được sử dụng nhiều trong công tác lập và xây dựng kế hoạch và ngay cả trong công tác hạch toán để nghiên cứu các mối liên hệ về lượng của các yếu tố và quá trình kinh doanh. Trên cơ sở đó có thể xác định ảnh hưởng của các nhân tố. Ví dụ 9: Minh họa bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp X Bảng cân đối kế toán năm N của doanh nghiệp X Ðầu Cuối Chênh Ðầu Cuối Chênh Tài sản Nguồn vốn năm năm lệch năm năm lệch A. Tài sản ngắn hạn 400 430 +30 A. Nợ phải trả 300 330 +30 1. Tiền và các khoản 50 60 +10 1. Nợ ngắn hạn 100 80 -20 tương đương tiên 2. Các khoản phải 100 120 +20 2. Nợ dài hạn 200 250 +50 thu ngắn hạn 3. Hàng tồn kho 250 250 - B. Vốn CSH 700 770 +70 B. Tài sản dài hạn 600 670 +70 1. Vốn chủ sỡ hữu 700 770 +70 - Lợi nhuận chưa 150 220 +70 1. TSCÐ 500 600 +100 phân phối 2. Các khoản đầu tư 2. Nguồn kinh phí 100 70 -30 550 550 - tài chính dài hạn và quỹ khác Cộng tài sản 1.000 1.100 +100 Cộng nguồn vốn 1.000 1.100 +100 Qua bảng cân đối kế toán cho phép ta có thể đánh giá mối quan hệ của các yếu tố ảnh hưởng đến tính cân đối, đến tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp. Cụ thể là: Tổng tài sản cũng như nguồn vốn giữa cuối kỳ so với đầu kỳ tăng 100 triệu đồng. Các nhân tố ảnh hưởng đến mức tăng này là: 12
  13. - Xét về mặt tài sản: Chủ yếu tăng do TSCĐ tăng 100 triệu đồng và sau đó là các khoản phải thu tăng 20 triệu đồng, tồn kho không đổi, đầu tư dài hạn giảm 30 triệu đồng - Xét về mặt nguồn vốn: Chủ yếu tăng là do lợi nhuận chưa phân phối 70 triệu đồng và nợ dài hạn 50 triệu đồng, nguồn vốn kinh doanh không đổi, còn nợ ngắn hạn giảm 20 triệu đồng Tình hình trên cho phép chúng ta kết luận: Trong kỳ, doanh nghiệp đã giảm các khoản đầu tư dài hạn, tăng vay nợ dài hạn để đầu tư cho TSCĐ và kết quả hoạt động kinh doanh đã mang lại kết quả khá cao, lợi nhuận chưa phân phối tăng 70 triệu đồng. Cũng có thể xác định ảnh hưởng của các nhân tố có quan hệ với chỉ tiêu phân tích được biểu hiện dưới dạng tổng số hoặc hiệu số bằng phương pháp cân đối, Ví dụ 10: Tình hình nguồn huy động và sử dụng một loại vật tư tại doanh nghiệp A Bảng: Bảng cân đối vật tƣ của một doanh nghiệp A Ðơn vị tính: tấn Năm Năm Chênh Năm Năm Chênh Nguồn vật tư Sử dụng vật tư trước nay lệch trước nay lệch Tồn kho kỳ trước 200 220 +20 Hao phí cho SX 600 590 -10 Tự khai thác 200 240 +40 Hao hụt định mức - 40 +40 Mua hợp đồng 400 360 -40 Tồn kho kỳ sau 200 190 -10 Cộng 800 820 +20 Cộng 800 820 +20 Dựa vào mức chênh lệch của từng nhân tố ở bảng trên ta có thể phân loại, lập và tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn vật tư theo số liệu bảng sau: 13
  14. Bảng: Bảng cân đối các nhân tố ảnh hƣởng đến nguồn vật tƣ Nhân tố làm tăng nguồn Số lƣợng Nhân tố làm giảm nguồn Số lƣợng 1. Tăng tồn kho đầu kỳ 20 1. Giảm mua hợp đồng 40 2. Tăng tự khai thác 40 2. Giảm do hao hụt 40 3. Giảm chi cho sản xuất 10 4. Giảm tồn kho cuối kỳ 10 Cộng 80 Cộng 80 Kết quả cân đối các nhân tố trên cho thấy: Nhân tố chủ yếu để tăng nguồn vật tư là do tăng tồn kho kỳ trước và tăng nguồn tự tìm kiếm trong khi nguồn hợp đồng giảm, phần khác trong khi giảm chi cho sản xuất thì tồn kho lại quá lớn 1.3. Tổ ch c công tác phân tích hoạt động kinh doanh 1.3.1 Trình tự tổ ch c phân tích hoạt động kinh doanh Xuất phát Thu thập Xây Xử lý dữ Báo cáo từ yêu dữ liệu dựng chỉ liệu cẩu quản tiêu lý 1.3.2 Hình th c tổ ch c phân tích hoạt động kinh doanh Để quản lý toàn bộ các hoạt động trong doanh nghiệp, cần kết hợp nhiều hình thức phân tích. Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau người ta chia hình thức phân tích thành nhiều hình thức khác nhau. Theo thời điểm phân tích, phân tích hoạt động kinh doanh bao gồm: - Phân tích trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh. - Phân tích đồng thời với quá trình sản xuất kinh doanh. - Phân tích kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh. Theo nội dung phân tích, phân tích hoạt động kinh doanh bao gồm: Phân tích chuyên đề và phân tích toàn diện. Theo phạm vi phân tích, phân tích hoạt động kinh doanh được chia ra thành: Phân tích điển hình và phân tích tổng thể. 14
  15. 1.3.3 Trách nhiệm tổ ch c phân tích hoạt động kinh doanh Trên thực tế tại các doanh nghiệp thường không có bộ phận chức năng chuyên thực hiện các công việc về phân tích hoạt động kinh tế. Trong điều kiện đó cần phải có sự kết hợp chức năng của các bộ phận để phân rõ chức năng của từng phòng, ban, thực hiện từng công việc hoặc từng khâu phân tích. Cụ thể, lực lượng phân tích có thể được tổ chức và chịu trách nhiệm như sau: - Bộ phận thông tin kinh tế, nghiệp vụ hàng ngày gồm cán bộ thống kê, hoặc cán bộ kinh doanh kiêm nhiệm có nhiệm vụ thông tin nhanh, kịp thời, các chỉ tiêu tiến độ và chất lượng công việc hằng ngày tại đơn vị. - Các bộ phận chức năng đảm nhiệm thực hiện các khâu phân tích cần có sự phù hợp với lĩnh vực công tác của mình kể cả phân tích trước, phân tích đồng thời với quá trình sản xuất kinh doanh, phân tích sau khi thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh. - Hội đồng phân tích của doanh nghiệp có nhiệm vụ giúp Giám đốc toàn bộ công tác tổ chức phân tích kinh tế từ việc xây dựng nội qui, qui trình phân tích đến hướng dẫn thực hiện các qui trình và tổ chức hội nghị phân tích CÂU HỎI ÔN TẬP CHƢƠNG 1 Câu 1: Nêu đối tượng của phân tích hoạt động kinh tế? Câu 2: Trình bày kỹ thuật vận dụng phương pháp so sánh Câu 3: Trình bày các bước vận dụng phương pháp thay thế liên hoàn Câu 4: Trình bày các bước vận dụng phương pháp số chênh lệch 15
  16. CHƢƠNG 2 : PHÂN TÍCH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 2.1. Ý nghĩa, nhiệm vụ phân tích giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu chất lượng quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Giá thành sản phẩm cao hay thấp, tăng hay giảm đồng nghĩa với việc lãng phí, hay tiết kiệm lao động xã hội. Nói cách khác, giá thành sản phẩm cao hay thấp phản ánh kết quả của việc quản lý, sử dụng vật tư, lao động và tiền vốn của doanh nghiệp. Việc quản lý và sử dụng hợp lý, tiết kiệm các nguồn nói trên là tiền đề để hạ giá thành sản phẩm và ngược lại. Đối với những doanh nghiệp sản xuất, việc hạ giá thành sản phẩm là con đường cơ bản để tăng doanh lợi, nó cũng là tiền đề để hạ giá bán, tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Nó không những là vấn đề quan tâm của riêng từng doanh nghiệp mà còn là vấn đề đáng quan tâm của từng ngành và của toàn xã hội. Với những ý nghĩa trên, nội dung chương này đề cập đến những vấn đề sau:  Phân tích chung tình hình thực hiện kế hoạch giá thành của toàn bộ sản phẩm  Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch hạ thấp giá thành sản phẩm  