intTypePromotion=3

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về nguy cơ đánh trùng thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp trong nền kinh tế phi thị trường: Phần 1

Chia sẻ: ViThanos2711 ViThanos2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:74

0
6
lượt xem
1
download

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về nguy cơ đánh trùng thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp trong nền kinh tế phi thị trường: Phần 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phần 1 của tài liệu Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về nguy cơ đánh trùng thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp trong nền kinh tế phi thị trường giới thiệu đến bạn một số nội dung về: phân tích cơ sở pháp lý cũng như tiền lệ những vụ kiện kép mà các nước đã khởi xướng điều tra để từ đó rút ra một số kiến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước và các doanh nghiệp xuất khẩu nhằm hạn chế tối đa những vụ việc tương tự có thể xảy ra trong tương lai... Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về nguy cơ đánh trùng thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp trong nền kinh tế phi thị trường: Phần 1

  1. NGUY CƠ ĐÁNH TRÙNG THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG TRỢ CẤP ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG - BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 1
  2. 2
  3. BỘ CÔNG THƯƠNG CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH NGUY CƠ ĐÁNH TRÙNG THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG TRỢ CẤP ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG - BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM NHÀ XUẤT BẢN CÔNG THƯƠNG Hà Nội – 2013 3
  4. Mã Số: VB02ĐH13 4
  5. MỤC LỤC trang Lời nói đầu 9 Chương I. TỔNG QUAN VIỆC ÁP DỤNG KÉP CÁC 11 BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI CÁC QUỐC GIA CÓ NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG I. Những khái niệm cơ bản 11 1. Khái niệm về nền kinh tế phi thị trường 11 2. Khái niệm về áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương 14 mại (chống bán phá giá và chống trợ cấp) II. Khuôn khổ pháp lý của WTO về áp dụng các biện pháp 16 phòng vệ thương mại 1. Áp dụng biện pháp chống bán phá giá 16 1.1. Cơ sở pháp lý chung 16 1.2. Cơ sở pháp lý áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với 19 quốc gia có nền kinh tế phi thị trường 2. Áp dụng biện pháp chống trợ cấp 23 2.1. Cơ sở pháp lý chung 23 2.2 Cơ sở pháp lý áp dụng biện pháp chống đối kháng đối với 25 quốc gia có nền kinh tế phi thị trường 3. Áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương mại đối với các 26 nước có nền kinh tế phi thị trường 3.1. Thực tiễn áp dụng 26 3.2. Cơ sở pháp lý cho việc không áp dụng kép biện pháp phòng 28 vệ thương mại 3.3. Những thách thức trong vấn đề áp dụng kép các biện 32 pháp phòng vệ thương mại đối với các nước có nền kinh tế phi thị trường III. Thực tiễn áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương mại 62 của các nước đối với các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường – Một số bài học rút ra từ các vụ việc với Trung Quốc 1. Tổng quan chung về các vụ việc 62 2. Phân tích các vụ việc điển hình 63 2.1. Thông tin về vụ việc GPX 64 2.2. Phân tích vụ việc 68 3. Một số bài học rút ra 72 3.1. Tham gia tích cực vào các vụ điều tra chống trợ cấp 72 3.2. Tham gia tích cực vào cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế 73 5
