Bài 6: Chuyển giao công nghệ
88 NEU_TXQLCN02_Bai6_v1.0014106217
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ tham gia
thảo luận trên diễn đàn.
Đọc tài liệu:
Giáo trình Qun lý công ngh”, Bộ môn Quản lý công nghệ, NXB ĐH Kinh tế Quốc
dân, 2013.
Sinh viên làm việc theo nhóm trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc
qua email.
Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học.
Nội dung
Khái niệm chuyển giao công nghệ;
Nguyên nhân xuất hiện chuyển giao công nghệ;
Thực hiện nghiệp vụ tiếp nhận công nghệ;
Kinh nghiệm chuyển giao công nghệ ở các nước đang phát triển.
Mục tiêu
Trình bày được các quan điểm, đối tượng chuyển giao công nghệ;
Phân biệt được công nghệ nội sinh công nghệ ngoại sinh. Liên hệ thực tiễn đối với
các doanh nghiệp ở Việt Nam;
Phân biệt được chuyển giao công nghệ và hỗ trợ công nghệ;
Phân tích được nguyên nhân xuất hiện chuyển giao công nghệ quốc tế;
Trình bày được các bước thực hiện nghiệm vụ tiếp nhận công nghệ;
Phân tích được các thuận lợi khó khăn trong việc tiếp nhận và chuyển giao công
nghệ ở các nước đang phát triển. Liên hệ với Việt Nam.
BÀI 6 CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
Bài 6: Chuyển giao công nghệ
NEU_ TXQLCN02_Bai6_v1.0014106217 89
Tình huống dẫn nhập
Thai Honda
Được thành lập vào năm 1964 trên sở nhập khẩu dây chuyền lắp ráp từ Nhật Bản, một vài năm
đầu, Thai Honda lắp ráp xe máy nữ 4 kỳ nhãn Custom dung tích xi lanh 79 89 cm3 vi máy
nhập từ Nhật Bản. Dòng xe này không bền và không bán chạy trên thị trường trong nước không
đápng đưc văn hóa lái xe phi đt tc đ cao hơn 80 km/h sau 100 m. Vào thập kỷ 1980 Thai
Honda chuyển sang sản xuất xe 4 kỳ 100 cm3 bán rất chạy ở thị trường Thai Lan một số nước
Đông Nam Á. Dòng xe Dream còn bán sang cả thị trường Nhật Bản. Honda Nhật Bản đã sử dụng
thiết kế khung xe này của Thai Honda cho ra đời các dòng xe Spacy, Dylan Honda@ SH với
dung tích xi lanh trên 100 cm3 trước đây khưa từng được sản xuất ở Nhật Bản.
Ngun: BM Qun lý công ngh lược dch t tp chí FEER 12/1999.
1. Tại sao Thai Honda phải chuyển sang sản xuất xe máy trên 100 cm3?
2. Honda Nhật Bản thu được lợi ích gì từ sự cải tiến của Thai Honda?
Bài 6: Chuyển giao công nghệ
90 NEU_TXQLCN02_Bai6_v1.0014106217
Nghiên cứu
thị trường
Nghiên cứu tạo
công nghệ
Cải tiến
Triển khai
áp dụng
6.1. Khái niệm
6.1.1. Công nghệ nội sinh và công nghệ chuyển giao
Việc phát triển công nghệ một quốc gia thể diễn ra dưới hai hình thức. Thứ nhất,
công nghệ được nghiên cứu thành công được triển khai áp dụng ln đu ngay
chính quốc gia đó. Phương thức này được gọi phương thức phát triển nội sinh
công nghệ được tạo ra như vậy gọi công ngh ni sinh. Sơ đồ phát triển công nghệ
nội sinh được trình bày trên hình 6.1.
Hình 6.1 Phát triển công nghệ nội sinh
Ý tưởng nghiên cứu tạo ra một xuất phát từ nhu cầu của thị trường trong nước cũng
như thị trường quốc tế. Nghiên cứu thị trường ghi nhận được các nhu cầu. Giai đoạn
tiếp theo là nghiên cứu để tạo ra công nghệ. Sau khi quá trình nghiên cứu này thành
công thì một công nghệ mới được tạo ra, sau đấy công nghệ này được truyền bá. Sau
khi được sử dụng rộng rãi những người áp dụng công nghệ sẽ các ci tiến đi vi
công nghệ đang vận hành.