Phân tích tình hình thực hiện các khoản mục giá thành 2.2. Phân tích giá thành của toàn bộ sản phẩm Toàn bộ sản phẩm của đơn vị được chia thành hai loại: sản phẩm so sánh được và sản phẩm không so sánh được - Sản phẩm so sánh được: là những sản phẩm doanh nghiệp đã tiến hành sản xuất ở những kỳ trước, có quá trình sản xuất tương đối ổn định. Những sản phẩm này có đầy đủ tài liệu về hạch toán giá thành làm căn cứ phân tích trong kỳ này - Sản phẩm không so sánh được: là sản phẩm mới đưa vào sản xuất kỳ này hoặc đưa vào sản xuất kỳ trước nhưng quá trình sản xuất chưa ổn định. Do vậy, tài liệu về giá thành kỳ trước chưa hoàn chỉnh để làm căn cứ cho phân tích kỳ này Phƣơng pháp phân tích: So sánh về cả số tuyệt đối và số tương đối tổng giá thành kỳ phân tích với kỳ gốc tính theo sản lượng sản xuất kỳ phân tích. Cụ thể: * Đối với phân tích hình hoàn thành kế hoạch giá thành - Phần trăm hoàn thành kế hoạch giá thành: (t) 16
  17. n Q  Z i 1 i1 i1 t n  100(%) Q  Z i 1 i1 ik - Mức tăng(giảm) giá thành so với kế hoạch: (∆Z) n n Z   Q  Z i1   Q  Z ik i1 i1 i 1 i 1 Với: Qi1 là số lượng sản phẩm i thực tế sản xuất trong kỳ Zik, Zi1lần lượt là giá thành đơn vị sản phẩm i kỳ kế hoạch, kỳ thực tế Nếu: t 100 và (Z 0): chứng tỏ doanh nghiệp không hoàn thành kế hoạch giá thành của toàn bộ sản phẩm Ngược lại t ≤ 100 và (Z ≤ 0) thì khẳng định doanh nghiệp đã tiết kiệm chi phí hạ thấp giá thành của toàn bộ sản phẩm so với kế hoạch * Đối với phân tích tình hình tăng (giảm) giá thành so với kỳ trước - Tỷ lệ giữa giá thành thực tế kỳ này với kỳ trước (t) n Q  Z i 1 i1 i1 t n  100(%) Q  Z i 1 i1 i0 - Mức tăng (giảm) giá thành so với kỳ trước: (∆Z) n n Z   Q  Z i1   Q  Z i 0 i1 i1 i 1 i 1 Với: Qi1 là số lượng sản phẩm i thực tế sản xuất kỳ này Zi0, Zi1 lần lượt là giá thành đơn vị sản phẩm i thực tế kỳ trước, kỳ này Nếu t ≤ 100 (Z ≤ 0) chứng tỏ doanh nghiệp đã tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành của toàn bộ sản phẩm so với kỳ trước và ngược lại Ví dụ 1: Phân tích tình hình hoàn thành kế hoạch giá thành toàn bộ sản phẩm của một doanh nghiệp (ĐVT: 1.000đ) 17
  18. Tổng giá thành Chênh lệch Số lƣợng sản Giá thành đơn tính theo sản TH so với phẩm SX v lƣợng thực hiện KH Tên sản phẩm Kế Thực Kế Thực Kế Thực hoạch hiện hoạch hiện hoạch hiện M c ±% (Qk) (Q1) (Zk) (Z1) (Q1Zk) (Q1Z1) SP so sánh đựơc 100 90 8 8,2 720 738 +18 +2,5 A 450 500 5 4,8 2.500 2.400 -100 -4 B 3.220 3.138 -82 -2,25 Cộng SP không so sánh được 50 70 10 12 700 840 +140 +20 C Tổng cộng 3.920 3.978 +58 +1,48 Như vậy, doanh nghiệp đã không hoàn thành kế hoạch giá thành toàn bộ sản phẩm với mức tăng 58.000đ và tỷ lệ tăng 1,48 . Qua phân tích, giá thành toàn bộ sản phẩm tăng là do giá thành sản phẩm không so sánh được tăng 140.000đ tương ứng với tỷ lệ là 20 , trong khi giá thành của sản phẩm so sánh được giảm 82.000đ với tỷ lệ giảm 2,55 . Để đánh giá tình hình tăng của giá thành sản phẩm không so sánh được cần xem lại việc xây dựng giá thành kế hoạch đã hợp lý chưa, hay do sản phẩm mới đưa vào sản xuất nên các vấn đề về tổ chức sản xuất chưa hợp lý 2.3. Phân tích tình hình thực hiện nhiệm vụ hạ giá thành sản phẩm Mục tiêu của tất cả các doanh nghiệp sản xuất là phải phấn đấu hạ giá thành, mức hạ càng nhiều khả năng tăng lợi nhuận càng cao. Với ý nghĩa đó, phân tích tình hình thực hiện nhiệm vụ hạ thấp giá thành nhằm tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến công tác hạ thấp giá thành, qua đó xây dựng phương hướng phấn đấu hạ thấp giá thành trong kỳ đến. Nội dung phân tích này được tiến hành trên hai chỉ tiêu: Mức hạ giá thành (M) và tỷ lệ hạ giá thành (T). 18