  6. Chương II: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG KÉP 75 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ I. Tổng quan về các vụ áp dụng kép các biện pháp phòng vệ 75 thương mại đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam 1. Thông tin về các vụ việc 75 2. Khả năng áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương mại 77 đối với hàng xuất khẩu củaViệt Nam trong thời gian tới II. Ðánh giá những tác động của các vụ việc áp dụng kép biện 80 pháp phòng vệ thương mại (AD và CVD đối với Việt Nam 1. Nguy cơ áp dụng trùng thuế AD và CVD khi áp dụng kép các 80 biện pháp phòng vệ thương mại 2. Khó khăn trong công tác kháng kiện 84 III. Khuyến nghị 86 1. Đối với Chính phủ 86 1.1. Xây dựng hệ thống giám sát và quản lý 86 1.2. Xây dựng năng lực xử lý các vấn đề trợ cấp của WTO 87 1.3. Tham gia tích cực vào các vụ điều tra chống trợ cấp 89 2. Đối với Doanh nghiệp 90 Hiệp định thực thi điều VI của Hiệp định chung về thuế 92 quan và thương mại – GATT(1994) Hiệp định chống bán phá giá(ADA) phụ lục 1: Thủ tục điều tra tại chỗ theo khoản 7 điều 6 136 Phụ lục 2:các thông tin tốt nhất có được theo các điều kiện của 137 khoản 8 điều 6 PHỤ LỤC 143 Phụ lục 1. Mức thuế và các ngành mục tiêu trong các vụ việc 143 điều tra chống trợ cấp của Hoa Kỳ nhằm vào hàng xuất khẩu của Trung Quốc Phụ lục 2. Chương trình trợ cấp được xác định là có thể đánh thuế 148 đối kháng của Bộ Thương mại Hoa Kỳ Phụ lục 3. Chương trình trợ cấp được xác định là đối kháng của CBSA 150 Phụ lục 4: Tổng hợp các vụ việc chống trợ cấp và chống bán phá 152 giá đối với hàng hóa từ các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường Tài liệu tham khảo 159 6
  7. DANH MỤC VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ ADA Hiệp định Chống bán phá giá (CBPG) ADB Ngân hàng phát triển Châu Á AD Chống bán phá giá (CBPG) ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á CBSA Cơ quan dịch vụ biên giới Canada CVD Thuế chống trợ cấp CIT Tòa Thương mại quốc tế Hoa Kỳ CAFC Tòa Phúc thẩm Liên bang Hoa Kỳ CFSB Giấy tráng cao cấp DOC Bộ Thương mại Hoa Kỳ EC Ủy ban Châu Âu EP Giá xuất khẩu EU Liên minh Châu Âu FIEs Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI Đầu tư nước ngoài GATT Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GDP Tổng sản lượng quốc nội HS Danh mục hài hòa thuế quan ITC Ủy ban thương mại quốc tế Hoa Kỳ IMF Quỹ tiền tệ quốc tế IFC Tổ chức tài chính quốc tế IT Đối xử riêng rẽ KTTT Kinh tế thị trường 7
  8. MD Biên độ phá giá MET Đối xử kinh tế thị trường MFN Đối xử tối huệ quốc NHNN Ngân hàng nhà nước NHTMNN Ngân hàng thương mại Nhà nước NME Nền kinh tế phi thị trường NT Đối xử quốc gia OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế UNDP Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc SCM Hiệp định về Trợ cấp và thuế đối kháng SIMA Đạo luật về các biện pháp nhập khẩu đặc biệt của Canada SIMR Quy định về các biện pháp nhập khẩu đặc biệt của Canada WTO Tổ chức Thương mại Thế giới MỤC LỤC HÌNH VÀ BẢNG Bảng 1. Các biện pháp chống trợ cấp đối với Trung Quốc từ 27 các thành viên WTO. Hình 1. Cấu trúc bù đắp thuế đối kháng trong việc tính toán 29 biên độ phá giá Bảng 2: Các vụ việc điều tra đồng thời AD và CVD 63 Bảng 3: Thông tin cơ bản về các vụ việc của Việt Nam. 76 8