Phát triển theo nghiên cứu tạo ra công nghệ nội sinh tạo điều kiện để doanh nghiệp
cũng như quốc gia dễ làm chủ công nghệ; công nghệ phát triển như vậy mức độ
thích hợp cao hơn; bên tạo ra công nghệ không phụ thuộc nhiều vào nước ngoài, đặc
biệt về kỹ thuật, tận dụng các nguồn lực sẵn có ở địa phương, do thiết kế ở trong nước
thường dựa vào các nguồn lực sẵn có; nếu trình độ nghiên cứu triển khai công nghệ
đạt trình độ tiên tiến, có thể xuất khẩu công nghệ, mang lại nhiều lợi ích; các cơ quan
nghiên cứu triển khai thông qua thực hành nghiên cứu sáng tạo công nghệ mới có
điều kiện tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao trình độ. Tuy nhiên phương thức này
nhiều rủi ro vì nghiên cứu thể không thành công để nghiên cứu thành công đòi
hỏi thời gian; nếu trình độ nghiên cứu và triển khai không cao, công nghệ tạo ra sẽ ít
giá trị, gây lãng phí do không thể sử dụng, nhất trong điều kin nn kinh tế hi
nhập, công nghệ lạc hậu tạo ra sản phẩm không thể cạnh tranh trên thị trường ngay
trong nước.
Để tránh rủi ro và có được công nghệ nhanh doanh nghiệp cũng như quốc gia có thể
được công nghệ bằng cách nhận công nghệ từ quốc khác. Phương thức này được
gọi là phát triển công nghệ theo hình thức chuyển giao và công nghệ được gọi là công
ngh chuyn giao hay công nghệ ngoại sinh.
Hình 6.2 Phát triển công nghệ theo phương thức chuyển giao
Chuyển giao
công nghệ
Đánh giá lựa
chọn công nghệ
Nghiên cứu
thị trường
Thích nghi hóa Triển khai
sử dụng
Cải tiến
công nghệ
Bài 6: Chuyển giao công nghệ
NEU_ TXQLCN02_Bai6_v1.0014106217 91
Để thực hiện chuyển giao một công nghệ bên nhận cũng như bên giao công nghệ phải
tiến hành nghiên cứu thị trường nơi công nghệ sẽ được triển khai sử dụng trong
tương lai để một đánh giá bộ về tính khả thi của việc chuyển giao về các khía
cạnh như nhu cầu đối với sản phẩm, mức độ dồi dào về tài nguyên thiên nhiên, nhân
lực… sự chấp nhận về văn hóa hội, chính trị pháp lý… Sau đó tiến hành đánh
giá các công nghệ đã dự liệu để tiến hành lựa chọn công nghệ phù hợp nhất. Kế
tiếp nghiệp vụ giao nhận sẽ được tiến hành. Sau khi bên nhận đã công nghệ họ
sẽ tiến hành triển khai sử dụng thể với sự trợ giúp hướng dẫn của bên giao công
nghệ. công nghệ được nhận từ nơi khác cho nên sau đấy bên nhận công nghệ sẽ
thực hiện các công việc thích nghi cuối cùng trong quá trình vn hành thc hin
việc cải tiến công nghệ để tạo cho sản phẩm có các dị biệt.
Phát triển công nghệ theo phương thức ngoại sinh có cả ưu điểm nhược điểm. Phát
triển theo phương thức này thì cần thời gian ngắn hơn và không chịu rủi ro của nghiên
cứu không thành công; quan hệ, đặc biệt là quan hệ quốc tế sẽ được mở rộng hơn. Tuy
nhiên, công nghệ ngoại sinh sẽ khó thích hợp hơn; bên tiếp nhận công nghệ cũng cần
một thời gian nhất định để làm chủ công nghệ sẽ phụ thuộc vào bên giao công
nghệ; các doanh nghiệp của các nước tiềm lực kinh tế yếu thể bị các doanh
nghiệp lớn giao công nghệ bắt chịu các điều khoản tiếp nhận không lợi, chẳng hạn
như không được xâm nhập, hoặc được xâm nhập thì điều kiện, mà bên giao công
nghệ đang nắm giữ.
6.1.2. Chuyển giao công nghệ và hỗ trợ công nghệ
Theo sự sử dụng thông thường luật Chuyển giao
công nghệ quan niệm về chuyển giao công nghệ
“chuyển giao quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ
công nghệ từ bên quyền chuyển giao công nghệ
sang bên nhận công nghệ” [Luật Chuyển giao công
nghệ Việt Nam]. Tức việc chuyển giao công nghệ
bao giờ cũng có sự tham gia của hai bên bên giao
bên nhận. Tuy nhiên, nếu việc chuyển giao diễn ra
giữa các bên đóng cùng một quốc gia thì các yếu tố
chi phối chủ yếu kinh doanh pháp luật của của
quốc gia đó. Chẳng hạn, công ty bia Sài Gòn đã giao
công nghệ sản xuất bia của mình cho một số doanh
nghiệp khác ở trong nước. Bia Sài Gòn làm như vậy có
thể động để giảm chi phí kinh doanh, phát triển
thị trường mới, tạo ra sự phát triển công nghiệp đồng đều giữa các địa phương.