  19. 2.3.1 Chỉ tiêu phân tích * Mức hạ thấp giá thành sản phẩm: là số tuyệt đối nói lên giá thành năm nay tăng, giảm bao nhiêu so với giá thành năm trước. Chỉ tiêu này thể hiện mức phấn đấu trong việc hạ thấp giá thành sản phẩm. Cụ thể: - Mức hạ thấp giá thành kế hoạch: (Mk) n n M k   Q  Z ik   Q  Z i0  i1 Q  (Z ik  Z i 0) n ik ik ik i 1 i 1 - Mức hạ thấp giá thành thực tế: (M1) n n M 1   Q  Z i1   Q  Z i 0  i 1 Q  (Z i1  Z i 0) n i1 i1 i1 i 1 i 1 Với: Qik,Qi1 lần lượt là số lượng sản phẩm i sản xuất kế hoạch kỳ này, thực tế kỳ này Zi0, Zik , Zi1 lần lượt là giá thành đơn vị sản phẩm i thực tế kỳ trước, kế hoạch kỳ này và thực tế kỳ này * Tỷ lệ hạ thấp giá thành: là số tương đối nói lên giá thành năm nay tăng, giảm bao nhiêu phần trăm so với giá thành năm trước. Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ hạ thấp giá thành của đơn vị - Tỷ lệ hạ thấp giá thành kế hoạch: (Tk)  M k T x100  Q Z k n i 1 ik i0 - Tỷ lệ hạ thấp giá thành thực tế: (T1)  M 1 T x100  Q Z 1 n i 1 i1 i0 2.3.2 Phƣơng pháp phân tích Đối tượng phân tích: Mức hạ thấp giá thành: ∆ M = M1 – Mk Tỷ lệ hạ thấp giá thành: ∆ T = T1 – Tk Doanh nghiệp được đánh giá hoàn thành kế hoạch nhiệm vụ hạ thấp giá thành khi hoàn thành đồng thời cả hai chỉ tiêu: mức hạ và tỷ lệ hạ giá thành. Để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đối với chỉ tiêu này, áp dụng phương pháp thay thế liên hoàn. Có ba nhân tố ảnh hưởng là: Số lượng sản phẩm sản xuất, kết cấu sản phẩm và giá thành đơn vị sản phẩm * Ảnh hưởng của nhân tố sản lượng (F(Q1, Kk, Zk)): 19
  20. - Khi nhân tố này thay đổi từ kỳ kế hoạch sang kỳ thực tế, giả sử các nhân tố còn lại không đổi thì mức hạ thấp giá thành thay đổi với tỷ lệ hoàn thành kế hoạch sản lượng còn tỷ lệ hạ thấp giá thành không đổi  Q Z n i 1  i1 i0 Nghĩa là: M(Q) = t x Mk (với t được tính : t x100 )  Q Z n i 1 ik i0 Và T(Q) = Tk Để chứng minh tính chất trên, cần phải giả định tất cả các loại sản phẩm đều thực hiện theo cùng một tỷ lệ hoàn thành kế hoạch sản lượng chung của toàn doanh nghiệp. Như vậy, khi nhân tố số lượng sản phẩm sản xuất thay đổi sang kỳ thực tế nhưng các nhân tố khác không đổi thì : - Mức hạ thấp giá thành là: n M (Q)   Q  t  ( Z ik  Z i 0)  t  i 1 Q  ( Z ik  Z i 0)  t  M k n ik ik i 1 - Và tỷ lệ hạ thấp giá thành:  Q  t  (Z  Z  Q  (Z  Z n n i 1 ) i 1 ) T (Q)  x100   100  T k ik ik i0 ik ik i0  Q  t Z  Q Z n n i 1 ik i0 i 1 ik i0 - Với tính chất đó, ảnh hưởng của nhân tố sản lượng đối với : + Mức hạ giá thành: ∆M(Q)= M(Q) – Mk = Mkx t – Mk = (t - 1) x Mk + Và tỷ lệ hạ thấp giá thành : ∆T(Q) = T(Q) – Tk = 0 hay nhân tố sản lượng không ảnh hưởng đến tỷ lệ hạ thấp giá thành * Ảnh hưởng của nhân tố kết cấu sản phẩm. (F(Q1, K1,,Zk )) - Khi nhân tố kết cấu sản phẩm chuyển sang kỳ thực tế, giả sử các nhân tố khác không đổi thì :  Q n + Mức hạ thấp giá thành : M(K) = i 1  ( Z iik  Z i 0) i1 + Tỷ lệ hạ thấp giá thành : T ( K )   Q x( Z  Z i1 ik io ) x100 Q x Z i1 i0 - Như vậy ảnh hưởng của nhân tố kết cấu đối với: 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2