  9. LỜI NÓI ĐẦU Thời gian vừa qua, do khủng hoảng của nền kinh tế thế giới, sức mua giảm, doanh nghiệp và các ngành công nghiệp trong nước gặp khó khăn là một trong nhiều nguyên nhân mà các biện pháp phòng vệ thương mại bao gồm: chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ được các nước trên thế giới áp dụng ngày càng nhiều nhằm bảo hộ ngành sản xuất nội địa trước sự cạnh tranh gay gắt của hàng nhập khẩu. Tính đến hết năm 2012, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam đã phải đối mặt với 65 vụ kiện phòng vệ thương mại do các nước khởi xướng điều tra. Riêng trong năm 2012, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã phải đối mặt tới 10 vụ việc, trong đó có 8 vụ điều tra chống bán phá giá, 01 vụ điều tra chống lẩn tránh thuế và 01 vụ điều tra chống trợ cấp. Đặc biệt, trong hai năm gần đây, một số nước có xu hướng kiện kép gồm chống bán phá giá và trợ cấp đối với các quốc gia bị coi là nước có nền kinh tế phi thị trường như Việt Nam, Trung Quốc (cả 04 vụ kiện gần đây do Hoa Kỳ khởi xướng điều tra đối với Việt Nam đều là điều tra kép cả chống bán phá giá và chống trợ cấp). Đặc điểm của các vụ kiện kép là mức thuế bị đẩy lên rất cao do sản phẩm bị áp đồng thời cả thuế CBPG và thuế chống trợ cấp (Ví dụ trong vụ mắc áo, mức thuế suất chống bán phá giá toàn quốc là 187% và thuế chống trợ cấp là 16% dẫn đến tổng mức thuế là 203%). Để cập nhật, phân tích đồng thời đưa ra các giải pháp, khuyến nghị cho doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam chủ động có những ứng phó phù hợp trước các thay đổi nói trên, 9
  10. Cục Quản lý cạnh tranh (QLCT) - Bộ Công Thương phối hợp với Nhà xuất bản Công Thương biên soạn cuốn sách “Nguy cơ đánh trùng thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với nền kinh tế phi thị trường - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”. Nội dung cuốn sách phân tích cơ sở pháp lý cũng như tiền lệ những vụ kiện kép mà các nước đã khởi xướng điều tra để từ đó rút ra một số kiến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước và các doanh nghiệp xuất khẩu nhằm hạn chế tối đa những vụ việc tương tự có thể xảy ra trong tương lai. Trong quá trình biên soạn khó tránh khỏi những sơ suất, Ban biên tập rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để hoàn thiện hơn trong lần xuất bản tiếp theo. CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH 10
  11. Chương I TỔNG QUAN VIỆC ÁP DỤNG KÉP CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI CÁC QUỐC GIA CÓ NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG I. Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về nền kinh tế phi thị trường Nền kinh tế phi thị trường (NME) – hay còn được gọi là nền kinh tế kế hoạch tập trung – là tên gọi được dùng đến cuối những năm 1980, đầu những năm 1990 cho nền kinh tế các nước Trung và Đông Âu, Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam và một số nước khác, trong đó, các hoạt động kinh tế được dựa trên kế hoạch hàng năm thông thường do một cơ quan giống như ủy ban kế hoạch Nhà nước soạn thảo. Đa số các nước có nền kinh tế kế hoạch tập trung nay đã chuyển thành nền kinh tế thị trường hoặc đang trong quá trình hướng tới mục tiêu đó (còn gọi là thời kỳ quá độ). Trong khuôn khổ WTO, khái niệm NME được đề cập trong khoản 1 điều VI của GATT 1994 “Thừa nhận rằng trong trường hợp nhập khẩu từ một nước mà thương mại hoàn toàn mang tính chất độc quyền hoặc hầu như độc quyền hoặc toàn bộ giá trong nước do nhà nước định đoạt, việc xác định tính so sánh của giá cả nhằm mục đích nêu tại khoản 1 có thể có những khó khăn đặc biệt và trong những trường hợp đó, các bên ký kết là bên nhập khẩu có thể thấy cần tính đến khả năng rằng việc so sánh chính xác với giá cả trong nước của nước đó không phải lúc nào cũng thích đáng”. 11