Chuyển giao công nghệ như vậy được gọi chuyển giao công nghệ trong nước [Luật
Chuyển giao công nghệ] theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế (ESCAP,
UNIDO…) là h tr công ngh.
Sự chuyển giao diễn ra giữa các bên đóng tại các quốc gia khác nhau thì ngoài hai yếu
tố trên còn bị chi phối bởi hai yếu tố nữa. Đó là quan hệ quốc tế và hệ thống tài khoản
quốc gia. Các doanh nghiệp của Mỹ không thể chuyển giao công nghệ sang Việt Nam
khi Mỹ đang chính sách cấm vận đối với Việt Nam. Việc di chuyển công nghệ
Bài 6: Chuyển giao công nghệ
92 NEU_TXQLCN02_Bai6_v1.0014106217
từ một quốc gia sang một quốc gia khác m thay đổi tài khoản vốn trong hệ thống tài
khoản quốc gia của cả hai nước. Trong trường hợp này chuyển giao được gọi là chuyển
giao công nghệ quốc tế hay chỉ đơn giản chuyn giao công ngh để phân biệt với
quan niệm hỗ trợ công nghệ. Như vậy, chuyển giao công nghệ “di chuyển” công nghệ
đi qua biên giới quốc gia. bao gồm các nghiệp vụ thương mại, pháp lý, sở hữu trí
tuệ… Sau khi công nghệ đã được di chuyển chủ sở hữu người sử dụng thể thay
đổi và có thể cũng không thay đổi. Vì vậy, đầu tư trực tiếp của nước ngoài (có thể là
100% vốn nước ngoài) cũng chuyển giao công nghệ. Sản phẩm công các doanh
nghiệp tạo ra quốc gia tiếp nhận công nghệ được tính o GDP của quốc gia đó.
Chuyển giao công nghệ trong nước phạm vi liên quan hẹp hơn và được bao hàm
hết trong chuyển giao công nghệ quốc tế. vậy, nội dung còn li ca bài này ch đ
cập đến chuyển giao công nghệ quốc tế.
6.2. Nguyên nhân chuyển giao công nghệ
thể chia các nguyên nhân chuyển giao công nghệ quốc tế thành ba nhóm: nguyên
nhân khách quan, nguyên nhân xuất phát từ bên giao công nghệ nguyên nhân xuất
phát từ bên nhận công nghệ.
6.2.1. Nguyên nhân khách quan
Các nguyên nhân khách quan tạo ra chuyển giao công nghệ quốc tế là:
Không quốc gia nào trên thế giới có đủ mọi nguồn lực để phát triển nội sinh ra tất
cả các công nghệ cần thiết một cách kinh tế, do đó nhiều nước muốn một công
nghệ thường cân nhắc giữa phương thức nội sinh và phương thức chuyển giao;
Sự phát triển công nghkhông đồng đều của các
quốc gia trên thế giới (85% các sáng chế công nghệ
nằm trong tay sáu nước), nhiều nước không khả
năng tạo ra công nghệ mình cần, buộc phải tiếp
nhận để đáp ứng các nhu cầu cấp thiết;
Xu thế mở rộng hợp tác, khuyến khích thương mại
tạo thuận lợi cho cả bên giao và bên nhận công nghệ;
Quá trình tạo ra phân phối các sản phẩm hiện đại xẩy ra ở nhiều quốc gia, điều
này làm cho công nghệ di chuyển đến các quốc gia đó tồn tại lợi thế (cả
tương đối và tuyệt đối) đối với công nghệ;
Các thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại làm rút ngắn tuổi thọ của các
công nghệ, khiến nhu cầu đổi mới công nghệ tăng cao. Trong lĩnh vực công nghệ
phát triển nhanh, vòng đời của công nghệ rất ngắn, những người đi sau trong các
lĩnh vực công nghệ này muốn công nghệ đã xuất hiện trên thị trường thường
thông qua chuyển giao thay vì bắt đầu từ nghiên cứu và triển khai.
6.2.2. Nguyên nhân xuất phát từ bên giao công nghệ
Thu lợi nhuận cao hơn địa phương hay chính quốc (do giảm chi phí nguyên
vật liệu, nhân công và các chi phí cao về cơ sở hạ tầng khác);
Chấp nhận cạnh tranh về sản phẩm để nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư, do đó
điều kiện đổi mới công nghệ;