  12. Thông qua quy định này, các thành viên của WTO nhận thấy một cách rõ ràng rằng, các quốc gia NME có thể cần phải đối xử một cách khác biệt hơn các quốc gia có nền kinh tế thị trường (Market Economy-ME) trong vụ kiện chống bán phá giá. Theo đó, nhiều nước thành viên của WTO đã không chấp nhận các thông tin về giá cả hay chi phí sản xuất được cung cấp bởi các quốc gia được xem là NME. Các quốc gia này cho rằng giá cả và chi phí do các quốc gia NME được điều chỉnh và can thiệp bởi Chính phủ và không theo quy luật của thị trường. Do đó, Cơ quan điều tra sẽ sử dụng giá và chi phí sản xuất của hàng hóa tại một nước thứ ba có nền kinh tế thị trường để thay thế, làm cơ sở tính toán cho giá thông thường. Trong mỗi vụ kiện, các quốc gia ME được lựa chọn để thay thế phải ở một mức phát triển cùng với quốc gia NME bị điều tra chống bán phá giá. Để có cơ sở xem xét một quốc gia có được coi là nền kinh tế thị trường hay không, một số quốc gia đã nội luật hóa quy định về các tiêu chí xác định quốc gia có nền kinh tế thị trường: Một số tiêu chí xác định quốc gia có nền kinh tế thị trường a. Tiêu chí của Hoa Kỳ Từ khi áp dụng Luật chống bán phá giá 1921 cho đến khi thông qua Luật Thương mại 1974, việc áp dụng thuế chống bán phá giá đối với các nền kinh tế NME đã được Hoa Kỳ đưa ra và áp dụng duy nhất thông qua hoạt động của cơ quan quản lý. Trong thập kỷ 1960, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (US DOC) đã sử dụng thuật ngữ “quốc gia thay thế” để áp 12
  13. dụng cho các quốc gia NME. Phương pháp tiếp cận này đã được thông qua và được pháp điển hóa bởi Quốc hội Hoa Kỳ vào trong Luật Thương mại 1974. Trong Đạo luật Cạnh tranh và Thương mại 1988, Nghị viện Hoa Kỳ đã ban hành một số đổi mới đối với luật chống bán phá giá, bắt đầu là định nghĩa NME, cũng như là đặt ra quy định DOC đưa ra và xem xét khi nào thì một quốc gia cụ thể được xem là NME. Theo đó, một quốc gia được coi là NME khi “không hoạt động theo nguyên tắc thị trường của cơ cấu giá và chi phí, vì thế doanh số bán hàng của hàng hóa trong quốc gia đó không phản ánh được giá trị thông thường của hàng hóa”. Đạo luật quy định US DOC sẽ xem xét đưa ra sáu tiêu chí trước khi quyết định, bao gồm: 1) Mức độ chuyển đổi của đồng nội tệ; 2) Mức độ theo đó mức lương được xác định thông qua đàm phán tự do giữa người lao động và đơn vị sử dụng lao động; 3) Mức độ theo đó việc liên doanh hoặc các dự án đầu tư nước ngoài được phép thực hiện; 4) Mức độ kiểm soát của chính phủ đối với phương tiện sản xuất; 5) Mức độ kiểm soát của chính phủ về việc phân bổ các nguồn lực, giá cả và sản lượng của doanh nghiệp; 6) Các tiêu chí khác do DOC đưa ra; b. Tiêu chí của EU Tương tự như Hoa Kỳ, để được EU công nhận là quốc gia có nền kinh tế thị trường, quốc gia đó phải đáp ứng được những tiêu chí theo luật định của EU, các tiêu chí đó như sau: 13
  14. - Chuyển đổi hối đoái được thực hiện theo tỷ giá thị trường; - Các quyết định của doanh nghiệp về giá cả, chi phí và đầu vào – gồm chi phí nguyên vật liệu, công nghệ và lao động, sản lượng, doanh số và đầu tư – được đưa ra để đáp ứng với những tín hiệu thị trường phản ánh cung và cầu, không có sự can thiệp đáng kể nào của Nhà nước, và chi phí của những đầu vào chính về cơ bản phản ánh giá thị trường; - Các doanh nghiệp có một loạt các sổ sách kế toán cơ bản rõ ràng, được kiểm toán độc lập theo các chuẩn mực kế toán quốc tế và được áp dụng cho tất cả các mục đích; - Chi phí sản xuất và tình hình tài chính của doanh nghiệp không chịu sự bóp méo đáng kể dưới tác động của hệ thống kinh tế phi thị trường, nhất là liên quan tới khấu hao tài sản, các dạng xóa nợ và các dạng thanh toán bù nợ khác; - Các doanh nghiệp liên quan chịu sự điều chỉnh của các luật về phá sản và tài sản đảm bảo sự chắc chắn và ổn định về pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động. 2. Khái niệm về áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương mại (chống bán phá giá và chống trợ cấp) Việc cơ quan điều tra của một nước thành viên WTO đồng thời áp dụng hai biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp nhằm đền bù cho cùng một hành vi thương mại không công bằng được xem là “áp dụng kép” hay còn gọi là đánh trùng thuế (double counting). Trong trường hợp này, các nhà xuất khẩu cùng lúc phải đối mặt với cả vụ kiện điều tra chống bán phá giá lẫn điều tra chống trợ cấp. 14
  15. Trong trường hợp cùng áp dụng biện pháp chống bán phá giá và biện pháp chống trợ cấp đối với một mặt hàng cụ thể từ nước có nền kinh tế thị trường, cơ quan điều tra của nước nhập khẩu sẽ tiến hành cộng thêm mức thuế đối kháng để loại bỏ trợ cấp xuất khẩu trên giá xuất khẩu của sản phẩm trước khi tiến hành tính toán thuế chống bán phá giá. Lý do cho sự điều chỉnh này là trợ cấp xuất khẩu có tác động làm giảm giá của hàng hóa xuất khẩu. Đối với nước có nền kinh tế phi thị trường, các cơ quan điều tra như Bộ Thương mại Hoa Kỳ hay Ủy ban Châu Âu đã không sử dụng chi phí thực của nhà sản xuất của các nước có nền kinh tế phi thị trường và giá bán của sản phẩm nội địa. Thay vào đó, cơ quan điều tra dựa vào thông tin của nước thay thế. Nếu như những nước có nền kinh tế phi thị trường có trợ cấp sản xuất nội địa, cả giá xuất khẩu và giá thông thường sẽ bị ảnh hưởng bởi trợ cấp nội địa và chi phí và giá nội địa ở những nước có nền kinh tế phi thị trường cũng bị loại bỏ và chúng bị thay thế bởi chi phí và giá nội địa của nước thay thế. Với phương pháp tính toán này, cơ quan điều tra - trừ phi đã điều chỉnh giá thông thường phản ánh tác động của trợ cấp nội địa ở nước có nền kinh tế phi thị trường - sẽ so sánh một mức giá xuất khẩu thấp hơn so với thực tế có thể nếu giá nội địa ở những nước có nền kinh tế phi thị trường không tồn tại, với giá thông thường ở nước thay thế, mức giá mà không bị ảnh hưởng bởi trợ cấp nội địa của nước phi thị trường. Nói theo cách khác, việc tính thuế hai lần có thể xảy ra nếu biện pháp chống bán phá giá và trợ cấp có thể cùng áp dụng song song và không điều chỉnh theo giá thông thường đã được điều chỉnh để phản ánh trợ cấp nội địa ở nước có nền kinh tế phi thị trường 15
  16. II. Khuôn khổ pháp lý của WTO về áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại 1. Áp dụng biện pháp chống bán phá giá 1.1 Cơ sở pháp lý chung Hiệp định về thi hành Điều VI của Hiệp định khung về thuế quan và thương mại 1994 (“Hiệp định chống bán phá giá - CBPG”) điều chỉnh việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá của các Thành viên WTO. Các biện pháp chống bán phá giá là các biện pháp phòng vệ thương mại đơn phương mà một Thành viên có thể áp dụng sau khi thực hiện một cuộc điều tra và xác định rằng, phù hợp với quy định của Hiệp định CBPG, hàng hóa nhập khẩu là “bán phá giá” (hàng hóa được đưa vào nước nhập khẩu với mục đích thương mại với mức giá thấp hơn giá trị thông thường), và việc bán phá giá đó gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu sản xuất sản phẩm tương tự. Không như Hiệp định về trợ cấp và thuế đối kháng (“SCM Agreement”), Hiệp định CBPG không thiết lập bất kỳ quy tắc nào về phá giá, chủ yếu do việc phá giá là hành vi định giá do các doanh nghiệp thực hiện và do đó không nằm trong phạm vi điều chỉnh trực tiếp của các quy tắc đa phương. Hiệp định CBPG tập trung vào các quy tắc về nội dung và thủ tục của việc điều tra, áp dụng, và khoảng thời gian áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. Các nguyên tắc này được áp dụng cho tất cả các thành viên WTO. Phạm vi của Hiệp định CBPG rộng hơn và khả năng các quy tắc của Hiệp định CBPG sẽ có hiệu lực là lớn hơn. 16
  17. Điều 1 của Hiệp định CBPG đưa ra nguyên tắc cơ bản là một thành viên sẽ không được áp dụng biện pháp CPBG trừ khi, căn cứ theo một cuộc điều tra được thực hiện đúng theo những quy định của Hiệp định CBPG, thành viên đó xác định được rằng tồn tại hàng hóa nhập khẩu bán phá giá, có thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa và có mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại. Điều 2 quy định những quy tắc quan trọng trong việc xác định phá giá trong đó gồm những quy tắc cụ thể quy định việc tính toán giá trị thông thường (giá của sản phẩm tại quốc gia xuất khẩu hay có xuất xứ sản phẩm) và giá xuất khẩu (giá của sản phẩm đó tại quốc gia nhập khẩu), và việc “so sánh công bằng” giữa giá trị thông thường và giá xuất khẩu. Những quy tắc này rất kĩ thuật và chi tiết đồng thời đề cập đến một số vấn đề liên quan đến phương pháp luận quan trọng không được xử lý trong Đạo luật về CPBG của vòng đàm phán Tokyo. Nói chung, các quy tắc này có thể coi là rất chặt chẽ trong một nỗ lực để chấm dứt hoặc tối thiểu hóa khả năng mà các biện pháp hành chính trong các vụ việc điều tra và tính toán sẽ dẫn đến biên độ phá giá bị đẩy cao một cách giả tạo. Những thay đổi quan trọng nhất của Đạo luật về CPBG của vòng đàm phán Tokyo theo Điều 2 đó là việc đưa ra quy định về tình trạng mà giá bán nội địa của nước xuất khẩu còn thấp hơn chi phí sản xuất (xác định theo chi phí cố định, chi phí khả biến của từng đơn vị sản phẩm cộng thêm chi phí hành chính, chi phí bán hàng, chi phí chung) có thể được coi là không phải “trong điều kiện thương mại thông 17
  18. thường”, thêm một số quy tắc cụ thể về xác định giá trị thông thường tính toán và những quy định cụ thể về làm thế nào để đảm bảo sự so sánh công bằng giữa giá trị thông thường và giá xuất khẩu. Giá cả không phải “trong điều kiện thương mại thông thường” có thể bị loại ra khi tính toán giá trị thông thường. Điều 2.2.1 của Hiệp định CBPG yêu cầu rằng các giao dịch bán hàng không phải trong điều kiện thương mại thông thường phải được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, với một số lượng hàng đáng kể và tại các mức giá mà không thể trang trải được toàn bộ chí phí trong một khoảng thời gian hợp lý, trước khi sử dụng biện pháp thay thế trong việc tính toán giá trị thông thường. Hiệp định CBPG đã có cả hướng dẫn về các khái niệm “kéo dài trong một khoảng thời gian” (thông thường là một năm, nhưng không được thấp hơn 6 tháng), “số lượng đáng kể”, và bù đắp các chi phí “trong một khoảng thời gian hợp lý”. Các giá trị thông thường được tính toán (constructed normal values) là một trong hai cách cụ thể để xác định giá trị thông thường khi không tồn tại đủ sản lượng bán hàng trong điều kiện thương mại thông thường ở nước xuất khẩu để cho phép tính toán giá trị thông thường dựa trên cơ sở về giá, hoặc tình trạng thị trường đặc biệt, hoặc lượng hàng sản xuất thấp khiến không thể tính toán giá trị thông thường. Thay vào đó, Hiệp định CBPG cho phép so sánh giá xuất khẩu với giá của sản phẩm khi xuất khẩu sang một nước thứ ba, với điều kiện giá đó có tính đại diện. Điều 2.2.2. quy định chi tiết rằng 18
  19. khi tính toán giá trị thông thường, cơ quan điều tra cần xác định các khoản chi phí hành chính, chi phí bán hàng, chi phí chung và lợi nhuận, trên cơ sở số liệu thực tế và mức phân bổ sản phẩm và sản lượng bán của nhà sản xuất trong điều kiện thương mại thông thường. Trong trường hợp số liệu thực tế không sử dụng được, tiểu đoạn (i) – (iii) của Điều 2.2.2 quy định các phương pháp thay thế cho việc xác định những chi phí và lợi nhuận đó. Điều 2.4 đã quy định một quy tắc chung rằng việc “so sánh công bằng” phải được thực hiện khi so sánh giá trị thông thường và giá xuất khẩu. Nó cũng chỉ rõ rằng “các khoản giảm trừ” phải được tính đến đối với những sự khác biệt mà ảnh hưởng tới khả năng so sánh giá đồng thời quy định một danh sách không đầy đủ những yếu tố để cấu thành khoản được giảm trừ đó. Điều 2.4 cũng bao gồm những quy định trong việc quy đổi tỷ giá khi so sánh giữa giá xuất khẩu và giá trị thông thường và cũng chỉ ra rằng biên độ phá giá thường phải dựa trên cơ sở so sánh giá trị thông thường bình quân gia quyền với giá xuất khẩu bình quân gia quyền hoặc trên cơ sở so sánh giá của từng giao dịch. Việc so sánh giá của từng giao dịch thể hiện một sự thay đổi đáng kể trong thông lệ của một số Thành viên đối với Đạo luật vòng đàm phán Tokyo, mà so sánh bình quân gia quyền của giá trị thông thường với giá xuất khẩu của từng giao dịch, phương pháp này được biết đến là phương pháp “quy về không” với kết quả là làm tăng biên độ phá giá. Phương pháp tính này hiện nay đã bị cấm một cách rộng rãi từ một số phán quyết của Cơ quan Phúc thẩm của WTO (Appellate Body). 19
  20. 1.2 Cơ sở pháp lý áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với quốc gia có nền kinh tế phi thị trường Điều 2.7 của Hiệp định CBPG quy định rằng: “2. Thừa nhận rằng trong trường hợp nhập khẩu từ một nước mà thương mại hoàn toàn mang tính chất độc quyền hay hầu như độc quyền và toàn bộ giá trong nước do Nhà nước định đoạt, việc xác định khả năng so sánh giá cả nhằm mục đích nêu tại Đoạn 1 có thể có những khó khăn đặc biệt và trong những trường hợp đó, các bên ký kết là bên nhập khẩu có thể nhận thấy cần thiết phải xem xét đến khả năng việc so sánh chính xác với giá cả trong nước của nước đó không phải lúc nào cũng thích đáng”. Quy định này đã được rất nhiều các cơ quan điều tra sử dụng để bỏ qua thông tin về giá cả và chi phí của quốc gia có nền kinh tế phi thị trường với lý do những thông tin này không đáng tin cậy vì chúng không được xác định dựa trên các điều kiện thị trường mà do nhà nước chỉ định. Tuy nhiên, cách mà những cơ quan điều tra khác nhau sử dụng điều khoản về NME cũng rất khác nhau. Một nền kinh tế phi thị trường tồn tại trong một quốc gia mà không vận hành theo nguyên tắc thị trường về cấu trúc giá hoặc chi phí vì vậy giao dịch bán hàng hóa ở quốc gia đó không phản ánh được giá trị hợp lý của hàng hóa. Điều này có tác động hiển nhiên đến phương pháp xác định bán phá giá bởi vì toàn bộ cơ chế của việc phân tích bán phá giá đều dựa trên việc so sánh giá trị thông thường và giá xuất khẩu. Thêm vào đó, nền kinh tế phi thị trường còn gây 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản